NGUYỄN QUỲNH HOA THỰC TRẠNG MẮC HỘI CHỨNG CHUYỂN HOÁ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI TRUNG TÂM KIỂM SOÁT BỆNH TẬT TỈNH... Một số yếu
Trang 1NGUYỄN QUỲNH HOA
THỰC TRẠNG MẮC HỘI CHỨNG CHUYỂN HOÁ VÀ MỘT SỐ YẾU
TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI TRUNG TÂM KIỂM SOÁT BỆNH TẬT TỈNH
Trang 2đỡ để em có thể hoàn thành khóa luận này
Em vô cùng biết ơn sâu sắc Ban Giám hiệuTrường Đại học Y Dược Thái Bình đã tạo điều kiện cho em được học tập nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện đức luyện tài chuẩn bị cho hành trang trong tương lai
Với tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới TS Nguyễn Thị Hương Lan, người thầy kính mến đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sĩ này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn với các thầy/cô trong Viện Đào tạo Y học
dự phòng và Y tế công cộng Em xin cảm ơn Ban lãnh đạo, tập thể cán bộ, viên chứcTrung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Thái Bình đã tạo điều kiện thuận lợi, tạo điều kiện cho em trong quá trình thu thập số liệu và thực hiện luận văn này
Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2019
Học viên
Nguyễn Quỳnh Hoa
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
- Ban giám hiệu Trường Đại Học Y Hà Nội;
- Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng;
- Phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học Y Hà Nội;
- Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Em là học viên Nguyễn Quỳnh Hoa, lớp cao học 27 chuyên ngành Y học
dự phòng – Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng – Trường Đại học Y Hà Nội Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu mà em đã tham gia Các số liệu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa từng được đăng tải trên bất cứ tài liệu khoa học nào
Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2019
Học viên
Nguyễn Quỳnh Hoa
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADA Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ
BMI Body Mass Index: Chỉ số khối cơ thể
IDF Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế: International Diabetes
Federation NCEP ATPIII Chương trình giáo dục quốc gia về kiểm soát cholesterol
ở người trưởng thành lần thứ 3: Nation Cholesterol Education Program Adult Treatment Panal III
WHO Tổ chức Y tế thế giới: World Health Organization
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Khái niệm, phân loại và tiêu chuẩn chẩn đoán Đái tháo đường 4
1.1.1 Khái niệm Đái tháo đường 4
1.1.2 Phân loại Đái tháo đường 4
1.1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán Đái tháo đường 5
1.2 Khái niệm, tiêu chuẩn chẩn đoán Hội chứng chuyển hóa 7
1.2.1 Khái niệm Hội chứng chuyển hóa 7
1.2.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán Hội chứng chuyển hóa 8
1.3 Tình hình mắc Hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 trên Thế giới và Việt Nam 14
1.3.1 Tình hình mắc trênThế giới 14
1.3.2 Tình hình mắc ở Việt Nam 16
1.4 Các yếu tố nguy cơ mắc Hội chứng chuyển hóa ở người bệnhđái tháo đường type 2 19
1.5 Hậu quả của Hội chứng chuyển hóa 21
1.5.1 Bệnh lý tim mạch 21
1.5.2 Bệnh đái tháo đường type 2 22
1.5.3 Đột quỵ 24
1.5.4 Ngừng thở lúc ngủ 24
1.5.5 Viêm xương khớp mạn tính 24
1.5.6 Ung thư 24
1.6 Phòng ngừa và điều trị Hội chứng chuyển hóa 25
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Địa điểm nghiên cứu 27
2.2 Thời gian nghiên cứu 27
Trang 62.3 Đối tượng nghiên cứu 27
2.4 Phương pháp nghiên cứu 29
2.5 Các chỉ số, biến số trong nghiên cứu 36
2.6 Công cụ 39
2.7 Kĩ thuật thu thập thông tin 39
2.8 Xử lý và phân tích số liệu 40
2.9 Sai số và khống chế sai số 41
2.10 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 42
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
3.1 Một số thông tin của đối tượng nghiên cứu 43
3.2 Tỷ lệ mắc HCCH và các yếu tố thành phần của HCCH ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 47
3.3 Xác định các yếu tố nguy cơ mắc HCCH ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 56
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 62
4.1 Thực trạng mắc Hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 đang được điều trị ngoại trú tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Thái Bình năm 2019 62
4.2 Một số yếu tố liên quan đến Hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Thái Bình năm 2019 74
KẾT LUẬN 80
KHUYẾN NGHỊ 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại ĐTĐ theo Hiệp hội ĐTĐ Mỹ ADA 2012 6
Bảng 1.2 Phân loại của Ủy ban điều trị tăng Cholesterol ở người trưởng thành 2004 9
Bảng 1.3 Tiêu chuẩn xác định béo bụng theo vòng eo của IDF 12
Bảng 1.4 Các yếu tố chẩn đoán HCCH 13
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 43
Bảng 3.2 Giá trị trung bình một số chỉ số nhân trắc, BMI theo giới 44
Bảng 3.3 Thời gian điều trị trung bình theo giới 45
Bảng 3.4 Thuốc điều trị theo giới 45
Bảng 3.5 Giá trị trung bình một số chỉ số sinh hóa theo giới 46
Bảng 3.6 Tỷ lệ mắc HCCH theo giới và nhóm tuổi 48
Bảng 3.7 Giá trị trung bình các yếu tố thành phần của HCCH 49
Bảng 3.8 Tỷ lệ đối tượng có số đo vòng eo cao theo giới và nhóm tuổi 50
Bảng 3.9 Tỷ lệ cao huyết áp theo giới và nhóm tuổi 51
Bảng 3.10 Tỷ lệ tăng triglycerid máu theo giới và nhóm tuổi 52
Bảng 3.11 Tỷ lệ HDL-C máu có giá trị thấp theo giới và nhóm tuổi 53
Bảng 3.12 Tỷ lệ mắc tổng các thành tố chẩn đoán HCCH ở người bệnh ĐTĐ type 2 theo giới và nhóm tuổi 54
Bảng 3.13 Nguy cơ mắc HCCH với giới tính, nhóm tuổi, BMI 56
Bảng 3.14 Nguy cơ mắc HCCH với thời gian phát hiện ĐTĐ và tính chất công việc 57
Bảng 3.15 Nguy cơ mắc HCCH với sử dụng thuốc lá, rượu, bia, thể dục
thể thao 58
Bảng 3.16 Nguy cơ mắc HCCH với tần suất tiêu thụ một số loại thực phẩm59 Bảng 3.17 Phân tích hồi quy logistic với nguy cơ mắc HCCH 60
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ mắc HCCH và các yếu tố thành phần của HCCH ở bệnh
nhân ĐTĐ type 2 47Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ mắc HCCH theo nhóm tuổi 47Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ mắc tổng các thành tố chẩn đoán HCCH 55
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường (ĐTĐ) được coi là một trong những vấn đề sức khỏe toàn cầu trong thế kỷ XXI khi mà số người bị bệnh tăng nhanh trên toàn thế giới và không có dấu hiệu giảm Theo thống kê của Liên đoàn ĐTĐ thế giới (IDF), năm 2015 có khoảng 415 triệu người mắc bệnh tháo đường trên toàn thế giới, và đến năm 2040 dự kiến sẽ tăng lên đến 642 triệu người[1] Khoảng 5,0 triệu người trong độ tuổi 20 đến 79 đã chết vì bệnh ĐTĐ vào năm 2015, tương đương với một người chết mỗi sáu giây Bệnh ĐTĐ chiếm 14,5% tỷ lệ
tử vong do mọi nguyên nhân trên toàn cầu trong số những người trong nhóm tuổi này Con số này cao hơn tổng số người tử vong do các bệnh truyền nhiễm (1,5 triệu người tử vong do HIV/AIDS; 1,5 triệu người tử vong do bệnh lao và 0,6 triệu người tử vong do bệnh sốt rét vào năm 2013[2] Gần một nửa (46,6%) ca tử vong vì bệnh ĐTĐ ở người dưới 60 tuổi [1] ĐTĐ đã và đang gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, dễ gây tử vong nếu không được điều trị sớm và kịp thời, bao gồm các bệnh lý tim mạch như nhồi máu cơ tim và các biến chứng vi mạch, mù lòa, tổn thương thận[3]
ĐTĐ là bệnh do rối loạn chuyển hóa cacbonhydrat, do hormon insulin của tụy bị thiếu hoặc giảm tác động trong cơ thể dẫn đến tình trạng glucose trong máu tăng cao[1] Bệnh ảnh hưởng đến hàng triệu người cả nam và nữ, ở mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp xã hội và mọi trình độ văn hóa khác nhau Gánh nặng bệnh tật do ĐTĐ đang tăng lên trên toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển- nơi quá trình đô thị hóa đang làm thay đổi tập quán ăn uống giảm hoạt động thể lực và tăng cân[4]
Trong nhiều năm trở lại đây một hội chứng có liên quan mật thiết với các biến cố tim mạch và ĐTĐ type 2 được nhắc tới nhiều và trở thành một
Trang 10vấn đề thời sự lớn của y học, đó là Hội chứng chuyển hóa (HCCH: Mebotalic syndrome) HCCH ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 là biểu hiện thường gặp, có mối liên hệ với nhau về sinh bệnh học, biểu hiện lâm sàng và hóa sinh liên quan đến các bệnh tim mạch Các tác giả trên thế giới cũng như ở Việt Nam đang
nỗ lực tìm hiểu về mối liên quan này, tuy nhiên còn nhiều điều chưa được sáng tỏ Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy HCCH ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 chiếm tỷ lệ cao, tần suất xuất hiện bệnh tỷ lệ thuận với các yếu tố như: thừa cân béo phì, tăng huyết áp (THA), rối loạn chuyển hóa (RLCH) Lipid, RLCH acid uric…
Tại Việt Nam có một vài nghiên cứu về tỷ lệ HCCH ở bệnh nhân ĐTĐ type 2: Hoàng Đăng Mịch tại Hải Phòng (2009)[5], Vũ Văn Nguyên tại Hải Dương(2010)[6], Lê Thanh Đức (2011) tại Vĩnh Long[7]…tuy nhiên chúng tôi chưa thấy có nghiên cứu nào về HCCH ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 tại các tỉnh, thành phố khác, trong đó có Thái Bình Thái Bình là một tỉnh ven biển ở Đồng bằng Châu thổ Sông Hồng, phía Bắc Việt Nam với khoảng gần 2 triệu dân, 80% là lao động nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Trong những năm gần đây nền kinh tế Thái Bình đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ, cùng với quá trình đô thị hóa – hiện đại hóa, đời sống của nhân dân được nâng cao Bên cạnh đó tình hình bệnh tật cũng diễn biến phức tạp, đặc biệt là sự gia tăng của các bệnh nội tiết chuyển hóa và ĐTĐ
Tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Thái Bình, với số lượng bệnh nhân ĐTĐ type 2 vào khám và điều trị ngoại trú khá đông, trong đó có rất nhiều bệnh nhân có biến chứng như đột quỵ não, bệnh mạch vành (BMV) và các bệnh lý tim mạch khác liên quan đến chuyển hóa, khi được thăm khám đầy đủ và làm các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết thì thấy một loạt các yếu
tố của HCCH
Trang 11Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu “thực trạng mắc hội chứng chuyển hoá và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh thái bình năm 2019”
nhằm cung cấp những bằng chứng khoa học giúp nâng cao chất lượng chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân điều trị tại trung tâm
Đề tài chúng tôi nghiên cứu sẽ gồm mục tiêu sau:
Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng mắc Hội chứng chuyển hoá ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Thái Bình năm 2019
Mục tiêu 2: Mô tả một số yếu tố liên quan đến Hội chứng chuyển hoá
ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Thái Bình năm 2019
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái niệm, phân loại và tiêu chuẩn chẩn đoán Đái tháo đường
1.1.1 Khái niệm Đái tháo đường
Theo Tổ chức Y tế thế giới 2002 (World Health Organization-WHO):
“ĐTĐ là một bệnh mạn tính gây ra do thiếu sản xuất insulin của tụy hoặc tác dụng insulin không hiệu quả do nguyên nhân mắc phải và/hoặc do di truyền với hậu quả tăng glucose máu Tăng glucose máu gây tổn thương nhiều hệ thống trong cơ thể, đặc biệt mạch máu và thần kinh[4]
Theo Hội đái tháo đường Mỹ (Association of Diabetes – ADA):“ĐTĐ là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin, khiếm khuyết hoạt động insulin, hoặc cả hai Tăng glucose máu mạn tính trong ĐTĐ sẽ gây tổn thương, rối loạn chức năng hay suy nhiều
cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu[8],[9],[10]
1.1.2 Phân loại Đái tháo đường
Theo Hiệp hội Đái tháo đườngMỹ, ĐTĐ được phân thành các loại sau:
- Đái tháo đường type 1: Do quá trình tự miễn dịch phá hủy tế bào β của đảo tụy Langerhans dẫn đến sự thiếu hụt insulin tuyệt đối (trước đây gọi là đái tháo đường phụ thuộc vào insulin, đái tháo đường ở trẻ em) Bệnh ĐTĐ type
1 ước tính chiếm khoảng 5-10% bệnh ĐTĐ[11] Bệnh tiến triển nhanh thường gặp ở người trẻ dưới 30 tuổi, triệu chứng lâm sàng rầm rộ, khát nhiều, uống nhiều, sút cân, mệt mỏi[12]
-Đái tháo đường type 2: Hậu quả kháng insulin hoặc/và suy giảm tăng dần bài tiết insulin của tuyến tụy (trước đây gọi là ĐTĐ không phụ thuộc insulin hoặc khởi phát ở người lớn) Bệnh ĐTĐ type 2 ước tính chiếm khoảng 90-95% bệnh ĐTĐ Bệnh ĐTĐ type 2 là sự tác động giữa yếu tố gen và môi
Trang 13trường sống Có rất nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sự tiến triển của bệnh, phần lớn bệnh nhân ĐTĐ type 2 là bệnh nhân béo phì [10].ĐTĐ type 2 thường gặp ở người trên 30 tuổi, triệu chứng lâm sàng âm thầm, thường phát hiện muộn, có thể điều trị bằng cách điều chỉnh chế độ ăn, bằng thuốc và/hoặc insulin[12]
- Đái tháo đường khác do nhiều nguyên nhân khác nhau: Khiếm khuyết gen của tế bào beta hoặc rối loạn quá trình chuyển hóa glucose (thể MODY), đột biến gen ảnh hưởng đến hoạt động của insulin, bệnh lý tụy, thuốc, hóa chất…
- Đái tháo đường thai nghén: ĐTĐ được phát hiện trong thời kỳ mang thai Thường khởi phát từ tuần lễ thứ 24 của thai kỳ, đôi khi xuất hiện sớm hơn Thường gặp ở phụ nữ có thai có đường huyết tăng hoặc giảm dung nạp glucose, một số phụ nữ xếp vào nhóm có nguy cơ cao như béo phì, tiền sử gia đình có người mắc bệnh ĐTĐ, tiền sử sinh con trên 4kg, tiền sử sẩy thai hoặc thai chết lưu không tìm được nguyên nhân[13]
1.1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán Đái tháo đường
- Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh ĐTĐ hiện nay, được Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ kiến nghị năm 1997 và được nhóm các chuyên gia về bệnh ĐTĐ của WHO công nhận vào năm 1998, tuyên bố áp dụng vào năm 1999[14],[15],[16]
Bệnh ĐTĐ được chẩn đoán khi có một trong 3 tiêu chuẩn sau:
+ Một mẫu glucose huyết tương bất kỳ ≥11,1 mmol/l (200 mg/dl) kết hợp với các triệu chứng của ĐTĐ
+ Mức glucose huyết tương lúc đói ≥ 7,0 mmol/l (126 mg/dl)
+ Mức glucose huyết tương ≥ 11,1 mmol/l (200 mg/dl) ở thời điểm 2 giờ sau uống 75g glucose (loại anhydrous) hoặc 82,5 gam glucose (loại monohydrat) (nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống)
Trang 14Nếu không có triệu chứng tăng đường huyết hoặc mất bù chuyển hóa cấp tính thì phải lặp lại xét nghiệm một lần nữa[14],[17],[18]
- Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ theo ADA (Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ) năm 2010; khi có 1 trong các tiêu chuẩn sau[1]:
+ Đường huyết tương bất kỳ >11,1 mmol/l kèm theo các triệu chứng của tăng đường huyết (khát nhiều, tiểu nhiều, ăn nhiều, gầy sút)
+ Đường huyết tương lúc đói (nhịn ăn >8-14 giờ) > 7 mmol/l trong 2 buổi sáng khác nhau
+ Đường huyết tương 2 giờ sau khi uống 75 g glucose > 11,1 mmol/l (nghiệm pháp tăng đường huyết)
+ HbA1C (định lượng bằng phương pháp sắc ký lỏng) > 6,5%
- Phân loại ĐTĐ theo Hiệp hội ĐTĐ Mỹ ADA 2012[19]:
Bảng 1.1 Phân loại ĐTĐ theo Hiệp hội ĐTĐ Mỹ ADA 2012
Nồng độ glucose máu
Đái tháo đường:
Hoặc 2 giờ sau khi làm nghiệm pháp
dung nạp
Hoặc có cả 2
Rối loạn dung nạp glucose
Và 2 giờ sau khi làm nghiệm pháp dung
nạp đường huyết
≥ 7,8 và < 11,1 ≥ 140 và < 200
Rối loạn glucose máu lúc đói:
Glucose máu đói ≥ 6,1 và < 7,0 ≥ 110 và < 126
Và 2 giờ sau khi làm nghiệm pháp dung
nạp đường huyết
< 7,8 < 140
Trang 15* Sử dụng chỉ số HbA1c trong chẩn đoán ĐTĐ[20]:
Hemoglobin ở người trưởng thành gồm 3 loại HbA, HbA2, HbF,trong đó HbA chiếm 97% lượng Hemglobin trong cơ thể Các loại đường đơn kết hợp với HbA (Glycosylated Hemoglobin) tạo thành phức hợp HbA1 Tùy thuộc vào loại đường đơn (đường đơn trong máu chủ yếu là glucose) và vị trí vào HbA mà có 4 loại HbA1a1, HbA1a2, HbA1b, HbA1c, trong đó HbA1c chiếm 70%, HbA1c có giá trị chuyên biệt hơn HbA1a1, HbA1a2, HbA1b Phản ứng Glycosylat hóa Hemoglobin không cần xúc tác cuả enzym và không đảo ngược, HbA1c phản ánh glucose huyết trong vòng trước 8 – 12 tuần trước khi
đo và tồn tại trong suốt đời sống của hồng cầu (120 ngày), nồng độ HbA1c trung bình từ 4,7 – 6,4%
Tháng 7 năm 2009, Hiệp hội Đái tháo đường (ADA) đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán mới dựa vào mức HbA1c:
Mức HbA1c 6,5% trở lên được chẩn đoán là ĐTĐ
Mức HbA1c từ 5,7% đến 6,4% được xem như người mắc bệnh tiền ĐTĐ
1.2 Khái niệm, tiêu chuẩn chẩn đoán Hội chứng chuyển hóa
1.2.1 Khái niệm Hội chứng chuyển hóa
HCCH là một tập hợp những rối loạn về chuyển hóa làm gia tăng nguy
cơ mắc các bệnh tim mạch và ĐTĐ Những rối loạn này bao gồm: rối loạn lipid máu, béo bụng, yếu tố huyết áp, rối loạn glucose máu khi đói[21] HCCH xuất hiện cùng với những biến chứng nguy hiểm là mối đe dọa đối với sức khỏe và tuổi thọ con người HCCH có liên quan chặt chẽ với bệnh béo phì
và là dấu hiệu cảnh báo một số bệnh không lây nhiễm Người ta đã chứng minh rằng, chế độ ăn không cân đối và ít hoạt động thể lực là những yếu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ mắc HCCH[22]
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế, chế độ ăn và thói quen ăn uống cũng như hoạt động thể lực của người dân có
Trang 16những thay đổi nhanh chóng Khi mức sống được cải thiện, thực phẩm ngày càng sẵn có và đa dạng sẽ dẫn tới sự chuyển đổi mô hình ăn uống Thay cho chế độ ăn thiếu chất dinh dưỡng trước đây là chế độ ăn "dư thừa" nhưng không cân đối Mặt khác, do điều kiện sống và làm việc thay đổi, hoạt động thể lực cũng thay đổi nghiêng về lối sống tĩnh tại nhiều hơn so với trước đây Như vậy, việc nghiên cứu về HCCH đang là một vấn đề thời sự rất cần được quan tâm cùng với nghiên cứu về dịch tễ học thừa cân, béo phì và các bệnh không lây nhiễm nhằm góp phần đưa ra những chiến lược dự phòng, kiểm soát các rối loạn này trong tương lai
1.2.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán Hội chứng chuyển hóa
Hiện nay có khá nhiều tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH Đầu tiên, nhóm chuyên gia của WHO dựa trên định nghĩa của Reaven đã chính thức đưa ra một khái niệm mới về HCCH với tiêu chuẩn chẩn đoán cụ thể Sau đó, nhóm nghiên cứu về kháng insulin của châu Âu và chương trình giáo dục cholesterol quốc gia Mỹ, kênh điều trị cho người lớn (NCEP ATP III - National Cholesterol Education Program Adult Treatment Panel III) cũng đưa ra định nghĩa riêng của mình Những định nghĩa này đều chấp nhận yếu tố chính là rối loạn dung nạp glucose, béo phì, tăng huyết áp và rối loạn lipid máu nhưng có
sự khác nhau về vị trí của nguyên nhân nổi trội và ngưỡng xác định các yếu tố Định nghĩa của WHO và châu Âu cùng nhấn mạnh rối loạn dung nạp glucose
và kháng insulin là thành phần chủ yếu Ngược lại, định nghĩa của NCEP không sử dụng kháng insulin làm yếu tố chẩn đoán[23],[24]
Theo WHO thì HCCH được xác định khi có tăng glucose máu khi đói (glucose máu 6,1 mmol/l) hoặc insulin tăng cao trong máu hoặc đã được chẩn đoán ĐTĐ cộng với ít nhất 2 trong các yếu tố sau:
- Béo phì (BMI 30 hoặc tỷ số VE/VM > 0,9 đối với nam và > 0,85 đối với nữ)
Trang 17- Rối loạn lipid máu: triglycerid 1,7 mmol/l hoặc HDL - C < 0,9 mmol/l đối với nam và < 1,0 mmol/l đối với nữ
- Huyết áp 140/90 mmHg hoặc đã được chẩn đoán tăng huyết áp
- Microalbumin niệu: tốc độ bài tiết 20g/phút
Hội chứng chuyển hoá được xác định theo tiêu chuẩn của NCEP ATP III khi có từ 3 yếu tố trở lên trong 5 yếu tố[25]:
- Rối loạn Glucose máu khi đói (Glucose máu 6,1 mmol/l)
- Béo bụng (vòng eo> 102 đối với nam và > 88 cm đối với nữ)
- Triglycerid máu cao ( 1,7 mmol/l)
- HDL-C thấp (< 1mmol/l ở nam và < 1,3 mmol/l ở nữ)
Trang 18Nhóm nghiên cứu về kháng Insulin của châu Âu đặt tiêu chuẩn bắt buộc
là phải có tăng Insulin máu cộng thêm với ít nhất 2 trong số các yếu tố:
- Tăng Glucose máu: glucose máu khi đói 6,1 mmol/l
- Tăng huyết áp: huyết áp tâm thu 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương 90 mmHg; hoặc đã điều trị thuốc hạ áp
- Rối loạn Lipid khi triglycerid máu > 2,0 mmol/l hoặc HDL-C < 1,0 mmol/l hoặc đã điều trị rối loạn chuyển hoá lipid
- Béo bụng khi vòng eo 94cm đối với nam và 80 cm đối với nữ
Các nhà Nội tiết học Lâm sàng Mỹ cũng đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH như sau[25]:
- Thừa cân, béo phì (BMI ≥ 25)
- Glucose máu lúc đói từ 6,1 đến 7,0 mmol/l
- Các yếu tố nguy cơ khác cũng được tham khảo như tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐtype 2, tăng huyết áp, bệnh tim mạch, có hội chứng buồng trứng đa nang; hoặc lối sống tĩnh tại, tuổi cao; hoặc trong ở nhóm người có nguy cơ cao giống như người mắc bệnh ĐTĐ
Ngoài ra, một số tổ chức khác như ICD-9 (International Classification of Diseases-Ninth Revision), AHA (American Heart Association), ADA (American Diabetes Association), IDF (International Diabetes Federation) năm 2000 cũng đưa ra những tiêu chuẩn riêng để chẩn đoán HCCH nhưng đều xác định kháng Insulin là yếu tố chính[26],[27]
Trang 19Trong các tiêu chuẩn trên thì định nghĩa của WHO rất tốt trong việc xác định các rối loạn chuyển hoá Tuy nhiên, định nghĩa này đòi hỏi phải làm nghiệm pháp tăng đường huyết và các test kháng insulin nên rất khó áp dụng rộng rãi đặc biệt đối với các nghiên cứu triển khai tại cộng đồng
Bảng tiêu chuẩn NCEP - ATP III của Mỹ được cho là đơn giản, dễ áp dụng và rất hữu ích trong đánh giá lâm sàng Do đó, mặc dù còn có những quan điểm khác nhau giữa châu Âu và Mỹ trong các khuyến cáo về chiến lược phòng bệnh nhưng cả hai đều chấp nhận tiêu chuẩn của NCEP trong chẩn đoán HCCH Tuy vậy, cần có sự điều chỉnh về tiêu chuẩn xác định béo phì đối với người châu Á Bởi vì nhiều nghiên cứu đã ghi nhận đối với một số dân cư thuộc Ấn Độ, Malaysia, Indonesia, Singapore, Trung Quốc…có sự gia tăng tỷ lệ béo phì trung tâm so với người da trắng cùng tuổi, giới và mức BMI Một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng người châu Á có BMI giới hạn 23-25 thì nguy cơ mắc ĐTĐ, tăng huyết áp và rối loạn lipid máu tương đương người da trắng có chỉ số khối cơ thể 25-29 kg/m2 Ngoài ra, người ta đã nhận thấy sự gia tăng tỷ lệ ĐTĐ type 2 và các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch trong nhiều vùng châu Á nơi mà chỉ số trung bình của BMI thường dưới 25 Văn phòng của WHO tại Thái Bình Dương đã đưa ra tiêu chuẩn để xác định béo bụng cho vùng này khi vòng eo> 90 cm ở nam và >80 cm ở nữ Sự điều chỉnh này là cần thiết cho sự xác định chính xác tỷ lệ mắc HCCH để có chiến lược phòng bệnh tim mạch và ĐTĐsát với thực tế hơn[22]
Hai tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH thường được sử dụng hơn trong các nghiên cứu là tiêu chuẩn của WHO và NCEP Tuy nhiên, việc có nhiều tiêu chuẩn chẩn đoán khác nhau về HCCH được sử dụng dẫn đến sự khó khăn khi
so sánh tỷ lệ hiện mắc và các yếu tố ảnh hưởng giữa các khu vực
Để giải quyết vấn đề bất cập này, tháng 5/2004, một nhóm các nhà nghiên cứu của IDF đã kết hợp với một số tổ chức khác để cố gắng đưa ra
Trang 20một định nghĩa chung về HCCH Dựa trên nền tảng là tiêu chuẩn chẩn đoán của NCEP, có sự tính toán đến tiêu chuẩn béo phì trong các quần thể dân cư khác nhau, IDF đã đưa ra một tiêu chuẩn về HCCH như sau[26]:
Điều kiện tiên quyết để xác định HCCH là béo bụng (theo chỉ số vòng eo
- bảng 1.3) cộng với từ 2 yếu tố trở lên trong 4 yếu tố:
- Glucose máu khi đói cao (5,6 mmol/l); hoặc đã được chẩn đoán và điều trị ĐTĐtype 2 trước đó
- Triglycerid máu cao (1,7 mmol/l); hoặc đã được chẩn đoán, điều trị các rối loạn lipid bằng thuốc
- HDL-C thấp (<1mmol/l ở nam và <1,3 mmol/l ở nữ); hoặc đã điều trị các rối loạn lipid máu bằng thuốc
- Huyết áp 130/85 mmHg hoặc đã được chẩn đoán cao huyết áp
Bảng 1.3 Tiêu chuẩn xác định béo bụng theo vòng eo của IDF
Nhóm các quốc gia Số đo xác định là béo bụng (cm)
Châu Âu Nam
Nữ
94
80 Các nước Nam Á
Nữ
85
90 Người Nam Trung Mỹ Giống tiêu chuẩn Nam Á
Người Phi khu vực Sahara Giống tiêu chuẩn châu Âu
Vùng Trung Đông và Địa Trung Hải Giống tiêu chuẩn châu Âu
Như vậy, ngưỡng để xác định Glucose máu khi đói của IDF năm 2004 thấp hơn so với ngưỡng xác định của WHO và NCEP ATP III Mặt khác, tiêu chuẩn xác định béo bụng của IDF dựa vòng eo và thay đổi tuỳ theo khu vực,
Trang 21chủng tộc Hơn nữa, tiêu chuẩn của IDF có chú ý đến tiền sử mắc các bệnh cao huyết áp, tim mạch và ĐTĐcủa đối tượng Tuy nhiên, hiện nay định nghĩa này vẫn chưa được chính thức công nhận làm định nghĩa chung trên toàn thế giới vì vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau về cơ chế bệnh sinh của HCCH
Năm 2009, một sự thống nhất chung các tiêu chuẩn của các tổ chức gồm IDF, NHLBI, AHA, WHF, IAS và IASO cho các tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH bao gồm 3 trong 5 yếu tố đó là vòng eo, triglycerid, HDL-C, huyết áp
và đường huyết Béo bụng không phải là yếu tố tiên quyết để chẩn đoán HCCH nhưng nó là 1 trong 5 yếu tố của chẩn đoán và có giá trị sàng lọc ban đầu hữu hiệu Các số liệu trong cả nghiên cứu dọc và nghiên cứu ngang đã chỉ
ra mối liên quan của vòng eo với bệnh mạch vành và ĐTĐtype 2, tiêu chuẩn vòng eo khác nhau ở giới và quần thể dân cư Tiêu chuẩn chẩn đoán được dựa vào hai bảng dưới đây:
Bảng 1.4 Các yếu tố chẩn đoán HCCH
Tăng triglycerid (hoặc đang điều trị
tăng triglycerid bằng thuốc)
≥ 150 mg/dl (1,7 mmol/l)
Giảm HDL-C (hoặc đang điều trị
giảm HDL-C bằng thuốc)
Nam: < 40 mg/dl (1,0 mmol/l) Nữ: < 50 mg/dl (1,3 mmol/l) Tăng huyết áp (có tiền sử tăng huyết
áp hoặc đang điều trị bằng thuốc)
Tối đa: ≥ 130 mmHg Tối thiểu: ≥ 85 mmHg Tăng đường huyết lúc đói (hoặc đang
điều trị tăng đường huyết bằng thuốc)
≥ 126 mg/dl (7,0 mmol/l)
Trang 221.3 Tình hình mắc Hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 trên Thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình mắc trênThế giới
Hội chứng chuyển hóa là sự kết hợp của các triệu chứng đặc trưng bởi béo phì trung tâm, tăng huyết áp, tăng đường huyết và tăng lipid máu, cùng làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim, đột quỵ và ĐTĐ Trong bối cảnh gia tăng các bệnh lý rối loạn chuyển hóa trong cộng đồng dân cư, việc nghiên cứu nhằm phát hiện sớm các đối tượng mắc HCCH, nghiên cứu dự phòng mắc bệnh, kiểm soát chế độ ăn, chế độ điều trị cho người mắc HCCH tại cộng đồng là rất cần thiết[28] Trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu xác định tỷ lệ HCCH ở các quần thể dân cư khác nhau
Isomaa và cộng sự (2001) nghiên cứu trên 4483 người Phần Lan và Thụy Điển tuổi từ 35 - 75 bị ĐTĐ type 2 cho thấy tỷ lệ HCCH ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 là 72%, trong đó nguy cơ bị BMV và đột quỵ ở người có HCCH cao gấp
3 lần và tỷ lệ tử vong ở bệnh tim mạch tăng đáng kể ở người có HCCH (12% so với 2,2% ở người không có HCCH) Các nghiên cứu HCCH ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 đều cho thấy tỷ lệ HCCH dao động từ 60% - 90% tùy theo tiêu chuẩn chẩn đoán và tùy từng quốc gia Tỷ lệ các biến cố tim mạch tăng tỷ lệ thuận với tần suất xuất hiện các thành tố như béo phì, THA, và các rối loạn chuyển hóa Lipid máu[29]
Theo tiêu chuẩn của NCEP thì HCCH được ước tính là 24% người trưởng thành ở Mỹ, trong đó tỷ lệ này ở người độ tuổi trên 50 tuổi chiếm tới 44% Với định nghĩa của WHO, HCCH có mặt 7-36% đàn ông châu Âu và 5-22% phụ nữ tuổi 40-55[30]
Theo nghiên cứu của A.Tonkin ước tính hội chứng chuyển hóa có mặt ở 24% dân số Hoa Kỳ trưởng thành, bao gồm 44% những người ở độ tuổi trên
Trang 2350 tuổi Hội chứng chuyển hóa có ở 7% - 36% nam giới châu Âu và 5% - 22% phụ nữ 40- 55 tuổi[31]
Ở Châu Âu tỷ lệ HCCH trong cộng đồng khoảng 24% dân số song nếu chỉ tính ở lứa tuổi trên 50 thì tỷ lệ đó là 40% Tại Hoa Kỳ tỷ lệ HCCH xác định theo tiêu chuẩn chương trình giáo dục về cholesterol quốc gia Hoa Kỳ (NCEP – ATP III) ở nam giới là 22,8% và nữa giới là 22,6%[31]
Tác giả Savage PD cũng ghi nhận tỷ lệ phụ nữ cao hơn đáng kể so với nam giới có HCCH (tương ứng 54% so với 48%, p<0,001) Điều này là do tỷ
lệ béo phì ở bụng cao hơn, triglyceride cao và tăng huyết áp (p <0,05) cao hơn
ở phụ nữ[32]
Nghiên cứu của S.H Song và C.A Hardisty điều tra 390 bệnh nhân ĐTĐ type 2 điều trị tại bệnh viện tỷ lệ mắc HCCH ở nam và nữ theo IDF là 91,7% và 94,8%, theo tiêu chuẩn của NCEP-ATPIII thì tỷ lệ này lần lượt là 87,6 và 94,2%[33]
Một nghiên cứu khác tại Hàn Quốc đã xác định tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa chung ở người lao động Hàn Quốc là 21,0% (nam 28,5%, nữ 11,8%) Nguy cơ phát triển hội chứng chuyển hóa có liên quan mạnh mẽ đến mức độ kiểm soát công việc ở cả lao động nam và nữ[34]
Nghiên cứu của Sudarsini Saravanabhavan và cộng sự nghiên cứu trên
224 bệnh nhân ĐTĐ type 2 khám, điều trị tại bệnh viện Indira Gandhi Memorial - Ấn Độ, kết quả cho thấy, tỷ lệ mắc HCCH theo tiêu chuẩn của ATP III, IDF và WHO lần lượt là 24,55; 42,85 và 56,25 Theo cả 3 tiêu chuẩn thì nữ giới mắc HCCH cao hơn nam giới Tỷ lệ tăng BMI, cholesterol toàn phần, triglycerid ở nữ cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nam giới, không có
sự khác biệt giữa hai giới với chỉ số HDL-C và LDL-C[35]
Năm 2017, theo báo cáo của Yogita Rochlani tỷ lệ mắc HCCH thay đổi trên toàn thế giới và thường tương ứng với tỷ lệ béo phì Có sự khác biệt lớn
Trang 24về tỷ lệ lưu hành dựa trên tuổi, giới tính, chủng tộc/sắc tộc và các tiêu chí được sử dụng để chẩn đoán HCCH ảnh hưởng đến một phần năm dân số Hoa
Kỳ trở lên và khoảng một phần tư dân số châu Âu Đông Nam Á có tỷ lệ HCCH thấp hơn nhưng đang nhanh chóng chuyển sang tỷ lệ tương tự thế giới phương Tây Beltrán-Sánchez và các đồng nghiệp đã báo cáo sự giảm tỷlệ hiện mắc của HCCH ở Hoa Kỳ, từ 25% năm 2000 xuống 22,9% trong giai đoạn 1999/2000 và 2009/2010 dựa trên dữ liệu Khảo sát Kiểm tra Dinh dưỡng và Sức khỏe Quốc gia NHANES)[36]
Theo Rawan Mohammad Al Saudi, LDL-C và HDL-C là các lipoprotein rối loạn chức năng glucolipotoxit và có thể trình bày các dấu ấn sinh học chính thức để dự đoán hay phòng ngừa rối loạn chuyển hóa[37]
Nhiều nghiên cứu khác ở Anh, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Hy Lạp… cũng đều cho biết tỷ lệ mắc ở nam nhiều hơn nữ Tuy nhiên, nghiên cứu ở Iran cho kết quả ngược lại về tỷ lệ mắc theo giới Ở đây, tỷ lệ mắc của nữ lại cao hơn hẳn nam giới [38],[39],[40]
ở nam) thì nguy cơ bị HCCH càng cao[41]
Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Thu Hà và cộng sự năm 2008 chỉ ra tỷ lệ HCCH là 57,5%, thường gặp ở nữ nhiều hơn nam (72,2% so với
Trang 2552,7%,p=0,04).Thành phần thường gặp nhất trong HCCH là tăng triglyceride (TG) Bệnh nhân có HCCH có giá trị trung bình VE, HA tâm thu, HA tâm trương, ĐH và TG cao hơn và HDL-C thấp hơn bệnh nhân không có HCCH (p <0,05) Dạng phối hợp 3 thành phần thường gặp nhất là “tăng HA-tăng ĐH-tăng TG” (23,80%); dạng phối hợp 4 thành phần thường gặp nhất là
“tăng VE- tăng HA- tăng TG - giảm HDL-C” (29,03%) Bệnh nhân có HCCH có nhiều nhánh ĐMV tổn thương hơn bệnh nhân không có HCCH (p
<0,05) Số thành phần trong HCCH càng nhiều thì ĐMV tổn thương càng nặng (p <0,05) [42]
Hoàng Đăng Mịch (2009), nghiên cứu HCCH ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 tại bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng cho thấy tỷ lệ HCCH theo ATPIII/IDF là 62.8%, tác giả đã mô tả được một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ HCCH như tuổi, giới, địa dư, và mô tả kỹ các biểu hiện của HCCH như chỉ số BMI, vòng bụng, THA, RLCH lipid trong HCCH ở bệnh nhân ĐTĐ type 2[5]
Lê Thanh Đức và cộng sự nghiên cứu trên 362 bệnh nhân ĐTĐ type 2 được điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Long, kết quả cho thấy, tỷ lệ mắc HCCH tiêu chuẩn IDF là 59%, có xu hướng tăng theo tuổi Tỷ lệ mắc HCCH ở các nhóm tuổi dưới 40,từ 40 – 49, 50 – 59, 60 – 69 và từ 70 tuổi trở lên lần lượt là 33,3%, 49,1%, 55,5%, 67,1 và 72,2%.Tăng triglycerid chiếm tỷ
lệ cao nhất 87,1% tăng huyết áp, giảm LDL-C và béo bụng tỷ lệ tương đương lần lượt là 67,8%, 64,7% và 65% Có 49,1% đối tượng hội đủ 5 yếu tố của HCCH[7]
Tác giả Ngô Đình Châu đã xác định được tỷ lệ hội chứng chuyển hóa theo ATP III 2005 trong nghiên cứu của mình là 77,3% (nam 81,6%, nữ 73,9%; p > 0,05) Tỷ lệ hội chứng chuyển hoá càng cao khi tuổi càng lớn: 86,0%; 72,2%; 63,6% ở các đối tượng > 60 tuổi, 45-49 tuổi, và < 45 tuổi theo thứ tự (p < 0,05) Tỷ lệ hội chứng chuyển hoá là 77,3%; 48,0%; 76,8% theo
Trang 26các cách đánh giá ATP III 2005, ATP III 2001, IDF 2005 theo thứ tự Độ phù hợp về tỷ lệ hội chứng chuyển hoá giữa cách đánh giá hội chứng chuyển hoá của ATP III 2005 và ATP III 2001 là 42,7%; độ phù hợp về tỷ lệ hội chứng chuyển hoá giữa ATP III 2005 và IDF 2005 là 98,6% Tỷ lệ hội chứng chuyển hoá tăng dần theo mức độ béo phì đánh giá bởi BMI, vòng bụng và tỷsố vòng bụng/vòng mông (p < 0,01) Tỷ lệ các thành tố: vòng bụng 96,0%; huyết áp 66,7%; triglyceride 60,6%; HDL-C 57,6%; đường huyết 44,4%[43]
Trong nghiên cứu của Lê Quốc Tuấn năm 2012, 341 bệnh nhân THA nguyên phát được đo chiều cao, cân nặng, vòng bụng, vòng mông, huyết áp, glucose Chẩn đoán HCCH theo tiêu chuẩn của IDF áp dụng cho khu vực Châu Á Thái Bình Dương Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc HCCH ở bệnh nhân THA là 49,9%, có sự tăng HCCH ở nhóm bệnh nhân có thừa cân
và béo bụng[44]
Một nghiên cứu năm 2012 của Nguyễn Quốc Việt và cộng sự nhằm xác định tỷ lệ mắc HCCH ở lứa tuổi 30 - 69 tại Hà Nội theo IDF 2005, kết quả đã chỉ ra tỷ lệ mắc HCCH ở nhóm đối tượng nghiên cứu là 28,9%, nữ giới cao hơn nam giới, nhóm tuổi trên 50 mắc HCCH theo tiêu chuẩn IDF 2005 cao hơn nhiều so với nhóm tuổi dưới 50 (66,0% và 34,0%)[45]
Một nghiên cứu tại tỉnh Bạc Liêu cho thấy kết quả HCCH ở đối tượng cán bộ tỉnh ủy quản lý chiếm tỷ lệ 24% trong đó ở nhóm tuổi < 60 là 29,4%, ở nhóm tuổi > 60 là 20,9%, nam chiếm tỷ lệ 21,8% nữ chiếm 32% [46]
Nghiên cứu của Hà Văn Thiệu năm 2014 cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa là 31,37% Các trị số trung bình về chỉ số nhân trắc vòng eo, chỉ
số khối cơ thể, huyết áp tâm thu và tâm trương, triglycerid, lipoprotein tỷ trọng cao và glucose đều có sự khác biệt giữa 2 nhóm có và không có hội chứng chuyển hóa cho cả 2 giới nam và nữ Có sự liên quan giữa hội chứngchuyển hóa với lipoprotein tỷ trọng thấp, tỷ số cholesterol toàn
Trang 27phần/lipoprotein tỷ trọng cao, p<0,05 Có sự liên quan về đặc điểm các tiêu chí chẩn đoán hội chứng chuyển hóa giữa nhóm có và không có hội chứng chuyển hóa, p<0,001 Sự kết hợp tiêu chí chẩn đoán hội chứng chuyển hóa càng nhiều thì giá trị trung bình tỷ lệ mỡ cơ thể tăng Dạng kết hợp chẩn đoán hội chứng chuyển hóa phổ biến nhất là (VE-HA-TG) chiếm 41,15% [47] Theo nghiên cứu của Huỳnh Công Minh và cộng sự, tần suất mắc HCCH
ở cán bộ viên chức khá cao so với cộng đồng, nam cao hơn nữ, tăng dần theo tuổi và BMI Tần suất HCCH ở cán bộ viên chức chiếm 20,72%, trong đó nam là 22,63% và nữ là 15,9% Tỉ lệ HCCH tăng dần theo tuổi và BMI; khá cao ở độ tuổi 40 trở lên và rất cao ở người có béo phì (>50%) Đa số là HCCH đơn thuần với 71,58%, HCCH phối hợp bệnh tăng huyết áp khá cao 23,68%
Có mối liên quan chặt chẽ giữa HCCH với bệnh tăng huyết áp[48]
1.4 Các yếu tố nguy cơ mắc Hội chứng chuyển hóa ở người bệnhđái tháo đường type 2
và làm giảm insulin máu
Ngày nay, do phương thức lao động và điều kiện sống thay đổi nên hoạt động thể lực ngày càng có xu hướng giảm đi Lao động trong môi trường tĩnh tại và hạn chế hoạt động thể lực là những yếu tố quan trọng góp phần làm gia tăng tỷ lệ thừa cân, béo phì
Như vậy, cùng với yếu tố ăn uống, sự gia tăng tỷ lệ béo phì và các rối loạn chuyển hoá thường đi song song với giảm hoạt động thể lực trong lối sống tĩnh tại Do đó, việc thay đổi lối sống năng động, tăng cường hoạt động thể lực
Trang 28sẽ làm giảm tỷ lệ mắc HCCH và các rối loạn liên quan khác Nhiều tác giả đã khuyến nghị nên dành tổng cộng một giờ mỗi ngày cho hoạt động thể lực với cường độ vừa phải như đi bộ Đây là mức hoạt động cần thiết để duy trì một cơ thể khoẻ mạnh, nhất là đối với những người có nghề nghiệp tĩnh tại
Nghiên cứu của Rodríguez Bernardino A, cho thấy tỷ lệ mắc HCCH ở người ĐTĐ type 2 ít vận động(WHO=79.3%, NCEP-ATP III=86.2%, và IDF=93.9%) cao hơn ở người ĐTĐ type 2 hoạt động thể lực ở mức vừa phải (WHO=61.4%, NCEP-ATP III=73.2%, và IDF=85.5%)[49]
- Nguy cơ mắc HCCH ở người bệnh ĐTĐ type 2 với mắc từng yếu tố thành phần của HCCH và chỉ số đường huyết
Nghiên cứu của Angel Rodríguez, đã chỉ ra yếu tố liên quan của giới, HbA1c và mắc các yếu tố thành phần của HCCH làm tăng nguy cơ mắc HCCH ở người bệnh ĐTĐ type 2 gồm: Tỷ lệ mắc ở nữ giới cao (OR= 2,02; 95% CI: 1,37–2,97), tăng huyết áp (OR=2,33; 95% CI:1,60–3,40), rối loại
mỡ máu (OR=1,79 95% CI:1,25–2,55), HbA1c ≥7% (OR=1,58; 95% CI:1,12–2,22)[50]
- Giới tính
Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc HCCH ở người ĐTĐ type 2 ở nữ giới cao hơn nam giới[50],[51], có thể ở nữ tỷ lệ béo bụng cao hơn và do ảnh hưởng của nội tiết làm tăng tỷ lệ mắc các yếu tố thành phần của HCCH
- Hút thuốc và uống rượu, bia
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa tiền sử hút thuốc lá, lạm dụng rượu bia với việc gia tăng tỷ lệ HCCH Điều này có thể lý giải một phần nguyên nhân tỷ lệ mắc bệnh của nam giới trong một số cộng đồng khác nhau thường cao hơn nữ Uống rượu có tác dụng gián tiếp tới HCCH Khi sử dụng với một lượng vừa phải có thể làm giảm nồng độ insulin khi đói, tăng tính nhạy cảm của insulin, tăng nồng độ HDL-C Tuy nhiên, nếu
Trang 29lạm dụng rượu sẽ có tác dụng ngược lại là làm tăng triglycerid, tăng huyết áp
và trầm trọng thêm sự kháng insulin Nghiên cứu của Victo Mogre cho thấy,
tỷ lệ mắc HCCH ở người bệnh ĐTĐ type 2 hiện hút thuốc, uống rượu bia cao hơn rõ rệt so với người không hút thuốc, không uống rượu (hút thuốc OR=6,8, 95% CI:1,21-38,49, p=0,030, uống rượu OR=3,1, 95% CI:1,23-7,65, p=0,018).[51]
- Tần suất tiêu thụ một số loại thực phẩm
Chế độ dinh dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng béo phì, ĐTĐ và HCCH Tình trạng cung cấp thừa năng lượng từ những bữa ăn có nhiều chất béo, chất ngọt, kết hợp khẩu phần ăn không hợp lý, không cân đối các chất dinh dưỡng như lipid, glucid, protid, các acidamin dẫn đến tình trạng rối loạn chuyển hóa glucid, lipid Nhóm thực phẩm có nguy cơ cao đó là dầu mỡ động vật, thức ăn xào rán, thịt mỡ, thực phẩm chế biến sẵn, bánh ngọt
1.5 Hậu quả của Hội chứng chuyển hóa
1.5.1 Bệnh lý tim mạch
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh mối liên quan chặt chẽ giữa HCCH và bệnh lý tim mạch Do hậu quả của sự lắng đọng mỡ trên thành mạch làm cho lòng mạch hẹp lại, điển hình trong hẹp động mạch vành, làm giảm lượng máu nuôi tim có thể gây ra cơn đau thắt ngực Nếu tắc nghẽn hoàn toàn mạch vành hoặc một nhánh của động mạch vành có thể gây nhồi máu cơ tim Nguy cơ BMV tăng lên ở người béo, trong đó đặc biệt là béo bụng và những người có tăng cân ngay ở giai đoạn còn trẻ Nguy cơ BMV bắt đầu tăng ở nam giới với BMI vẫn còn ở mức bình thường (< 23 kg/m2) và nữ giới (< 22 kg/m2
) Trong một nghiên cứu về dinh dưỡng và sức khỏe đã nhận thấy tỷ lệ tử vong và không tử vong do nhồi máu cơ tim tăng cao ở phụ nữ với BMI thấp song tăng
tỷ sổ vòng bụng/ vòng hông cao Ở bất kỳ mức nào, nguy cơ BMV đều tăng
Trang 30cùng với sự tăng của lớp mỡ dưới da bụng Ở người sau 18 tuổi, cứ tăng mỗi
5 kg thể trọng sẽ làm tăng nguy cơ tử vong và không tử vong do nhồi máu cơ tim Béo phì thông qua THA, rối loạn lipid máu, giảm dung nạp glucose và ĐTĐ type 2 đã làm tăng nguy cơ cho bệnh tim thiếu máu cục bộ Sự xuất hiện của HCCH đã làm tăng đáng kể bệnh tim mạch tiền lâm sàng (subclinical cardiovascular disease) Có khoảng 51% đối tượng với HCCH có bệnh tim mạch tiền lâm sàng ở ít nhất một trong những biện pháp chẩn đoán, cao hơn
so với đối tượng không có HCCH HCCH làm tăng mức độ kết tập tiểu cầu dẫn đến VXĐM ở giai đoạn sớm là 31±8 (%) so với 21±8(%) ở nhóm chứng
Cả thừa cân béo phì và HCCH đều là nguy cơ cao đối với người cao tuổi, làm tăng đáng kể bệnh tim mạch trong đó có bệnh tim thiếu máu cục bộ, đột quỵ
và bệnh mạch máu ngoại vi
Ngoài tổn thương hệ động mạch còn tổn thương cả hệ tĩnh mạch Nguy
cơ ứ trệ ở hệ tĩnh mạch, nghẽn các tĩnh mạch sâu và nhồi máu phổi tăng lên ở người béo, nhất là béo bụng Bệnh lý của hệ tĩnh mạch ở chân thường là hậu quả của tăng áp lực ổ bụng, suy giảm khả năng tiêu sợi huyết và tăng các yếu
tố trung gian hóa học gây viêm
1.5.2 Bệnh đái tháo đường type 2
Béo phì là nguyên nhân hàng đầu của ĐTĐ type 2 Cơ thể quá nhiều mỡ
sẽ đề kháng với insulin làm cho đường máu tăng lên Tăng đường máu thường xuất hiện khi tế bào beta của tụy không bù trừ được hiện tượng kháng insulin bằng cách phóng thích insulin Những yếu tố dẫn đến HCCH liên quan tới kháng insulin là bất thường về chuyển hóa như tăng triglycerid, giảm HDL-C, tăng mỡ bụng, tăng insulin máu và THA[52],[53]
Nhìn chung, tỷ lệ ĐTĐ type 2 sẽ tăng với tăng độ dày lớp mỡ dưới da bụng, chu vi vòng bụng, tỷ lệ vòng bụng/vòng hông cũng như BMI Nguy cơ ĐTĐ tăng cùng với sự tăng cân trong quá trình trưởng thành Nếu ở độ tuổi
Trang 3135 đến 60 tuổi thì nguy cơ ĐTĐ tăng gấp 3 lần ở người thừa cân 5 đến 10 kg
so với lứa tuổi 18 đến 20 mà chỉ cần tăng 2 kg trọng lượng cơ thế
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự bất thường glucose máu có mối liên quan mật thiết đến cơ chế bệnh sinh của HCCH Các tác giả cho rằng, ở những người được dự đoán là sẽ tiến triển thành ĐTĐ type 2 thì sự đề kháng insulin, rối loạn chức năng tế bào beta là những nguyên nhân của sự bất thường glucose máu này
Liên quan đến những bất thường trong sự hằng định lượng glucose máu
ở những người mắc HCCH là vấn đề quan trọng Nguy cơ BMV khi có mức đường máu cao là hằng định, các bằng chứng cho thấy những người có đường máu giới hạn cao có nguy cơ cao nhất Đây là lý do khiến hội ĐTĐ
Mỹ đã quyết định chọn ngưỡng xác định rối loạn đường máu lúc đói là 5,6mmol/l[52],[54]
Khi tăng cân, chủ yếu tăng khối lượng mỡ cũng như mọi mô khác trong
cơ thể, mô mỡ cũng cần oxy và dinh dưỡng trong máu để duy trì sự sống Khi nhu cầu oxy và dinh dưỡng tăng lên, lượng máu lưu chuyển trong hệ tuần hoàn cũng tăng để đáp ứng nhu cầu đó Lượng máu trong hệ tuần hoàn tăng làm tăng áp lực của máu lên thành động mạch, tăng cân còn làm tăng nồng độ insulin làm tăng giữ muối, nước, tăng thể tích tuần hoàn Hơn nữa, khi tăng cân nhịp tim cũng tăng, thể tích lòng mạch giảm Tất cả những yểu tố trên góp phần làm THA ở bệnh nhân có thừa cân béo phì
Nghiên cứu Framingham cho thấy, nếu tăng thêm 10% trọng lượng cơ thể sẽ tương ứng HA tăng 6,5 mmHg, còn trong nghiên cứu NHANES III tỷ
lệ THA ở người béo là 42% với nam và 38% với nữ Ở cùng lứa tuổi, người gày thì tỷ lệ THA thấp hơn 15% ở cả 2 giới[55]
Trang 321.5.3 Đột quỵ
Ở người béo phì, lipid máu không chỉ lắng đọng trên thành động mạch vành mà còn ở nhiều động mạch khác trong đó có động mạch não Sự lắng đọng có thể gây hẹp hoặc tắc nghẽn dòng chảy đến một vùng nào đó của não gây ra đột quỵ Nguy cơ đột quỵ thiếu máu gây tử vong hoặc không tử vong tăng khoảng 2 lần ở người béo so với người gầy và tăng tỷ lệ thuận với tăng BMI[54]
1.5.4 Ngừng thở lúc ngủ
Béo phì, THA, rối loạn lipid máu và tăng glucose máu thường gặp ở những đối tượng có hội chứng ngừng thở lúc ngủ, đặc biệt THA và tăng đường máu gặp ở người ngừng thở lúc ngủ với tỷ lệ cao hơn so với nhóm chứng Trong số những người ngừng thở lúc ngủ có ít nhất 2 trong 3 biểu hiện sau: THA, tăng đường máu, rối loạn lipid máu[56]
Venkateswaran và cộng sự năm 2007 cũng nhận thấy ở những người ngừng thở lúc ngủ có chỉ số nhân trắc cao: BMI là 34,9 ±6,1 kg/m2
, chu vi vòng bụng là 111,3 ± 15,7 cm Ngừng thở lúc ngủ là một nguy cơ gây tăng tỷ
lệ HCCH[52],[18]
1.5.5 Viêm xương khớp mạn tính
Chủ yếu ảnh hưởng đến khớp gối, hông và phần thấp ở lưng Tăng trọng lượng cơ thể quá mức làm tăng áp lực lên các khớp xương và các mặt sụn của các khớp này sẽ gây đau và cứng khớp[52]
1.5.6 Ung thư
Nhiều loại ung thư có liên quan với thừa cân và béo phì Ở phụ nữ có ung thư vú, tử cung, đại tràng, túi mật Nam giới thừa cân thường gặp ung thư gan, phổi, đại tràng Người béo thường hay ăn thức ăn nhiều mỡ, nhiều calorie đó là những yếu tố làm tăng nguy cơ đối với bệnh ung thư [52]
Trang 331.6 Phòng ngừa và điều trị Hội chứng chuyển hóa
HCCH có liên quan đến nhiều yếu tố, đặc biệt là tình trạng béo phì và lối sổng thụ động Tuy nhiên, có một vài bằng chứng gợi ý bản chất di truyền Tùy thuộc vào sự có mặt và mức độ biểu hiện của các tiêu chí của HCCH
mà áp dụng các biện pháp điều trị thích hợp Theo ý kiến của nhiều tác giả thì mục tiêu điều trị HCCH có thể bao gồm: điều trị béo phì và rối loạn phân bố mỡ,
đề kháng insulin và các yếu tố nguy cơ chuyển hóa chuyên biệt khác
ATP III khuyến cáo béo phì nên là mục tiêu điều trị đầu tiên của HCCH, trong đó việc quan trọng đầu tiên là giảm cân Giảm cân giúp giảm cholesterol
và triglycerid máu, tăng HDL-C, giảm đường máu và giảm kháng insulin[52],[54]
Hầu hết các tác giả đều thống nhất quan điểm cho rằng giảm cân có vai trò đáng kể trong HCCH cũng như xác định rằng điều trị lâm sàng cần chú ý đầu tiên là thay đổi lối sống, ngay cả những tác giả nghiêng về vai trò đề kháng insulin trong HCCH cũng đồng ý rằng ưu tiên tác động thay đổi lối sống là quan trọng trong phòng và điều trị HCCH
Theo khuyến cáo của IDF thì xử trí đầu tiên đối với HCCH là thay đổi lối sống bao gồm 6 điểm sau:
- Giảm cân nặng nếu có thế
- Hạn chế uống bia rượu
- Tăng cường hoạt động thể lực
- Giảm sử dụng muối
- Chế độ ăn đầy đủ thành phần calci, kali và magie
- Hạn chế hoặc ngùng sử dụng mỡ bão hòa và cholesterol
Thuốc Rimonabat là thuốc duy nhất hiện nay có hiệu quả giảm cân thông qua hệ thống thụ thể endicannabinoid: Ở bệnh nhân béo phì thuốc này làm giảm cân rõ khoảng 5% trọng lượng cơ thể và làm cải thiện nhiều yếu tố nguy
Trang 34cơ tim mạch trong HCCH Biệt dược là exenatide được chấp nhận như là một thuốc điều trị phổi hợp trong điều trị ĐTĐ type 2
Một số thuốc thường được dùng để tác động đến kháng insulin, đó là Metformin, thiazolidinedione và benfluorex Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa
có ý kiến thống nhất việc sử dụng 3 nhóm thuốc trên để điều trị cho HCCH [18]
Trang 35CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2 1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu tại Khoa Nội tiết- Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Thái Bình
2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 04/2019 đến tháng 09/2019
2 3 Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn
Đối tượng được chẩn đoán ĐTĐ đang được quản lý và điều trị ngoại trú tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Thái Bình
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Người từ chối tham gia nghiên cứu
- Người mắc ĐTĐ type 1
- Người mắc bệnh cấp tính tại thời điểm điều tra;
- Người có dị tật ảnh hưởng đến hình dáng cơ thể như: gù vẹo, các dị tật bẩm sinh, câm, điếc, lú lẫn, rối loạn tâm thần
- Phụ nữ có thai và phụ nữ cho con bú trong vòng 12 tháng sau đẻ
- Người đang có các bệnh phối hợp khác có thể làm thay đổi một số chỉ
số xét nghiệm: THA ác tính, xơ gan cổ chướng, suy gan cấp, suy thận cấp, đái máu đại thể hoặc vi thể; bệnh hệ thống, hen phế quản mạn tính, COPD…
- Người mắc các bệnh lý nội tiết kết hợp như: suy giáp, cường giáp, suy tuyến yên, hội chứng Cushing
Trang 36Phương pháp xác định đối tượng nghiên cứu: Người bệnh ĐTĐ mắc HCCH:
+ HbA1c (định lượng bằng phương pháp sắc ký lỏng) > 6,5%
- Quy trình chẩn đoán bệnh nhân ĐTĐ mới đưa vào quản lý điều trị: Khi bệnh nhân đến khám bệnh, được các bác sỹ chuyên khoa khám lâm sàng
và chỉ định các kỹ thuật cận lâm sàng trong đó có xét nghiệm sinh hóa máu Nếu kết quả xét nghiệm sinh hóa máu có chỉ số đường huyết lớn hơn 7 mmol/l, thì bệnh nhân được tư vấn làm xét nghiệm đường máu lần 2 (vào buổi sáng ngày hôm sau và nhịn ăn sáng trước khi lấy máu xét nghiệm), nếu kết quả xét nghiệm máu lần 2 lớn hơn 7 mmol/l thì được chẩn đoán là ĐTĐvà bệnh nhân được vào sổ quản lý, lập bệnh án điều trị ngoại trú
*Xác định HCCH:
HCCH được xác định dựa theo tiêu chuẩn thống nhất của các tổ chức gồm IDF, NHLBI, AHA, WHF, IAS và IASO năm 2009, có điều chỉnh tiêu chuẩn đánh giá béo bụng đối với người châu Á HCCH được xác định khi có
từ 3 yếu tố trở lên trong 5 yếu tố sau:
- Béo bụng: Vòng eo 90cm đối với nam và 80 cm đối với nữ
- Tryglycerid: 1,7 mmol/l
Trang 37- HDL-C: < 1 mmol/l với nam, < 1,3 mmol/l với nữ
- Huyết áp: huyết áp tối đa 130 mmHg và/hoặc huyết áp tối thiểu
85 mmHg
- Rối loạn Glucose máu khi đói: Glucose máu 5,6 mmol/l
Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH ở bệnh nhân ĐTĐ:
Kết hợp giữa tiêu chuẩn chẩn ĐTĐ theo ADA (Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ) năm 2010 và chẩn đoán HCCH theo tiêu chuẩn thống nhất của các tổ chức IDF, NHLBI, AHA, WHF, IAS và IASO năm 2009 thì tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH ở bệnh nhân ĐTĐkết hợp từ 2 yếu tố trở lên trong 4 yếu tố sau:
- Béo bụng: Vòng eo 90cm đối với nam và 80 cm đối với nữ
- Tryglycerid: 1,7 mmol/l
- HDL-C: < 1 mmol/l với nam, < 1,3 mmol/l với nữ
- Huyết áp: huyết áp tối đa 130 mmHg và/hoặc huyết áp tối thiểu
85 mmHg
2 4 Phương pháp nghiên cứu
2 .1 Thiết kế nghiên cứu
Đề tài sử dụng thiết kế nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang
n: cỡ mẫu nghiên cứu
p: Tỷ lệ mắc HCCH ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 lấy từ nghiên cứu trước (p= 0,59: tỷ lệ mắc HCCH ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 theo nghiên cứu của
Lê Thanh Đức và cộng sự tại bệnh viện đa khoa Vĩnh Long năm 2011)[7]
Trang 38α: mức ý nghĩa thống kê, Chọn α = 0,05 ứng với độ tin cậy 95%, Z 1-α/2 = 1,96 d: Khoảng sai lệch tuyệt đối giữa tỉ lệ thu được từ mẫu và tỉ lệ của quần thể , chọn d = 0.05
Thay vào công thức, cỡ mẫu nghiên cứu là 372, lấy 5% bệnh nhân không tham gia nghiên cứu, cỡ mẫu tối thiểu cần thực hiện là 391, thực tế điều tra được 388 bệnh nhân
2.4.3 Chọn m u
Chủ định chọn khoa Nội tiết vì khoa có lưu lượng bệnh nhân đông và được làm đầy đủ các xét nghiệm cần thiết thuận tiện trong việc nghiên cứu đối tượng
Chọn bệnh nhân: Chọn toàn bộ số bệnh nhân đang được khám và điều trị ngoại trú tại khoa Nội tiết theo đúng tiêu chuẩn chọn mẫu và loại mẫu tích lũy cho đến khi đủ cỡ mẫu đã tính
2 Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Tất cả các đối tượng nghiên cứu được làm bệnh án theo một mẫu thống nhất (Phụ lục 1) bao gồm:
2.4.4.1 Thông tin chung
- Các thông tin hành chính: Tên, tuổi, giới tính, địa chỉ, nghề nghiệp, trình độ văn hóa,
- Thời gian phát hiện bệnh ĐTĐ;
- Tiền sử bệnh tật: Tiền sử THA, RLCH Lipid, bệnh gout, nhồi máu cơ tim, bệnh mạch vành,
2.4.4.2 Các chỉ số nhân trắc: Cân nặng, chiều cao, vòng eo, tính chỉ số khối
cơ thể (BMI)
- Đo chiều cao: bằng thước đo chiều cao đứng, dùng thước rút không
chun giãn, đặt thước đo theo chiều thẳng đứng vuông góc với mặt đất nằm
Trang 39ngang Người được đo bỏ giày dép, đứng quay lưng vào thước đo theo tư thế đứng nghiêm, 2 bàn chân mở một góc 600
, gót chân, mông, vai chẩm nằm trên một mặt phẳng áp sát vào thước đo, mắt nhìn ra phía trước theo phương nằm ngang, 2 tay bỏ thõng hai bên mình Đọc kết quả bằng thước vuông góc áp sát đỉnh đầu vuông góc với thước đo, lấy kết quả bằng số nguyên
- Đo cân nặng: bằng cân SECA điện tử độ chính xác đến 0,1kg Khi
cân, đặt cân ở vị trí ổn định trên mặt bằng phẳng, chỉnh cân về vị trí = 0, kiểm tra cân thường xuyên đạt chuẩn để đánh giá độ chính xác và độ nhạy của cân trước và trong khi sử dụng Tiến hành cân vào những giờ thống nhất trước bữa ăn trưa và trước bữa ăn chiều Đối tượng được cân chỉ mặc quần áo mỏng, không đi dày dép, mũ, trừ bớt cân nặng trung bình của quần áo khi tính kết quả Người được cân đứng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, trọng lượng cơ thể phân bố đều cả 2 chân Áp sát đỉnh đầu vuông góc với thước đo, lấy kết quả làm tròn là số thập phân sau dấu phẩy 1 chữ số
- Đo vòng eo và vòng mông: Đo bằng thước dây không co dãn, kết quả
ghi được theo cm và một số lẻ Vòng eo đo tướng ứng với điểm giữa của bờ dưới xương sườn cuối với bờ trên mào chậu theo đường nách giữa Vòng mông được đo ở vùng to nhất của mông Đối tượng đứng tư thế thoải mái, hai tay buông thõng, các vòng đo ở mặt phẳng nằm ngang
Số đo vòng eo > 90cm ở nam và > 80cm ở nữ được coi là béo bụng
- Chỉ số khối cơ thể:
Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index: BMI), được tính theo công thức:
BMI = Cân nặng (kg)/ (Chiều cao)2 (m)
Đánh giá chỉ số khối cơ thể dựa theo cách phân loại của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương (2000) và Hội Đái tháo đường Châu Á, khuyến nghị cho người châu Á như sau [8]:
Trang 40Tình trạng dinh dưỡng Chỉ số BMI
Thiếu năng lượng trường diễn BMI < 18,5
2007, Hội Tim mạch Việt Nam đã công bố cách phân loại tăng huyết áp dưa trên phân loại của WHO/ISH năm 2005, JNC VI (Uỷ ban Quốc gia về phát hiện, đánh giá và điều trị tăng huyết áp Hoa Kỳ - Joint National Committee on detection, evalution and treatment of high blood pressure – JNC)năm 1997, và ESC/ESH 2003[57]
(mmHg)
HA tâm trương (mmHg)