Bài báo trình bày các kết quả nghiên cứu về việc chẩn đoán độ cứng kết cấu hệ thanh sử dụng phương pháp cập nhật mô hình phần tử hữu hạn (PTHH) và thuật toán tiến hóa vi phân cải tiến (ANDE). Độ cứng của các cấu kiện trong kết cấu hư hỏng được xác định thông qua tối ưu hóa sai khác giữa số liệu dao động thực nghiệm (mô phỏng trên mô hình giả định hư hại cho trước) và ứng xử của mô hình PTHH lý thuyết với các tham số độ cứng chưa biết. Kết quả kiểm chứng trên hai ví dụ số, một kết cấu dàn và một kết cấu khung phẳng, cho thấy phương pháp đề xuất là một phương pháp khả thi và hiệu quả cho việc chẩn đoán độ cứng kết cấu hệ thanh.
Trang 1Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng NUCE 2020 14 (1V): 21–34
CHẨN ĐOÁN ĐỘ CỨNG KẾT CẤU HỆ THANH BẰNG
PHƯƠNG PHÁP CẬP NHẬT MÔ HÌNH PHẦN TỬ HỮU HẠN KẾT HỢP THUẬT GIẢI TIẾN HÓA VI PHÂN CẢI TIẾN
Nguyễn Bá Duẩna,∗, Phạm Hoàng Anha
a Khoa Xây dựng dân dụng và công nghiệp, Trường Đại học Xây dựng,
Số 55 đường Giải Phóng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Việt Nam Nhận ngày 04/11/2019, Sửa xong 14/12/2019, Chấp nhận đăng 16/12/2019
Tóm tắt
Bài báo trình bày các kết quả nghiên cứu về việc chẩn đoán độ cứng kết cấu hệ thanh sử dụng phương pháp cập nhật mô hình phần tử hữu hạn (PTHH) và thuật toán tiến hóa vi phân cải tiến (ANDE) Độ cứng của các cấu kiện trong kết cấu hư hỏng được xác định thông qua tối ưu hóa sai khác giữa số liệu dao động thực nghiệm (mô phỏng trên mô hình giả định hư hại cho trước) và ứng xử của mô hình PTHH lý thuyết với các tham số độ cứng chưa biết Kết quả kiểm chứng trên hai ví dụ số, một kết cấu dàn và một kết cấu khung phẳng, cho thấy phương pháp đề xuất là một phương pháp khả thi và hiệu quả cho việc chẩn đoán độ cứng kết cấu hệ thanh.
Từ khoá: chẩn đoán kết cấu; cập nhật mô hình PTHH; chẩn đoán độ cứng; ANDE.
STIFFNESS IDENTIFICATION OF BAR STRUCTURES BY FINITE ELEMENT MODEL UPDATING IN-TEGRATED WITH AN IMPROVED DIFFERENTIAL EVOLUTION ALGORITHM
Abstract
This paper presents a study on the identification of stiffness of bar structures by using finite element (FE) model updating method and an improved differential evolution algorithm named ANDE The stiffness of dam-age bars are estimated by optimizing the difference between the experimental vibration responses of the struc-ture (through the simulation model of a given damage assumption) and that of the theoretical FE model with unknown stiffness parameters The investigated results of two numerical examples, a planar truss and a planar frame, show that the proposed method is efficient and realizable for the stiffness identification of bar structures.
Keywords: structural identification; finite element model updating; stiffness identification; ANDE.
https://doi.org/10.31814/stce.nuce2020-14(1V)-03 c 2020 Trường Đại học Xây dựng (NUCE)
1 Giới thiệu
Trong thực tế, công trình xây dựng dù được thiết kế, thi công, giám sát, quản lý tốt thì vẫn tồn tại sai khác và khuyết tật Điều này có nguy cơ làm giảm độ an toàn và tuổi thọ của kết cấu, hư hỏng một phần hoặc toàn bộ công trình Do vậy, chúng ta cần phải đánh giá cụ thể về tình trạng của kết cấu trong quá trình sử dụng để có những biện pháp gia cố và sửa chữa kịp thời Những hư hại trong kết cấu thông thường sẽ dẫn tới sự thay đổi không chỉ khả năng chịu lực mà còn cả độ cứng trong các cấu kiện so với thiết kế ban đầu Hư hại trong kết cấu có thể do nhiều lý do, ví dụ: khuyết tật trong các cấu kiện, các vết nứt do mỏi và ăn mòn Việc xác định lại độ cứng các cấu kiện của kết cấu do đó thường được thực hiện khi đánh giá tình trạng kết cấu và giám sát sức khỏe công trình
∗
Tác giả chính Địa chỉ e-mail:duannb@nuce.edu.vn (Duẩn, N B.)
Trang 2Một trong những cách phổ biến và hiệu quả để phát hiện hư hại là sử dụng các dữ liệu đo phản ứng dao động của kết cấu [1 4] Cùng với việc phát triển các công nghệ về thiết bị và dụng cụ đo đạc, các kỹ thuật và chương trình phần mềm tính toán trên máy tính cũng đã được nghiên cứu và áp dụng như các hệ thống logic mờ [5 7] và các mạng thần kinh nhân tạo [8 10] Trong những năm gần đây, xu hướng sử dụng các thuật toán tối ưu mê-ta ơ-rít-tíc (MHs) để giải quyết bài toán ngược phát hiện hư hại trong kết cấu rất được quan tâm Khi đó bài toán chẩn đoán được thiết lập dưới dạng một bài toán tối ưu Một số bài toán được xây dựng và giải quyết bằng các thuật toán MHs như thuật toán
di truyền [11], tối ưu hóa bầy đàn [12], thuật toán bầy ong [13,14], thuật toán tiến vi phân [15–17], chiến lược tiến hóa [18], thuật toán miễn dịch nhân tạo [19], thuật toán tối ưu hóa bầy kiến [20] Mặt khác, cách tiếp cận phổ biến nhất cho mô hình số trong thiết kế kỹ thuật là phương pháp phần
tử hữu hạn (PTHH) Đầu những năm 1990, phương pháp cập nhật mô hình PTHH đã được đẩy mạnh nghiên cứu trong các bài toán chuẩn đoán kỹ thuật, theo dõi, giám sát sức khỏe của công trình trong quá trình sử dụng [21] Nội dung chính của bài báo này là sử dụng phương pháp cập nhật mô hình PTHH, thiết lập bài toán ngược với số liệu đầu vào là các đặc trưng dao động riêng của kết cấu hệ thanh (tần số và dạng dao động riêng) nhằm xác định lại độ cứng của các cấu kiện trong mô hình Việc xác định độ cứng các cấu kiện thanh bị hư hại được thực hiện bằng cách tối ưu hóa sai khác giữa
số liệu ứng xử đo thực nghiệm (thông qua mô phỏng trên mô hình giả định hư hại cho trước) và ứng
xử của mô hình lý thuyết với các tham số độ cứng chưa biết của các cấu kiện Thuật toán tiến hóa vi phân cải tiến ANDE [22] được đề xuất áp dụng để giải bài toán tối ưu, giúp giảm khối lượng tính toán trong quá trình xác định độ cứng các cấu kiện Hai ví dụ mô phỏng số được trình bày, gồm một kết cấu dàn phẳng và một kết cấu khung phẳng, để minh họa cho phương pháp đề xuất
2 Bài toán chẩn đoán độ cứng kết cấu
Bài toán chẩn đoán độ cứng kết cấu theo phương pháp cập nhật mô hình PTHH được mô tả trên Hình1 Đầu tiên, mô hình PTHH của kết cấu được thiết lập dựa trên các giá trị giả định ban đầu về các tham số độ cứng của các cấu kiện trong hệ kết cấu Các tham số này sẽ được cập nhật khi có các
số liệu đo thực nghiệm về ứng xử của kết cấu thực sao cho sai số kδk giữa ứng xử phân tích mô hình
và ứng xử từ đo thực nghiệm nhỏ hơn một giá trị vô cùng bé ε Tuy nhiên, việc xác định được các giá trị tham số phù hợp là không đơn giản Trên thực tế, việc xác định lại các tham số độ cứng thường được thực hiện thông qua giải một bài toán tối ưu hóa với hàm mục tiêu là sai số δ, và biến tối ưu là các tham số độ cứng
Gọi a = {a1, a2, , am}là véc tơ chứa m giá trị tham số độ cứng của mô hình sẽ được xác định thông qua giải bài toán tối ưu Sai số giữa ứng xử của mô hình và ứng xử đo đạc được xác định bởi
trong đó ug(a)là ứng xử từ phân tích mô hình và umlà ứng xử từ số liệu đo đạc Bài toán tối ưu tìm tham số độ cứng a được thiết lập như sau:
min kδ(a)k= g(a) − um
trong đó aiminvà aimaxlần lượt là giá trị cận dưới và cận trên của tham số độ cứng ai
Hai khó khăn chính trong việc giải bài toán tối ưu (2) là: (i) hàm mục thiêu thường không trơn
và có nhiều cực trị; (ii) việc phân tích mô hình PTHH thường đòi hỏi khối lượng tính toán lớn Các phương pháp tối ưu dựa trên gradient có tốc độ hội tụ nhanh tuy nhiên dễ bị mắc vào cực trị địa
Trang 3Duẩn, N B., Anh, P H / Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng NUCE 2020
3
2 Bài toán chẩn đoán độ cứng kết cấu
Bài toán chẩn đoán độ cứng kết cấu theo phương pháp cập nhật mô hình PTHH được mô tả trên Hình 1 Đầu tiên, mô hình PTHH của kết cấu được thiết lập dựa trên
các giá trị giả định ban đầu về các tham số độ cứng của các cấu kiện trong hệ kết cấu
Các tham số này sẽ được cập nhật khi có các số liệu đo thực nghiệm về ứng xử của kết
cấu thực sao cho sai số ‖𝛿‖ giữa ứng xử phân tích mô hình và ứng xử từ đo thực
nghiệm nhỏ hơn một giá trị vô cùng bé 𝜀 Tuy nhiên, việc xác định được các giá trị
tham số phù hợp là không đơn giản Trên thực tế, việc xác định lại các tham số độ
cứng thường được thực hiện thông qua giải một bài toán tối ưu hóa với hàm mục tiêu
là sai số ‖𝛿‖, và biến tối ưu là các tham số độ cứng
Hình 1 Sơ đồ phương pháp cập nhật mô hình PTHH Gọi 𝐚 = {𝑎(, 𝑎*, … , 𝑎,} là véc tơ chứa 𝑚 giá trị tham số độ cứng của mô hình sẽ
được xác định thông qua giải bài toán tối ưu Sai số giữa ứng xử của mô hình và ứng
xử đo đạc được xác định bởi
Kết cấu công trình có độ cứng cấu kiện chưa xác định
Mô hình PTHH với tham số giả định Đo đạc thực nghiệm
Ứng xử phân tích
mô hình
Ứng xử phân tích thực nghiệm
Đánh giá sai khác
‖𝛿‖ ≤ 𝜀
Đúng
Các tham số độ cứng
mô hình PTHH Chọn lại tham số mô
hình PTHH Sai
Hình 1 Sơ đồ phương pháp cập nhật mô hình PTHH
phương và do đó không thực sự hiệu quả khi áp dụng trong bài toán chẩn đoán Các thuật giải dạng MHs có thể tránh được các cực trị địa phương và tìm được nghiệm tối ưu toàn miền Tuy nhiên, các phương pháp MHs thường hội tụ chậm, dẫn đến khối lượng tính toán lớn
Trong số các thuật toán MHs, thuật toán tiến hóa vi phân (DE) [23] được xem như một trong những thuật toán tối ưu kiểu ngẫu nhiên mạnh nhất hiện nay và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực [24,25] Ưu điểm của DE là có cấu trúc đơn giản, yêu cầu ít tham số điều khiển, tìm kiếm nghiệm tối ưu toàn miền rất hiệu quả và cho khả năng tính toán song song cao Tuy nhiên, cũng như các thuật toán MHs khác, hạn chế khi áp dụng DE vào bài toán thực tế là yêu cầu khối lượng tính toán lớn Thông thường, phải thực hiện hàng ngàn lần tính hàm mục tiêu để có thể thu được nghiệm tối ưu Trong phần tiếp theo, bài báo giới thiệu một thuật giải DE cải tiến, cho phép giảm đáng kể khối lượng tính toán khi giải bài toán tối ưu so với DE truyền thống
3 Thuật toán tiến hóa vi phân DE
Thuật toán tiến hóa vi phân thuộc lớp các thuật toán tối ưu theo quần thể (population-based optimization) do Storn và Price phát minh [23] Giả sử cần tìm giá trị tối ưu của hàm mục tiêu:
u= f (x) : Rn
→ R, x= {xi}, xi ∈ xi,min, xi,max, i= 1, , n (3) trong đó n là số lượng biến, xi,minvà xi,maxlần lượt là giá trị cận dưới và cận trên của biến xi
Đầu tiên, quần thể ban đầu gồm NP cá thể là các véc tơ xk(0), k= 1, , NP:
xk,i(0)= xi,min+ rand[0, 1](xi,max− xi,min), i= 1, , n (4) trong đó rand[0, 1] là số thực chọn ngẫu nhiên trong khoảng từ 0 đến 1
Trang 4Ở thế hệ thứ (t+ 1), ứng với ứng với mỗi véc tơ xk(t) trong quần thể ở thế hệ trước, một véc tơ mới được tạo ra thông qua phép đột biến như sau:
y= xr 1(t)+ F · xr 2(t) − xr 3(t)
(5) trong đó, r1, r2, r3là ba số nguyên được chọn ngẫu nhiên thỏa mãn 1 ≤ r1, r2 , r3 , k ≤ N P; F là
hệ số khuếch đại (số thực dương, thường F ∈ (0, 1))
Véc tơ y sau đó được lai ghép với xk(t)để tạo ra véc tơ thử z có thành phần được xác định như sau:
zi =
(
yi khi (rand[0, 1] ≤ Cr)
trong đó Cr là tham số lai ghép (crossover) lấy trong khoảng từ 0 đến 1 Thực hiện so sánh véc tơ thử
z với xk(t), nếu z cho giá trị hàm mục tiêu tốt hơn so với xk(t), z sẽ được chọn làm cá thể cho thế hệ sau thay cho xk(t), nghĩa là xk(t+ 1) = z, ngược lại xk(t+ 1) = xk(t)
Kỹ thuật đột biến đóng một vai trò quan trọng trong khả năng tìm kiếm và tốc độ hội tụ của thuật toán tiến hóa vi phân DE Ví dụ, kỹ thuật DE/rand/1 như phương trình (5) có thể duy trì sự đa dạng quần thể và khả năng tìm kiếm toàn miền Tuy nhiên, khả năng tìm kiếm địa phương của nó được coi
là yếu và tốc độ hội tụ thường thấp Trái lại, kỹ thuật DE/best/1 với cá thể tốt nhất tại thời điểm hiện tại được sử dụng làm vectơ cơ sở, có khả năng tìm kiếm địa phương tốt và tốc độ hội tụ nhanh, nhưng
nó có thể mất sự đa dạng của quần thể và gặp phải vấn đề hội tụ cục bộ, cho nghiệm tối ưu địa phương trong các bài toán đa cực trị Thông thường ta phải kết hợp các kỹ thuật đột biến khác nhau để cân bằng giữa tốc độ hội tụ và khả năng tìm kiếm toàn miền
4 Thuật toán tiến hóa vi phân cải tiến ANDE
Nội dung mục này trình bày một thuật toán tiến hóa vi phân cải tiến (ANDE) ANDE do Pham [22] đề xuất năm 2016 cho bài toán tối ưu trọng lượng kết cấu dàn với ràng buộc về tần số dao động riêng Trong nghiên cứu này, ANDE được đề xuất áp dụng để xác định các tham số độ cứng trong bài toán chẩn đoán kết cấu ANDE khác biệt so với DE truyền thống bởi ba cải tiến: (i) đột biến thích nghi (Adaptive p-best mutation); (ii) đột biến định hướng (Directional mutation rule) và (iii) phép so sánh lân cận (Nearest neighbor comparison), giúp cải thiện kết quả tối ưu và giảm khối lượng tính toán Nội dung chi tiết thuật toán ANDE được trình bày ở phần tiếp theo
4.1 Đột biến thích nghi (Adaptive p-best mutation)
Ý tưởng cơ bản là sự chuyển đổi dần dần từ tìm kiếm toàn miền sang tìm kiếm địa phương lân cận với các cá thể tốt nhất tại thời điểm hiện tại trong quá trình tiến hóa Ở bước đột biến, kỹ thuật đột
biến DE/pbest/1 được áp dụng Trong DE/pbest/1, một véc tơ đột biến y được tạo ra như sau:
y= xpbest+ F · xr2 − xr3 (7) trong đó xpbest là một cá thể ngẫu nhiên được chọn từ (pNP) cá thể tốt nhất (0 < p ≤ 1) Khái niệm
sử dụng một số cá thể tốt nhất trong đột biến thay vì chỉ sử dụng một cá thể tốt nhất như ‘DE/best/1’
đã được giới thiệu trong JADE bởi Zhang và Sanderson [26] Giá trị p đóng một vai trọng quan trọng trong việc cân bằng khả năng tìm kiếm toàn miền với khả năng tìm kiếm địa phương Một giá trị p nhỏ có thể dẫn đến khả năng hội tụ nhanh nhưng thường cho nghiệm cục bộ Trên thực tế, cần duy trì
sự đa dạng quần thể ở giai đoạn đầu của quá trình tìm kiếm và nhanh chóng hội tụ ở giai đoạn cuối
Trang 5Duẩn, N B., Anh, P H / Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng của quá trình tiến hóa Do đó, giá trị của p được thay đổi dần dần trong quá trình tìm kiếm theo quy tắc giảm tuyến tính như sau:
p(t)= 1 − (1 − 1
NP) · t −1
trong đó t là thế hệ thứ t; Tmaxlà số lượng tối đa các thế hệ; NP là kích thước dân số (số lượng cá thể).
Do đó, trong các thế hệ ban đầu, giá trị lớn hơn của p(t) được sử dụng để ưu tiên tìm kiếm miền chứa nghiệm tối ưu toàn miền Trong các thế hệ sau, các giá trị p(t) nhỏ hơn được sử dụng để tăng tốc độ hội tụ
4.2 Đột biến định hướng (Directional mutation rule)
Kỹ thuật đột biến thích nghi sử dụng công thức (7) dựa trên sai khác của hai cá thể khác nhau được lựa chọn một cách ngẫn nhiên Do đó nó không thiên về bất kỳ một hướng tìm kiếm đặc biệt nào Để tận dụng thông tin của quần thể, sai khác giữa hai cá thể ngẫu nhiên được nhân với hệ số định hướng d:
y= xpbest+ d · F · xr2 − xr3 (9)
trong đó d lấy giá trị 1 hoặc −1, phụ thuộc vào quan hệ giữa xr2 và xr3 d được xác định như sau:
d=
(
1 khi f (xr2) ≤ f (xr3)
Quy tắc này cho phép sai khác giữa hai cá thể ngẫu nhiên được dùng để định hướng tới cá thể tốt hơn và làm tăng khả năng tạo ra một cá thể mới tốt
4.3 So sánh lân cận (NNC)
So sánh lân cận (NNC) là một kỹ thuật cho phép đánh giá sớm một cá thể mà không cần xác định hàm mục tiêu tương ứng Kỹ thuật này lần đầu được Pham [27] đề xuất và sau đó đã được dùng trong một số thuật toán DE cải tiến để giải các bài toán tối ưu trong kỹ thuật [28–31] Các bước thực hiện của NNC như sau:
Trong quần thể thế hệ t, tìm véc tơ xc(t) gần nhất với véc tơ thử z Để thực hiện, ta sử dụng phép
đo khoảng cách Euclidean như biểu thức (11):
d(x, y)=
v
u n
X
i =1
xi− yi
max
k xk,i− min
k xk,i
2
(11)
trong đó d(x, y) là khoảng cách giữa hai véc tơ n chiều x và y.
Sử dụng giá trị hàm mục tiêu của xc(t) để so sánh với giá trị hàm mục tiêu của xk(t) Nếu f (xc(t))
kém hơn f (xk(t)), véc tơ thử có nhiều khả năng cho giá trị hàm mục tiêu không tốt hơn f (xk(t)) và nó được coi là véc tơ thử kém tiềm năng (PUT) Véc tơ PUT sẽ được bỏ qua và việc xác định giá trị hàm mục tiêu sẽ không được thực hiện, do đó giảm được các tính toán không cần thiết
4.4 Xử lý điều kiện biên
Trong quá trình tạo các cá thể mới, nếu giá trị của một biến số xivượt ra ngoài khoảng [xi,min, xi,max],
xisẽ được gán giá trị của cận mà nó vi phạm
Trang 65 Ví dụ minh họa
Để khảo sát khả năng của phương pháp đề xuất trong việc chẩn đoán độ cứng kết cấu hệ thanh, hai kết cấu bao gồm một kết cấu dàn phẳng và một kết cấu khung phẳng sẽ được sử dụng trong nghiên cứu này Để đơn giản, hư hỏng trong cấu kiện của hệ được giả định và ứng xử của kết cấu hư hại thu được từ phân tích mô phỏng trên mô hình PTHH thay vì thực hiện đo đạc và phân tích từ thí nghiệm thực Toàn bộ các chương trình phân tích kết cấu và chương trình tối ưu được các tác giả lập trong môi trường MATLAB
5.1 Hệ dàn phẳng
Sơ đồ kết cấu dàn phẳng chín thanh cho trên Hình2 Các thanh có diện tích mặt cắt ngang là 0,0025 m2 Khối lượng riêng và mô đun đàn hồi của vật liệu lần lượt là 7850 kg/m3và 200 GPa
Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng NUCE 2020
8
7850 kg/m3 và 200 Gpa
Hình 2 Mô hình hệ dàn phẳng Trong ví dụ này, hai trường hợp hư hại được giả định để phân tích:
- Trường hợp 1: Thanh số 2 bị suy giảm 50% độ cứng dọc trục EA
- Trường hợp 2: Thanh số 2 bị suy giảm 50% độ cứng dọc trục EA và thanh số
9 bị suy giảm 25% độ cứng dọc trục EA
Giả thiết hệ là đàn hồi tuyến tính Hư hại của kết cấu được xác định thông qua đánh giá sự thay đổi giá trị tần số dao động riêng của hệ Tần số dao động riêng của kết cấu được tính từ bài toán trị riêng:
(22) Trong đó [𝐊] và [𝐌] lần lượt là ma trận độ cứng và ma trận khối lượng của kết cấu ; {𝜙e}, 𝜔e lần lượt là dạng dao động riêng và tần số dao động riêng thứ 𝑗
Giả thiết ma trận khối lượng của kết cấu là không thay đổi so với trạng thái ban đầu (không hư hại) Sự hư hại trên các cấu kiện chỉ ảnh hưởng đến ma trận độ cứng của kết cấu Ma trận độ cứng của kết cấu bị hư hại được ký hiệu là [𝐊h] và được thiết lập như sau:
(33)
Trong đó 𝑎5 là tham số độ cứng của thanh thứ 𝑖 ; [𝐊5] là ma trận độ cứng phần tử thanh thứ 𝑖 nguyên vẹn Như vậy, khi 𝑎5 = 1 sẽ tương ứng với trường hợp thanh không bị suy giảm độ cứng và khi 𝑎5 = 0 sẽ tương ứng với suy giảm hoàn toàn độ cứng Dạng dao động và tần số dao động riêng của kết cấu hư hại được tính toán theo (12) sau khi thay thế [𝐊] bằng [𝐊h] Kết quả phân tích 6 tần số dao động riêng đầu tiên của kết cấu dàn không bị hư hại và hư hại được thể hiện trong Bảng 1 Tần số dao động riêng của dàn không bị hư hại rất sát với kết quả của Kwon and Bang [32], qua
đó cho thấy chương trình tính có độ tin cậy
Hàm mục tiêu cho bài toán tối ưu xác định các tham số độ cứng 𝑎5 được thiết lập
3
4
5
6
1
4 5
6
7
8 9
4m 4m
4m
3m
[ ] [ ]
( Κ - w2j M ){ } fj = { } 0
[ ] [ ]
1
=
= åm
i
a
Hình 2 Mô hình hệ dàn phẳng Trong ví dụ này, hai trường hợp hư hại được giả định để phân tích:
- Trường hợp 1: Thanh số 2 bị suy giảm 50% độ cứng dọc trục EA
- Trường hợp 2: Thanh số 2 bị suy giảm 50% độ cứng dọc trục EA và thanh số 9 bị suy giảm 25%
độ cứng dọc trục EA
Giả thiết hệ là đàn hồi tuyến tính Hư hại của kết cấu được xác định thông qua đánh giá sự thay đổi giá trị tần số dao động riêng của hệ Tần số dao động riêng của kết cấu được tính từ bài toán trị riêng:
trong đó [K] và [M] lần lượt là ma trận độ cứng và ma trận khối lượng của kết cấu; φj, ωjlần lượt là dạng dao động riêng và tần số dao động riêng thứ j
Giả thiết ma trận khối lượng của kết cấu là không thay đổi so với trạng thái ban đầu (không hư hại) Sự hư hại trên các cấu kiện chỉ ảnh hưởng đến ma trận độ cứng của kết cấu Ma trận độ cứng của
kết cấu bị hư hại được ký hiệu là [Kd] và được thiết lập như sau:
[Kd]=
m
X
i =1
trong đó ai là tham số độ cứng của thanh thứ i; [Ki] là ma trận độ cứng phần tử thanh thứ i nguyên vẹn Như vậy, khi ai = 1 sẽ tương ứng với trường hợp thanh không bị suy giảm độ cứng và khi ai = 0
sẽ tương ứng với suy giảm hoàn toàn độ cứng Dạng dao động và tần số dao động riêng của kết cấu
hư hại được tính toán theo (12) sau khi thay thế [K] bằng [Kd] Kết quả phân tích 6 tần số dao động riêng đầu tiên của kết cấu dàn không bị hư hại và hư hại được thể hiện trong Bảng1 Tần số dao động
26
Trang 7Duẩn, N B., Anh, P H / Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng riêng của dàn không bị hư hại rất sát với kết quả của Kwon and Bang [32], qua đó cho thấy chương trình tính có độ tin cậy
Hàm mục tiêu cho bài toán tối ưu xác định các tham số độ cứng ai được thiết lập như sau [33]:
δ(a) =
v
Pnmode
j =1 ωj(a) − ωj,m2
trong đó ωj,mvà ωj(a) lần lượt là tần số dao động riêng thứ j được đo từ kết cấu hư hại và tần số dao động riêng thứ j từ phân tích mô hình lý thuyết tương ứng với tham số a; nmodelà số dạng dao động được dùng để tính toán (được lấy bằng 6 trong ví dụ này)
Bảng 1 Tần số dao động riêng (Hz) của kết cấu dàn phẳng ban đầu và hư hại
Trường hợp 1 Trường hợp 2
Áp dụng thuật toán DE và ANDE với các tham số điều khiển: quy mô quần thể NP= 20; hệ số đột biến F = 0,7; tham số lai ghép Cr = 0,9; dung sai của hàm mục tiêu ε = 0,001 Điều kiện dừng
là khi giá trị hàm mục tiêu nhỏ hơn ε= 0,001 hoặc số lần tính toán hàm vượt quá Max_NEs = 4000.
Mỗi trường hợp sẽ được thực hiện 50 lần với cả ANDE và DE
a Kết quả bài toán dàn có một thanh bị hư hại
Các kết quả được trình bày trên Hình3và Bảng2đến4
Bảng 2 Kết quả tối ưu bài toán dàn một thanh bị hư hại
Bảng 3 Kết quả tối ưu tốt nhất bài toán dàn một thanh bị hư hại
Chính xác 1,0000 0,5000 1,0000 1,0000 1,0000 1,0000 1,0000 1,0000 1,0000
DE 1,0000 0,5000 1,0000 1,0000 1,0000 1,0000 1,0000 1,0000 1,0000 ANDE 1,0000 0,5000 1,0000 1,0000 1,0000 1,0000 1,0000 1,0000 1,0000
Trang 8Hình 3 Đường cong hội tụ hàm mục tiêu bài toán dàn có một thanh bị hư hại Bảng 4 Giá trị hàm mục tiêu bài toán dàn một thanh bị hư hại
Hình 4 Đường cong hội tụ hàm mục tiêu bài toán dàn có hai thanh bị hư hại
b Kết quả bài toán dàn có hai thanh bị hư hại
Các kết quả được trình bày trên Hình4và Bảng5đến7
Ta nhận thấy phương pháp đề xuất có thể xác định các hệ số độ cứng của kết cấu dàn bị hư hại Nghiệm tối ưu tìm được rất sát với kết quả chính xác So sánh giữa ANDE và DE thông thường:
Trang 9Duẩn, N B., Anh, P H / Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng Bảng 5 Kết quả tối ưu bài toán dàn hai thanh bị hư hại
Bảng 6 Kết quả tối ưu tốt nhất bài toán dàn hai thanh bị hư hại
Chính xác 1,0000 0,5000 1,0000 1,0000 1,0000 1,0000 1,0000 1,0000 0,7500
DE 1,0000 0,5000 1,0000 1,0000 1,0000 1,0000 1,0000 1,0000 0,7500 ANDE 1,0000 0,5000 1,0000 1,0000 1,0000 1,0000 1,0000 1,0000 0,7500
Bảng 7 Giá trị hàm mục tiêu bài toán dàn hai thanh bị hư hại
- ANDE hội tụ nhanh hơn so với DE thông thường
- Xét trên 50 lần chạy, nghiệm tối ưu của thuật toán ANDE cho kết quả ổn định hơn
5.2 Hệ khung phẳng
Kết cấu khung phẳng trên Hình5được sử dụng để phân tích [34] Mô hình PTHH khung bao gồm mười nút, chín phần tử thanh và bậc tự do n = 27 Số liệu tính toán được cung cấp trong Bảng8và Bảng9 Trong ví dụ này, hư hại được giả định xảy ra trong các phần tử và kết quả là làm giảm mô men quán tính tiết diện Mô men quán tính thực của tiết diện phần tử thứ e được xác định bằng cách nhân mô men quán tính của tiết diện ban đầu Ie0với một tham số không thứ nguyên ae thuộc khoảng [0, 1]
Các đặc trưng dao động riêng, bao gồm tần số và dạng dao động riêng sẽ được dùng trong bài toán chẩn đoán các tham số độ cứng ae của các thanh Các đặc trưng này được xác định theo (12) Bảng10liệt kê 12 tần số dao động riêng đầu tiên của kết cấu khung ban đầu và khung hư hại Kết quả tính toán tần số của khung ban đầu được so sánh với kết quả cho trong [34] cho thấy hoàn toàn phù hợp
Hàm mục tiêu cho ví dụ này được lấy theo [16] như sau:
J(a)=
s
Xnmode
i =1
1 i
ωi,m−ωi(a)
ωi,m
!2
+ w max
1≤i≤n mode
Pn
j =1φji,m−φji(a)2
Pn
j =1φji,m2
Trang 10Duẩn, N B., Anh, P H / Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng trong đó φji,mlà thành phần thứ j của dạng dao động chính xác thứ i; φji(a) là thành phần thứ j của dạng dao động thứ i của mô hình; w là trọng số
13
Hình 5 Mô hình hệ khung phẳng Bảng 8 Dữ liệu phần tử bài toán khung phẳng Phần tử Khối lượng riêng
(105 kg/m3)
Diện tích (10-4 m2)
Mô men quán tính (10-6 m4) Tham số
độ cứng Ban đầu Hư hại
1 0,5384 9,2854 369,52 369,52 1
2 1,0510 5,7103 5,2872 5,2872 1
3 1,4010 6,8425 7,1377 7,1377 1
4 1,0770 9,2854 527,88 527,88 1
5 1,0510 5,7103 5,2872 5,2872 1
6 1,4010 4,5682 6,6090 6,6090 1
7 5,0450 0,1487 2,5943 1,9457 0,75
8 10,090 0.19827 3,7598 2,8198 0,75
9 0,0 0.08566 0,7138 0,4640 0,65
1
2
10
1
4
9
0.25 0.25 0.25 0.25
0.5m 0.5m
Hình 5 Mô hình hệ khung phẳng
Bảng 8 Dữ liệu phần tử bài toán khung phẳng
Phần tử Khối lượng riêng
(105kg/m3)
Diện tích (10−4m2)
Mô men quán tính (10−6m4) Tham số
độ cứng
Bài toán tối ưu hàm mục tiêu (16) được giải thông qua thuật toán DE và ANDE Về mặt lý thuyết, miền tìm kiếm của các tham số ae được xác định trong khoảng [0, 1] Tuy nhiên, để tránh cực tiểu địa phương, dẫn đến các phần tử có thể “cứng” hoặc “mềm” hơn kết quả mong muốn, miền tính toán được thu hẹp trong khoảng [0,5; 1] Trọng số w lấy bằng 1
Các tham số điều khiển của thuật toán DE và ANDE như sau: quy mô quần thể NP= 50; hệ số đột biến F = 0,7; tham số lai ghép Cr = 0,9; dung sai của hàm mục tiêu ε = 0,001 Điều kiện chấm dứt thuật toán là khi giá trị hàm mục tiêu nhỏ hơn ε = 0,001 hoặc số lần tính toán hàm vượt quá
30