Về thời gian: Luận án chọn mốc thời gian nghiên cứu bắt đầu từ tháng 7-1960 thời điểm ĐBQĐ tiến hành Đại hội Đảng bộ lần thứ nhất, đề ra chủtrương, phương hướng lãnh đạo các mặt công tá
Trang 1cứu độc lập của riêng tác giả Các tài liệu, số liệu trong luận án là trung thực, chính xác và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công bố.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Vũ Thành Trung
Trang 2đã công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết 23
Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
QUÂN ĐỘI VỀ CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG (1960 - 1965) 282.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo công tác tư tưởng
2.2 Chủ trương của Đảng bộ Quân đội về công tác tư tưởng
2.3 Đảng bộ Quân đội chỉ đạo công tác tư tưởng (1960 - 1965) 52
Chương 3 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
QUÂN ĐỘI VỀ TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC TƯ
4.1 Nhận xét quá trình Đảng bộ Quân đội lãnh đạo công tác tư
4.2 Kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ Quân đội lãnh đạo công
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 Ban Chấp hành Trung ương BCHTW
11 Quân đội nhân dân Việt Nam QĐNDVN
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Công tác tư tưởng trong QĐNDVN là một bộ phận CTTT của Đảng Cộngsản Việt Nam Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, CTTT là một mặthoạt động cơ bản, giữ vị trí hàng đầu của CTĐ, CTCT trong quân đội; lĩnh vựctrọng yếu để bồi đắp, xây dựng sức mạnh chính trị tinh thần, bảo đảm choQĐNDVN không ngừng lớn mạnh, trưởng thành, xứng đáng là lực lượng nòngcốt trong cuộc chiến tranh nhân dân, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược
Thực tiễn trong những năm 1960 - 1968 cho thấy, với tham vọng điêncuồng cùng những âm mưu, thủ đoạn thâm độc, đế quốc Mỹ đã từng bướcđẩy cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đến bậc thang cao nhất của chiếntranh thông thường, với những biện pháp chiến tranh ác liệt nhất, tàn bạonhất Cùng lúc đó, tình hình thế giới biến động phức tạp, nhất là những bấtđồng quan điểm, mâu thuẫn trong hệ thống XHCN và phong trào cộng sảnquốc tế Trong bối cảnh đó, đòi hỏi phải tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối,trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội; phải lấy xây dựng tư tưởng lànền tảng, là khâu quyết định nâng cao sức mạnh tinh thần, làm cơ sở nâng caosức mạnh toàn diện của quân đội
Thấm nhuần tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Tất cả đểđánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, dưới ánh sáng đường lối của Đảng, ĐBQĐ đã
nỗ lực, sáng tạo, chủ động triển khai CTTT một cách sâu rộng, liên tục, mạnh
mẽ cả về nội dung, hình thức, phương pháp và lực lượng tham gia Theo đó,CTTT đã xây dựng, củng cố và giữ vững niềm tin vững chắc của toàn quân vào
sự lãnh đạo của Đảng, ý chí quyết tâm chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miềnNam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất nước nhà; củng cố, bồi dưỡng, phát huy bảnchất, truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, để QĐNDVN luôn vững mạnh vềchính trị, tư tưởng, trở thành pháo đài vững chắc về tư tưởng của Đảng, Nhànước và nhân dân, từ đó cùng toàn Đảng, toàn dân đánh thắng chiến lược “chiến
Trang 5tranh đặc biệt” và “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ Tuy nhiên, bên cạnhnhững thành công là cơ bản, quá trình ĐBQĐ lãnh đạo CTTT thời kỳ này khôngtránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, dẫn tới hiệu quả CTTT có lúc chưa cao.Thực tiễn quá trình lãnh đạo CTTT của ĐBQĐ trong những năm 1960 - 1968 rấtphong phú, đa dạng, để lại nhiều kinh nghiệm quý báu, cần được nghiên cứu,tổng kết để đánh giá đầy đủ hơn và kế thừa, vận dụng trong giai đoạn hiện nay.Ngày nay, tình hình thế giới, khu vực và trong nước đang diễn biến phứctạp, khó lường Các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòabình” với nhiều âm mưu, thủ đoạn tinh vi, thâm độc, trong đó thực hiện “phichính trị hóa quân đội” được coi là ưu tiên hàng đầu Công cuộc đổi mới toàndiện đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đòi hỏi sự nhất trí caotrong toàn Đảng, toàn quân, sự đồng thuận trong nhân dân Đồng thời, để đápứng yêu cầu của cuộc chiến tranh tương lai với vũ khí công nghệ cao là chủyếu và phương hướng xây dựng QĐNDVN cách mạng, chính quy, tinh nhuệ,từng bước hiện đại thì vai trò của CTTT trong quân đội càng trở nên quantrọng Vì vậy, việc nghiên cứu, tổng kết quá trình ĐBQĐ lãnh đạo CTTTtrong những năm 1960 - 1968 để rút ra những kinh nghiệm vận dụng vào giaiđoạn hiện nay là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề, đã hơn bốn mươi năm kể từ khikết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đã có rất nhiều công trình đisâu nghiên cứu về CTTT nói chung, CTTT của ĐBQĐ trong cuộc khángchiến chống Mỹ, cứu nước nói riêng, được đề cập dưới nhiều cấp độ và phạm
vi khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cáchđộc lập, có tính hệ thống về quá trình ĐBQĐ lãnh đạo CTTT từ năm 1960đến năm 1968, dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Đảng bộ Quân đội lãnh đạo công tác tư tưởng từ năm 1960 đến năm 1968” làm Luận án tiến sĩ
Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 62 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ quá trình ĐBQĐ lãnh đạo CTTT từ năm 1960 đến năm
1968, từ đó đúc kết những kinh nghiệm để phục vụ cho lãnh đạo CTTT trongquân đội hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của ĐBQĐ về CTTT(1960 - 1968)
Trình bày có hệ thống và phân tích, làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo củaĐBQĐ về CTTT từ năm 1960 đến năm 1968
Nhận xét, đánh giá ưu điểm, hạn chế quá trình ĐBQĐ lãnh đạo CTTT(1960 - 1968)
Đúc kết những kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình ĐBQĐ lãnh đạo CTTT(1960 - 1968)
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động lãnh đạo CTTT của ĐBQĐ trong những năm 1960 - 1968
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: CTTT trong quân đội có phạm vi rất rộng Luận án tập
trung nghiên cứu chủ trương của ĐBQĐ về CTTT từ năm 1960 đến năm 1968
và sự chỉ đạo của ĐBQĐ trên 4 mặt công tác cơ bản: (1) GDCT; (2) Tuyêntruyền, cổ động, thi đua; (3) Văn hóa, văn nghệ; (4) Báo chí, xuất bản
Về thời gian: Luận án chọn mốc thời gian nghiên cứu bắt đầu từ tháng
7-1960 (thời điểm ĐBQĐ tiến hành Đại hội Đảng bộ lần thứ nhất, đề ra chủtrương, phương hướng lãnh đạo các mặt công tác của quân đội đáp ứng yêucầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giai đoạn 1960 - 1965, trong
đó có lĩnh vực CTTT) Mốc kết thúc là tháng 12-1968 (khi quân và dân ViệtNam đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ)
Trang 7Tuy nhiên, để đảm bảo tính hệ thống và có sự so sánh đánh giá đầy đủ hơn,luận án đề cập đến một số nội dung liên quan đến CTTT trong quân đội trước vàsau khoảng thời gian nói trên.
Về không gian: Trên lãnh thổ Việt Nam.
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về CTTT nóichung và CTTT trong quân đội nói riêng
Cơ sở thực tiễn
Luận án dựa trên thực tiễn sự lãnh đạo của ĐBQĐ đối với CTTT được thểhiện trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch công tác; các báo cáo tổng kếtcủa ĐBQĐ và các đơn vị trong toàn quân về CTTT trong những năm 1960 - 1968
Phương pháp nghiên cứu
Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic,ngoài ra còn sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, đểlàm rõ các nội dung của luận án
Phương pháp lịch sử được sử dụng nhằm phân kỳ thời gian, làm rõ bốicảnh lịch sử, quá trình hoạch định chủ trương và chỉ đạo của ĐBQĐ về CTTTtheo diễn tiến thời gian
Phương pháp logic để làm rõ bước phát triển tư duy trong nhận thức vàchỉ đạo thực tiễn của ĐBQĐ về CTTT trên cơ sở xâu chuỗi các sự kiện lịch sử
và liên kết nội dung của các văn bản có tính chất lãnh đạo, chỉ đạo củaĐBQĐ; khái quát các luận điểm trong luận án; đánh giá những ưu điểm, hạnchế và đúc kết những kinh nghiệm từ thực tiễn quá trình lãnh đạo của ĐBQĐ
về CTTT từ năm 1960 đến năm 1968
Phương pháp so sánh được sử dụng trong luận án nhằm so sánh sự lãnhđạo của ĐBQĐ về CTTT giữa hai giai đoạn 1960 - 1965 và 1965 - 1968; sosánh kết quả lãnh đạo CTTT trong quân đội với cả nước
Trang 8Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê được sử dụng nhằm khảocứu các công trình ở chương 1, làm rõ chủ trương và luận chứng các mặt chỉđạo của ĐBQĐ về CTTT qua hai giai đoạn 1960 - 1965 và 1965 - 1968.
5 Những đóng góp mới của luận án
Luận án cung cấp một số tư liệu mới và hệ thống hóa tư liệu về quá trìnhĐBQĐ lãnh đạo CTTT từ năm 1960 đến năm 1968
Góp phần tái hiện một cách có hệ thống, phân tích, làm rõ chủ trương và
sự chỉ đạo của ĐBQĐ về CTTT từ năm 1960 đến năm 1968
Đưa ra những nhận xét, đánh giá có cơ sở khoa học về quá trình lãnh đạoCTTT của ĐBQĐ trong những năm 1960 - 1968
Những kinh nghiệm được đúc kết trong luận án có thể tham khảo, vậndụng trong lãnh đạo CTTT của quân đội hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa thực tiễn
Luận án là tài liệu tham khảo phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạy về cuộckháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam ở các học viện, nhàtrường, cơ quan nghiên cứu trong và ngoài quân đội
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Mở đầu, 04 chương (10 tiết), kết luận, danh mục các côngtrình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài, danh mục tài liệu thamkhảo và phụ lục
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1 Các công trình của tác giả nước ngoài
1.1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản ở một số nước
X.I.Xunitrencô (1982), Hoạt động tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô
[231] Tác phẩm chỉ rõ: “Bộ phận cấu thành hết sức quan trọng trong hoạt độngcủa Đảng là công tác tư tưởng, mà mục đích cao nhất của nó là biện giải về mặt
lý luận đường lối của Đảng, xây dựng con người phát triển toàn diện và có đờisống tinh thần phong phú, không ngừng nâng cao ý thức giác ngộ giai cấp của
họ, phát triển tính tích cực sáng tạo của quần chúng” [231, tr.11] Hoạt độngCTTT của Đảng Cộng sản Liên Xô tuân thủ theo những nguyên tắc tính đảng;tính khoa học; tính trung thực; sự thống nhất của lý luận và thực tiễn; kết hợpCTTT và công tác tổ chức; quan điểm đồng bộ, tính hệ thống, tính nhất quán vàtính liên tục; tính nhạy bén và tính chất tiến công; tính thuyết phục, tính dễ hiểu vàtính rõ ràng Trong đó, “nguyên tắc tính đảng là nguyên tắc nền tảng của công tác
tư tưởng” [231, tr.18] Hình thức hoạt động CTTT gồm: Công tác GDCT tưtưởng, tuyên truyền và cổ động Nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo CTTT,theo tác giả phải nâng cao hiệu quả của các mặt công tác này
Xắcxavắt Xuânthêpphimmason (2003), Công tác tư tưởng của Đảng Nhân dân cách mạng Lào hiện nay [230] Theo tác giả, CTTT của Đảng Nhân
dân cách mạng Lào là một bộ phận cấu thành rất quan trọng trong công tácxây dựng Đảng nhằm tác động có định hướng lên trạng thái và quá trình vậnđộng của tư tưởng theo các quy luật riêng của nó để phát triển tiềm năng sángtạo của tư tưởng nhằm góp phần xây dựng con người mới và xã hội mới, màvấn đề cơ bản là xác lập thế giới quan, hệ tư tưởng và lập trường của giai cấpcông nhân [230, tr.18] Kết cấu nội dung tư tưởng gồm 3 bộ phận: Công tácnghiên cứu lý luận; công tác tuyên truyền; công tác cổ động CTTT được thực
Trang 10hiện theo các nguyên tắc tính đảng, tính khoa học và tính thực tiễn Để tăngcường CTTT, theo tác giả phải tiến hành nhiều nội dung, biện pháp, trong đóchú trọng tăng cường sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp của Đảng,phát huy vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị.
Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (2005), Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ đổi mới [5] Cuốn sách chỉ rõ: Công
tác chính trị tư tưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc có vai trò là công tácsống còn của công tác kinh tế và của các công tác khác; là khâu trung tâm đểđoàn kết toàn Đảng, toàn dân thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước; là
ưu thế chính trị quan trọng của Đảng Cộng sản Trung Quốc và của Nhà nướcXHCN Mục đích nhằm hướng tới 5 trọng điểm là: Xây dựng lý luận; hướngdẫn dư luận; giáo dục tư tưởng; hát vang giai điệu chính; xây dựng đội ngũ.Nội dung công tác chính trị tư tưởng được xác định: Lấy giáo dục niềm tinvào lý tưởng làm cốt lõi Giáo dục các mặt lý luận cơ bản, đường lối cơ bản,cương lĩnh cơ bản của Đảng, chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa tập thể vàCNXH Giáo dục tư tưởng quan trọng về “ba đại diện” và “ba chú trọng” cho toànthể cán bộ, đảng viên; giáo dục tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, “người giàu rồiphải giàu hơn nữa”; giáo dục chính sách tình thế; giáo dục pháp chế dân chủ; giáodục lý luận về chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa vô thần, giáo dục tri thức khoa học,tinh thần khoa học và phương pháp khoa học Nguyên tắc, phương châm là lấychủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông, lý luận Đặng Tiểu Bình làm tưtưởng chỉ đạo Về phương thức, phương pháp gồm: Tổ chức giáo dục; hướng dẫn
dư luận; tổ chức hoạt động; nêu gương điển hình; giáo dục thông qua sản phẩm vàhoạt động văn hóa; thông qua việc xây dựng, kiện toàn các quy tắc, điều lệ, chế độ
để đưa ra quan niệm tư tưởng, tiêu chuẩn đạo đức
1.1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu về công tác tư tưởng trong quân đội ở một số nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo
A.A.Episép (1974), Tóm tắt lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang Liên Xô từ 1918 - 1973 [65] Theo tác giả, việc
Trang 11GDCT, tinh thần cho quân nhân được tiến hành theo nguyên tắc và hoạt động
tư tưởng, tổ chức của Đảng, hướng vào giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, chủnghĩa yêu nước, chủ nghĩa quốc tế vô sản, XHCN Quá trình tổ chức tuyêntruyền, nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối của Đảng Cộngsản, phải kiên quyết đấu tranh với tư tưởng tư sản; xây dựng con người mớiXHCN trong lực lượng vũ trang Trách nhiệm đó trước hết thuộc về “các cơquan chính trị, cán bộ chỉ huy, các tổ chức đảng và đoàn tiến hành đấu tranhchống tư tưởng tư sản; vạch trần vũ khí chính trị - tư tưởng chủ yếu của chủnghĩa đế quốc - chủ nghĩa chống cộng, đạo đức tư sản, giáo dục các chiến sĩ
Xô - Viết phẩm chất của người xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa, củangười bảo vệ Tổ quốc Xô - Viết” [65, tr.25] Hình thức cơ bản của CTTT làgiảng dạy chính trị Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn khác nhau nội dung, hìnhthức và phương pháp tổ chức GDCT tư tưởng sẽ có những thay đổi phù hợp
A.A.Episép (1978), Một số vấn đề công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang Liên Xô [66] Trong chương IV: CTTT của các
cơ quan chính trị trong Quân đội và Hải quân, tác giả khẳng định: CTTT có vịtrí, vai trò to lớn trong xây dựng quân đội kiểu mới, đặc biệt khi nhiệm vụ của
xã hội càng phức tạp, càng quan trọng thì yêu cầu đối với sự trưởng thành vềtinh thần, sự rèn luyện về chính trị và giai cấp của mọi người càng phải cao
“Điều đó đạt được trước hết bằng biện pháp tư tưởng, bằng việc lĩnh hội những
tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin và bằng sự phấn đấu tích cực, thiết thực đểthực hiện những tư tưởng đó” [66, tr.270] Nội dung GDCT cho quân nhân làgiáo dục về “thế giới quan khoa học và niềm tin cộng sản chủ nghĩa là điểmtrung tâm của công tác tư tưởng” [66, tr.287] Hình thức giáo dục thông quacác buổi lên lớp chính trị, thực tiễn lao động, thực tiễn hoạt động quân sự, báochí, tham quan, kể truyện truyền thống Phương pháp đối với sĩ quan chủ yếuthông qua con đường tự học Đánh giá chất lượng giáo dục được thông qua hànhđộng, hành vi và việc làm hàng ngày, biểu hiện ở “tình cảm yêu mến đơn vịmình và qua đó, yêu mến toàn thể Hồng quân, khi người chiến sĩ đó tự hào rằngmình là chiến sĩ Hồng quân, phấn khởi vui mừng trước những thắng lợi củaHồng quân và đau buồn trước những thất bại của Hồng quân” [66, tr.294-295]
Trang 12V.Mikhailốp (1979), V.I.Lênin Đảng Cộng sản Liên Xô bàn về công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang [80] Tác giả cho rằng
bên cạnh việc nâng cao chất lượng giáo dục cho mọi người, cũng cần quantâm đúng mức đến giáo dục riêng, “nếu không dựa vào các nguyên tắc này thìkhông thể hy vọng vào thắng lợi to lớn trong công tác giáo dục chính trị chomọi người” [80, tr.9] Về công tác tuyên truyền, cổ động trong Hồng quân, tácgiả nhận định: “Thắng lợi của Hồng quân đạt được chủ yếu là nhờ công táctuyên truyền tích cực chủ nghĩa cộng sản; công tác cổ động chính trị và vănhóa - giáo dục trong quần chúng Hồng quân” [80, tr.8] Để nâng cao hiệu quảcông tác tuyên truyền, cổ động cần nắm chắc và vận dụng linh hoạt cácnguyên tắc: Tính ứng biến, tính cụ thể, tính linh hoạt của các biện pháp vàtính dễ hiểu của nó Lực lượng làm công tác cổ động là mọi cán bộ, đảngviên, quần chúng trong đơn vị, trước hết và chủ yếu là đội ngũ cán bộ, đảngviên, đặt dưới sự tổ chức, hướng dẫn của cán bộ lãnh đạo các cấp
Trung tâm Thông tin Khoa học - Công nghệ - Môi trường Bộ Quốc
phòng (1998), Xây dựng văn minh tinh thần với Quân đội Trung Quốc [226].
Nội dung xây dựng văn minh tinh thần của Quân đội Trung Quốc lấy trọng tâm
là hình thành phát triển đạo đức XHCN, chú trọng “xây dựng thế giới quan,nhân sinh quan, giá trị quan đúng đắn” [226, tr.27], xây dựng lòng tin vào lýtưởng CNXH và chủ nghĩa cộng sản cho bộ đội Nâng cao chất lượng tuyêntruyền lý luận, đường lối, chính sách, quyết sách của Đảng Cộng sản TrungQuốc và QUTW, những thành tựu và điển hình tiên tiến trong công cuộc xâydựng quân đội “Kiên trì nguyên tắc tính Đảng” [226, tr.27] của công tác tuyêntruyền
Khămphong Saynhaphôn (2006), Nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ ở Học viện Quốc phòng Cayxỏn Phômvihản Quân đội nhân dân Lào hiện nay [127] Theo tác giả, có 4 yếu tố cấu thành bản lĩnh chính trị của
đội ngũ cán bộ ở Học viện Quốc phòng, trong đó hệ thống tri thức là yếu tố cơbản Do đó, cần nâng cao chất lượng công tác GDCT tư tưởng cho đội ngũ cán
bộ Nội dung GDCT tư tưởng phải toàn diện, nhưng cốt lõi là chủ nghĩa Mác
Trang 13-Lênin, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng Nhân dân cách mạng Lào,nhiệm vụ của quân đội, nhiệm vụ của dân tộc, truyền thống của Đảng Vềhình thức giáo dục, bên cạnh những hình thức truyền thống đã phát huy hiệu quảtốt như lên lớp, giới thiệu các chuyên đề, tự nghiên cứu… cần mở rộng các hìnhthức, biện pháp khác như tổ chức các diễn đàn, hội thảo khoa học.
Thimsảo Đuôngchămpa (2014), Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị ở các trung đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Lào hiện nay [64] Tác giả quan
niệm công tác GDCT là một bộ phận quan trọng trong CTTT của QĐND Lào,
“có vai trò đặc biệt quan trọng góp phần xây dựng trận địa chính trị, tư tưởngvững chắc ở các trung đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Lào” [64, tr.77] Nộidung, hình thức GDCT rất phong phú, đa dạng, song cần coi trọng giáo dụctruyền thống, phổ biến giáo dục pháp luật, giáo dục thông qua hoạt động củaphong trào thi đua, các cuộc vận động Biện pháp nâng cao chất lượng GDCT,theo tác giả trước hết cấp ủy, cán bộ các cấp cần tăng cường quán triệt, nắm vữngnội dung, yêu cầu GDCT, đề cao trách nhiệm trong lãnh đạo và tổ chức thực hiện
1.1.2 Các công trình của tác giả trong nước
1.1.2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh, trực thuộc Bộ Chính trị (1995),
Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi và bài học [2].
Nội dung tác phẩm đã đánh giá ưu điểm, hạn chế quá trình lãnh đạo khángchiến của Đảng, đúc kết 8 bài học kinh nghiệm trong 21 năm kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước Qua những bài học đó, tác phẩm đã đề cập đến vai tròcủa CTTT, khẳng định muốn đánh thắng chiến tranh xâm lược của đế quốc
Mỹ, trước hết phải có quyết tâm chiến đấu rất cao và kiên trì quyết tâm đótrong mọi hoàn cảnh, dựa trên lòng yêu nước nồng nàn - một truyền thốngcực kỳ quý báu của dân tộc Quyết tâm đó phải được hướng dẫn bằng mộtđường lối chính trị đúng đắn sáng tạo, độc lập, tự chủ và phải được tuyên
Trang 14truyền phổ biến rộng rãi, quán triệt sâu sắc trong nhân dân, biến nó thànhsức mạnh vật chất, thành các phong trào quần chúng mạnh mẽ
Trần Trọng Tân (1995), Góp phần đổi mới công tác lý luận - tư tưởng
[129] Theo tác giả, mục đích CTTT của Đảng Cộng sản Việt Nam là “nhằm
xây dựng cho con người có tư tưởng đúng để hành động đúng” [129, tr.278] Vì
vậy, CTTT cần hướng vào “xây dựng Đảng về mặt tư tưởng, xây dựng hình thái
ý thức xã hội cho chế độ xã hội chủ nghĩa và xây dựng cho con người sống trong
xã hội mới có tư tưởng xã hội chủ nghĩa” [129, tr.278] Thực hiện những nộidung chủ yếu CTTT của Đảng, theo tác giả: Công tác lý luận, cần mở rộng việcgiáo dục lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Công tác tuyêntruyền, cần chú ý trước hết là tuyên truyền phổ biến các nghị quyết, chỉ thị củaĐảng Công tác cổ động cần làm cho người ta hăng hái thực hiện các chủ trươngcủa Đảng và tìm mọi cách khơi dậy thành phong trào hành động cách mạng sâurộng Phương châm tiến hành CTTT mà người làm CTTT cần nắm vững đólà: Bám sát cuộc sống, phát huy tự do tư tưởng, đấu tranh tư tưởng theophương pháp thuyết phục, giữ thế chủ động tiến công
Đào Duy Tùng (1999), Một số vấn đề về công tác tư tưởng [227] Tác giả
cho rằng CTTT là một bộ phận cấu thành rất quan trọng trong toàn bộ hoạt độngcách mạng của Đảng CTTT gồm nhiều bộ phận: “Công tác lý luận, công táctuyên truyền, công tác cổ động” [227, tr.8] Vai trò CTTT “là vũ khí sắc béntrong toàn bộ quá trình hoạt động của Đảng Nó đóng vai trò to lớn trong việcxây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức” [227, tr.13] Tác giảrút ra 6 bài học kinh nghiệm, phương châm chỉ đạo CTTT Theo tác giả vấn đề có
ý nghĩa quan trọng hàng đầu đến nâng cao chất lượng CTTT của Đảng sau khi cóđường lối đúng là nâng cao chất lượng nội dung tuyên truyền giáo dục Yếu tốquyết định đến chất lượng CTTT là đội ngũ những người làm CTTT; phát huysức mạnh tổng hợp trong tiến hành CTTT
Hữu Thọ (2000), Bảy mươi năm công tác tư tưởng - văn hóa của Đảng truyền thống vẻ vang, trách nhiệm to lớn [130] Tác phẩm đã lược ghi các bài
viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí Tổng Bí thư của Đảng nói vềCTTT văn hoá; các ý kiến của các đồng chí lãnh đạo Ban Tư tưởng - Văn hoá
Trang 15Trung ương về CTTT văn hoá của Đảng; nêu rõ vị trí, vai trò, truyền thống vàtrách nhiệm của những người làm CTTT.
Hữu Thọ (2000), Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng văn hóa [131] Cuốn
sách tập hợp, tuyển chọn các bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh vềCTTT văn hóa từ năm 1920 đến năm 1969 Qua đó, thể hiện quan điểm củaChủ tịch Hồ Chí Minh về các vấn đề nội dung, nhiệm vụ, phương pháp tuyêntruyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước, nâng cao tính chủ động, tự giác, sáng tạo của cán bộ,đảng viên và nhân dân trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng
Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2001), Sơ thảo lược sử công tác
tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam 1930 - 2000 [7] Tác phẩm đã trình
bày một cách hệ thống CTTT của Đảng qua các thời kỳ từ năm 1930 đến năm2000; tập trung vào những hoạt động của các cơ quan làm CTTT ở Trungương; đồng thời, dành một phần quan trọng giới thiệu hoạt động CTTT củacác ngành, các đoàn thể, lực lượng vũ trang và của một số địa phương; phụcdựng những hoạt động CTTT gắn với các hoạt động trên các lĩnh vực khácqua các thời kỳ; tổng kết lịch sử 70 năm ngành tư tưởng văn hóa, nêu ra một
số kinh nghiệm trong lãnh đạo CTTT của Đảng
Phùng Thị Hiển (2004), Công tác tư tưởng trong kháng chiến chống Mỹ: Thành công và kinh nghiệm [70] Bài viết chỉ rõ CTTT luôn giữ vai trò rất quan
trọng, góp phần đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi Trong cuộc đụng đầu lịch
sử, CTTT của Đảng đã góp phần quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước và để lại nhiều kinh nghiệm có giá trị Theo đó, tác giả chỉ rõnhững thành công nổi bật của CTTT là đã biến tinh thần quyết đánh và quyếtthắng Mỹ thành niềm tin sắt đá và sự quyết tâm cao độ của tất cả người dân ViệtNam yêu nước; trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt của chiến tranh, CTTT đãphát động và tổ chức được hàng loạt các phong trào quần chúng, phục vụ đắc lựccho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước; đã xây dựng được một lực lượng làm CTTTrất đông đảo, tuyệt đối trung thành và gắn bó mật thiết với nhân dân
Trang 16Phùng Thị Hiển (2008), Đảng lãnh đạo công tác tuyên truyền, cổ động chính trị ở miền Bắc (1960 - 1975) [71] Dưới góc độ khoa học chuyên ngành
Lịch sử Đảng, tác giả luận án đã làm rõ một số khái niệm cơ bản về CTTT,công tác tuyên truyền, cổ động chính trị; làm rõ bối cảnh lịch sử, chủ trương
và sự chỉ đạo của Đảng đối với công tác tuyên truyền, cổ động chính trị ởmiền Bắc từ năm 1960 đến năm 1975, trong đó chỉ rõ chủ trương “chuyểnhướng tư tưởng” ở miền Bắc của Đảng giai đoạn 1965 - 1975 so với giai đoạn
1960 - 1965 Từ đó, khẳng định 4 thành công nổi bật của công tác tuyêntruyền, cổ động chính trị từ năm 1960 đến năm 1975, chỉ ra 5 hạn chế và rút
ra 5 kinh nghiệm có giá trị, góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạocông tác tuyên truyền, cổ động của Đảng trong giai đoạn hiện nay
Ban Tuyên giáo Trung ương (2010), Lịch sử 80 năm Ngành Tuyên giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2010) [4] Tác phẩm đã khái quát quá trình
hình thành và phát triển của Ngành Tuyên giáo, mô tả những chặng đường lịch
sử công tác tuyên giáo của Đảng Trong đó đề cập đến công tác tuyên giáo trongkháng chiến chống Mỹ, chỉ rõ mọi hoạt động văn học, nghệ thuật, giáo dục, báochí đều hướng vào mục đích động viên toàn dân cho sự nghiệp chống Mỹ, giảiphóng miền Nam, thống nhất đất nước Các hoạt động phong phú, đa dạng củaNgành Tuyên giáo đã tạo được những thành công lớn trên mặt trận tư tưởng, gópphần quan trọng vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống Mỹ
Đào Duy Quát (2010), Công tác tư tưởng [99] Cuốn sách đã đưa ra khái
niệm CTTT; chỉ rõ các yếu tố cấu thành CTTT gồm: Chủ thể, khách thể, nộidung, phương pháp, hình thức, phương tiện và hiệu quả CTTT Các bộ phận cấuthành của CTTT gồm: Công tác lý luận, công tác tuyên truyền và công tác cổđộng CTTT được thực hiện theo nguyên tắc: Tính đảng; tính khoa học; tính trungthực; sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, gắn với đời sống; quan điểm đồngbộ; tính hệ thống; tính nhất quán và tính liên tục; tính linh hoạt, tính tiến công; tínhthuyết phục và tính dễ hiểu Trong đó, tính đảng là nguyên tắc cơ bản nhất
Trang 17Lã Quý Đô (2013), Đảng lãnh đạo công tác tư tưởng trong kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954 [63] Luận án trình bày khái lược CTTT của
Đảng trước Cách mạng Tháng Tám; làm rõ bối cảnh lịch sử và những yêu cầu đặt
ra với CTTT; luận giải chủ trương của Đảng về CTTT qua hai giai đoạn của cuộckháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược: 1945 - 1950 và 1951 - 1954 Làm rõquá trình chỉ đạo thực hiện CTTT của Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống thựcdân Pháp Nhận xét những ưu điểm, hạn chế và rút ra 5 kinh nghiệm từ quá trìnhlãnh đạo CTTT của Đảng thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp
Trần Thị Anh Đào (2014), Công tác tư tưởng và vấn đề đào tạo cán bộ làm công tác tư tưởng [62] Cuốn sách chỉ rõ CTTT nhằm xây dựng ý thức
XHCN; định hướng giá trị xã hội đúng đắn; hình thành niềm tin cách mạng cócăn cứ khoa học, thúc đẩy quần chúng tham gia vào sự nghiệp cách mạng Hìnhthái của CTTT bao gồm: Công tác lý luận, công tác tuyên truyền và công tác cổđộng Đối tượng tác động của CTTT bao gồm các giai cấp, tầng lớp nhân dân,cộng đồng dân tộc, tập thể và cá nhân trong toàn xã hội Phương thức nâng caohiệu quả CTTT, theo tác giả phải không ngừng đổi mới hình thức, phương phápCTTT; tăng cường phương pháp đối thoại; đa dạng hóa phương thức giáo dụctruyền thống; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với CTTT
1.1.2.2 Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến công tác tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Quân đội nhân dân Việt Nam, Tổng cục Chính trị (1990), Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
1954 - 1975 [100] Tác phẩm phản ánh hoạt động CTĐ, CTCT qua các giai
đoạn của cuộc kháng chiến; đánh giá những ưu điểm và bước phát triển mớicủa CTĐ, CTCT trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong đó chỉ rõvai trò của CTTT “đã xây dựng được tinh thần dám đánh Mỹ, không sợ Mỹ,làm tiền đề sáng tạo cách đánh và vượt qua khó khăn để thắng Mỹ” [100,tr.78] Đồng thời, tác phẩm chỉ rõ những khuyết điểm, rút ra 7 bài học kinhnghiệm, trong đó chỉ rõ: “Để phát huy mạnh mẽ hiệu lực của công tác tư
Trang 18tưởng, trước hết phải nắm vững tính giai cấp, tính đảng của công tác tưtưởng” [100, tr.190]; phải nắm vững tính khoa học, phải nâng cao tính chiếnđấu của CTTT vì “đấu tranh tư tưởng là một mặt trận của cuộc đấu tranh giaicấp, đấu tranh “ai thắng ai” giữa ta và địch ” [100, tr.193].
Quân đội nhân dân Việt Nam, Tổng cục Chính trị, Viện Lịch sử Quân sự
Việt Nam (1998), Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ 1945 - 1975 [103] Nội dung CTĐ,
CTCT trong các chiến dịch của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đượctrình bày theo từng giai đoạn (từ chương 4 đến chương 8), về CTTT tác phẩmchỉ rõ: “Thành công nổi bật của các chiến dịch này là chuẩn bị chu đáo cả về
tư tưởng và tổ chức, đánh chắc thắng, không chủ quan đơn giản, kiên trì quyếttâm chiến đấu ” [103, tr.327] Song, “có chiến dịch công tác tư tưởng chỉ nhấnmạnh một chiều làm cho bộ đội chỉ thấy thắng lợi, thuận lợi, thế chiến trường
và cách mạng như chẻ tre, không thấy hết khó khăn, quyết liệt và có khi tạmthời tổn thất gây trở ngại không ít đối với công tác tư tưởng thời kỳ sau đó”[103, tr.400] Đây là những đánh giá mang tính tổng quát, giúp nghiên cứu sinh
có cái nhìn tổng thể về CTTT trong các chiến dịch thời kỳ 1960 - 1968, từ đótham khảo, kế thừa trong trình bày phần nhận xét của luận án
Quân đội nhân dân Việt Nam, Tổng cục Chính trị (2002), Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 2000)
[104] Tác phẩm khái quát quá trình hình thành, phát triển và rút ra những vấn
đề cơ bản từ lịch sử CTĐ, CTCT trong quân đội qua các thời kỳ cách mạng.Trong đó, thông qua chương 3, chương 4 và chương 8 của tác phẩm, CTTTtrong quân đội thời kỳ kháng chiến chống Mỹ được khắc họa một phần tronghoạt động CTĐ, CTCT Kết quả nghiên cứu này là cơ sở để nghiên cứu sinh
kế thừa một cách có hệ thống quá trình chỉ đạo CTTT của ĐBQĐ trong cuộckháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Quân đội nhân dân Việt Nam, Tổng cục Chính trị (2004), Lịch sử Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, tập I (1944 - 1975) [105] Tác phẩm
Trang 19là công trình lịch sử gắn liền với quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành củaQĐNDVN và lịch sử CTĐ, CTCT trong 30 năm kháng chiến chống thực dânPháp và đế quốc Mỹ xâm lược Công trình khái quát toàn bộ quá trình lãnh đạotoàn diện, sâu sắc và có hệ thống của TCCT đối với các đơn vị, các chiến trườngtrên các mặt công tác chính trị, tư tưởng, tổ chức qua các giai đoạn của 30 nămkháng chiến Đặc biệt, từ trang 323 đến trang 796, thông qua phần thứ hai củatác phẩm viết về TCCT QĐNDVN trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứunước (1954 - 1975), nghiên cứu sinh thấy rõ hơn quá trình chỉ đạo của TCCT đốivới CTTT trong quân đội trên các lĩnh vực: GDCT; tuyên truyền, cổ động, thiđua; văn hóa, văn nghệ và báo chí, xuất bản.
Lê Văn Dũng (2004), Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị một số vấn đề lý luận và thực tiễn [44] Vấn đề CTTT - văn hóa trong quân
đội được tác giả trình bày từ trang 346 đến trang 369, xác định CTTT - văn hóatrong QĐNDVN là một bộ phận quan trọng trong CTTT - văn hóa của toàn Đảng,
là một hoạt động cơ bản, nội dung chủ yếu của CTĐ, CTCT trong các lực lượng
vũ trang nhân dân, là toàn bộ những hoạt động thuộc lĩnh vực ý thức của conngười nhằm biến tư tưởng tiến bộ, cách mạng thành lực lượng vật chất để xâydựng QĐNDVN vững mạnh về chính trị, tư tưởng, bảo đảm cho quân đội luônthống nhất ý chí và hành động hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhànước và nhân dân giao phó
Nguyễn Hoàng Nhiên (2006), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược [97] Dưới góc độ khoa học chuyên ngành Lịch sử
Đảng, tác giả luận án đã làm rõ yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựngQĐND về chính trị trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, phântích bối cảnh lịch sử, những bước ngoặt của cuộc kháng chiến trên mặt trận quânsự; làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và các cấp bộ Đảngtrong quân đội về xây dựng chính trị, mà trọng tâm là lãnh đạo tư tưởng bộ đội,
Trang 20qua hai giai đoạn 1945 - 1950 và 1951 - 1954 Đánh giá thành tựu, hạn chế chỉ
rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo
Tổng cục Chính trị, Cục Tư tưởng - Văn hóa (2006), Lịch sử công tác tư tưởng - văn hóa trong Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 2004) [222] Tác
phẩm tập trung khai thác những tư liệu, sự kiện lịch sử đã diễn ra của CTTT văn hóa trong quân đội qua các giai đoạn; qua đó làm nổi bật những hoạtđộng chính, thành công, ưu điểm và những hạn chế, thiếu sót trên từng lĩnhvực hoạt động và những bước phát triển chính về nhiệm vụ, nội dung, hìnhthức, phương pháp và tổ chức lực lượng tiến hành CTTT - văn hóa trong quânđội Đặc biệt, tác phẩm khẳng định rõ vị trí, ý nghĩa của CTTT trong quân đội
-“nhằm xây dựng quân đội và các lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh vềchính trị, tư tưởng và góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vữngmạnh về tổ chức, bảo đảm cho Quân đội nhân dân Việt Nam không ngừng lớnmạnh, trưởng thành, chiến thắng vẻ vang, đánh bại mọi kẻ thù xâm lược; xứngđáng là lực lượng chính trị, đội quân chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng,Nhà nước và nhân dân” [222, tr.7] Từ thực tiễn 60 năm hoạt động, trưởngthành của CTTT - văn hóa trong quân đội đã thu được những “thành công lớn cótầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa quyết định đến sự lớn mạnh trưởng thànhcủa quân đội” [222, tr.890] và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý
Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam (2010), Lịch sử Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 2, (1955 - 1975) [45] Tác phẩm là công trình lịch
sử, tổng kết quá trình ĐBQĐ lãnh đạo QĐNDVN xây dựng, chiến đấu, trưởngthành và lãnh đạo xây dựng ĐBQĐ vững mạnh về mọi mặt trong suốt cuộckháng chiến chống Mỹ, cứu nước; tái hiện khá đầy đủ và chính xác những hoạtđộng, sự kiện nổi bật của ĐBQĐ diễn ra trong suốt 21 năm kháng chiến chống
Mỹ của dân tộc Việt Nam Tác phẩm trình bày thành 05 chương (từ chương 6đến chương 10) tương ứng với những giai đoạn chiến lược của cuộc khángchiến Phần kết luận đã khái quát những đặc điểm lớn chi phối hoạt động lãnhđạo của ĐBQĐ; những thành công chủ yếu trong lãnh đạo xây dựng quân đội vàxây dựng Đảng bộ của ĐBQĐ trong cuộc kháng chiến; đồng thời, làm rõ nguyên
Trang 21nhân của những thành công đó Đặc biệt, tác phẩm chỉ rõ: “Sau khi tiến hànhxong Đại hội Đảng các cấp, từ ngày 17 đến ngày 21 tháng 7 năm 1960, Đảng bộQuân đội tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ toàn quân lần thứ nhất ” [45, tr.159].Đây là cơ sở trực tiếp để nghiên cứu sinh lựa chọn phạm vi nghiên cứu của đề tài
về thời gian với mốc mở đầu là từ năm 1960
Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Cục Tuyên huấn
(2014), Lịch sử Cục Tuyên huấn (1946 - 2014) [224] Cuốn sách không chỉ
phản ánh có hệ thống, theo trình tự thời gian quá trình ra đời, xây dựng, pháttriển về tổ chức và các hoạt động chủ yếu của CTH gần 70 năm, mà còn kháiquát, trình bày những kinh nghiệm lịch sử trên mặt trận tư tưởng văn hóa.Những tư liệu và sự kiện trình bày trong cuốn sách được sưu tầm trích đoạn
từ hồ sơ lưu, các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, hướng dẫn và các bản sơ kết, tổngkết về công tác tuyên huấn của QUTW, TCCT và CTH Theo đó, chương 2 vàchương 3 của tác phẩm đã làm rõ vai trò của CTH qua các giai đoạn của cuộckháng chiến, góp phần đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ.Mặt khác, do CTH là cơ quan tham mưu chiến lược về công tác tuyên huấncho TCCT, QUTW, đồng thời hướng dẫn, chỉ đạo công tác tuyên huấn trongcác đơn vị toàn quân, nên thông qua tác phẩm, nghiên cứu sinh có thể thấyđược những phương thức hoạt động cơ bản của CTTT trong quân đội
Đinh Xuân Dũng (2016), Công tác tư tưởng - văn hóa trong xây dựng Quân đội về chính trị [43] Tác giả chỉ rõ: “Công tác tư tưởng - văn hóa trong quân đội là
một “binh chủng” đặc biệt đã góp phần trực tiếp xây dựng bản lĩnh chính trị củaquân đội; đồng thời, nuôi dưỡng, đào tạo và xây dựng các thế hệ những người chiến
sĩ cách mạng của Đảng, của dân tộc và của nhân dân được đúc kết trong con ngườikiểu mẫu của hơn 70 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành - “Anh Bộ đội CụHồ” [43, tr.6] Vấn đề thành tựu và kinh nghiệm của CTTT - văn hóa trong thời kỳ
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, được tác giả luận giải trên hai mặt: Thứ nhất, công tác GDCT, lãnh đạo tư tưởng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Thứ hai, công tác văn hóa, văn nghệ và thông tin đại chúng.
Trang 22Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Cục Tuyên huấn
(2018), Tài liệu nâng cao chất lượng công tác tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay [225] Cuốn sách làm rõ quan niệm về CTTT trong
QĐNDVN; chỉ rõ thực trạng, nguyên nhân và một số kinh nghiệm tiến hànhCTTT trong quân đội; luận giải những yếu tố tác động và yêu cầu nâng caochất lượng CTTT trong quân đội; từ đó đề xuất 6 giải pháp cơ bản nâng caochất lượng CTTT trong QĐNDVN hiện nay
1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
1.2.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố
1.2.1.1 Về tư liệu
Nghiên cứu về CTTT là chủ đề khá phong phú về thể loại, bao gồm sách,tạp chí, các đề tài luận án… thể hiện rõ sự quan tâm của giới khoa học trong vàngoài nước, được khai thác, tiếp cận dưới nhiều góc độ và phạm vi khác nhau.Kết quả nghiên cứu của các công trình đã cung cấp cho nghiên cứu sinh nhữngthông tin khoa học khá sâu rộng liên quan đến CTTT trong quân đội để nghiêncứu sinh kế thừa, vận dụng Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu vềCTTT trong quân đội chỉ mới được khai thác tập trung ở những bài báo khoahọc, những cuốn sách mà chưa có nhiều Luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngànhLịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
1.2.1.2 Về phương pháp tiếp cận
Các công trình nghiên cứu trong nước và thế giới được tiếp cận dướinhiều góc độ khác nhau như chính trị, quân sự, tâm lý,… và sử dụng nhiềuphương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử, logic,…
Sự đa dạng trong cách tiếp cận với nhiều mức độ và phạm vi nghiên cứu đãcung cấp cho nghiên cứu sinh “phông” kiến thức khá đầy đủ về CTTT; giúpnghiên cứu sinh có cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu đa diện hơn với sự phântích, luận giải về CTTT trong mối quan hệ biện chứng và tác động tương hỗvới các lĩnh vực công tác khác Tuy vậy, hầu hết các công trình nghiên cứu vềCTTT được luận giải dưới góc độ biên niên sự kiện và tổng kết CTĐ, CTCT
Trang 23Một số công trình có đề cập đến đường lối, chủ trương của ĐBQĐ về CTTT,song còn ít và chưa có tính hệ thống.
1.2.1.3 Về nội dung nghiên cứu
Một là, các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài đã khẳng định vị
trí, vai trò to lớn của CTTT trong sự nghiệp cách mạng của các Đảng Cộng sản(Liên Xô, Trung Quốc, Lào), sự nghiệp xây dựng, chiến đấu của quân đội Chỉ
ra nhiệm vụ tiến hành CTTT của các tổ chức, các lực lượng và người cán bộchính trị, chỉ huy trong quân đội Có công trình đã bàn về quan niệm, các bộphận cấu thành, mục đích, nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành CTTTcủa Đảng Cộng sản và CTTT của Đảng Cộng sản trong quân đội Dù một sốcông trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài công bố đã lâu, song các nội dungliên quan trong các công trình đó vẫn có giá trị tham khảo, giúp nghiên cứu sinh
có sự nhìn nhận, đánh giá toàn diện và sâu sắc hơn về CTTT trong quân đội
Hai là, các công trình nghiên cứu của tác giả trong nước đã khẳng định
vị trí, vai trò to lớn của CTTT trong công tác xây dựng Đảng, xây dựngQĐNDVN về chính trị Nhiều công trình đã luận bàn về các bộ phận cấuthành, hình thức, tiêu chuẩn đánh giá, biện pháp nâng cao chất lượng, hiệuquả CTTT của Đảng trong quân đội Một số công trình nghiên cứu dưới cảgóc độ lý luận nhận thức và tổng kết thực tiễn đã đề cập một cách khá sâu sắc
và toàn diện về bối cảnh lịch sử; nhấn mạnh vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm
vụ của CTTT trong kháng chiến
Ba là, đề cập đến sự lãnh đạo CTTT của Đảng nói chung, CTTT trong
quân đội nói riêng, trong đó có một phần nói về sự lãnh đạo CTTT trongkháng chiến chống Mỹ, nhiều công trình đã đề cập đến yêu cầu tiến hànhCTTT, thực trạng CTTT qua các giai đoạn của cuộc kháng chiến; một số côngtrình đã trích dẫn những quan điểm, chủ trương, quá trình chỉ đạo thực hiện;đồng thời, rút ra một số kinh nghiệm hoặc đề xuất một số giải pháp tiến hànhCTTT đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
Bốn là, thông qua các công trình tổng kết CTĐ, CTCT trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước, CTTT trong quân đội phần nào phản ánh những ưu
Trang 24điểm, hạn chế, chỉ ra nguyên nhân với những nhận định khá xác đáng, từ đó rút
ra một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo
Năm là, một số công trình bàn về những vấn đề nghiệp vụ của CTTT,
bao gồm: Công tác giáo dục lý luận; tuyên truyền, cổ động, thi đua; phối hợpcác cơ quan chuyên môn nghiệp vụ làm CTTT; xây dựng đội ngũ cán bộ làmCTTT, công tác báo chí, phát thanh
Sáu là, một số công trình luận giải những vấn đề cấp bách về CTTT
trong quân đội hiện nay, đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm tăng cường sứcmạnh chính trị, tinh thần của QĐNDVN trong giai đoạn cách mạng mới
Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về CTTT trong quân đội, mỗicông trình đều có đối tượng, phương pháp tiếp cận, mục tiêu, nhiệm vụ, nộidung nghiên cứu khác nhau, nên về CTTT chỉ được đề cập đến một cách hạnchế, một khía cạnh nhỏ trong CTĐ, CTCT; hoặc chỉ được mô tả trong hoạtđộng của ngành tuyên huấn qua từng thời kỳ Dưới góc độ khoa học Lịch sửĐảng, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách độc lập, có tính
hệ thống và toàn diện về chủ trương và sự chỉ đạo của ĐBQĐ về CTTT, nhất là
trong những năm 1960 - 1968 Vì vậy, có thể khẳng định “Đảng bộ Quân đội lãnh đạo công tác tư tưởng từ năm 1960 đến năm 1968” đang là một “khoảng
trống” khoa học trong nghiên cứu mà nghiên cứu sinh có thể lựa chọn làm đềtài Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Khi thực hiện nghiên cứu đề tài “Đảng bộ Quân đội lãnh đạo công tác tưtưởng từ năm 1960 đến năm 1968”, nghiên cứu sinh xác định những vấn đềcần phải tập trung giải quyết, đó là:
Một là, những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo CTTT của ĐBQĐ từ năm
1960 đến năm 1968
Để làm rõ vấn đề này, nghiên cứu sinh tập trung đi vào phân tích về vịtrí, vai trò của CTTT trong quân đội; những tác động của tình hình thế giới,trong nước đến CTTT trong quân đội; thực tiễn CTTT trong quân đội trước
Trang 25năm 1960 và những yêu cầu đặt ra đối với CTTT trong giai đoạn mới; kháiquát, hệ thống chủ trương của Đảng về CTTT trong những năm 1960 - 1968.
Hai là, chủ trương và sự chỉ đạo của ĐBQĐ đối với CTTT từ năm 1960 đến năm 1968
Để làm rõ nội dung trên, nghiên cứu sinh tập trung sưu tầm, hệ thống hóachủ trương của ĐBQĐ về CTTT từ năm 1960 đến năm 1968 trên các khía cạnhphương hướng, mục tiêu, yêu cầu và các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể Làm rõ quátrình ĐBQĐ chỉ đạo CTTT trên các mặt: GDCT; tuyên truyền, cổ động, thi đua;văn hóa, văn nghệ; báo chí, xuất bản Khái quát những kết quả đạt được, so sánhgiai đoạn 1965 - 1968 với giai đoạn 1960 - 1965, qua đó làm nổi bật sự tăngcường CTTT trong quân đội giai đoạn 1965 - 1968
Ba là, ưu điểm, hạn chế của quá trình ĐBQĐ lãnh đạo CTTT (1960 - 1968)
Để có được những nhận xét bảo đảm tính khách quan, trung thực về quátrình ĐBQĐ lãnh đạo CTTT (1960 - 1968), nghiên cứu sinh dựa vào kết quảnghiên cứu đã trình bày ở hai chương mô tả lịch sử; đồng thời, bám sát cácvăn kiện, nghị quyết của Trung ương, các chỉ thị, báo cáo tổng kết củaQUTW, TCCT, CTH và các công trình nghiên cứu có liên quan, từ đó tậptrung làm rõ ưu điểm, hạn chế trong hoạch định chủ trương; chỉ đạo tổ chứcthực hiện và kết quả đạt được trong thực tiễn về CTTT trong quân đội
Bốn là, kinh nghiệm từ quá trình ĐBQĐ lãnh đạo CTTT (1960 - 1968)
Từ thực tiễn nhận thức và hoạch định chủ trương, chỉ đạo và những kết quảđạt được về quá trình lãnh đạo CTTT của ĐBQĐ, nghiên cứu sinh đúc kết nhữngkinh nghiệm, phân tích làm rõ và đề xuất những vấn đề vận dụng vào hiện tại
Trang 26Kết luận chương 1
Công tác tư tưởng là một lĩnh vực rộng lớn, quan trọng trong toàn bộhoạt động lãnh đạo của Đảng, là chủ đề thu hút được sự quan tâm, nghiêncứu của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân, các nhà khoa học trong và ngoàinước Với số lượng công trình phong phú, được tiếp cận dưới các góc độnghiên cứu và phạm vi khác nhau, các công trình đã bước đầu luận giảinhững vấn đề lý luận và thực tiễn về CTTT của Đảng nói chung, CTTTtrong quân đội nói riêng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới
Thành công của các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến đềtài luận án là tương đối toàn diện Các công trình đã khẳng định vị trí, vai tròcủa CTTT, chỉ ra những mặt hoạt động chủ yếu, kết quả và những kinhnghiệm hoặc giải pháp tiến hành CTTT của Đảng nói chung, CTTT trongquân đội nói riêng, trong đó có thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.Qua đó, gợi mở cho nghiên cứu sinh hướng tiếp cận, luận giải, phân tích sựlãnh đạo của ĐBQĐ về CTTT trong những năm 1960 - 1968
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, nghiên cứusinh hệ thống hóa các tài liệu, khái quát kết quả nghiên cứu của các côngtrình, tiếp thu có chọn lọc những nội dung có thể tham khảo kế thừa; đồngthời, chỉ ra những vấn đề chưa được nghiên cứu làm rõ Vận dụng phươngpháp luận sử học mácxít, căn cứ vào đối tượng, chức năng, nhiệm vụnghiên cứu của Khoa học Lịch sử Đảng, nghiên cứu sinh xác định đượcnhững “khoảng trống” khoa học - những vấn đề luận án sẽ tập trung giải
quyết Vì vậy, đề tài “Đảng bộ Quân đội lãnh đạo công tác tư tưởng từ năm 1960 đến năm 1968” là đề tài độc lập, không trùng lặp với các công
trình đã công bố, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
Trang 27Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ QUÂN ĐỘI
VỀ CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG (1960 - 1965) 2.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng bộ Quân đội (1960 - 1965)
2.1.1 Vị trí, vai trò, phương thức tiến hành công tác tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Tư tưởng là sự phản ánh của hiện thực trong ý thức, biểu thị những lợi ích
ít nhiều có tính phổ biến của con người, của xã hội CTTT nói chung là việc sửdụng tổng hợp các thành quả của khoa học, cùng với nghệ thuật và phương phápđặc thù, tác động vào ý thức, tình cảm, hành động của con người và xã hội đểhình thành, củng cố hoặc làm chuyển biến tư tưởng con người một cách có chủđịnh, đồng thời qua đó để định hướng hoạt động của con người
Công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phận cấu thànhđặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng; là lĩnh vực trọng yếu để xâydựng, bồi đắp nền tảng chính trị của chế độ, tuyên truyền, giáo dục, động viên và tổchức nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, khẳng định và nâng cao vai tròtiên phong của Đảng về chính trị, lý luận, trí tuệ, văn hóa và đạo đức; thể hiện vaitrò đi trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [60, tr.41].Công tác tư tưởng ở từng lĩnh vực cụ thể, ngoài những nét chung, còn cónhững nét đặc thù CTTT trong QĐNDVN là CTTT ở một lĩnh vực đặc thù,lĩnh vực quốc phòng, được hiểu là một bộ phận CTTT của Đảng Cộng sảnViệt Nam, một mặt hoạt động cơ bản của CTĐ, CTCT trong QĐNDVN, baogồm tổng thể các hoạt động truyền bá, hoàn thiện, phát triển và đấu tranh tưtưởng nhằm xác lập hệ tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quân đội,làm cho thế giới quan Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, đườnglối, chính sách của Đảng và Nhà nước giữ vị trí thống trị trong đời sống chínhtrị tinh thần của quân đội; góp phần hình thành phát triển nhân cách quânnhân, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, hoànthành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao [225, tr.5]
Trang 28Có thể thấy, mục tiêu của CTTT trong quân đội là làm cho chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng giữ vai tròchủ đạo trong đời sống chính trị tinh thần của quân đội; giữ vững và tăngcường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội; không ngừng nâng cao đời sốngchính trị tinh thần, văn hóa của bộ đội, xây dựng quân đội vững mạnh về chínhtrị, tư tưởng, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao Nội dung CTTT trongquân đội rất phong phú, đa dạng, phát triển theo yêu cầu, nhiệm vụ của cáchmạng, của quân đội và đơn vị, phù hợp với đặc điểm, trình độ của đối tượng,chịu sự quy định bởi mục đích, nhiệm vụ, mục tiêu của CTTT trong từng giaiđoạn cách mạng, trong đó tập trung vào những nội dung chủ yếu như: Tuyêntruyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quán triệt quanđiểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tình hình, nhiệm
vụ cách mạng, nhiệm vụ quân đội và đơn vị; giáo dục mục tiêu, lý tưởng chiếnđấu; giáo dục chủ nghĩa yêu nước, truyền thống cách mạng và phẩm chất “Bộđội Cụ Hồ”; xây dựng đoàn kết, nhất trí trong nội bộ; tổ chức tốt công tác thiđua, khen thưởng; xây dựng môi trường văn hóa và đời sống văn hóa tinh thần
bộ đội; đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng sai trái; nắm chắc và dự báochính xác, xử trí kịp thời các vấn đề tư tưởng nảy sinh…
Công tác tư tưởng trong quân đội có vai trò quan trọng hàng đầu trong sựnghiệp xây dựng, chiến đấu, phát triển trưởng thành của quân đội Vai trò đóđược thể hiện:
Thứ nhất, trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, bồi dưỡng nâng cao nhận thức, hìnhthành ý chí, tình cảm cách mạng, xây dựng phẩm chất chính trị tinh thần - yếu
tố quyết định sức mạnh chiến đấu của quân đội cách mạng
Sức mạnh của quân đội là sức mạnh tổng hợp, trong đó nhân tố chính trịtinh thần là nền tảng, là yếu tố quyết định nhất V.I.Lênin khẳng định: “Trongmọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tuỳ thuộc vào tinh thần của quầnchúng đang đổ máu trên chiến trường” [79, tr.147] Sự giác ngộ mục tiêu, lý tưởngcủa cán bộ, chiến sĩ trong quân đội là vấn đề cực kỳ quan trọng, là cơ sở nền tảng để
Trang 29cán bộ, chiến sĩ hình thành niềm tin, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, chế độ vànhân dân, xây dựng ý chí quyết tâm khắc phục khó khăn, hoàn thành thắng lợinhiệm vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân đội mạnh là nhờ giáo dụckhéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm” [82, tr.483] và Bác yêu cầu:
“Trong công việc xây dựng và phát triển quân đội, chúng ta phải ra sức đẩy mạnh việc xây dựng và củng cố công tác chính trị… Phải nâng cao giác ngộ chính trị, nâng cao chiến thuật và kỹ thuật, nâng cao kỷ luật tự giác của bộ đội ta” [81, tr.37] Thứ hai, CTTT trực tiếp giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
đối với quân đội, thường xuyên góp phần xây dựng ĐBQĐ vững mạnh vềchính trị, tư tưởng và tổ chức
Lãnh đạo CTTT luôn được xác định là một nội dung lãnh đạo quan trọnghàng đầu và thường xuyên của các tổ chức đảng trong quân đội Chủ tịch Hồ
Chí Minh khẳng định: “Công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất Trong
Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ nhiệm vụ mới, thì tưtưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất”[83, tr.554-555] Cùng với việc tham gia nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiệnđường lối nghệ thuật quân sự của Đảng, thực hiện sự lãnh đạo tuyệt đối, trựctiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, bảo đảm tính định hướng chính trịtrong mọi hoạt động của quân đội, CTTT còn trực tiếp giáo dục tinh thần yêunước, củng cố bản lĩnh chính trị, lập trường giai cấp, phát huy vai trò tiềnphong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trở thành hạt nhân lãnh đạotrong các đơn vị; đồng thời, xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong quân đội,cũng như ĐBQĐ trong sạch, vững mạnh
Thứ ba, CTTT có vai trò quan trọng đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần
của bộ đội
Thông qua quá trình nghiên cứu, định hướng và tổ chức cho bộ đội sáng tạo
và hưởng thụ văn hoá, CTTT góp phần hình thành cho cán bộ, chiên sĩ những cảmxúc thẩm mỹ tích cực, những tình cảm, khát vọng sống và cống hiến cao đẹp, giúp
họ củng cố những giá trị đạo đức, truyền thống tốt đẹp, tạo động lực để phấn đấuvươn lên hoàn thiện mình theo mô hình nhân cách của người quân nhân cách
Trang 30mạng Đồng thời, tạo ra môi trường thuận lợi để phát huy mọi khả năng sáng tạo,tiềm năng to lớn của bộ đội, góp phần xây dựng tinh thần đoàn kết gắn bó giữacác thế hệ, cổ vũ bộ đội vươn tới những giá trị chân, thiện, mỹ; phê phán nhữngbiểu hiện sai trái, lệch lạc, những hành vi thiếu văn hóa Từ đó, xây dựng đờisống tinh thần lành mạnh, phong phú tại đơn vị, tạo nên sức đề kháng cao, “mànglọc” có hiệu quả để ngăn ngừa sự xâm nhập của các loại sản phẩm xấu độc.
Thứ tư, CTTT tích cực nghiên cứu tổng kết thực tiễn tình hình tư tưởng
trong quân đội, góp phần hoàn thiện, phát triển công tác lý luận của Đảng.Nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn là một nội dung hoạt động thườngxuyên quan trọng của CTTT trong quân đội Nó không chỉ góp phần làm sáng tỏnhững điều được khẳng định trong lý luận và đường lối của Đảng mà còn làm cơ
sở khoa học liên quan trực tiếp đến cuộc đấu tranh nhằm giữ vững định hướngXHCN, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ sự trong sạch vững mạnh củacác tổ chức trong hệ thống chính trị; xây dựng củng cố niềm tin của bộ đội vàođịnh hướng XHCN, vào sự lãnh đạo của Đảng Từ đó, góp phần quan trọng cungcấp các luận cứ khoa học để Đảng, Nhà nước chỉ đạo các cơ quan khoa họcnghiên cứu tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới, nhằm phát triển lýluận cách mạng, làm sáng tỏ những vấn đề thực tiễn của đất nước, quân đội đặt ra
Thứ năm, CTTT góp phần đấu tranh có hiệu quả chống các quan điểm, tư
tưởng sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng và trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội.Quá trình hình thành và phát triển của mỗi hệ tư tưởng luôn gắn liền vớicuộc đấu tranh chống lại các tư tưởng thù địch Chủ nghĩa đế quốc và các thế lựcthù địch luôn tập trung chống phá hệ tư tưởng của giai cấp vô sản với những âmmưu, thủ đoạn cực kỳ thâm độc, xảo quyệt CTTT trong quân đội với tính địnhhướng chính trị và tính chiến đấu cao đã góp phần bảo vệ, phát triển chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, làm cho hệ tư tưởngcủa Đảng thực sự giữ vai trò chủ đạo trong đời sống chính trị tinh thần của quânđội Thông qua quá trình bám sát cuộc sống, kịp thời phát hiện và đấu tranh kiênquyết với những quan điểm, tư tưởng sai trái, phê phán, khắc phục những biểuhiện phai nhạt lý tưởng, cơ hội, chạy theo lợi ích cá nhân trong đội ngũ cán bộ,đảng viên, vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch
Trang 31Để thực hiện tốt vị trí, vai trò đó, CTTT trong quân đội có các phương
thức tiến hành chủ yếu như:
Một là, GDCT với các hình thức như: Huấn luyện, giáo dục, sinh hoạt
chính trị; nghiên cứu chuyên đề của sĩ quan; học tập quán triệt chỉ thị, nghịquyết, tình hình, nhiệm vụ; ngày chính trị văn hóa tinh thần; thông báo thời sự,nghe đài, xem truyền hình với các phương pháp hết sức phong phú, đa dạng
Hai là, hoạt động tuyên truyền, cổ động, tổ chức thi đua, khen thưởng
với các hình thức như: Cổ động trực quan; tham quan truyền thống; panô, ápphích; nêu gương; phát động các cuộc vận động, phong trào thi đua quyếtthắng; phong trào hành động cách mạng trong đơn vị; xây dựng điển hình, tổchức tuyên dương, khen thưởng, phổ biến nhân rộng các điển hình tiên tiến
Ba là, thông qua hoạt động văn hóa, văn nghệ với nhiều hình thức sinh động
như: Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng; xây dựng môi trườngvăn hóa, tổ chức đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh cho bộ đội
Bốn là, thông qua hoạt động báo chí, xuất bản với các hình thức như: Tổ
chức biên soạn, xuất bản và sử dụng báo chí ấn phẩm, duy trì chế độ đọc báo,bình báo nhằm định hướng chính trị, giáo dục tư tưởng, động viên cổ vũ bộ đội.Như vậy, CTTT có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp xâydựng, chiến đấu của QĐNDVN Lãnh đạo CTTT luôn được xác định là mộtnội dung quan trọng hàng đầu và thường xuyên của ĐBQĐ trong các thời kỳnhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng
2.1.2 Tình hình thế giới, trong nước những năm 1960 - 1965
Tình hình thế giới
Bước vào những năm 60 của thế kỷ XX, hệ thống các nước XHCN pháttriển nhanh chóng, không ngừng lớn mạnh, trở thành đối trọng với hệ thốngcác nước đế quốc chủ nghĩa Bên cạnh đó là sự phát triển của phong trào giảiphóng dân tộc ở nhiều châu lục cùng phong trào đấu tranh của giai cấp côngnhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản phát triển mạnh mẽ Đó là chỗdựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam
Tuy nhiên, thời kỳ này tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp,cuộc đấu tranh giữa hai hệ thống các nước XHCN và TBCN ngày càng gay
Trang 32gắt Mặt khác, giữa các nước trong hệ thống XHCN đã xuất hiện những bấtđồng, mâu thuẫn về nhiều vấn đề khác nhau như quan điểm về chiến tranh vàhòa bình, về đấu tranh giai cấp, về con đường cách mạng XHCN và xây dựngCNXH Trong đó, đặc biệt phải kể đến mâu thuẫn giữa Liên Xô và TrungQuốc - những nước có ảnh hưởng trực tiếp đến công cuộc xây dựng, bảo vệmiền Bắc XHCN và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà củaViệt Nam Sự rạn nứt giữa các nước XHCN bắt đầu từ Hội nghị các đảngcộng sản và công nhân tại Mátxcơva (11-1957) Sau đó, Liên Xô và TrungQuốc thường xuyên phê phán đường lối của nhau, N.Khơrúpsốp chủ trương
“thi đua hòa bình”, hòa hoãn với Mỹ, đồng thời muốn áp đặt ý tưởng đó vớicác nước XHCN Từ năm 1959 đến năm 1960, mâu thuẫn bộc lộ công khaivới việc Trung Quốc phê phán Liên Xô và Liên Xô rút chuyên gia khỏi TrungQuốc, cắt viện trợ, đòi nợ Từ những bất đồng về đường lối, giữa Liên Xô vàTrung Quốc xảy ra căng thẳng trong vấn đề biên giới ở vùng Tân Cương, báochí hai nước lên tiếng chính thức tố cáo lẫn nhau xâm phạm chủ quyền Quan
hệ Xô - Trung xấu đi một cách nghiêm trọng Từ tháng 3 đến tháng 10-1964,tuy hai nước mở các cuộc thương lượng về biên giới, song rốt cuộc vẫn khônggiải quyết được bất đồng [72, tr.100] Sự mất đoàn kết giữa các nước XHCN,nhất là giữa Liên Xô và Trung Quốc diễn biến theo chiều hướng tiêu cực, lannhiễm vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tác động, ảnh hưởngxấu tới phong trào cách mạng thế giới
Mặt khác, do sự xuất hiện của chủ nghĩa xét lại hiện đại đã đặt phong tràocộng sản và công nhân quốc tế trước nguy cơ chia rẽ sâu sắc, tác động tiêu cựcđến cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân thế giới Chống chủ nghĩa xét lại trởthành vấn đề lớn trong nội bộ các nước XHCN Trong bối cảnh chủ nghĩa xét lạiđang chi phối mạnh mẽ đời sống chính trị các nước XHCN là cơ hội để đế quốc
Mỹ lợi dụng, khoét sâu, phân hóa, cô lập các nước đấu tranh vì độc lập dân tộc;đồng thời, hạn chế sự giúp đỡ của phe XHCN, nhất là Liên Xô và Trung Quốcđối với Việt Nam Xu thế hòa hoãn cũng tác động tiêu cực đến cuộc kháng chiếncủa nhân dân Việt Nam, các nước lớn đều cho rằng tương quan lực lượng quốc
tế đang ở thế cân bằng, họ muốn giữ nguyên hiện trạng
Trang 33Những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới đã chi phối trực tiếp đếnquá trình hoạch định đường lối của Đảng, tác động mạnh mẽ và sâu sắc đếntâm lý, tư tưởng của mọi người dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước Đặc biệt, tình hình trên đã tác động và ảnh hưởng trực tiếp đếnquân đội, làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên, chiến sĩ dao động, thiếukiên định, có người bị nhiễm tư tưởng tư sản và tàn dư tư tưởng phong kiến,
tư tưởng cá nhân chuyên quyền, coi thường sự lãnh đạo tập thể Từ đó, đãxuất hiện những quan điểm sai trái, mơ hồ, lầm lẫn giữa quan điểm tư tưởng
tư sản với quan điểm tư tưởng vô sản về tiến hành cách mạng XHCN ở miềnBắc và tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam vànhững nhận thức, quan điểm sai trái trong việc xây dựng quân đội tiến lênchính quy, hiện đại Thực tế đó đòi hỏi CTTT trong quân đội cần tập trunggiải quyết kịp thời để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cuộc kháng chiến
Tình hình trong nước
Tháng 7-1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ViệtNam kết thúc thắng lợi, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đặt cơ sở cho việcthống nhất đất nước Nhưng đế quốc Mỹ từng bước can thiệp vào miền Nam,thi hành chính sách xâm lược thực dân mới, âm mưu chia cắt lâu dài nướcViệt Nam, nhân dân Việt Nam phải đương đầu với đế quốc Mỹ - một thế lựcxâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự lớn mạnh nhất trong phe đế quốc Sựchia cắt hai miền đất nước với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau, mỗimiền thực hiện một nhiệm vụ chiến lược khác nhau, nhưng đều nhằm thựchiện nhiệm vụ chung của cách mạng cả nước là “đẩy mạnh cách mạng xã hộichủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà” [48, tr.918] Đây là nhiệm vụ baotrùm chi phối toàn bộ hoạt động của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên tất cảcác lĩnh vực đời sống xã hội trong những năm chống Mỹ, cứu nước
Bước sang năm 1960, tình hình Việt Nam có những chuyển biến căn bản Với
sự nỗ lực và cố gắng vượt bậc, đến năm 1960, miền Bắc đã cơ bản hoàn thànhnhiệm vụ còn lại của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; tiến hành khôi
Trang 34phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh (1954-1957), đẩy mạnh thực hiện kếhoạch 3 năm cải tạo XHCN, bước đầu phát triển kinh tế - văn hóa (1958-1960).Tuy nhiên, trong quá trình cải cách ruộng đất, Đảng đã mắc một số sai lầm, gây hậuquả tiêu cực về tư tưởng trong một bộ phận những người bị xử lý oan sai Trong lúctoàn Đảng, toàn dân, toàn quân tập trung sửa chữa, khắc phục những sai lầm trong
cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, thì xuất hiện nhóm “Nhân văn Giai phẩm”, làm cho một số văn nghệ sĩ và lực lượng làm báo trong quân đội bị ảnh
hưởng tiêu cực [224, tr.151] Mặt khác, tư tưởng muốn nghỉ ngơi, thỏa mãn dừnglại “hòa bình chủ nghĩa”, mất cảnh giác đã xuất hiện trong một bộ phận cán bộ,đảng viên từ đó tác động, ảnh hưởng trực tiếp tới tư tưởng của bộ đội
Ở miền Nam, mặc dù Mỹ - Diệm ra sức thi hành “một chính sách khủng
bố cực kỳ man rợ, quyết dìm cách mạng miền Nam trong máu lửa” [47, tr.516],
song, quân dân miền Nam không chịu khuất phục, ngọn lửa cách mạng đã nhennhóm và bùng lên ở nhiều nơi Đặc biệt, sau thắng lợi của phong trào Đồngkhởi, cách mạng miền Nam chuyển sang một bước ngoặt phát triển mới, từ thếgiữ gìn lực lượng sang thế tiến công địch mạnh mẽ, thực hiện nhiệm vụ đấutranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà
Để đối phó với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, đầu năm 1961, Tổngthống Mỹ G.Kennơđi đề ra chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt”, quyết địnhtiến hành chiến lược “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam Theo đó, “từnăm 1961, Mỹ lập Bộ Chỉ huy viện trợ quân sự (MACV); ở miền Nam Việt Nam,
số quân của Mỹ đã tăng dần từ 3.000 người vào tháng 12-1960 lên 23.000 ngườivào tháng 12-1964” [72, tr.120] Với sự tăng viện về đôla, vũ khí, thiết bị chiếntranh, đội ngũ cố vấn và lực lượng yểm trợ Mỹ, chính quyền và quân đội Sài Gòndồn sức vào việc gom dân, lập ấp chiến lược, thực hiện “tát nước bắt cá” bằngnhiều thủ đoạn khốc liệt, đẫm máu Chúng mở nhiều cuộc hành quân càn quét, sửdụng các loại vũ khí, khí tài hiện đại và triển khai các chiến thuật “trực thăngvận”, “thiết xa vận”; vận dụng các thủ đoạn tác chiến “bủa lưới phóng lao”, “trên
đe dưới búa”, “phượng hoàng vồ mồi” đánh phá dữ dội phong trào cách mạngmiền Nam, đánh sâu vào toàn bộ hệ thống căn cứ kháng chiến của ta [10, tr.137]
Trang 35Bối cảnh trên đã đưa cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chuyển sangmột giai đoạn mới với quyết tâm cao đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt”của đế quốc Mỹ Các vấn đề tư tưởng xung quanh nhiệm vụ trọng đại của đất nước,xây dựng CNXH cũng như đấu tranh thống nhất nước nhà, cuộc đấu tranh tư tưởnggiữa hai con đường XHCN và TBCN đã và đang đặt ra cấp thiết, đòi hỏi CTTT củaĐảng nói chung, CTTT trong quân đội nói riêng cần tập trung giải quyết.
2.1.3 Tình hình công tác tư tưởng trong quân đội trước năm 1960 và nhiệm vụ của quân đội trong giai đoạn mới
Tình hình CTTT trong quân đội trước năm 1960
Từ năm 1955 đến năm 1960, dưới sự lãnh đạo của ĐBQĐ, trình độ tưtưởng của bộ đội, nhất là cán bộ đã được nâng cao từ giác ngộ dân tộc dầntiến lên giác ngộ XHCN; xác định được lập trường kiên quyết phấn đấu choCNXH và sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà Quán triệt được đườnglối, nhiệm vụ chung, nhiệm vụ phương châm xây dựng quân đội trong giai đoạncách mạng mới, xác định được lập trường kiên định chống bóc lột, thủ tiêuCNTB “Những quan điểm tư tưởng tư sản, tiểu tư sản và chủ nghĩa cá nhân dầnđược khắc phục; quan điểm tư tưởng vô sản được nâng cao dần” [107, tr.16] Đãnhận rõ ranh giới tư tưởng giữa 2 con đường TBCN và XHCN, phân biệt rõ bạn,thù, ta; nhận rõ lao động và bóc lột, cá nhân và tập thể; phân rõ đường lối quân
sự của Đảng với những biểu hiện quan điểm tư tưởng quân sự tư sản
Quân đội hoàn thành tốt nhiệm vụ kế hoạch 3 năm xây dựng quân độitiến lên chính quy, hiện đại “Các phong trào thi đua yêu nước trong quân độiliên tiếp được phát động và ngày càng lên cao là biểu hiện sự tiến bộ về chínhtrị và tư tưởng, có tác dụng lớn trong việc hoàn thành nhiệm vụ quân đội vàgây ảnh hưởng tốt trong nhân dân” [107, tr.16]
Việc học tập văn hóa đã gây được nhiều phong trào học tập sôi nổi trongcán bộ, chiến sĩ, “đến năm 1960 trình độ văn hóa của chiến sĩ đa số ở lớp 4,lớp 5, lớp 3 rất ít; cán bộ sơ cấp đa số ở lớp 5, lớp 6; cán bộ trung cấp, cao cấp
ở lớp 6, lớp 7” [107, tr.17] Việc tổ chức học tập ngày càng chặt chẽ và nội
Trang 36dung giảng dạy cũng dần được chú ý cải tiến cho phù hợp với yêu cầu củaviệc nâng cao trình độ chính trị tư tưởng, xây dựng quân đội.
Tuy nhiên, trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ xây dựng quânđội cách mạng, chính quy, hiện đại, CTTT trong quân đội còn có một số hạnchế, khuyết điểm, đó là:
“Nhận thức về sự chuyển biến cách mạng chậm, không kịp thời đưa trình độgiác ngộ dân tộc dân chủ của quân đội lên trình độ xã hội chủ nghĩa; trình độ củaquân đội không tiến kịp sự chuyển biến của cách mạng, có thời kỳ không phânbiệt bạn thù, không xác định được mục tiêu phấn đấu mới, cho nên có nhiều mơ
hồ, nhiều thắc mắc sai lầm” [45, tr.161] như vấn đề chiến tranh và hòa bình, nộidung thời đại, chưa thấy hết tính chất phức tạp của đấu tranh cách mạng ở miềnNam, thắc mắc khá phổ biến rằng trước kia Trung ương đề ra đấu tranh thống nhấtbằng hòa bình có đúng không, kết hợp chính trị và vũ trang như thế nào Đối vớicách mạng XHCN miền Bắc thì vướng mắc phổ biến xoay quanh vấn đề tích lũy
và tiêu dùng, giá cả thu mua, cho rằng coi nhẹ nông nghiệp Trong xây dựng quânđội, thắc mắc phổ biến là tốc độ xây dựng quân đội chậm, phương châm chống tưtưởng tư sản trong quân đội có sai không, đường lối lấy công nông làm cốt cántrong quân đội đúng không, các mối quan hệ giữa chính trị và kỹ thuật, quan hệgiữa vũ khí và con người chưa thật nắm vững
Về ý thức vẫn còn những sai lầm, cản trở sự tiến bộ chung của quânđội và từng người Còn hiện tượng tính toán riêng tư thiệt hơn về đãi ngộvật chất, kém yên tâm phấn khởi phục vụ quân đội lâu dài, muốn chuyểnngành, khi tiền lương được cải tiến và tăng lương thì tư tưởng chuyểnngành giảm nhưng muốn chuyển vùng gần nhà, việc so sánh suy bì cấp trêncấp dưới khá phổ biến
Về ý chí tiến thủ vươn lên, quyết tâm xây dựng quân đội chưa cao, có khuynhhướng bảo thủ dừng lại thích học văn hóa, lơ là học quân sự, ngại học chính trị, ngạihọc nghiệp vụ Hiện tượng phân tán, tự do, ngại gò bó, ngại khuôn khổ, dễ dãi vớimình, xuê xoa với người khác là phổ biến Hiện tượng lãng phí, tham ô gây tổnthất cho tài sản của công, cơ sở vật chất của quân đội rất lớn [22, tr.2]
Trang 37Những yếu kém đó thể hiện ở những hiện tượng phổ biến là: Cá nhân chủnghĩa, khuynh hướng bảo thủ dừng lại, tinh thần trách nhiệm cá nhân chưa cao
Do đó, “trong cán bộ và chiến sĩ còn tư tưởng cá nhân bảo thủ, tự do tản mạn,chưa thật sự quyết tâm hưng phấn đi vào xây dựng quân đội chính quy và hiện đạitheo yêu cầu của Đảng, của cách mạng, tinh thần cảnh giác chưa cao, tác phongquan liêu mệnh lệnh và hiện tượng lãng phí, tham ô vẫn còn” [107, tr.21]
Biểu hiện cụ thể trên các mặt công tác:
Công tác GDCT còn hạn chế, bất cập: Việc tổ chức giáo dục XHCN chocán bộ, chiến sĩ làm chậm mất một thời gian sau khi hòa bình mới lập lại nên
tư tưởng bộ đội chuyển biến không kịp theo yêu cầu mới Công tác giáo dục,lãnh đạo tư tưởng chưa thật nhạy bén và đầy đủ đã có lúc coi nhẹ chống tưtưởng tư sản, trái lại khi nhấn mạnh chống tư tưởng tư sản thì lại không chú ýđúng mức việc chống tư tưởng tiểu tư sản Công tác giáo dục lý luận cơ bảnchủ nghĩa Mác - Lênin cho cán bộ chưa đủ, chưa kịp thời đáp ứng yêu cầuxây dựng và phát triển cán bộ trong giai đoạn mới
Hoạt động tuyên truyền, cổ động; văn hóa, văn nghệ; báo chí, xuất bản cònyếu kém: Công tác tuyên truyền chưa mạnh Ngành câu lạc bộ, thư viện bị tê liệt.Văn công chuyên nghiệp chuyển biến chưa mạnh Cán bộ nghệ thuật và công tácnghệ thuật còn yếu cả chuyên môn và chính trị Tuyên truyền quốc tế còn chắp vá,
bị động Chất lượng các buổi thông tin, phát thanh chưa cao Xuất bản các ấn phẩmvăn học nhiều nhưng các tác phẩm về quân sự, chính trị chưa đáp ứng yêu cầu.Những hạn chế, khuyết điểm trên xuất phát từ những nguyên nhân kháchquan và chủ quan, trong đó đáng chú ý là: Trình độ hiểu biết chủ nghĩa Mác -Lênin, hiểu biết thực tế của cán bộ, đảng viên còn thấp; lập trường giai cấpchưa thật kiên định; “công tác tư tưởng chưa được coi trọng đúng mức;phương pháp công tác tư tưởng vẫn còn biểu hiện buông lỏng, gò bó, thiếunhạy bén, làm giảm sức chiến đấu, sức thuyết phục ” [22, tr.4]
Từ thực tiễn những ưu điểm và hạn chế của CTTT trong quân đội trước năm
1960 đặt ra yêu cầu đối với ĐBQĐ cần có chủ trương, giải pháp về CTTT phù hợpnhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Trang 38Nhiệm vụ của quân đội trong giai đoạn mới.
Sau thắng lợi của công cuộc củng cố miền Bắc và thắng lợi của phong tràoĐồng khởi ở miền Nam, căn cứ vào đường lối, nhiệm vụ chiến lược của cáchmạng trong giai đoạn mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960)
đã đề ra nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện hai nhiệm vụ
chiến lược: “Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Hai là,
giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiệnthống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước” [48, tr.916]
Để biến nhận thức, tư tưởng và quyết tâm của toàn quân thành hành động cụ thể,đảm bảo QĐND hoàn thành nhiệm vụ trong giai đoạn mới, Đại hội III chỉ rõ:
“Quân đội nhân dân là lực lượng trụ cột của Nhà nước để bảo vệ độc lập của Tổquốc, bảo vệ công cuộc lao động hòa bình của nhân dân ở miền Bắc, đồng thời làhậu thuẫn vững chắc của cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà Phải xâydựng quân đội nhân dân tiến lên chính quy và hiện đại ” [48, tr.933-934], bảođảm cho quân đội sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi
Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội III, trong các phiên họp ngày 31-1 và
25-2-1961, Bộ Chính trị BCHTW Đảng ra Nghị quyết Về nhiệm vụ quân sự 5 năm (1961-1965) và phương hướng nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam.
Trong phiên họp ngày 25-2-1961, Bộ Chính trị đã thông qua Kế hoạch Quân sự 5năm lần thứ hai (1961-1965) do QUTW và Bộ Quốc phòng chuẩn bị Theo đó,QUTW xác định 4 nhiệm vụ toàn quân phải nỗ lực thực hiện trong 5 năm 1961-
1965 là: Thứ nhất, xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng trên miền
Bắc Tăng cường sức mạnh của Lục quân, xây dựng bộ đội Phòng không, Khôngquân, Hải quân Hoàn thành chính quy hóa, tạo cho quân đội có đủ các thành phầnbinh chủng, quân chủng mạnh, hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc, giải phóng
miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế Thứ hai, xây dựng ở miền Nam một lực lượng vũ trang tập trung mạnh Thứ ba, giúp đỡ cách mạng Lào Thứ tư, kiện toàn
bộ máy chỉ đạo quân sự của Đảng Bảo đảm sự lãnh đạo tập trung thống nhất củaĐảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân
Trang 39Có thể thấy, nhiệm vụ của quân đội trong giai đoạn mới là rất nặng nề,khó khăn và gian khổ Đòi hỏi ĐBQĐ cần bám sát đường lối, chủ trương củaĐảng, đánh giá kịp thời, chính xác những diễn biến của cuộc kháng chiến,cũng như những thuận lợi, khó khăn của tình hình trong nước và quốc tếmang lại, gắn với yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của quân đội để có chủ trương và
sự chỉ đạo CTTT phù hợp, góp phần đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi
2.1.4 Chủ trương của Đảng về công tác tư tưởng (1960 - 1965)
Trước yêu cầu mới của cách mạng, Đại hội lần thứ III của Đảng
(9-1960) đã thông qua Nghị quyết Về nhiệm vụ và đường lối của Đảng trong giai đoạn mới, vạch rõ nhiệm vụ chung của toàn dân; xác định nhiệm vụ cơ
bản của cách mạng miền Nam; đường lối cách mạng XHCN ở miền Bắc Đạihội chỉ rõ: Muốn tiến lên CNXH, phải tiến hành cách mạng XHCN về kinh tế,đồng thời phải tiến hành cách mạng XHCN về tư tưởng, văn hóa và kỹ thuật.Trong đó, cuộc cách mạng XHCN về tư tưởng được coi là cuộc cách mạng cótầm quan trọng rất lớn: Tư tưởng, văn hóa và kỹ thuật là những vũ khí sắc bén
mà chính đảng của giai cấp công nhân phải nắm lấy để thúc đẩy toàn bộ sựnghiệp cách mạng tiến lên, thúc đẩy công cuộc xây dựng xã hội mới, tưtưởng, văn hóa, kỹ thuật là ba mặt có liên hệ chặt chẽ với nhau và thúc đẩynhau phát triển, nhưng tư tưởng vẫn là cơ sở [47, tr.548-550] Với nhận thứctrên, Đại hội III đưa ra chủ trương toàn diện về cuộc cách mạng XHCN trênlĩnh vực tư tưởng như sau:
Về phương hướng: “Bồi dưỡng tư tưởng vô sản trên cơ sở giáo dục một
cách có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin, chống ảnh hưởng của tư tưởng tưsản, chống tư tưởng tiểu tư sản, tiếp tục xóa bỏ tàn tích của tư tưởng phongkiến và tư tưởng không vô sản khác” [47, tr.644]
Về nội dung: Cuộc cách mạng XHCN về tư tưởng sẽ phát triển tư tưởng
làm chủ của nhân dân lao động trong điều kiện mới của lịch sử, nhằm bảođảm cho họ có thể dựa trên những quan hệ sản xuất XHCN mà cải tạo xã hội,cải tạo tự nhiên, cải tạo con người một cách tự giác
Về mục tiêu: Làm cho toàn dân trước hết là nhân dân lao động, thấm
nhuần tư tưởng XHCN, gạt bỏ thế giới quan và nhân sinh quan cũ, xây dựng
Trang 40thế giới quan chủ nghĩa Mác - Lênin và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa,làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời sống tinhthần của nước ta và trở thành hệ tư tưởng của toàn dân, trên cơ sở đó mà xâydựng đạo đức mới của nhân dân.
Về nhiệm vụ: Cần đẩy mạnh công tác giáo dục và đấu tranh tư tưởng
nhằm nâng cao không ngừng trình độ giác ngộ XHCN, tinh thần yêu nước, ýchí thống nhất Tổ quốc và ý thức làm chủ của nhân dân, chống lại mọi biểuhiện của tư tưởng tư sản, phê phán tư tưởng tiểu tư sản, tiếp tục xóa bỏ mọitàn tích của tư tưởng phong kiến và mọi tư tưởng sai lầm khác Phải làm chonhân dân thấm nhuần quan điểm lao động XHCN; tinh thần yêu thương giaicấp cao độ, ý thức tập thể sâu sắc, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa cánhân tiểu tư sản và tư sản; giáo dục chủ nghĩa yêu nước và nâng cao tinh thần
tự hào dân tộc; nâng cao hơn nữa tinh thần căm thù đế quốc, phong kiến vàtinh thần cảnh giác cách mạng, phát huy mạnh mẽ ý chí thống nhất nước nhà;xây dựng tác phong mới, khẩn trương, hoạt bát, trật tự, chống lại lề thói uểoải, luộm thuộm trong lao động và sinh hoạt, những lề thói ấy là tàn tích của
xã hội cũ Đại hội khẳng định: “Những tư tưởng và tác phong mới nói trênphải chỉ đạo cuộc sống mới của nhân dân ta, chỉ đạo cuộc đấu tranh của dântộc ta cho sự nghiệp thống nhất Tổ quốc, cho lý tưởng xã hội chủ nghĩa vàcộng sản chủ nghĩa” [47, tr.552]
Bên cạnh những quan điểm có tính chất định hướng, Đại hội chỉ rõ CTTTcần căn cứ vào nhiệm vụ công tác trước mắt, yêu cầu của cách mạng và tìnhhình tư tưởng của cán bộ, đảng viên trong từng thời kỳ mà cụ thể hóa nhiệm vụ
và phương châm CTTT một cách thiết thực và cụ thể Đồng thời, Đại hội cũngchỉ ra một loạt các vấn đề cần phải được chú trọng thực hiện để có thể đẩy mạnhCTTT đó là tăng cường công tác văn hóa, văn nghệ, báo chí, xuất bản bởi đó lànhững “vũ khí sắc bén” trên mặt trận tư tưởng của Đảng
Có thể thấy, Nghị quyết Đại hội III của Đảng là ánh sáng soi đường chocông cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân cả nước trong thời kỳ mới, làphương hướng cơ bản của CTTT trong bước phát triển mới của cách mạng Cụ