1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán các bệnh viện y học cổ truyền trên địa bàn thành phố hà nội

247 82 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 247
Dung lượng 4,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

vào công tác quản lý tài chính của các trường đại học công lập ở Việt Nam, đề ra giảipháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính thông qua việc sử dụng công cụ kế toán vàkiểm toán trong điề

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, bản luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Thị Phương Anh

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án: 2

3 Mục tiêu nghiên cứu của luận án 6

4 Câu hỏi nghiên cứu 7

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 7

6 Phương pháp nghiên cứu 8

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 11

8 Kết cấu của luận án 12

CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN ĐƠN VỊ SNCL 13

1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 13

1.1.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập 13

1.1.2 Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập 15

1.1.3 Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập 16

1.2 TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG ĐƠN VỊ SNCL 17

1.2.1.Những vấn đề chung về tổ chức công tác kế toán đơn vị SNCL 17

1.2.1.1. Khái niệm về tổ chức công tác kế toán đơn vị SNCL . 17

1.2.1.2 Yêu cầu, nhiệm vụ và ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị SNCL 19

1.2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán trong đơn vị SNCL . 23

1.2.2 Nội dung cơ bản của tổ chức công tác kế toán trong đơn vị SNCL 34

1.2.2.1 Tổ chức công tác kế toán tiếp cận theo góc độ kế toán là hệ thống thông tin . 36

1.2.2.2 Tổ chức công tác kế toán đơn vị SNCL trên góc độ kế toán quản trị . 62

1.2.3 Tình hình áp dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế tại Việt Nam 70

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 77

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CÁC BỆNH VIỆN YHCT TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 78

2.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC BỆNH VIỆN YHCT TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 78

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 78

2.1.2 Tổ chức hoạt động của các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội 80

Trang 4

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán tại các bệnh viện YHCT ở Hà

Nội 86

2.2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CÁC BỆNH VIỆN YHCT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 90

2.2.1 Tổ chức công tác kế toán tiếp cận theo góc độ kế toán là hệ thống thông tin 90

2.2.1.1 Thực trạng tổ chức nguồn nhân lực trong hệ thống thông tin kế toán . 90

2.2.1.2 Tổ chức dữ liệu cho hệ thống thông tin kế toán: 92

2.2.1.3 Tổ chức xử lý dữ liệu cho hệ thống thông tin kế toán. 96

2.2.1.4 Tổ chức phân tích, cung cấp thông tin của hệ thống thông tin kế toán. 98

2.2.1.5 Tổ chức công tác kiểm tra kế toán 100

2.2.1.6 Thực trạng tổ chức ứng dụng CNTT vào tổ chức công tác kế toán . 102

2.2.2 Thực trạng tổ chức công tác kế toán của các bệnh viện YHCT trên địa bàn Hà Nội trên góc độ kế toán quản trị 105

2.2.2.1 Thực trạng về phân loại chi phí 105

2.2.2.2 Thực trạng về xây dựng định mức và dự toán chi phí 108

2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC BỆNH VIỆN YHCT TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 114

2.3.1 Những ưu điểm 114

2.3.2 Nhược điểm: 117

2.3.3 Các nguyên nhân của hạn chế tổ chức công tác kế toán 126

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 130

CHƯƠNG 3:HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CÁC BỆNH VIỆN YHCT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 131

3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN, NGUYÊN TẮC HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CÁC BỆNH VIỆN YHCT TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 131

3.1.1 Định hướng phát triển các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội 131

3.1.2 Nguyên tắc hoàn thiện 133

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CÁC BỆNH VIỆN YHCT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 135

3.2.1 Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tiếp cận theo góc độ kế toán là hệ thống thông tin 135

3.2.1.1 Hoàn thiện tổ chức nguồn nhân lực trong hệ thống thông tin kế toán 135

3.2.1.2 Hoàn thiện tổ chức dữ liệu cho hệ thống thông tin kế toán . 137

3.2.1.3 Hoàn thiện tổ chức xử lý dữ liệu cho hệ thống thông tin kế toán . 141

Trang 5

3.2.1.4. Hoàn thiện tổ chức phân tích, cung cấp thông tin của hệ thống thông tin kế toán 150

3.2.1.5. Hoàn thiện tổ chức công tác kiểm tra kế toán. 154

3.2.1.6. Hoàn thiện ứng dụng CNTT vào tổ chức công tác kế toán. 154

3.2.2 Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trên góc độ kế toán quản trị 162

3.3 ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 166

3.3.1 Về phía Nhà nước và các cơ quan quản lý 167

3.3.2 Về phía các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội 169

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 171

KẾT LUẬN 172

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

PHỤ LỤC 1

Trang 6

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Tỷ lệ nguồn thu hoạt động tài chính tại các bệnh viện

83

YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2018

2.2 Định mức phân bổ sự nghiệp y tế

843.1 Bảng phân loại chi phí theo hoạt động

162

Trang 8

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

1.2 Hệ thống dự toán trong đơn vị sự nghiệp công lập có

67thu

2.2 Quy trình quản lý tài chính tại các bệnh viện YHCT

86trên địa bàn Hà Nội

3.1 Tổ chức bộ máy kế toán tại các bệnh viện YHCT trên

136địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 9

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1 “Tổ chức công tác kế toán tại các bệnh viện Y học cổ truyền công lập”, Tạp chí Tài chính, (số 704, tháng 5/2019), tr.129-131.

2 “Nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính tại các bệnh viện Y học cổ truyền

công lập”, Tạp chí Tài chính, (số 700, tháng 3/2019), tr.45-47.

3 “Nâng cao hiệu quả tự chủ tài chính tại các bệnh viện Y học cổ truyền công lập”, Tạp chí Tài chính, (số 698+699, tháng 2/2019), tr.223-225.

4 “Hoàn thiện các b t toán điều ch nh tại ngày mua khi quyền kiểm soát đạt được qua

nhiều lần đầu tư trong các tập đoàn kinh tế Việt Nam”, Tạp ch nghiên cứu Tài ch nh –

ế toán, số 10_147/2015), tr 23.

5 “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại bệnh viện Tuệ Tĩnh”, năm 2012, Học viện tài

chính, Đề tài luận văn thạc sỹ

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu phát triển mạnh mẽ, Đảng và Chính phủ đã

có nhiều chính sách đổi mới đối với hoạt động của ngành y tế nhằm tăng cường nănglực hoạt động của các đơn vị Các chủ trương chính sách này một mặt đã tạo ra hànhlang pháp lý rộng rãi cho các đơn vị sự nghiệp công lập trong việc phát huy quyền tựchủ, tự chịu trách nhiệm giảm dần sự phụ thuộc vào NSNN cho các hoạt động của đơn

vị Nhờ đó, ngành y tế nói chung và ngành YHCT nói riêng đã đạt được những thànhtựu trên các mặt kế thừa, đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học, phòng bệnh, chữa bệnh,sản xuất thuốc, nuôi trồng dược liệu , góp phần quan trọng vào sự nghiệp chăm sóc,bảo vệ sức khoẻ nhân dân, xây dựng nền y tế, y học nước nhà và nâng cao vị thế của ydược học cổ truyền Việt Nam trên thế giới Hệ thống YHCT được kiện toàn, mạng lướichăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh được đầu tư nâng cấp và có nhiều cải cách, hệthống cung cấp các dịch vụ y tế được mở rộng, nâng cao y tế y đức, trách nhiệm củangười làm công tác y tế, nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh

Cụ thể, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều ch thị, thông tư hướng dẫn củacác cơ quan ban ngành, các nhà hoạch định chính sách để khắc phục những khó khăn,tồn tại nền YHCT của Việt Nam nói chung và trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêngnhư: Nghị quyết lần thứ 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VlI "Về nhữngvấn đề cấp bách trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân", Hội nghị lầnthứ 6 của Ban chấp hành Trung ương khóa XII ban hành Nghị quyết số 20/NQ-CPngày 25/10/2017 về “Tăng cường công tác bảo vệ, nâng cao sức khỏe nhân dân trongtình hình mới”, Quyết định 1092QĐ/TTg ngày 02/09/2018 về “phê duyệt chương trìnhsức khỏe Việt Nam”

Trong cơ chế tài chính mới, việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trongthực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính đối với các đơn vị SNCL nóichung và đối với các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng đã gi pcho các bệnh viện chủ động mở rộng các hoạt động để tăng nguồn thu, giảm gánh nặngcho NSNN Tổ chức công tác kế toán là công cụ để tổ chức quản lý, sử dụng tiết kiệm,

có hiệu quả các nguồn tài chính của đơn vị theo hướng tự chủ, công khai, minh bạch

đó Đồng thời giúp cho các Bộ, ngành quản lý tốt hơn các nguồn tài chính và đưa racác chính sách, chiến lược đ ng đắn trong việc phát huy và giữ gìn truyền thống lâu đờicủa nền YHCT, góp phần mở rộng các hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân

Mặc dù, Mặc dù, Chính phủ đã ban hành Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày14/02/2015 thay thế Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 quy định về cơ chế

tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập, tuy nhiên hoạt động của các đơn vị sựnghiệp y tế công lập vẫn thực hiện theo Nghị định 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012nay không còn phù hợp với NĐ16/2015 nữa, bởi vậy Chính phủ cần ban hành cơ chếhoạt động mới dành riêng cho ngành y tế để phù hợp với cơ chế tự chủ, tạo hành langpháp lý cho các đơn vị sự nghiệp y tế công nói chung và các bệnh viện YHCT trên địabàn thành phố Hà Nội nói riêng được chủ động phát huy năng lực của đơn vị cung cấp

Trang 11

dịch vụ công với chất lượng cao cho xã hội, mở rộng các loại hình khám chữa bệnh,tăng nguồn thu cho đơn vị Chế độ kế toán áp dụng cho đơn vị sự nghiệp cho tới nay

đã được thay thế, trước đây các chế độ kế toán áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp theoQuyết định 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/03/2006, và Thông tư 185/2010/TT-BTC ngày15/01/2010, mới đây nhất, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 107/2017/TT-BTC ngày10/10/2017 hướng dẫn chế độ kế toán các đơn vị HCSN đã phản ánh khá đầy đủ cácnghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh, đồng thời bổ sung các sổ kế toán, báo cáo tàichính, báo cáo quyết toán phù hợp hơn với chuẩn mực công quốc tế Tuy nhiên, việc

áp dụng chế độ kế toán HCSN còn chưa thống nhất giữa các bệnh viện YHCT trên địabàn thành phố Hà Nội Nói chung, khung pháp lý và các văn bản pháp quy về tài chính

kế toán còn bộc lộ nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến việc thu thập, xử lý hệ thống hóa vàcung cấp thông tin kế toán và các báo cáo kế toán cho các nhà quản lý Tổ chức côngtác kế toán được hoàn thiện sẽ giúp cho việc quản lý các nguồn thu - chi của đơn vịhoàn thiện hơn Chính vì vậy, vấn đề hoàn thiện, đổi mới tổ chức công tác kế toán có ýnghĩa thiết thực nâng cao công tác quản lý tài chính trong các bệnh viện

Bởi vậy, từ việc nghiên cứu lý luận và căn cứ vào thực trạng hiện nay trong tổchức công tác kế toán tại các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội, bằngcách tiếp cận tổ chức công tác kế toán theo góc độ là một khoa học và hệ thống thông

tin kế toán, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán các

bệnh viện y học cổ truyền trên địa bàn thành phố Hà Nội” để nghiên cứu với mong

muốn luận án sẽ đóng góp một phần để các bệnh viện này phát triển bền vững trong cơchế tự chủ tài chính và trong công cuộc phát triển ứng dụng CNTT hiện nay

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án:

Tài chính trong đơn vị SNCL mang đặc điểm của tài chính công nên kế toántrong đơn vị SNCL cũng mang đặc điểm của kế toán công Do đó, việc nghiên cứu về

kế toán công là cơ sở kế toán trong các đơn vị SNCL Trong các nghiên cứu trước đây

về tổ chức công tác kế toán, đã có rất nhiều luận án, cũng như các bài báo trong nước

và quốc tế đề cập chủ yếu đến nguyên lý và nguyên tắc chung về tổ chức công tác kếtoán, và đặc điểm tổ chức công tác kế toán trong một số ngành đặc thù Dưới đây làtổng quan về một số công trình nghiên cứu về vấn đề này

2.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu nước ngoài.

Trên thế giới, các tác giả đã nghiên cứu và cho ra đời cuốn sách “Kế toán nhànước và các tổ chức phi lợi nhuận” (Accounting for Governmental and NonpofitEntities_2001) đó là Earl R.Wilson, Leon E.hay và Susan C Kattelus Cuốn sách baogồm các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận, hướng dẫn cách thức ghi nhận các

sự kiện, cách thức lập báo cáo tài chính cuối kỳ, đồng thời nghiên cứu đi sâu vào phântích hoạt động đặc thù của bệnh viện, trường học, đơn vị lực lượng vũ trang Riêngtrong lĩnh vực y tế, tác giả Louis C.Gapenski đã phân tích môi trường tài chính củangành y tế, hướng dẫn về tổ chức kế toán về cả hai nội dung kế toán tài chính và kếtoán quản trị trong cuốn sách “Tài chính y tế - giới thiệu về kế toán và quản lý tàichính” (Healthcare Finance - An introduction of Accounting and Financial

Trang 12

Một nghiên cứu khác trong lĩnh vực tổ chức công tác kế toán công là nghiêncứu của Lasse Oulasvirta, trường đại học Tampere ở Phần Lan với tiêu đề “Theruluctance of a developed country to choose International Puplic Sector AccountingStandards of the IFAC A critical case study” (tạm dịch là: Sự thờ ơ của các nước pháttriển trong việc lựa chọn áp dụng tiêu chuẩn kế toán công quốc tế của Liên đoàn kếtoán Quốc tế - Nghiên cứu trường hợp điều ch nh) Trong nghiên cứu của mình, tác giả

đã ch ra nguyên nhân một nước phát triển điển hình như Phần Lan từ chối áp dụng tiêuchuẩn kế toán công quốc tế trong hoạt động tổ chức công tác kế toán của mình Bàiviết đề cập đến tình hình áp dụng tiêu chuẩn kế toán công quốc tế trong hoạt động tổchức công tác kế toán ở các nước Châu Âu và đặc biệt là khu vực Bắc Âu Qua nghiêncứu này, vấn đề được đặt ra đối với tổ chức công tác kế toán công là ứng dụng mộtcách linh hoạt, hợp lý các tiêu chuẩn kế toán công quốc tế đối với từng quốc gia

Nghiên cứu về kế toán công của bốn tác giả Ehsan Rayegan, Mehdi Parveizi,Kamran Nazari và Mostafa Emami với tiêu đề: “Kế toán công: Đánh giá về lý thuyết,mục tiêu và các tiêu chuẩn” (“Government accounting: An Assassment of Theory,Purposes and Standards”) đã đưa ra sự tổng hợp các vấn đề trong thực hiện kế toán củacác đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó bao gồm tổ chức công tác kế toán dựa trên hainguyên tắc là kế toán tiền mặt và kế toán dồn tích Bài viết đề cập đến vai trò, tráchnhiệm của Chính phủ đối với tổ chức công tác kế toán; chương trình đổi mới công tácquản lý tài chính công và các vấn đề liên quan đến NSNN Đề xuất mở rộng đề thúcđẩy trách nhiệm trong việc giải trình thực hiện công tác kế toán liên quan đến nghĩa vụkinh tế và chính trị cũng như trong nghiên cứu này

Trên đây là một số nghiên cứu khá đa dạng và phong phú của các tác giả nướcngoài liên quan đến tổ chức công tác kế toán công Những vấn đề nghiên cứu về khung

lý thuyết trong tổ chức công tác kế toán, hiệu quả thực hiện nguyên tắc kế toán, việc ápdụng chuẩn mực kế toán trong thực hiện tổ chức công tác kế toán, Tuy nhiên, cácnghiên cứu này của các nước có nền kinh tế phát triển và là những nghiên cứu chung

về lĩnh vực kế toán công Bởi vậy, khoảng trống nghiên cứu cho các trường hợp cụ thể

và vận dụng các nguyên tắc trong tổ chức công tác kế toán lớn, đặc biệt ở những nướcđang phát triển và cũng chưa nghiên cứu cụ thể cho tổ chức công tác kế toán ở các đơn

vị SNCL thuộc lĩnh vực y tế

2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước.

- Những nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán nói chung ở các đơn vị SNCL:Tại Việt Nam, Bộ Tài chính ban hành chế độ kế toán đơn vị HCSN hướng dẫn

kế toán trong đơn vị HCSN chung cho tất cả các ngành nghề, lĩnh vực hoạt động.Trong thời gian qua, đã có nhiều nghiên cứu được công bố bàn về vấn đề hoàn thiện tổchức công tác kế toán trong đơn vị SNCL có thu xét trên các khía cạnh nhất định, các

đề tài chủ yếu đề cập đến nguyên tắc chung, những lý luận cơ bản của tổ chức công tác

kế toán, hướng dẫn chung cho một số đơn vị đặc thù

Luận án của tiến sỹ Trần Thị Hoa Thơm (2011) “Sử dụng công cụ kế toán vàkiểm toán để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính ở các trường đại học công lập ở ViệtNam” tập trung nghiên cứu sâu về thực trạng sử dụng công cụ kế toán và kiểm toán

Trang 13

vào công tác quản lý tài chính của các trường đại học công lập ở Việt Nam, đề ra giảipháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính thông qua việc sử dụng công cụ kế toán vàkiểm toán trong điều kiện khoán chi và cơ chế tự chủ.

Luận án của tiến sỹ Phan Thị Thu Mai (2012) “Hoàn thiện tổ chức hạch toán kếtoán nhằm tăng cường quản lý tài chính trong các đơn vị HCSN ngành Lao động -Thương binh và xã hội” nghiên cứu tổ chức hạch toán kế toán và quản lý tài chínhtrong đơn vị hành chính sự nghiệp, luận án ch rõ tổ chức công tác kế toán tác động tớihiệu quả quản lý tài chính trên các mặt: khả năng kiểm soát và tính minh bạch hoạtđộng thu chi từ đó đề ra giải pháp về tổ chức bộ máy, hạch toán và vận dụng cơ sở kếtoán dồn tích xây dựng hệ thống báo cáo kế toán để tăng cường công tác quản lý tàichính trong ngành lao động - thương binh xã hội”

- Những nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán trong lĩnh vực y tế:

Các luận án này tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chứccông tác kế toán ở các đơn vị SNCL nói chung và có đề cập đến một số vấn đề về cơchế tài chính, tổ chức công tác kế toán trong lĩnh vực y tế nói riêng, đánh giá thựctrạng và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong phạm

vi nghiên cứu Có một số luận án cũng đề cập tới vấn đề ứng dụng CNTT trong việchoàn thiện tổ chức công tác kế toán nhưng chưa sâu sắc và cụ thể Các tác giả cũng đềcập một số nội dung trên góc độ kế toán quản trị, tuy nhiên, hầu hết các luận án đềucho thấy công tác kế toán quản trị trong các bệnh viện vẫn chưa được coi trọng như:

Luận án của tiến sỹ Lê Kim Ngọc (2009) “Tổ chức hạch toán kế toán trong các

cơ sở y tế với việc tăng cường quản lý tài chính ngành y tế Việt Nam”, không phântích các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị SNCL Tácgiả đã phân tích, đánh giá thực trạng trên hai khía cạnh như: Cơ chế quản lý tài chính

và tổ chức hạch toán kế toán trong các cơ sở y tế của Việt Nam và tìm ra những vấn đềlớn đã và đang tồn tại trong tổ chức hạch toán kế toán trong các cơ sở y tế với việctăng cường quản lý tài chính ngành y tế Việt Nam hiện nay Trên cơ sở những tồn tại

đó tác giả nêu lên được sự cần thiết phải hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán trongcác cơ sở y tế Việt Nam và nêu ra 3 nội dung cần phải hoàn thiện tổ chức hạch toán kếtoán như: bộ máy kế toán, công tác kế toán, công tác quản lý tài chính phù hợp vớiđiều kiện của luật pháp và những điều kiện ràng buộc khác ở Việt Nam Tuy nhiên,luận án còn chưa đề xuất trong việc đánh giá thực trạng công tác phân tích BCTC và

đề xuất phương pháp hoàn thiện nó như thế nào, ngoài ra còn hạn chế việc đề xuất hoànthiện hệ thống chứng từ kế toán và hoàn thiện hệ thống tài khoản theo hướng phục vụKTQT Các kiến nghị và giải pháp chủ yếu đề cập đến vấn đề công tác quản lý tài chính

và tổ chức công tác kế toán của các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế và Sở Y tế

Luận án của tiến sỹ Lê Thị Thanh Hương (2012) “Hoàn thiện tổ chức công tác

kế toán trong các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế ở Việt Nam” Luận án đã phân tíchthực trạng tổ chức công tác kế toán trong các bệnh viện thuộc Bộ Y tế chi phối đến cơchế quản lý tài chính và tổ chức công tác kế toán trong loại hình đơn vị này Từ những

lý luận, thực tiễn luận án hoàn thiện tổ chức kế toán trên góc độ kinh tế tài chính

Trang 14

từ, tổ chức hệ thống tài khoản, tổ chức hệ thống sổ kế toán, lập dự toán hoạt động tàichính, hệ thống báo cáo KTQT Tuy nhiên, luận án còn chưa đề xuất hoàn thiện tổchức hệ thống BCTC, phân tích và công khai BCTC, tổ chức kiểm tra kế toán và việc

tổ chức ứng dụng tin học vào công tác kế toán

Luận án của tiến sỹ Bùi Thị Yến Linh (2014) “Tổ chức công tác kế toán tại các

cơ sở y tế công lập t nh Quảng Ngãi” Luận án phân tích các nhân tố chi phối đến tổchức công tác kế toán tại các đơn vị SNCL Tuy nhiên, luận án còn chưa đề xuất đượcmột hệ thống sổ kế toán chung và mô hình tổ chức bộ máy kế toán để áp dụng chungcho các bệnh viện công lập và trung tâm y tế dự phòng ở t nh Quảng Ngãi thực hiện

Tóm lại, có khá nhiều nghiên cứu về tài chính y tế và tổ chức công tác kế toántại các đơn vị SNCL tại Việt Nam với những đóng góp nhất định và có ý nghĩa thamkhảo quan trọng cho luận án trong quá trình thực hiện Tuy nhiên, những công trìnhnghiên cứu này còn có hạn chế và khoảng trống chưa được đề cập ở một số khía cạnh

Thứ nhất, các đề tài tiếp cận về tổ chức công tác kế toán trên góc độ kế toán là

một nghề, một công việc và có đặc điểm chung là ch nghiên cứu lý luận về một số nộidung của tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị SNCL nói chung Trong khi đó những

lý luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán cũng như các nhân tố ảnh hưởng chi phốiđến tổ chức công tác kế toán chưa có công trình nào nghiên cứu và trình bày một cáchtoàn diện và có hệ thống

Thứ hai, các công trình nghiên cứu ch tập trung nghiên cứu phân tích và đánh

giá thực trạng từ đó đưa ra giải pháp đề hoàn thiện quản lý tài chính và tổ chức côngtác kế toán ở các bệnh viện công lập nói chung, chưa có nghiên cứu tổng hợp, phântích đầy đủ về thực trạng và đưa ra giải pháp cụ thể về tổ chức công tác kế toán tiếpcận theo góc độ kế toán là hệ thống thông tin bao gồm tổ chức nguồn nhân lực, tổ chức

dữ liệu, tổ chức xử lý dữ liệu, tổ chức phân tích và cung cấp thông tin, tổ chức kiểm trathông tin và một số nội dung của tổ chức công tác kế toán quản trị trong lĩnh vựcYHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội

Thứ ba, các công trình chưa đưa ra giải pháp cụ thể hoàn thiện việc tổ chức

công tác kế toán các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội với nội dung tổchức nguồn nhân lực cho hệ thống thông tin kế toán; tổ chức công tác kế toán từng nộidung trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý toàn diện công tác tàichính và tổ chức công tác kế toán các bệnh viện này trong cơ chế tự chủ hiện nay

2.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Từ kết quả nghiên cứu tổng quan, có thể thấy đối với các nghiên cứu ở nướcngoài thường tập trung đề cập đến thực hiện các nguyên tắc kế toán, việc áp dụngchuẩn mực kế toán trong thực hiện công tác kế toán hay nêu ra lý luận trong tổ chứccông tác kế toán, các nghiên cứu này được thực hiện ở hầu hết các nước có nền kinh

tế phát triển cao và là những nghiên cứu về lĩnh vực kế toán công nói chung Đối vớicác nghiên cứu trong nước, các công trình đã công bố thường ch tập trung cho nghiêncứu những lý luận chung và khảo sát thực trạng về tổ chức công tác kế toán trong cácđơn vị sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp có thu có thu thuộc các bộ ngành đặc thù

Trang 15

Trong luận án này tác giả đã kế thừa các nghiên cứu lý luận về tổ chức công tác

kế toán ở các đơn vị nói chung và trong các đơn vị sự nghiệp nói riêng ở các công trình

đã công bố, tuy nhiên nghiên cứu của tác giả được đặt trong môi trường mới, đó là tổchức công tác kế toán các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội, do đó tácgiả nhận thấy còn tồn tại khoảng trống chưa được nghiên cứu, cụ thể như sau:

- Các công trình nghiên cứu này đều tiếp cận lý luận tổ chức công tác kế toántheo quan điểm truyền thống: Kế toán là một công việc, là một nghề bao gồm tổ chứcchứng từ kế toán, tài khoản kế toán, sổ kế toán,…nhưng luận án của tác giả tiếp cậnviệc tổ chức công tác kế toán theo quan điểm mới đó là: tổ chức công tác kế toán là hệthống thông tin bao gồm tổ chức nguồn nhân lực kế toán, tổ chức thu thập dữ liệu cho

hệ thống thông tin kế toán, tổ chức xử lý dữ liệu, tổ chức phân tích và cung cấp thôngtin, tổ chức công tác kiểm tra thông tin kế toán

- Chưa có những nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán riêng trong ngànhYHCT, những yếu tố đặc thù trong hoạt động, tổ chức quản lý, chính sách tài chính chiphối đến tổ chức công tác kế toán các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Chưa có nghiên cứu cụ thể nào về việc ứng dụng CNTT ảnh hưởng trực tiếpđến tổ chức công tác kế toán các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Chưa có nghiên cứu, đánh giá về thực trạng tổ chức công tác kế toán ở cácbệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, tìm ra những nhân tố ảnhhưởng đến tổ chức công tác kế toán, những vấn đề tồn tại khi các bệnh viện này ápdụng chế độ kế toán mới để hạch toán doanh thu, chi phí, khi áp các quy định của phápluật về hóa đơn, chứng từ kế toán, ; từ đó đề ra các giải pháp phù hợp tổ chức côngtác kế toán các bệnh viện này trong cơ chế tự chủ hiện nay

Do đó, luận án sẽ nghiên cứu sâu về tổ chức công tác kế toán trong đơn vịSNCL, gắn với cơ chế tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tàichính; cùng thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các bệnh viện YHCT trên địabàn thành phố Hà Nội, những ưu điểm và hạn chế, xác định nguyên nhân, các nhân tốảnh hưởng để đưa các các giải pháp khắc phục và hoàn thiện tổ chức công tác kế toáncác bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội trong cơ chế tự chủ

3 Mục tiêu nghiên cứu của luận án.

- Hệ thống hóa và làm rõ hơn lý luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán trongcác đơn vị SNCL gắn với cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về về tổ chức bộ máy,thực hiện nhiệm vụ, biên chế và quản lý tài chính

- Dựa trên những nghiên cứu về cơ sở lý luận và đặc điểm của tổ chức công tác

kế toán để lựa chọn áp dụng phù hợp nhất cho tổ chức công tác kế toán các bệnh việnYHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội

Về mặt thực tiễn:

- Khảo sát và phân tích thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các bệnh việnYHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội trong điều kiện các đơn vị thực hiện cơ chế tựchủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, thực hiện nhiệm vụ, biên chế và quản lý

Trang 16

- Đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các bệnh viện YHCT trênđịa bàn thành phố Hà Nội, từ đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác

kế toán và tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng CNTT nhằm phục vụquản lý và điều hành hiệu quả hoạt động của các đơn vị theo cơ chế tự chủ, tự chịutrách nhiệm về tổ chức bộ máy, thực hiện nhiệm vụ biên chế, và quản lý tài chính

4 Câu hỏi nghiên cứu.

Việc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán của các bệnh viện YHCT trên địa bànthành phố Hà Nội là một nhu cầu tất yếu trong cơ chế tự chủ tài chính của các đơn vịSNCL trong xu thế hội nhập kinh tế hiện nay Bởi vậy, để đạt được mục tiêu nghiêncứu của luận án, các câu hỏi liên quan đến các vấn đề về của luận án cần phải phân tíchnhư sau:

1 Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán, đặc điểm tổ chức công tác kế toán các đơn vị sự nghiệp công lập?

2 Nội dung của tổ chức công tác kế toán theo cách tiếp cận tổ chức công tác kế toán là “hệ thống thông tin” bao gồm những gì?

3 Các nhân tố tác động đến tổ chức công tác kế toán của các bệnh viện YHCT nóichung và trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng?

4 Thực trạng tổ chức công tác kế toán của các bệnh viện YHCT ở Hà Nội trongthời gian qua đang diễn ra như thế nào, có đáp ứng được yêu cầu hoạt động cầu hoạtđộng, yêu cầu quản lý của đơn vị không?

5 Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán của các bệnh viện YHCT trên địabàn thành phố Hà Nội để quản lý tốt hơn công tác tài chính trong điều kiện ứng dụngCNTT và trong cơ chế tự chủ hiện nay?

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án.

- Đối tượng nghiên cứu:

Luận án tập trung nghiên cứu cở lý luận và thực tiễn về tổ chức công tác kế toáncủa các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội trong điều kiện thực hiện cơchế quản lý tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, thực hiện nhiệm vụ, biênchế và quản lý tài chính Từ đó đề suất các giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện tổ chứccông tác kế toán của các đơn vị này

Luận án không nghiên cứu tổ chức công tác kế toán của các bệnh viện công lậpnói chung và các bệnh viện YHCT ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về phạm vi không gian nghiên cứu: Luận án thực hiện nghiên cứu tổ chức

công tác kế toán tại các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội

+ Về nội dung nghiên cứu: Luận án tập trung khảo sát, nghiên cứu về tổ chức

công tác kế toán tại các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội trong điềukiện thực hiện cơ chế quản lý tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, thực hiệnnhiệm vụ, biên chế và quản lý tài chính trên 2 góc độ kế toán tài chính và kế toán quảntrị, đồng thời nghiên cứu, khảo sát về tổ chức ứng dụng CNTT vào công tác kế toáncủa các đơn vị này, cụ thể như sau:

Trang 17

* Trên góc độ kế toán tài chính: Khảo sát, nghiên cứu về tổ chức công tác kế

toán trong các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội theo các nội dung: tổchức nguồn nhân lực kế toán, tổ chức thu thập dữ liệu, tổ chức xử lý dữ liệu, tổ chứcphân tích và cung cấp thông tin, tổ chức kiểm tra thông tin kế toán trong hệ thốngthông tin kế toán, tổ chức ứng dụng CNTT trong tổ chức công tác kế toán

* Trên góc độ kế toán quản trị: Khảo sát, nghiên cứu về tổ chức công tác kế

toán trong các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội theo 2 nội dung: phânloại chi phí, xây dựng định mức và dự toán chi phí

+ Về mặt thời gian nghiên cứu: Luận án tập trung khảo sát, thu thập các tài liệu

về tổ chức công tác kế toán trong các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội

từ năm 2017 đến nay

6 Phương pháp nghiên cứu.

Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duyvật lịch sử; kết hợp với những lý thuyết cơ bản của khoa học kinh tế để nghiên cứu cácvấn đề lý luận và thực tiễn Về lý luận tác giả dựa trên cơ sở các khái niệm, nguyên lý

đã được nghiên cứu và thừa nhận ở Việt Nam và trên thế giới Phương pháp nghiêncứu được thực hiện bao gồm phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê sốhọc để xử lý các số liệu, phương pháp khảo sát, thu thập số liệu, phương pháp quy nạp,diễn giải,…

Thông qua nghiên cứu cách thức tổ chức công tác kế toán tại các bệnh việnYHCT khác nhau trên địa bàn thành phố Hà Nội, bằng phương pháp tiếp cận, thu thập,

xử lý, hệ thống hóa các thông tin đầu vào từ đó xử lý các thông tin đầu ra, và kết quảcuối cùng là hoàn thiện các hệ thống báo cáo kế toán

Luận án sử dụng hai nguồn dữ liệu trong quá trình nghiên cứu đó là dữ liệu thứcấp và dữ liệu sơ cấp Phương pháp thu thập thông tin đối với hai nguồn dữ liệu nàynhư sau:

6.1 Thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp :

Nguồn dữ liệu thứ cấp là dữ liệu có sẵn do các nghiên cứu, khảo sát hay cơquan, tổ chức thực hiện thu thập

Trong quá trình nghiên cứu luận án nguồn dữ liệu thứ cấp phục chủ yếu choviệc nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán trong các đơn vịSNCL nói chung và các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng Cụthể:

(1) Tổng hợp văn bản pháp lý về kế toán HCSN, quản lý tài chính trong các đơn

vị SNCL thuộc ngành y tế như sau:

- Các văn bản pháp lý về kế toán (Luật Kế toán và các văn bản hướng dẫn thihành Luật Kế toán như các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thực hiện chế độ kế toánHCSN, chuẩn mực kế toán công quốc tế, )

- Các văn bản pháp lý về quản lý tài chính (Luật NSNN và các văn bản hướngdẫn thi hành Luật NSNN; Nghị định, Thông tư hướng dẫn quản lý tài chính tại các đơn

vị SNCL nói chung và các đơn vị sự nghiệp y tế nói riêng …)

Trang 18

Các văn bản pháp qui trên được truy cập trên Google, trên website thư viện pháp luật; trên trang web của Bộ Tài chính, Bộ Y tế, các Bộ ban ngành liên quan….

(2) Tổng hợp các vấn đề lý luận về tổ chức công tác kế toán trong các đơn vịSNCL và quản lý tài chính trong các đơn vị SNCL từ các giáo trình chuyên ngành củacác trường Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Họcviện Tài chính, Đại học Thương mại Nguồn tài liệu này tác giả thu thập tại thư việncủa trường Đại học Kinh tế quốc dân, Học viện Tài chính, …

(3) Tổng hợp kinh nghiệm nghiên cứu trong và ngoài nước từ các Luận án Tiến

sỹ nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị SNCL đã được bảo vệtrước năm 2019 Nguồn tài liệu này tác giả thu thập tại thư viện Quốc gia Việt Nam,thư viện các trường Đại học như Học viện Tài chính, Đại học Kinh tế Quốc dân, Đạihọc Thương mại, …

(4) Tổng hợp kinh nghiệm vận dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế của các nướcthông qua các sách chuyên khảo, tạp trí và các trang website trong và ngoài nước

(5) Tham khảo các ý kiến phân tích, bình luận của các chuyên gia trên Google, các tạp trí, các trang website và các phương tiện truyền thông

+ Các chứng từ kế toán, sổ kế toán và tài liệu kế toán của các bệnh viện YHCT trên địa bàn Hà Nội trong thời gian qua

Đây là những thông tin quá khứ quan trọng giúp tác giả có cái nhìn cơ bản vàtổng quan về những vấn đề đã được đặt ra và giải quyết trong thời gian qua để tìm rakhoảng trống mà luận án sẽ cần phải nghiên cứu

6.2 Thu thập nguồn dữ liệu sơ cấp:

Nguồn dữ liệu sơ cấp là dữ liệu tác giả tự thu thập Các tài liệu sơ cấp cần thu thập trong quá trình nghiên cứu Luận án gồm: Thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua

phiếu khảo sát, bảng các câu hỏi phỏng vấn Phiếu khảo sát tập trung vào hướng khảosát việc tổ chức công tác kế toán tại các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố HàNội hiện nay

Phương pháp điều tra: Phương pháp điều tra được sử dụng thu thập thực tế về

tình hình tổ chức công tác kế toán các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội.Phương pháp tiến hành điều tra được thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Thiết kế mẫu điều tra trên cơ sở phạm vi của luận án nghiên cứu gồm:

mẫu 1: bảng câu hỏi dành cho ban lãnh đạo/ kế toán trưởng/ phó phòng kế toán (Phụ

lục 2.1) và mẫu 2 dành cho các nhân viên kế toán (Phụ lục 2.2).

Bước 2: Thiết lập các câu hỏi trên phiếu điều tra trên cơ sở nghiên cứu tổngquan về các công trình nghiên cứu, luận án xác định các "khoảng trống" cần tiếp tụcđược làm rõ trong luận án, từ đó tiến hành xây dựng các câu hỏi điều tra

Bước 3: Phát phiếu điều tra Phiếu điều tra được phát cho những người làmcông tác quản lý và trực tiếp làm kế toán tại các bệnh viện này bằng cách gửi phiếu câuhỏi trực tiếp hoặc thông qua email Tác giả đã gửi đi số phiếu điều tra 114 phiếu, trong

đó số phiếu gửi cho ban giám đốc 21 phiếu và 7 phiếu gửi cho kế toán trưởng, 9 phiếugửi cho phó phòng kế toán, 77 phiếu gửi cho nhân viên kế toán khác của các bệnh việnYHCT công lập trên địa bàn Hà Nội khảo sát và thu về đủ số phiếu đã phát

Trang 19

Mỗi đơn vị khảo sát chọn ngẫu nhiên từ 3 đến 7 nhân viên kế toán ở phòng kế toán củacác đơn vị để khảo sát, số lượng nhân viên kế toán của các đơn vị khảo sát được phỏngvấn là 77 nhân viên Một tuần trước khi gửi phiếu điều tác giả gọi điện trực tiếp tớiđơn vị khảo sát đề nghị đơn vị hợp tác gi p đỡ và sau một tuần gửi phiếu tác giả gọiđiện trực tiếp đến từng từng nhân viên để đảm bảo chắc chắn phiếu đã được gửi đến

đ ng địa ch và đối tượng, đồng thời nhắc nhở về việc trả lời phiếu điều tra Cuộc điều tra kéo dài trong từ giữa tháng 10/2018 đến cuối tháng 11/ 2019

+ Đối với ban giám đốc/ kế toán trưởng/ phó phòng kế toán: Các phiếu điều trađược tác giả gửi đi với mục đích tìm hiểu các thông tin liên quan đến đặc điểm, hìnhthức tổ chức, mô hình tổ chức công tác kế toán tài chính và một số nội dung kế toánquản trị và phân cấp quản lý của bệnh viện trong cơ chế tự chủ Lấy ý kiến đánh giáchất lượng và hiệu quả của tổ chức công tác kế toán trong thời gian qua

+ Đối với kế toán khác trong bệnh viện: thông qua các phiếu điều tra để đánhgiá thực trạng tổ chức công tác kế toán nói chung và ứng dụng công nghệ thông tin,cũng như những định hướng trong thời gian tới cho bệnh viện sẽ như thế nào

Bước 4: Tổng hợp phiếu điều tra, phân tích kết quả thu được để có các kết luận

về các vấn đề đặt ra trong các câu hỏi nghiên cứu Số lượng phiếu phát ra 114 phiếu

điều tra và thu lại 114 phiếu điều tra (Phụ lục 2.3).

Kết quả của phương pháp điều tra đó là các dữ liệu đánh giá tình hình và mức độ tổchức công tác kế toán tại các bệnh viện này thực hiện theo các quy định như thế nào

Phương pháp phỏng vấn: Để có thêm thông tin phục vụ cho việc phân tích đánh

giá thực trạng tổ chức công tác kế toán của các đơn vị khảo sát, tác giả đã thực hiệnphỏng vấn sâu đối với thông qua trao đổi trực tiếp và phỏng vấn các đối tượng có liênquan, cụ thể:

+ Trao đổi trực tiếp với các bộ phận của bệnh viện như: Ban Lãnh đạo của cácviện; Lãnh đạo các phòng/ban Tài chính kế toán; trưởng các khoa, phòng ban có liênquan của các bệnh viện; bộ phận kiểm soát nội bộ (nếu có)

+ Phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia, gồm các chuyên gia xây dựng chính sách,chế độ của Bộ Tài chính, Bộ Y tế , các kiểm toán viên nhà nước làm việc ở Kiểmtoán Nhà nước hoặc kiểm toán viên hành nghề làm việc ở các doanh nghiệp kiểmtoán trên cơ sở tham khảo ý kiến các chuyên gia để luận án làm rõ hơn các vấn đềnghiên cứu, làm cơ sở đưa ra kết luận khách quan hơn

Quan sát chứng từ, sổ kế toán, BCTC và các thông tin liên quan khác: Tiến

hành nghiên cứu điển hình thông qua tìm hiểu, quan sát, ghi, sao chép số liệu đối với

hệ thống chứng từ, sổ kế toán, BCTC của các bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương,Bệnh viện Tuệ Tĩnh, Bệnh viện đa khoa y học cổ truyền Hà Nội để phục vụ cho nghiêncứu của luận án Thời gian thực hiện quan sát tiến hành trong năm 2018

Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng các phương pháp khảo sát, ghi chép đối với

hệ thống chứng từ, sổ kế toán, BCTC và cơ sở vật chất của bộ phận kế toán tại cácbệnh viện YHCT trên địa bàn Hà Nội để nghiên cứu rõ hơn về thực trạng tổ chức côngtác kế toán của bệnh viện YHCT công lập điển hình là bệnh viện Châm cứu Trung

Trang 20

ương, bệnh viện Y học cổ truyền Hà Đông, Viện Y học cổ truyền Quân đội, Bệnh viện

Y học cổ truyền Bộ Công an

Phương pháp xử lý hệ thống hóa các thông tin.

- Phương pháp xử lý hệ thống hóa thông tin sơ cấp: Sau khi tiến hành phỏng

vấn, phân loại các thông tin thu được theo từng mục nội dung nghiên cứu, xem xét tínhhợp lệ của thông tin nhận được đối với nghiên cứu

- Phương pháp xử lý hệ thống hóa các thông tin thứ cấp: Sau khi thu thập các

tài liệu thứ cấp, phân loại theo các dạng: Tài liệu cung cấp các cơ sở lý thuyết, tài liệubáo cáo kế hoạch ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, tài liệu tham khảo

Phương pháp phân t ch dữ liệu để hoàn thiện hệ thống báo cáo.

Số liệu sau khi thu thập được lựa chọn và xử lý bằng phần mềm Excel theo yêucầu của nghiên cứu Các phương pháp chính yếu được tác giả sử dụng trong quá trình

xử lý dữ liệu gồm:

- Phương pháp thống kê: Phương pháp này dùng để điều tra thu thập tài liệu

liên quan đến quá trình tuân thủ tổ chức công tác kế toán tại các bệnh viện nghiên cứu.Sau khi thu thập được dữ liệu thông qua phiếu điều tra phỏng vấn, luận án tiến hành hệthống hóa tài liệu, tổng hợp và đưa ra mô hình làm cơ sở đánh giá thực trạng Phươngpháp này được sử dụng trong các phần nghiên cứu: Thực trạng tổ chức công tác kếtoán các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội

Tương tự như vậy, tác giả tổng hợp kết quả phỏng sâu kế toán trưởng, phụ trách

kế toán, Ban lãnh đạo, các đơn vị khảo sát được tổng hợp chi tiết trên phụ lục 2.1 vàkết quả khảo sát nhân viên quản lý được tổng hợp trên phụ lục 2.2 Nguồn thông tinthu được từ phỏng vấn sâu kế toán trưởng và cán bộ quản lý của các đơn vị điển hình

đã hỗ trợ thêm rất nhiều cho tác giả đi sâu, làm rõ hơn thực trạng về tổ chức công tác

kế toán các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội Qua đó, gi p tác giả đánhgiá và phát hiện thêm những tồn tại trong tổ chức công tác kế toán

- Phương pháp phân t ch định tính: Phương pháp này dùng để phân tích các tài

liệu, số liệu và công tác có sẵn qua các tạp chí, BCTC, hệ thống sổ kế toán của cácbệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội để đưa ra các đánh giá làm cơ sở đưa

ra các giải pháp phù hợp

- Phương pháp đối chiếu và so sánh: Thông qua nghiên cứu các tài liệu đã công

bố, nghiên cứu những tài liệu có cùng nội dung nghiên cứu, luận án tiến hành so sánhđối chiếu để bổ sung cho việc xây dựng giải pháp của luận án

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án.

- Thứ nhất về mặt khoa học:

Luận án phân tích, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức côngtác kế toán đơn vị SNCL; Các vấn đề đó được trình bày tương đối đầy đủ, logic, biệnchứng và là cơ sở, tiền đề cho việc nghiên cứu nội dung trọng tâm của luận án

Nội dung trọng tâm của luận án là nêu đặc điểm của tổ chức hoạt động, đặc điểm

tổ chức công tác kế toán của các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội Đây

là cơ sở để phân tích, đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toáncác bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 21

+Về phía Nhà nước: Cần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý để thực hiện tốtchức năng hướng dẫn, quản lý, giám sát các hoạt động của tổ chức công tác các đơn vịSNCL nói chung, tổ chức công tác kế toán các bệnh viện YHCT trên địa bàn Hà Nội.

+Về phía bệnh viện: Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán, tổ chức nguồn nhânlực kế toán, tổ chức thu thập dữ liệu, tổ chức xử lý dữ liệu, tổ chức phân tích và cungcấp thông tin, tổ chức công tác kiểm tra kế toán trong điều kiện ứng dụng CNTT củacác bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội phù hợp với cơ chế tự chủ

8 Kết cấu của luận án.

Nội dung của luận án được chia làm 3 chương ngoài lời mở đầu, kết luận, danhmục tài liệu tham khảo và các phần kết cấu khác

Chương 1: Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán đơn vị SNCL.

Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các bệnh viện YHCT trên địa

bàn thành phố Hà Nội

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các bệnh viện

YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội

Ba chương này có mối quan hệ logic để thực hiện mục tiêu nghiên cứu

Trang 22

CHƯƠNG 1:

LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN

ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP

1.1.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập.

Việt Nam cũng như bất cứ quốc gia nào, Nhà nước luôn đóng vai trò quan trọngtrong tổ chức, quản lý và điều hành các mặt của đời sống kinh tế xã hội Để thực thivai trò này, bộ máy quyền lực Nhà nước bao gồm các cơ quan lập pháp, cơ quan hànhpháp, cơ quan tư pháp và các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức, đoàn thể xã hội, Trong

đó, Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước caonhất Chính phủ và bộ máy hành chính Nhà nước là hệ thống các cơ quan hành pháp,thống nhất quản lý việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốcphòng an ninh và đối ngoại theo đ ng chức năng, thẩm quyền theo luật định Chính phủ

có quyền hành rộng rãi và thực sự làm chủ quyền hành pháp trên toàn lãnh thổ quốcgia và chịu trách nhiệm trước nhân dân, đã hình thành nên các đơn vị sự nghiệp đểthực thi quyền hành pháp của mình

Trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, cụm từ “đơn vị HCSN”được hiểu là từ gọi tắt cho các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, các đoàn thể, hộiquần ch ng Trong quá trình đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạtđộng của Chính phủ, các cơ quan nhà nước (hay còn gọi là cơ quan hành chính) xácđịnh rõ phạm vi và nội dung quản lý của mình về kinh tế, xã hội, phù hợp với yêu cầuphát triển, đồng thời đã tách bạch rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa cơ quan nhànước và đơn vị sự nghiệp công lập

Theo tác giả thì cơ quan HCNN và đơn vị SNCL ch hai loại tổ chức khác biệtnhau về chức năng như sau: Cơ quan HCNN là các tổ chức do nhà nước có thẩmquyền quyết định và thành lập để cung cấp trực tiếp các dịch vụ hành chính công chongười dân khi thực hiện chức năng quản lý của mình Các cơ quan hành chính baogồm: các tổ chức tham mưu, hoạch định thể chế, chính sách và tổ chức thừa hành, thựcthi pháp luật thuộc cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ(bao gồm các Vụ, Cục, Tổng cục, Thanh tra, Văn phòng Bộ và một số tổ chức có têngọi khác); các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp t nh (gồm: các Sở, Thanhtra, Văn phòng Ủy ban nhân dân và một số tổ chức có tên gọi khác); các cơ quanchuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp huyện (bao gồm các Phòng, Thanh tra, Vănphòng Ủy ban nhân dân và một số tổ chức có tên gọi khác) Đơn vị SNCL là các tổchức do Nhà nước có thẩm quyền quyết định và thành lập để thực hiện cung cấp một

số dịch vụ công (bao gồm các tổ chức sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, khoa học công nghệ, văn hoá - thông tin, thể dục - thể thao, lao động - xã hội và các tổ chức sựnghiệp khác) Do vậy các đơn vị SNCL không phải là cơ quan quản lý nhà nước mà làcác tổ chức cung cấp các dịch vụ công như y tế, văn hóa, giáo dục,…đáp ứng nhu cầuphát triển nguồn lực, chăm sóc sức khỏe, nâng cao thể lực cho nhân dân, đáp ứng yêucầu về đổi mới, phát triển kinh tế xã hội của đất nước Vì vậy, hiện nay đơn vị SNCLthường được định nghĩa khá giống nhau như:

Trang 23

-Theo chế độ kế toán HCSN (2006) đơn vị HCSN là: Đơn vị do Nhà nước quyếtđịnh thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý nhànước về một lĩnh vực nào đó, hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN cấp, cấp trên cấptoàn bộ hoặc cấp một phần kinh phí và các nguồn khác đảm bảo theo nguyên tắc khôngbồi hoàn trực tiếp nhằm thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho từng giaiđoạn Trong đó, các cơ quan hành chính được hiểu là các tổ chức cung cấp dịch vụhành chính công thực hiện chức năng quản lý nhà nước, còn các đơn vị sự nghiệp đượchiểu là các tổ chức cung cấp các dịch vụ công về y tế, giáo dục đào tạo, văn hóa, thểthao, đáp ứng nhu cầu về phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe, nâng cao thểlực cho nhân dân, đáp ứng yêu cầu về đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Theo Điều 1, Điểm 2 Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chínhphủ về Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập thì “Đơn vị SNCL do cơquan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cáchpháp nhân, cung cấp dịch vụ công phục vụ quản lý nhà nước” [16]

Theo chuẩn mực kế toán công quốc tế IPSAS số 6 và IPSAS số 22: Các đơn vịcung cấp dịch vụ công và các cơ quan quản lý nhà nước bị kiểm soát bởi một đơn vịcông được gọi chung là các đơn vị bị kiểm soát, ngoại trừ các đơn vị kinh doanh bằngvốn nhà nước, tất cả các đơn vị bị kiểm soát còn lại được gọi là các đơn vị thuộc lĩnh

vực công hoạt động dựa vào nguồn tài trợ của Chính phủ để duy trì cho hoạt động của cácđơn vị được diễn ra liên tục Nguồn tài trợ từ Chính phủ đối với các đơn vị công có thể lànguồn ngân sách hoặc phi ngân sách Như vậy, quan điểm này nhấn mạnh đơn vị

công bao gồm cả cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp là các đơn vị được thành lập vàđược kiểm soát bởi Chính phủ Theo tôi đây là khái niệm mang tính bao quát và tổnghợp hơn và phù hợp với xu thế phát triển kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay

Theo tác giả thì cơ quan nhà nước và đơn vị SNCL ch hai loại tổ chức khác biệtnhau về chức năng như sau:

- Cơ quan nhà nước là các tổ chức do nhà nước có thẩm quyền quyết định

thành lập để cung cấp trực tiếp các dịch vụ hành chính công cho người dân khi thựchiện chức năng quản lý nhà nước của mình Các cơ quan nhà nước bao gồm : các Bộ,

cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; các cơ quan chuyên môn của Ủy bannhân dân cấp t nh; các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp huyện

- Đơn vị SNCL là các tổ chức do Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập

để thực hiện cung cấp một số dịch vụ công (bao gồm các tổ chức thuộc các lĩnh vựcgiáo dục đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ, văn hoá - thông tin, thể dục - thể thao, laođộng - xã hội và các tổ chức sự nghiệp khác) Do vậy các đơn vị SNCL không phải là

cơ quan quản lý nhà nước mà là các tổ chức cung cấp các dịch vụ công như y tế, vănhóa, giáo dục,…đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn lực, chăm sóc sức khỏe, nâng cao thểlực cho nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Như vậy theo ch ng tôi, các đơn vị SNCL là tổ chức do cơ quan có thẩm quyềncủa Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấpdịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước Nguồn tài chính để đảm bảo hoạt động doNSNN cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách Các hoạt động này có giá trị tinh thần vôhạn, chủ yếu được tổ chức để phục vụ xã hội, do đó chi phí chi ra không được trả lại

Trang 24

trực tiếp bằng hiệu quả kinh tế nào đó mà được thể hiện bằng hiệu quả xã hội nhằm đạtđược các mục tiêu kinh tế vĩ mô.

1.1.2 Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập.

Đặc điểm hoạt động của các đơn vị SNCL rất đa dạng do nhu cầu phát triểnkinh tế - xã hội và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, cácđơn vị SNCL dù hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau nhưng đều mang những đặc điểm

cơ bản như sau:

Thứ nhất, mục đ ch hoạt động của các đơn vị SNCL là không vì lợi nhuận, chủ yếu phục vụ lợi ch cộng đồng.

Trong nền kinh tế, các sản phẩm, dịch vụ do đơn vị SNCL tạo ra đều có thể trởthành hàng hóa cung ứng cho mọi thành phần trong xã hội Việc cung ứng các hànghóa này cho thị trường chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận như hoạt động sản xuấtkinh doanh Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cungcấp những sản phẩm, dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhànước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách ph c lợi công cộngkhi can thiệp vào thị trường Nhờ đó sẽ hỗ trợ cho việc nâng cao dân trí, bồi dưỡngnhân tài, đảm bảo nguồn nhân lực, th c đẩy hoạt động kinh tế - xã hội phát triển vàngày càng đạt hiệu quả cao hơn, đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống, sứckhỏe, văn hóa, tinh thần của nhân dân

Thứ hai, sản phẩm của các đơn vị SNCL là sản phẩm mang lại lợi ch chung có t

nh bền vững, lâu dài cho xã hội.

Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động SNCL tạo ra chủ yếu là những sản phẩm, dịch

vụ có giá trị về sức khỏe, tri thức, văn hóa, đạo đức, xã hội,… Đây là những sản phẩm

vô hình và có thể dùng chung cho nhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng.Mặt khác sản phẩm của các hoạt động SNCL chủ yếu là các “hàng hóa công cộng”phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp trong quá trình tái sản xuất xã hội Hàng hoá côngcộng có hai đặc tính cơ bản là không có tính cạnh tranh (non-rival) và không loại trừ(non-excludable) Nói cách khác, đó là những hàng hóa mà nếu có một người tiêu dùngmột hàng hóa thì trong cùng một l c không làm cho người khác phải ngừng tiêu dùnghàng hóa đó và tiêu dùng của người này không loại trừ việc tiêu dùng của người khác.Nhờ việc sử dụng những “hàng hóa công cộng” do hoạt động SNCL tạo ra làm choquá trình sản xuất của cải vật chất được thuận lợi và ngày càng đạt hiệu quả cao Vìvậy, hoạt động sự nghiệp luôn gắn bó hữu cơ và tác động tích cực đến quá trình tái sảnxuất xã hội

Thứ ba, hoạt động của các đơn vị SNCL luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước.

Với chức năng của mình, Chính phủ luôn tổ chức, duy trì và đảm bảo hoạt động

sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Để thực hiện nhữngmục tiêu kinh tế - xã hội nhất định, Chính phủ tổ chức thực hiện các chương trình mụctiêu quốc gia Những chương trình mục tiêu quốc gia này ch có Nhà nước, với vai tròcủa mình mới có thể thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả, nếu để tư nhân thựchiện, mục tiêu lợi nhuận sẽ lấn chiếm mục tiêu xã hội và dẫn đến hạn chế việc tiêu

Trang 25

dùng sản phẩm hoạt động sự nghiệp, từ đó kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội.

Tóm lại các đơn vị SNCL có đặc điểm cơ bản là hoạt động với mục đích không

vì lợi nhuận, chủ yếu phục vụ lợi ích cộng đồng; sản phẩm các đơn vị SNCL là sảnphẩm mang lợi ích chung, có tính bền vững lâu dài cho xã hội và hoạt động của cácđơn vị SNCL luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hộicủa Nhà nước

1.1.3 Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập.

Tùy thuộc quan điểm, cách tiếp cận hoặc do các yêu cầu của quản lý nhà nước,

…mà các đơn vị SNCL được phân chia theo các tiêu thức khác nhau Các cách phânloại tuy khác nhau đều nhằm mục đích nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với cácđơn vị SNCL trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá đưa ra các định hướng, mụctiêu phát triển của mỗi loại hình đơn vị phù hợp với từng thời kỳ

 Thứ nhất, theo chủ thể quản lý thì đơn vị SNCL được phân thành:

- Đơn vị SNCL do Trung ương quản lý, bao gồm: các bệnh viện, trường học do Trung ương quản lý;

- Đơn vị SNCL do địa phương quản lý, bao gồm: các bệnh viện, trường học do địa phương quản lý

 Thứ hai, theo phân cấp quản lý ngân sách:

Theo Quyết định số 90/2007 QĐ-BTC ngày 26/10/2007 của Bộ Tài chính vềviệc ban hành "Quy định về mã số các đơn vị có quan hệ với ngân sách" thì đơn vị dựtoán, đơn vị sử dụng NSNN:

- Đơn vị dự toán cấp I là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách hàng năm doThủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân giao, thực hiện phân bổ, giao dự toán ngân sách cho các đơn vị cấp dưới trực thuộc

- Đơn vị dự toán cấp II là đơn vị cấp dưới đơn vị dự toán cấp I, được đơn vị dựtoán cấp I giao dự toán và phân bổ dự toán được giao cho đơn vị dự toán cấp III

(trường hợp được ủy quyền của đơn vị dự toán cấp I)

- Đơn vị dự toán cấp III là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách (đơn vị sử dụng NSNN), được đơn vị dự toán cấp I hoặc cấp II giao dự toán ngân sách

- Đơn vị cấp dưới của đơn vị dự toán cấp III được nhận kinh phí để thực hiệnphần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện công tác kế toán và quyết toán theoquy định (đơn vị sử dụng NSNN)

Lấy tài liệu chính thống theo Quyết định số 90/2007 QĐ-BTC

 Thứ ba, theo lĩnh vực hoạt động thì đơn vị SNCL được chia thành:

- Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo bao gồm các cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân

- Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực văn hóa thông tin nghệ thuật

- Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực thể dục thể thao

- Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực kinh tế

- Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực y tế bao gồm các cơ sở khám chữabệnh như các bệnh viện, phòng khám, trung tâm y tế thuộc các Bộ, ngành và địa

Trang 26

phương; cơ sở khám chữa bệnh thuộc các viện nghiên cứu, trường đào tạo y dược; các

cơ sở điều dưỡng, phục hồi chức năng,…

 Thứ tư, theo quan điểm về thực hiện quyền tự chủ :

* Theo Nghị định 43/2006/CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ, các đơn vị

SNCL bao gồm:

- Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên: là các đơn vị cónguồn thu từ hoạt động sự nghiệp luôn ổn định nên bảo đảm được toàn bộ chi phí hoạtđộng thường xuyên NSNN không phải cấp kinh phí cho hoạt động thường xuyên của

* Theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ về tự chủ tài chính của

các đơn vị SNCL, các đơn vị SNCL bao gồm:

- Đơn vị SNCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, trong đó nguồn thu

từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công, bao gồm cả nguồn NSNN đặt hàng cung cấp dịch

vụ sự nghiệp công theo giá tính đủ chi phí

- Đơn vị SNCL tự bảo đảm chi thường xuyên, trong đó nguồn thu từ hoạt động

dịch vụ sự nghiệp công, bao gồm cả nguồn NSNN đặt hàng cung cấp dịch vụ sựnghiệp công theo giá tính đủ chi phí NSNN không phải cấp kinh phí cho các hoạtđộng chi thường xuyên của đơn vị

- Đơn vị SNCL tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (do giá, phí dịch vụ sự

nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp

dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ chi phí) Đơn vị SNCL do Nhà nước

bảo đảm chi thường xuyên (theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp).

Theo tác giả với các cách phân loại trên có thể xác định được vị trí, lĩnh vực hoạt

động và cơ chế tài chính mà đơn vị tuân thủ, mô hình hoạt động của đơn vị từ đó xácđịnh được phạm vi, tính chất và đặc điểm của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh gắn vớitừng đối tượng kế toán cụ thể trong mỗi loại đơn vị Qua đó tổ chức phù hợp với mỗiloại hình đơn vị Tùy theo yêu cầu quản lý khác nhau ở mỗi loại đơn vị, mỗi cấp dựtoán khác nhau có thể xây dựng hệ thống BCTC phản ánh thông tin ở các mức độ khácnhau về các đối tượng kế toán Do vậy, khi tiến hành tổ chức công tác kế toán khôngthể không nghiên cứu về phân loại đơn vị SNCL

1.2 TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG ĐƠN VỊ SNCL.

1.2.1.Những vấn đề chung về tổ chức công tác kế toán đơn vị SNCL.

1.2.1.1.Khái niệm về tổ chức công tác kế toán đơn vị SNCL.

* Khái niệm về kế toán:

Theo Luật kế toán Việt Nam 88/2015 “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra,phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật vàthời gian lao động.”

Trang 27

Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) thì cho rằng: “Kế toán là nghệ thuật ghi chép,phân loại tổng hợp theo một cách riêng có bằng những khoản tiền các nghiệp vụ và các

sự kiện mà chúng có ít nhất một phần tính chất tài chính và trình bày kết quả của nó”

* Khái niệm về tổ chức công tác kế toán:

Kế toán - một trong những công cụ quản lý có hiệu lực được sử dụng trong cácđơn vị để quản lý tài sản, quản lý quá trình tiếp nhận và sử dụng các nguồn kinh phí.Song để kế toán thực sự trở thành công cụ quản lý đắc lực ở các đơn vị SNCL, thì vấn

đề tổ chức công tác kế toán hợp lý và khoa học là một trong những tiền đề tiên quyếtcủa các đơn vị Do đó để đạt được yêu cầu trên theo chúng tôi mỗi đơn vị SNCL cầnphải tổ chức công tác kế toán khoa học Có nhiều quan điểm khác nhau về tổ chứccông tác kế toán như sau:

Theo “Giáo trình nguyên lý kế toán” của Học viện Tài chính thì “Tổ chức côngtác kế toán cần được hiểu như một hệ thống các yếu tố cấu thành gồm: tổ chức bộ máy

kế toán, tổ chức vận dụng các phương pháp kế toán, kỹ thuật hạch toán, tổ chức vậndựng chế độ, thể lệ kế toán,…mối liên hệ và sự tác động giữa các yếu tố đó với mụcđích đảm bảo các điều kiện cho việc phát huy tối đa chức năng của hệ thống các yếu tốđó” [19]

Theo “Giáo trình Tổ chức công tác kế toán”, trường Đại học Kinh tế Thành phố

Hồ Chí Minh thì “Tổ chức công tác kế toán là việc xác định những công việc, nhữngnội dung mà kế toán phải thực hiện hay phải tham mưu cho các bộ phận phòng bankhác thực hiện, nhằm hình thành một hệ thống kế toán đáp ứng được các yêu cầu củađơn vị” [20]

Theo “Giáo trình Tổ chức công tác kế toán”, Học viện Tài chính thì “Tổ chứccông tác kế toán là tổ chức việc thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp thông tin về hoạtđộng của đơn vị” [21]

Theo “Tài liệu bồi dưỡng kế toán trưởng đơn vị hành chính sự nghiệp” của BộTài chính (2018) thì “Tổ chức công tác kế toán là tổ chức việc thực hiện các chuẩnmực và chế độ kế toán để phản ánh tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuấtkinh doanh, tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra kế toán, chế độ bảo quản, lưu trữ tài liệu

kế toán, cung cấp thông tin tài liệu kế toán và các nhiệm vụ khác của kế toán” [29].Theo khái niệm này thì tổ chức công tác kế toán muốn nhấn mạnh việc tổ chức thựchiện tuân thủ các quy định có tính khuôn mẫu của kế toán như tuân thủ các quy địnhcủa chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán, các thông tư hướng dẫn kế toán Khái niệmnày cũng không đề cập đến yếu tố con người trong thực thi công việc và tổ chức thôngtin kế toán nội bộ phục vụ cho quản trị

Tổ chức công tác kế toán được coi là công việc tổ chức quản lý quan trọng trongquá trình thực hiện công tác kế toán của mỗi tổ chức, nhằm giúp cho việc thu nhận, xử lý,phân tích và cung cấp thông tin cho công tác điều hành mọi hoạt động KTTC của đơn vị.Mặt khác, tổ chức công tác kế toán không đơn thuần là tổ chức một bộ phận quản lý trongđơn vị, mà còn bao hàm cả tính nghệ thuật trong việc xác lập các yếu tố, điều kiện cũngnhư các mối liên hệ qua lại tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kế toán, bảo

Trang 28

Nhìn chung, các khái niệm đã nêu thường nhấn mạnh đến việc tổ chức thựchiện các công việc kế toán gắn với các phương pháp của KTTC, bởi đề cập nhiều đếnvấn đề tuân thủ hay áp dụng những khuôn mẫu trong kế toán đáp ứng yêu cầu thôngtin cho nhà quản lý Tuy nhiên, ngày nay, có thể thấy việc tổ chức công tác kế toánkhông ch dừng lại và ch đặt trọng tâm tổ chức trên góc độ KTTC mà còn phải hết sứcchú trọng đến việc tổ chức thông tin kế toán trên góc độ KTQT nhằm cung cấp thôngtin giúp nhà quản lý có thể điều hành, kiểm soát, xác định trách nhiệm trong phạm vinhiệm vụ, chức trách được giao Bên cạnh đó trong thời đại khoa học công nghệ ngàycàng phát triển thì không thể thiếu việc tổ chức ứng dụng CNTT vào trong thực thicông việc kế toán Theo đó, tổ chức công tác kế toán là phải tổ chức tốt ở tất cả các nộidung trên.

Từ những phân tích nêu trên, theo quan điểm của nghiên cứu sinh: tổ chức côngtác kế toán của đơn vị SNCL bao gồm tổ chức nguồn nhân lực kế toán trong đó đề cập

mô hình tổ chức nguồn nhân lực, yếu tố nguồn nhân lực và phân công công việc; tổchức hệ thống thông tin kế toán bao gồm tổ chức thu thập dữ liệu cho hệ thống thôngtin kế toán, tổ chức xử lý dữ liệu thông tin kế toán, tổ chức phân tích và cung cấpthông tin kế toán, tổ chức công tác kiểm tra kế toán, và việc ứng dụng CNTT vào côngtác kế toán

1.2.1.2 Yêu cầu, nhiệm vụ và ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong các đơn

vị SNCL.

*Yêu cầu tổ chức công tác kế toán.

Tổ chức công tác kế toán có chất lượng, hiệu quả là cơ sở để kế toán đơn vịSNCL cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ, trung thực, hợp lý về tình hình tài sản, nợphải trả, tài sản thuần, tình hình và kết quả hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị; phùhợp với qui định của pháp luật về kế toán, tài chính và các qui định của pháp luật khác

có liên quan; cung cấp đầy đủ, kịp thời, minh bạch, phục vụ cho việc ra các quyết địnhkinh tế của nhà quản trị bên trong và những cá nhân, tổ chức bên ngoài có liên quan

Tính hiệu lực, hiệu quả của các quyết định kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào chấtlượng thông tin kế toán Để giảm thiểu sai lầm trong việc ra quyết định, yêu cầu chungcủa người sử dụng thông tin kế toán là thông tin phải kịp thời, phản ảnh trung thực,hợp lý về tình hình tài chính, tình hình và kết quả hoạt động kinh tế, tài chính của đơn

vị kế toán Tuy nhiên, trong thực tế với những nguyên nhân chủ quan, khách quankhác nhau như sự yếu kém về năng lực chuyên môn, do sự hạn chế hiểu biết về phápluật, sự mới mẽ và phức tạp của các giao dịch, sự mâu thuẫn về lợi ích nhóm,… thôngtin do kế toán cung cấp luôn có khả năng tồn tại những sai phạm với các mức độ khácnhau Vì vậy, theo ch ng tôi để đảm bảo thông tin kế toán cung cấp đầy đủ, kịp thời,minh bạch, rõ ràng, đáng tin cậy, tổ chức công tác kế toán đơn vị SNCL cần phải đápứng các yêu cầu sau:

Thứ nhất, tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo yêu cầu khoa học và hợp lý, đảm bảo tuân thủ pháp luật về tài chính kế toán và các qui định của pháp luật có liên quan Bất kỳ công việc tổ chức nào trước hết phải thể hiện được tính khoa học và hợp

lý, bởi vì công việc tổ chức là yếu tố quyết định đến chất lượng và hiệu quả của công

Trang 29

tác Do đó, công tác kế toán phải tuân thủ theo những nguyên tắc, chính sách, chế độ,thể lệ, quy chế về kinh tế, tài chính, kế toán,…Vì thế, tổ chức công tác kế toán ở đơn vịSNCL không ch cần tính khoa học, hợp lý mà còn phải đảm bảo tuân thủ pháp luật cóliên quan theo qui định hiện hành.

Thứ hai, tổ chức công tác kế toán ở đơn vị phải đảm bảo phù hợp với đặc điểm

tổ chức quản lý, quy mô và địa bàn hoạt động của đơn vị Mỗi đơn vị có đặc điểm,

điều kiện thực tế khác nhau về tổ chức hoạt động, tổ chức quản lý, quy mô và trình độquản lý,…Do vậy, tổ chức công tác kế toán ở đơn vị SNCL muốn phát huy tốt tácdụng thì phải được tổ chức phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị

Thứ ba, tổ chức công tác kế toán ở đơn vị phải phù hợp với biên chế đội ngũ và khả năng trình độ của đội ngũ cán bộ nhân viên kế toán hiện có Mỗi đơn vị SNCL có

đội ngũ kế toán với trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sử dụng thiết bị phương tiện kỹthuật tin học…có thể khác nhau Do vậy, các đơn vị muốn tổ chức công tác kế toánhợp lý và có hiệu quả thì khi tổ chức công tác kế toán cần đảm bảo tính phù hợp vớiđội ngũ, trình độ của họ thì những người làm kế toán mới đủ khả năng, điều kiện đểhoàn thành nhiệm vụ công việc kế toán được giao

Thứ tư, tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo thực hiện đầy đủ chức năng nhiệm vụ kế toán trong đơn vị, thu nhận, xử lý, kiểm tra và cung cấp thông tin kế toán đáp ứng yêu cầu quản lý, quản trị của đơn vị Sản phẩm cuối cùng của kế toán là cung

cấp được các báo cáo kế toán (thông tin kế toán) cần thiết cho các đối tượng sử dụngthông tin Những thông tin đó xuất phát từ yêu cầu quản lý, quản trị đơn vị và của cácđối tượng sử dụng thông tin kế toán Do vậy, khi tiến hành tổ chức công tác kế toán ởđơn vị cần lưu ý đến yêu cầu quản lý, quản trị của các đối tượng đó để thiết kế hệthống thu nhận và cung cấp thông tin phải có hiệu quả và hữu ích

Thứ năm, tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo được những yêu cầu của thông tin kế toán và tiết kiệm chi phí hạch toán Kế toán là công cụ quản lý, mà mục

đích của quản lý là hiệu quả và tiết kiệm, đồng thời kế toán là công việc, là hoạt độngcủa một tổ chức/bộ phận của đơn vị cũng chi phí rất nhiều cho công việc này Do vậy,khi tổ chức công tác kế toán ở đơn vị cũng quan tâm đến vấn đề hiệu quả và tiết kiệmchi phí hạch toán, cần phải tính toán, xem xét đến tính hợp lý giữa chi phí hạch toánvới kết quả/hiệu quả/tính kinh tế của công tác kế toán mang lại

*Nhiệm vụ kế toán:

Điều 4 Luật kế toán 2015 qui định nhiệm vụ kế toán của đơn vị kế toán như sau:

- Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công việc kế toán, theo chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán

- Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, nghĩa vụ thu, nộp, thanh toánnợ; kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản; phát hiện vàngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán

- Phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán

- Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật

Trang 30

Là một trong các công cụ quản lý quan trọng của đơn vị SNCL, do vậy theo tôi

những nhiệm vụ chính của tổ chức công tác kế toán trong đơn vị SNCL, gồm:

Một là, tổ chức hợp lý bộ máy kế toán ở đơn vị phù hợp với đặc điểm, điều kiện

tổ chức hoạt động, tổ chức quản lý và phân cấp quản lý tài chính ở đơn vị, đảm bảo

đủ số lượng, có chất lượng, đảm bảo hoàn thành mọi nội dung công việc kế toán củađơn vị với chi phí tiết kiệm nhất Thực hiện phân công, phân nhiệm rõ ràng cho từngnhân viên kế toán; xác định được mối quan hệ công việc giữa bộ phận kế toán với các

bộ phận quản lý khác trong đơn vị

Tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp lý là một trong những tiền đề quantrọng để kế toán thực hiện tốt vai trò của mình trong công tác quản lý Kế toán là khoahọc quản lý và cần được ứng dụng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đơn vịSNCL thì mới phát huy được vai trò tích cực của chúng Mặt khác, khi tổ chức côngtác kế toán, phải đề cập đến tổ chức bộ máy kế toán, phải có kế hoạch cụ thể theo thờigian, phân công, phân nhiệm cụ thể cho từng bộ phận, từng cán bộ, nhân viên kế toánthì mới đảm bảo chất lượng và hiệu quả

Hai là, xác định rõ mối quan hệ giữa các bộ phận trong bộ máy kế toán với các

bộ phận quản lý khác trong đơn vị về các công việc liên quan đến công tác kế toán và

thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính liên quan cho các nhà quản lý.Thực tế để cung cấp thông tin phục vụ đáp ứng yêu cầu các cơ quan quản lý nhà nước

có liên quan, quản trị trong đơn vị, đòi hỏi có sự liên quan và phối kết hợp giữa các bộphận chức năng trong toàn đơn vị Mỗi bộ phận có nhiệm vụ riêng, tuy nhiên, chúng cóliên quan và có mối quan hệ tạo thành bộ máy quản lý toàn đơn vị Do vậy, khi tổ chức

bộ máy kế toán cần xác định rõ nhiệm vụ và mối quan hệ về cung cấp thông tin giữa

bộ phận kế toán với các bộ phận chức năng liên quan trong toàn đơn vị

Ba là, tổ chức thực hiện chế độ kế toán, thông lệ kế toán, Luật Kế toán đã ban hành và lựa chọn một hình thức kế toán phù hợp với điều kiện cụ thể của đơn vị Việc

tổ chức công tác kế toán ở đơn vị SNCL có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các phươngpháp kế toán, tổ chức thực hiện Luật kế toán, chế độ kế toán quy định vào đơn vị cho

đ ng và phù hợp để thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin kế toán đáp ứng yêu cầuquản lý đơn vị, đảm bảo cho kế toán thực hiện tốt nhiệm vụ của mình Việc lựa chọnhình thức kế toán phù hợp là một trong các nhiệm vụ của tổ chức công tác kế toán,nhằm gi p đơn vị tổ chức thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin phù hợp và hiệu quả

Bốn là, tổ chức áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý;

từng bước trang bị và sử dụng các phương tiện kỹ thuật tính toán, hiện đại Tổ chứcbồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý, trình độ nghiệp vụ cho cán bộ kế toán Tổ chứcphổ biến hướng dẫn các chế độ thể lệ về tài chính kế toán cho công chức viên chứctrong đơn vị Tổ chức kiểm tra kế toán trong nội bộ

Trong điều kiện hiện nay, khoa học kỹ thuật thông tin phát triển rất nhanh vàtin học đã xâm nhập sâu vào khoa học quản lý, trở thành một yếu tố và phương tiệnquan trọng, không thể thiếu Do đó, theo tôi khi tổ chức công tác kế toán ở đơn vịSNCL cần quán triệt nhiệm vụ ứng dụng những thành tựu khoa học tiên tiến, hiện đại,

Trang 31

sử dụng các chương trình phần mềm, trang thiết bị kỹ thuật hỗ trợ tính toán, thiết lập

hệ thống thông tin, khai thác và lưu trữ thông tin cho hiệu quả

Mặt khác, kế toán là khoa học quản lý, nó luôn có sự cải tiến và hoàn thiệncùng với sự thay đổi cơ chế chính sách kinh tế, tài chính theo từng giai đoạn và thời

kỳ, do vậy, người làm kế toán cần có sự hiểu biết, cập nhật kiến thức, cơ chế, chínhsách, chế độ mới, cũng như các lĩnh vực khoa học kỹ thuật liên quan khác Bên cạnh

đó, việc tổ chức công tác kế toán cũng cần quan tâm đến việc bồi dưỡng nghiệp vụchuyên môn, cập nhật kiến thức mới về khoa học kỹ thuật liên quan cho cán bộ, nhânviên kế toán

Đồng thời, quá trình hoạt động của đơn vị chính là quá trình thực hiện cácchính sách, chế độ quản lý kinh tế, tài chính của Nhà nước Kế toán với tư cách làcông cụ phục vụ quản lý kinh tế, tài chính của đơn vị, do vậy, để thực hiện tốt cácchính sách, chế độ của Nhà nước, khi tổ chức công tác kế toán ở đơn vị SNCL phảithực hiện nhiệm vụ phổ biến, hướng dẫn và kiểm tra việc chấp hành chính sách, chế

độ quản lý kinh tế, tài chính ở đơn vị, nhằm đưa công tác kế toán và công tác quản lýcủa đơn vị vào nề nếp Những nhiệm vụ trên, theo tôi phải được triển khai đồng bộmới có thể phát huy được tốt các nội dung của tổ chức công tác kế toán

* Ý nghĩa tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập.

Khác với các doanh nghiệp, các đơn vị SNCL được Nhà nước giao nhiệm vụtheo chức năng quản lý ngành và được phân cấp quản lý theo các đơn vị dự toán cáccấp 1, cấp 2, cấp 3 Các đơn vị SNCL được trang trải chi phí bằng nguồn vốn cấp phátcủa NSNN, nguồn thu sự nghiệp và các hoạt động dịch vụ Mọi khoản thu, chi ở đơn vịnày đều phải được lập dự toán một cách có cơ sở khoa học Vì vậy, với quan điểm trêntôi cho rằng tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý sẽ đảm bảo kế toán thực hiệntốt vai trò và nhiệm vụ của mình trong đơn vị và thỏa mãn tốt được thông tin kinh tếtài chính của đơn vị cho các đối tượng quan tâm Do đó, theo tôi việc tổ chức tốt côngtác kế toán trong các đơn vị SNCL có ý nghĩa:

- Thứ nhất, tổ chức công tác kế toán khoa học sẽ cung cấp thông tin đầy đủ, kịpthời, chính xác cho hoạt động quản lý nói chung Những nghĩa vụ về tài chính khôngthể được đảm bảo một cách đầy đủ nếu thiếu thông tin và giám sát thông tin Bởi thế

kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tàichính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động Kế toán là một trong nhữngcông cụ quản lý kinh tế hữu hiệu nhất nhằm phản ánh các mặt hoạt động kinh tế tàichính của đơn vị Trong kế toán, mọi nghiệp vụ kinh tế đều được ghi chép đầy đủ, liêntục, có hệ thống trên cơ sở các chứng từ hợp lệ Chính điều này đã làm tăng ý nghĩakiểm tra, giám sát của kế toán

- Thứ hai, tổ chức công tác kế toán khoa học sẽ tạo dựng được BMKT gọn nhẹ,hiệu quả Nếu phải đối mặt với một khối lượng công việc không nhỏ và một hệ thốngnguyên tắc phải tuân thủ mà tổ chức một bộ máy kế toán cồng kềnh, làm việc kém hiệuquả sẽ làm nảy sinh các vấn đề như: công việc phối hợp không nhịp nhàng, thiếu tínhđồng bộ do có nhiều bộ phận tác nghiệp chồng chéo, phân định chức năng, nhiệm

Trang 32

vụ của từng bộ phận không rõ ràng, thời gian hạch toán và thanh quyết toán chậm so với quy định do phải trải qua nhiều bộ phận trung gian

- Thứ ba, tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý sẽ là cơ sở quan trọng đểquản lý tài chính hiệu quả Tổ chức công tác kế toán khoa học không những tiết kiệmđược thời gian, nhân lực mà còn góp phần không nhỏ vào việc quản lý và sử dụng kinhphí có hiệu quả Bằng những thông tin kinh tế tài chính được cung cấp kịp thời sẽ tiếtkiệm thời gian tìm kiếm thông tin, là cơ sở cho nhà quản lý dự trù chính xác chi phícần thiết, tránh thất thoát cũng như tránh tình trạng sử dụng không đ ng mục đích Dovậy, việc tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý có ý nghĩa quan trọng gi p choviệc cung cấp thông tin kế toán kịp thời, phản ánh đầy đủ về tình hình các nguồn thu

và hoạt động chi của đơn vị, qua đó làm giảm bớt khối lượng công tác kế toán trùnglắp, tiết kiệm chi phí đồng thời gi p cho việc kiểm kê, kiểm soát tài sản, nguồn kinh phíhoạt động và đánh giá hiệu quả hoạt động,

Như vậy tổ chức công tác kế toán có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quản lý

ở các đơn vị SNCL Trong điều kiện tự chủ, một yêu cầu đặt ra với tổ chức công tác kếtoán là phải không ngừng đổi mới và hoàn thiện nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý củabản thân đơn vị cũng như phù hợp với các chính, chế độ, thể lệ về kinh tế, tài chínhcủa Nhà nước Để phát huy tốt nhất vai trò, ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán, cácđơn vị SNCL cần phải tuân thủ các yêu cầu cơ bản và thực hiện tốt nhiệm vụ về tổchức công tác kế toán

1.2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán trong đơn vị SNCL

Trong quá trình hoạt động,đơn vị SNCL, hệ thống kế toán có thể bị ảnh hưởngbởi nhiều nhân tố khác nhau, khi những nhân tố này thay đổi, hệ thống kế toán có thể

bị ảnh hưởng lớn đến tổ chức công tác kế toán

Tổ chức công tác kế toán để đạt được các mục tiêu và thỏa mãn các yêu cầu trên,theo tôi khi tiến hành tổ chức công tác kế toán, các đơn vị SNCL cần quan tâm đến cácnhân tố ảnh hưởng sau:

* Thứ nhất, môi trường pháp lý, cơ chế tài chính của đơn vị SNCL.

Môi trường pháp lý bao gồm toàn bộ hệ thống văn bản pháp quy và việc vậnhành trong thực tế của hệ thống này Trong đó, dưới góc độ tổ chức công tác kế toán,các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị SNCL làLuật Kế toán, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thực hiện chế độ kế toán và các vănbản pháp quy liên quan đến cung cấp dịch vụ công như Luật về thuế, Luật NSNN, Luậtquản lý và sử dụng tài sản công, Luật cán bộ viên chức….Khi tổ chức công tác kế toáncần nắm vững các văn bản pháp luật về kế toán, tài chính và các qui định pháp lý cóliên quan và vận dụng phù hợp với đặc điểm của đơn vị SNCL

Trong những năm qua, để đáp ứng yêu cầu mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế,trong đó, kế toán khu vực công cũng có những chuyển biến tích cực ngày càng tiếp cậnvới các nguyên tắc và thông lệ quốc tế Việc thay đổi môi trường pháp lý một cáchđồng bộ, phù hợp sẽ tạo điều kiện cho công tác quản lý tài chính công có hiệu quả, baogồm việc huy động, khai thác, quản lý sử dụng các nguồn đầu tư tài chính cũng như

Trang 33

quy trình lập dự toán, thực hiện và quyết toán dự toán các nguồn kinh phí Từ đó, chiphối và tác động rất lớn đến tổ chức công tác kế toán các đơn vị SNCL.

Khi tổ chức công tác kế toán, đơn vị SNCL cần đảm bảo tuân thủ Luật Kế toán(2015), đặc biệt là các quy định về nội dung công tác kế toán, tổ chức bộ máy kế toán,người làm kế toán để bảo đảm kế toán là công cụ quản lý, giám sát chặt chẽ, có hiệuquả mọi hoạt động kinh tế, tài chính, cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực, kịp thời,công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tổ chức, quản lý điều hành của đơn vị SNCL

*Thứ hai, nhu cầu thông tin kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập.

Tổ chức công tác kế toán các đơn vị SNCL phải đáp ứng được nhu cầu thôngtin kế toán của các nhà quản lý Nhu cầu thông tin của các đơn vị SNCL bao gồm cácthông tin kế toán tài chính và các thông tin kế toán quản trị Về nguyên tắc, các thôngtin kế toán tài chính được cung cấp phải tuân thủ pháp luật, chế độ kế toán Các thôngtin kế toán quản trị được cung cấp theo nhu cầu sử dụng thông tin nội bộ của đơn vịSNCL Nhu cầu thông tin kế toán quản trị rất đa dạng và thường không được chuẩnhóa Các thông tin kế toán trong các đơn vị SNCL rất đa dạng, do đó khi tổ chứcCTKT cần phân tích kỹ để có thể xác định chính xác nhu cầu thông tin, từ đó vận dụngcác phương pháp kế toán phù hợp và cung cấp thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý củađơn vị SNCL

* Thứ ba, cơ chế quản lý tài chính và đổi mới cơ chế quản lý tài chính

trong các đơn vị SNCL.

(1) Cơ chế quản lý tài chính trong các đơn vị SNCL.

Hoạt động của các đơn vị SNCL được duy trì và đảm bảo chủ yếu bằng nguồnNSNN và có nguồn gốc NSNN theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp Do vậy, hoạtđộng của các đơn vị SNCL phải tuân thủ chế độ quản lý tài chính công Quản lý tàichính là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế xã hội và là khâu quản lý mangtính tổng hợp Quản lý tài chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong cácđơn vị SNCL, bao gồm lên kế hoạch, lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toánngân sách phải đảm bảo tính thống nhất để từ đó thực hiện báo cáo cho các cấp lãnhđạo,… Do đó, việc quản lý tài chính có hiệu quả hay không là nguyên nhân dẫn đến sựthành công hay thất bại của các đơn vị SNCL Chính vì vậy, công tác quản lý tài chính

sẽ chi phối và tác động rất lớn đến tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị SNCL Tổchức công tác kế toán của các đơn vị SNCL phải đảm bảo tuân thủ các chính sách, chế

độ quản lý tài chính theo quy định hiện hành Quản lý tài chính được coi là hợp lý, cóhiệu quả nếu nó tạo ra được một cơ chế quản lý thích hợp, có tác động tích cực tới cácquá trình kinh tế - xã hội theo các phương hướng phát triển đã được hoạch định Cơchế quản lý tài chính là các qui định về phương thức tổ chức và hoạt động điều hành,hướng dẫn kiểm tra…của một hệ thống các bộ phận, tổ chức trong một xã hội, mộtlĩnh vực, một tổ chức theo mối liên hệ kết hợp thống nhất nhằm th c đẩy các quan hệkinh tế - xã hội phát triển theo những mục tiêu đã định, phù hợp với những quy luậtkhách quan và điều kiện kinh tế - xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định Đơn vịSNCL là các tổ chức do Nhà nước có thẩm quyền quyết định và thành lập để thực hiện

Trang 34

NSNN không vì mục tiêu lợi nhuận Do vậy, cơ chế quản lý tài chính của các đơn vịSNCL góp phần tạo ra hành lang pháp lý cho quá trình tạo lập, sử dụng nguồn tàichính trong các đơn vị SNCL Chính vì vậy, công tác quản lý tài chính sẽ chi phối vàtác động rất lớn đến tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị SNCL Điều này đãđược chứng minh qua thực tiễn thực hiện cơ chế quản lý tài chính của các đơn vịSNCL như sau:

- Cơ chế quản lý tài chính theo năm dự toán là cơ chế truyền thống được ápdụng trước năm 2002 Theo cơ chế quản lý này căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ đượcgiao và các tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước, các đơn vị SNCL lập dự toán thu chitheo năm; tổ chức thực hiện dự toán tuyệt đối tuân thủ các tiêu chuẩn, định mức củaNhà nước trong phạm vi dự toán được duyệt; quyết toán dự toán theo cơ chế này phảituân thủ theo các mục chi của mục lục NSNN tương ứng với từng nội dung chi, cáckhoản chi không hết phải nộp lại NSNN hoặc giảm trừ dự toán vào năm sau trừ trườnghợp đặc biệt

- Cơ chế tự chủ tài chính được hình thành trên quan điểm đơn vị sử dụng tài chínhđược điều hành một cách linh hoạt thay thế cho cơ chế quản lý tài chính năm mà lâu naynhà nước áp đạt cho các đơn vị SNCL Nghị định đầu tiên số 10/2002/NĐ-CP ngày16/01/2002 của Chính phủ ban hành về “Chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp cóthu” Nghị định này đã xác định rõ các đơn vị SNCL được tự chủ tài chính, được chủ động

bố trí kinh phí để thực hiện nhiệm vụ, được ổn định kinh phí hoạt động thường xuyên doNSNN cấp đối với đơn vị SNCL tự đảm bảo một phần chi phí Từ năm 2006 cho đến nay,hoạt động của các đơn vị SNCL được tuân thủ theo quy định của Nghị định 43/2006/NĐ-

CP ban hành ngày 25/4/2006 về việc “Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thựchiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính

đối với đơn vị SNCL” Theo đó, thì quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm được trao chođơn vị SNCL trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động vànguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng củađơn vị để cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng bướcgiải quyết thu nhập cho người lao động Theo cơ chế tự chủ các đơn vị SNCL căn cứvào chức năng, nhiệm vụ năm được giao và năm kế hoạch, chế độ chi tiêu tài chínhhiện hành, qui chế chi tiêu nội bộ và kết quả hoạt động sự nghiệp, tình hình thu, chi tàichính của năm liền kế trước đó để lập dự toán cho 3 năm liên tục Tổ chức thực hiện

dự toán tại các đơn vị SNCL theo cơ chế tự chủ thực hiện theo qui chế chi tiêu nội bộcủa đơn vị, được điều ch nh các nội dung chi, các nhóm mục chi trong dự toán cho phùhợp với tình hình thực tế của đơn vị Thực hiên quyết toán tại các đơn vị theo các mụcchi của mục lục NSNN, Dự toán chưa r t và nguồn kinh phí chưa sử dụng được chuyểnsang năm sau

Cho tới nay, trong nhiều lĩnh vực mặc dù Nghị định số 16/2015/NĐ-CP đã đượcban hành nhưng do chưa có hướng dẫn thực hiện Nghị định này trong nhiều lĩnh vực nêncác đơn vị SNCL chưa có hướng dẫn, đang thực hiện theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP.Theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, các đơn vị SNCL không ch có quyền tự chủ, tự chịutrách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế mà còn có quyền

Trang 35

tự chủ về tài chính trong quá trình hoạt động của đơn vị SNCL được tổng hợp theo 5 nội dung sau:

- Tự chủ về các khoản thu, mức thu: Đơn vị SNCL được quyết định các khoảnthu, mức thu theo nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy Đối với hoạt độngthu phí, lệ phí và sản phẩm, dịch vụ nhà nước đặt hàng đơn vị thực hiện theo mức thuhoặc khung mức thu và đơn giá sản phẩm do nhà nước quy định

- Tự chủ về huy động vốn: Đơn vị SNCL có hoạt động dịch vụ được vay vốncủa các tổ chức tín dụng; được huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị đểđầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng,nhiệm vụ

- Tự chủ về sử dụng nguồn tài chính: Đơn vị SNCL chủ động sử dụng nguồnkinh phí NSNN cấp bảo đảm hoạt động thường xuyên, nguồn thu sự nghiệp để hoànthành nhiệm vụ được giao; Đối với đơn vị SNCL tự bảo đảm toàn bộ chi phí, đơn vịSNCL tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động được quyết định các mức chi quản lý, chi nghiệp vụ thường xuyên cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do nhà nước quy định

- Để chủ động sử dụng nguồn kinh phí hoạt động thường xuyên được giao đ ngmục đích, tiết kiệm và có hiệu quả, đơn vị xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ làm căn cứ

để cán bộ, viên chức thực hiện và KBNN thực hiện kiểm soát chi

- Tự chủ về sử dụng kết quả hoạt động tài chính trong năm: đơn vị SNCL tựbảo đảm toàn bộ chi phí, đơn vị SNCL tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động đượctrích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, trả thu nhập tăng thêm cho người laođộng và trích lập Quỹ phúc lợi, Quỹ khen thưởng, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập;đơn vị SNCL do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động được chi trả thu nhập tăngthêm cho người lao động, chi khen thưởng, chi phúc lợi, chi tăng cường cơ sở vật chất,chi lập Quỹ dự phòng ổn định thu nhập

(2) Đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong các đơn vị SNCL.

Ngày 14/02/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định

cơ chế tự chủ của đơn vị SNCL để nâng cao quyền tự chủ của đơn vị SNCL Thực hiệntốt chính sách này sẽ tạo động lực và th c đẩy sự phát triển của việc cung cấp sản phẩmdịch vụ công, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của dân cư, th c đẩy sự phát triển của các đơn

vị cung cấp dịch vụ công lên một trình độ cao hơn So với cơ chế cũ, quy định mới đã

có các đột phá về cơ chế cung cấp dịch vụ công và cơ chế hoạt động của đơn vị sựnghiệp cung cấp dịch vụ công, cụ thể

- Phân biệt rõ danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí NSNN vàdanh mục dịch vụ công không sử dụng kinh phí NSNN, ví dụ trong ngành y tế viện phíkhông còn là khoản phí mà chuyển sang là giá dịch vụ công không sử dụng kinh phíNSNN Quy định này đã giới hạn khuôn khổ, phạm vi những loại hình dịch vụ côngthiết yếu, những loại dịch vụ công cần có sự hỗ trợ từ NSNN; đối với những loại dịch

vụ công không thiết yếu NSNN sẽ không hỗ trợ

- Qui định lộ trình tiếp cận việc tính giá cung cấp dịch vụ công theo nguyên tắcthị trường Điều này tạo điều kiện cho các đơn vị SNCL được tự chủ thực sự trong việc

Trang 36

có giải pháp thu hồi chi phí để tái đầu tư cung cấp dịch vụ công, đảm bảo đời sống cho người lao động.

- Tạo điều kiện để từng bước chuyển việc hỗ trợ các đối tượng chính sách trong

sử dụng dịch vụ công thông qua Nhà nước bù giá cho các đơn vị cung cấp dịch vụcông lập, sang Nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng dịch vụ công

- Khuyến khích và yêu cầu các đơn vị SNCL thay đổi phương thức hoạt động,đổi mới tổ chức, chấp nhận cơ chế cạnh tranh bình đẳng với các đơn vị cung cấp dịch

vụ công ngoài công lập Việc làm này sẽ góp phần tạo điều kiện cho các đơn vị cônglập, ngoài công lập cùng phát triển, khuyến khích th c đẩy xã hội hóa trong cung cấpdịch vụ công, giảm nhẹ gánh nặng cho NSNN

Nghị định số 16/2015/NĐ-CP có nhiều nội dung đổi mới được khái quát như sau:

i) Đổi mới phương thức đầu tư của NSNN:

- NSNN đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên đối với các đơn vị SNCLđược Nhà nước giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công ở các vùng có điềukiện kinh tế xã hội khó khăn, vùng đồng bào dân tộc ít người, vùng miền núi, biên giới

và hải đảo

- Thực hiện chuyển đổi từ việc giao dự toán ngân sách cho các đơn vị SNCLsang thực hiện phương thức đặt hàng, mua hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sựnghiệp công dựa trên cơ sở định mức kinh tế - kỹ thuật và tiêu chí, tiêu chuẩn chấtlượng của từng loại hình dịch vụ đơn vị cung cấp (không phân biệt cơ sở công lập,ngoài công lập) nhằm tạo cạnh tranh lành mạnh, tạo môi trường thuận lợi, bảo đảm chocác đơn vị SNCL và ngoài công lập phát triển bình đẳng

- Chuyển dần từ phương thức cấp phát trực tiếp cho đơn vị SNCL sang cấp phátcho đối tượng thụ hưởng dịch vụ công

ii) Đổi mới cơ chế hoạt động và tài ch nh đối với các đơn vị SNCL:

- Tăng cường phân cấp và thực hiện trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm caohơn cho các đơn vị SNCL đồng bộ cả về tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhân lực, tàichính trên cơ sở có tính đến đặc điểm từng loại hình đơn vị, khả năng và nhu cầu thịtrường, trình độ quản lý

- Thực hiện minh bạch hóa các hoạt động liên doanh, liên kết của các đơn vị SNCL; khắc phục tình trạng công - tư lẫn lộn ;

- Thực hiện đổi mới cơ chế tài chính đối với nhóm các đơn vị SNCL cung cấpcác dịch vụ sự nghiệp công có khả năng xã hội hóa cao, tự đảm bảo toàn bộ chi phíhoạt động; được Nhà nước xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị theo cơ chế giaovốn cho doanh nghiệp; đơn vị được vay vốn các tổ chức tín dụng, huy động của cáccán bộ viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động

iii) Đổi mới cơ chế đặt hàng, mua hàng, giao nhiệm vụ cung ứng dịch vụ công:

-Xây dựng, hoàn thiện và ban hành hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật và tiêuchí, tiêu chuẩn của từng loại hình dịch vụ sự nghiệp công để làm căn cứ đặt hàng, giaonhiệm vụ

- Đổi mới cơ chế tính giá đặt hàng sản phảm, dịch vụ sự nghiệp công; Nhà nướcquy định giá hoặc khung giá sản phẩm, dịch vụ đối với các loại dịch vụ cơ bản, có vai

Trang 37

trò thiết yếu đối với xã hội; từng bước tính đ ng, tính đủ các chi phí hợp lý trong giádịch vụ sự nghiệp, phù hợp với thị trường và khả năng của NSNN; thực hiện có lộtrình việc xóa bỏ bao cấp qua giá, phí dịch vụ.

Đối với các hoạt động dịch vụ khác, đơn vị SNCL được tự quyết định mức thu,theo nguyên tắc đảm bảo bù đắp chi phí và có tích lũy

(iv) Các nội dung đổi mới về giá, phí dịch vụ sự nghiệp

công * Giá dịch vụ sự nghiệp công

- Dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng kinh phí NSNN : Đơn vị SNCL đượcxác định giá dịch vụ sự nghiệp công theo cơ chế thị trường, được quyết định các khoảnthu, mức thu bảo đảm bù đắp chi phí hợp lý, có tích lũy theo quy định của pháp luậtđối với từng lĩnh vực;

- Dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí NSNN;

- Giá dịch vụ sự nghiệp công được xác định trên cơ sở định mức kinh tế - kỹthuật, định mức chi phí do cơ quan có thẩm quyền ban hành và lộ trình tính đủ chi phí(từ năm 2016 đến năm 2020);

- Trong phạm vi khung giá dịch vụ sự nghiệp công do cơ quan nhà nước cóthẩm quyền quy định, đơn vị SNCL quyết định mức giá cụ thể cho từng loại dịch vụ;trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định cụ thể giá dịch vụ sự nghiệpcông, đơn vị thu theo mức giá quy định

* Phí dịch vụ sự nghiệp công

Dịch vụ sự nghiệp công thuộc danh mục thu phí thực hiện theo quy định phápluật về phí, lệ phí Đơn vị SNCL được thu phí theo mức thu do cơ quan nhà nước cóthẩm quyền quy định

(v) Phân loại đơn vị SNCL theo mức độ tự chủ tài chính: Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định đơn vị SNCL theo mức độ tự chủ tài ch nh được phân theo 4 loại sau:

- Đơn vị SNCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư

- Đơn vị SNCL tự bảo đảm chi thường xuyên

- Đơn vị SNCL tự bảo đảm một phần chi thường xuyên

- Đơn vị SNCL do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên

Theo yêu cầu mới của Nghị định số 16/2015/NĐ-CP thì toàn bộ các khoản thuphí dịch vụ công khi chuyển giá dịch vụ công trong lĩnh vực y tế là các khoản thu việnphí phải sử dụng hóa đơn dịch vụ thay cho Biên lai thu phí, các khoản thu theo giá dịch

vụ công được ghi nhận là doanh thu mà không phải là khoản thu phí theo pháp lệnhphí, lệ phí

Ngay sau khi Nghị định 16/2015/NĐ-CP được ban hành, Thủ tướng Chính phủ

có Quyết định số 695/2015/QĐ-TTg (ngày 21/5/2015) thông qua kế hoạch triển khaithực hiện Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, trong đó yêu cầu các bộ, ngành, cơ quan liênquan soạn thảo trình Chính phủ ban hành các quy định cụ thể hóa Nghị định 16/2015/NĐ-CP Theo đó từ năm 2017 đối với một số lĩnh vực đã được Thủ tướng Chính phủban hành quyết định danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí NSNN (lĩnh

Trang 38

dự toán kinh phí thường xuyên theo quy định tại Nghị định 43/2006/NĐ-CP sang thựchiện cơ chế Nhà nước đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công theo giá,phí chưa tính đủ chi phí, do cơ quan có thẩm quyền quy định Đây là một bước chuyểnmới hướng theo lộ trình quy định tại Nghị định 16/2015/NĐ-CP.

Tuy nhiên trong nhiểu lĩnh vực như y tế, giáo dục… các bộ, cơ quan quản lýnhà nước theo ngành, lĩnh vực chưa ban hành kịp thời các hướng dẫn để quy định cụthể hóa Nghị định 16/2015/NĐ-CP làm cơ sở triển khai thực hiện, hiện nay mới cóNghị định 54/2017/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của đơn vị SNCL trong lĩnh vựckhoa học và công nghệ và Nghị định 141/2016/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của đơn

vị SNCL trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác

Ngành y tế do chưa có nghị định quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp y

tế nên trong lĩnh vực y tế hiện đang triển khai theo Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày15/10/2012 về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tếcông lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnhcông lập, theo đó các đơn vị sự nghiệp y tế công lập bao gồm:

- Nhóm 1: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí

kinh phí hoạt động thường xuyên và kinh phí đầu tư phát triển

- Nhóm 2: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí

hoạt động thường xuyên

- Nhóm 3: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt

động thường xuyên

- Nhóm 4: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp hoặc không có nguồn thu, kinh

phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được giao NSNN bảo đảm toànbộ

Từ những vấn đề nêu trên, dẫn đến việc quản lý, tổ chức công tác kế toán cácđơn vị SNCL khác với các doanh nghiệp, tổ chức khác Các yêu cầu và nội dung đổimới cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị SNCL đòi hỏi phải được nghiên cứu làm

cơ sở xem xét, đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp hoàn thiện ở Chương 3

* Thứ tư, nguồn tài chính đầu tư cho các đơn vị SNCL.

Muốn duy trì được hoạt động bình thường và phát triển, các đơn vị SNCL cầnđược huy động các nguồn tài chính để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trangthiết bị chuyên môn, trả lương cho cán bộ viên chức Nguồn tài chính đầu tư cho cácđơn vị SNCL được hình thành trong quá trình phân phối và phân phối lại tổng sảnphẩm xã hội và thu nhập quốc dân của các chủ thể kinh tế - xã hội Đó là nguồn vốn từNSNN và nguồn vốn xã hội hóa từ các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội, của các tầnglớp nhân dân trong và ngoài nước, nguồn thu từ hoạt động của các đơn vị SNCL Vìvậy, việc huy động, khai thác, quản lý và sử dụng các nguồn tài chính đầu tư cho cácđơn vị SNCL tác động đến tổ chức công tác kế toán ở các khâu huy động, quản lý và

sử dụng nguồn tài chính của đơn vị Đồng thời để đảm bảo các yêu cầu đó, đơn vị phải

tổ chức hệ thống chi tiết chứng từ, tài khoản phản ánh nguồn kinh phí, sổ kế toán theotừng loại nguồn kinh phí và báo cáo chi tiết biến động của từng loại nguồn kinh phí,vốn (bao gồm kinh phí do NSNN cấp, nguồn viện trợ và được tài trợ, biếu tặng, nguồn

Trang 39

thu phí, lệ phí, nguồn thu từ hoạt động SXKD dịch vụ, nguồn vốn vay và các nguồnthu khác) nhằm quản lý chặt chẽ và sử dụng kinh phí, vốn có hiệu quả nhất.

Đây là những đặc điểm quan trọng quyết định các đơn vị SNCL được phép huyđộng và sử dụng các nguồn huy động đó như thế nào, do vậy nó sẽ tác động đến tổchức công tác kế toán với mục đích thu thập, xử lý, theo dõi, hệ thống hóa và báo cáochi tiết, tổng hợp về từng đối tượng phục vụ quản lý Nó ảnh hưởng đến tổ chức lựachọn và phương pháp ghi chép, tổng hợp vào chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, sổ

kế toán và các ch tiêu trong báo cáo kế toán liên quan đến các khoản thu từ chi tiết cụthể đến tổng hợp toàn đơn vị Bởi vì, mỗi nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh liênquan đến các khoản huy động, kế toán đều ghi chép, xử lý, phản ánh và tổng hợp bằngcác phương pháp của kế toán nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho nhà quản lý về đốitượng đó

* Thứ năm, quy trình lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán ngân sách tại các đơn vị SNCL.

Công tác quản lý tài chính ở các đơn vị SNCL bao gồm ba khâu công việc: Lập

dự toán ngân sách trong phạm vi được cấp có thẩm quyền giao hàng năm; Tổ chứcchấp hành dự toán hàng năm theo chế độ, chính sách của Nhà nước; Quyết toán ngânsách Cụ thể nội dung chính của từng khâu công việc bao gồm:

- Lập dự toán ngân sách

Lập dự toán ngân sách là quá trình phân tích, đánh giá giữa khả năng và nhu cầucác nguồn tài chính để xây dựng các ch tiêu thu, chi ngân sách hàng năm một cách đ

ng đắn, có căn cứ khoa học và thực tiễn Có hai phương pháp lập dự toán thường được

sử dụng là phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ (incremental budgetingmethod) và phương pháp lập dự toán không dựa trên cơ sở quá khứ (zero basicbudgeting method) Mỗi phương pháp lập dự toán trên có những đặc điểm riêng cùngnhững ưu, nhược điểm và điều kiện vận dụng khác nhau

Phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ là phương pháp xác định các ch tiêu trong dự toán dựa vào kết quả hoạt động thực tế của kỳ liền trước và điều ch nh theo tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát dự kiến Phương pháp này rất rõ ràng, dễ hiểu

và dễ sử dụng, được xây dựng tương đối ổn định, tạo điều kiện, cơ sở bền vững cho nhà quản lý trong đơn vị trong việc điều hành mọi hoạt động

Phương pháp lập dự toán không dựa trên cơ sở quá khứ là phương pháp xácđịnh các ch tiêu trong dự toán dựa vào nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động trong năm kếhoạch, phù hợp với điều kiện cụ thể hiện có của đơn vị chứ không dựa trên kết quảhoạt động thực tế của năm trước Như vậy, đây là phương pháp lập dự toán phức tạphơn do không dựa trên số liệu, kinh nghiệm có sẵn Tuy nhiên, nếu đơn vị sử dụngphương pháp này sẽ đánh giá được một cách chi tiết hiệu quả chi phí hoạt động củađơn vị, chấm dứt tình trạng mất cân đối giữa khối lượng công việc và chi phí thực hiện,đồng thời gi p đơn vị lựa chọn được cách thức tối ưu nhất để đạt được mục tiêu đề ra

Trong hai phương pháp lập dự toán nêu trên, phương pháp lập dự toán trên cơ

sở quá khứ là phương pháp truyền thống, đơn giản, dễ thực hiện và phù hợp cho những

Trang 40

cơ sở quá khứ phức tạp hơn, đòi hỏi trình độ cao trong đánh giá, phân tích, so sánhgiữa nhiệm vụ và điều kiện cụ thể của đơn vị nên ch thích hợp với những hoạt độngkhông thường xuyên, hạch toán riêng được chi phí và lợi ích Ở Việt Nam hiện nay,phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ là phương pháp được sử dụng rộng rãi.

Khi lập dự toán ngân sách, các đơn vị SNCL phải phản ánh đầy đủ các khoảnthu, chi theo đ ng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền ban hành, kể

cả các khoản thu, chi từ nguồn viện trợ Trong quá trình lập dự toán ngân sách phải lập

đ ng mẫu biểu, thời gian theo đ ng quy định và lập chi tiết theo mục lục NSNN Dựtoán ngân sách của các đơn vị SNCL được gửi đ ng thời hạn đến các cơ quan chứcnăng theo quy định của pháp luật

- Chấp hành dự toán ngân sách

Chấp hành dự toán là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế tài chính,hành chính nhằm biến các ch tiêu thu, chi ghi trong dự toán ngân sách của đơn vị thànhhiện thực Trên cơ sở dự toán ngân sách được giao, các đơn vị SNCL chủ động tổ chứctriển khai thực hiện, đưa ra các biện pháp cần thiết đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụthu - chi được giao, đồng thời phải có kế hoạch sử dụng kinh phí ngân sách theo đ ngmục đích, đ ng chế độ, tiết kiệm và có hiệu quả Để theo dõi quá trình chấp hành dựtoán ngân sách, các đơn vị SNCL cần tiến hành tổ chức hệ thống chứng từ kế toán, hệthống tài khoản kế toán, hệ thống sổ kế toán để theo dõi chi tiết, cụ thể từng nguồn thu,từng khoản chi, quản lý quỹ lương, các quỹ và quản lý tài sản của đơn vị

+ Quá trình chấp hành dự toán thu: Các đơn vị SNCL thực hiện nhiệm vụ thu

đ ng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu Trong quá trình chấp hành dự toán thu cácđơn vị SNCL phải coi trọng công bằng xã hội, đảm bảo thực hiện nghiêm túc các chínhsách thu do cơ quan có thẩm quyền ban hành Đối với đơn vị có nhiều nguồn thu, cần

có biện pháp quản lý thống nhất nhằm sử dụng các nguồn thu đ ng mục đích, hiệu quả

và tiết kiệm Chính vì vậy, để đạt được các yêu cầu trên đòi hỏi các đơn vị SNCL phải

sử dụng nhiểu biện pháp khác nhau, trong đó phải tổ chức hệ thống thông tin để ghinhận đầy đủ, kịp thời và liên tục quá trình chấp hành dự toán đã được xây dựng Muốnvậy các đơn vị phải tổ chức công tác kế toán khoa học từ việc tổ chức hệ thống chứng

từ ghi nhận các khoản thu, trên cơ sở đó tiến hành phân loại các khoản thu, ghi sổ kếtoán và định kỳ lập các báo cáo tình hình huy động các nguồn thu

+ Quá trình chấp hành dự toán chi: Song song với việc tổ chức khai thác cácnguồn thu nhằm đảm bảo nguồn tài chính cho hoạt động, các đơn vị SNCL phải có kếhoạch theo dõi việc sử dụng các nguồn kinh phí đ ng mục đích để hoàn thành nhiệm vụđược giao trên cơ sở minh bạch, tiết kiệm và hiệu quả Trong cơ chế tự chủ tài chính,thước đo các khoản chi của đơn vị có chấp hành đ ng dự toán hay không chính là quychế chi tiêu nội bộ Quy chế chi tiêu nội bộ là căn cứ để Thủ trưởng đơn vị điều hànhviệc sử dụng và quyết toán kinh phí hoạt động thường xuyên, là cơ sở pháp lý để

KBNN kiểm soát chi Những nội dung chi trong quy chế chi tiêu nội bộ đã có tiêu chuẩn,định mức do cơ quan có thẩm quyền ban hành thì phải thực hiện theo đ ng quy định củaNhà nước Những nội dung chi cần thiết phục vụ cho hoạt động của đơn vị trong quy chếchi tiêu bộ nhưng Nhà nước chưa ban hành chế độ thì Thủ trưởng đơn vị

Ngày đăng: 03/03/2020, 05:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w