Hiện nay, nhiều học sinh có suy nghĩ học văn không quan trọng, không cần thiết bằng học toán, lí, hóa.... Đó là quan niệm chưa đúng. Thực tế, học văn (đặc biệt là văn nghị luận ) rất cần thiết và quan trọng dù ta có làm nghề gì trong tương lai. Bởi văn nghị luận là bộ môn rèn luyện tư duy bằng ngôn ngữ, cách diễn đạt chính xác, cách dùng từ đúng chỗ, cách thuyết phục người khác....Thiếu năng lực thuyết phục thì khó thành công trong giao tiếp và nhiều lĩnh vực khác trong cuộc sống. Văn nghị luận xã hội là văn nói lí. Nhưng xét cho cùng nó không chỉ thuần túy nói lí lẽ bởi trong lập luận luôn có tình cảm của người viết, tình cảm với người đọc, tình cảm với những vấn đề được đem ra bàn bạc. Vì thế, những kĩ năng quan trong là lập luận và yếu tố tình cảm sử dụng thế nào cho hài hòa và hợp lí cũng là một vấn đề không dễ. Các vấn đề mang tính xã hội chỉ thực sự có ý nghĩa nếu được cả xã hội quan tâm hoặc bày tỏ ý kiến đánh giá, mục đích là nhân thêm nhiều cái tốt, cái tích cực và hạn chế tối đa những gì chưa tốt hay tiêu cực. Tầm quan trọng của học văn nghị luận xã hội là như thế. Hơn nữa, làm văn nghị luận xã hội đang trở thành một bộ phận không thể thiếu trong cấu trúc đề thi tuyển sinh các cấp, trong các bài Tập làm văn ở nhà trường phổ thông. Từ thực tiến trên, từ kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm của mình, tôi quyết định chọn đề tài sáng kiến Rèn kĩ năng làm bài Nghị luận xã hội cho học sinh lớp 9 Để hoàn thiện đề tài này, tôi đã nhận được sự góp ý, chia sẻ của bạn bè đồng nghiệp và đặc biệt là sự đón nhận của các em học sinh. Đây chính là nguồn động viên lớn lao cho tôi trong công tác chuyên môn.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, nhiều học sinh có suy nghĩ học văn không quan trọng, không cần thiết bằng học toán, lí, hóa Đó là quan niệm chưa đúng Thực tế, học văn (đặc biệt là văn nghị luận ) rất cần thiết và quan trọng dù ta có làm nghề gì trong tương lai Bởi văn nghị luận là bộ môn rèn luyện tư duy bằng ngôn ngữ, cách diễn đạt chính xác, cách dùng từ đúng chỗ, cách thuyết phục người khác Thiếu năng lực thuyết phục thì khó thành công trong giao tiếp và nhiều lĩnh vực khác trong cuộc sống.
Văn nghị luận xã hội là văn nói lí Nhưng xét cho cùng nó không chỉ thuần túy nói lí lẽ bởi trong lập luận luôn có tình cảm của người viết, tình cảm với người đọc, tình cảm với những vấn đề được đem ra bàn bạc Vì thế, những
kĩ năng quan trong là lập luận và yếu tố tình cảm sử dụng thế nào cho hài hòa
và hợp lí cũng là một vấn đề không dễ
Các vấn đề mang tính xã hội chỉ thực sự có ý nghĩa nếu được cả xã hội quan tâm hoặc bày tỏ ý kiến đánh giá, mục đích là nhân thêm nhiều cái tốt, cái tích cực và hạn chế tối đa những gì chưa tốt hay tiêu cực Tầm quan trọng của học văn nghị luận xã hội là như thế Hơn nữa, làm văn nghị luận xã hội đang trở thành một bộ phận không thể thiếu trong cấu trúc đề thi tuyển sinh các cấp, trong các bài Tập làm văn ở nhà trường phổ thông
Từ thực tiến trên, từ kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm của mình, tôi quyết định
chọn đề tài sáng kiến Rèn kĩ năng làm bài Nghị luận xã hội cho học sinh lớp 9
Để hoàn thiện đề tài này, tôi đã nhận được sự góp ý, chia sẻ của bạn bè đồng nghiệp và đặc biệt là sự đón nhận của các em học sinh Đây chính là nguồn động viên lớn lao cho tôi trong công tác chuyên môn
Xin trân trọng cảm ơn!
Phù Cừ, ngày 18 tháng 3 năm 2016
Tác giả
Lê Thị Thanh Hồng
Trang 2PHẦN MỘT: LÝ LỊCH
- Họ và tên tác giả: Lê Thị Thanh Hồng.
- Chức vụ: Giáo viên
- Đơn vị công tác: Trường THCS Phù Cừ- huyện Phù Cừ- tỉnh Hưng Yên.
- Tên đề tài: Rèn kĩ năng làm bài Nghị luận xã hội cho học sinh lớp 9
PHẦN HAI: NỘI DUNG
Chúng ta đã và đang thực hiện đổi mới phương pháp giáo dục trong nhàtrường Đổi mới để nâng cao hơn nữa chất lượng dạy và học của giáo viên vàhọc sinh Vì vậy, dạy và học làm văn nghị luận xã hội có ý nghĩa rất quan trọng.Kiểu bài này không chỉ giúp HS tư duy, thể hiện trình độ ngôn ngữ và nhậnthức mà còn giúp học sinh có kĩ năng thực hành, tạo lập văn bản; góp phầnnâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh trong nhà trường THCS , đưachất lượng môn Ngữ văn trong trường THCS đi lên
Trang 32 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
Cùng với sự phát triển đi lên của xã hội, nhịp sống hổi hả của cuộc sốnghiện đại khiến cho nhiều học sinh không còn thời gian để quan tâm đến mônVăn ( Một môn vốn bị coi là dài, khó) Việc học và làm văn Nghị luận xã hộitrong các nhà trường phổ thông ngày càng gặp khó khăn từ nhiều phía: Họcsinh, giáo viên và xã hội
Nói đến học và làm văn nghị luận xã hội trong nhà trường THCS, họcsinh thường có có tâm lí ngại hoặc thấy khó, khô khan, ít hứng thú Chính tâm lí
đó đã khiến cho các em học văn nghị luận xã hội ít có kết quả Đó cũng là điều
dễ hiểu khi nhìn vào “sản phẩm” văn nghị luận của học trò: Cơ bản các “tácphẩm” đều giống nhau, hạn chế về diễn đạt, lập luận và đánh giá Khi đọc bàiNghị luận xã hội của học sinh, tôi ít có cảm giác hứng thú vì thấy giọng văn cácbài rất quen ; cách trình bày cũ mòn theo công thức giáo viên đã xây dựng, íttính đột phá, sáng tạo
Đối với giáo viên, môn tập làm văn nói chung, phần văn nghị luận xã hộinói riêng thường khiến một số thầy cô có tâm lí ngại dạy Phần vì đơn vị kiếnthức học sinh vốn ngại học Phần vì phương pháp giảng dạy phân môn này củakhông ít giáo viên chưa phong phú; còn mang tính công thức, áp đặt quan điểmchủ quan của người dạy, hạn chế tính sáng tạo của học trò Không ít giáo viên
tỏ ra lúng túng khi phải dạy một giờ Tập làm văn Lâu nay, sách giáo khoa, sáchgiáo viên vẫn chỉ thiên về yêu cầu nội dung, các bước làm mộtt bài văn nghịluận xã hội hơn là chỉ ra phương pháp, biện pháp cụ thể Cho nên, giờ Tập làmvăn nói chung, văn nghị luận xã hội nói riêng vẫn nặng về lí thuyết và dựa trênkinh nghiệm của người dạy là chủ yếu
Hơn nữa, sự phát triển của kinh tế, khoa học, công nghệ dẫn đến nhữngthay đổi về giá trị, quan điểm, lối sống, đạo đức Từ đó, xã hội có quá nhiều vấn
đề buộc các em phải đối mặt Vì vậy, văn nghị luận xã hội có một chức năng vôcùng quan trọng: Làm thế nào để các em được bày tỏ suy nghĩ, quan niệm củamình, tự hướng bản thân mình tới lối sống đẹp, lành mạnh
Trang 4Nhiệm vụ của giáo viên dạy văn Nghị luận xã hội là phải giải quyết những yêu cầu đó
3 Ý nghĩa của đề tài
Với vai trò là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn 9, tôi đã xácđịnh, và ý thức rõ tầm quan trọng và ý nghĩa của việc rèn kỹ nằng viết bàiNLXH cho học sinh Đó là:
- Làm văn NLXH để học sinh trước hết nhận thức được những vấn đềđúng-sai; tích cực-hạn chế trong xã hội hướng các em đến những hành vi đúngđắn trong cuộc sống
- Làm văn NLXH còn để các em biết sử dụng ngôn ngữ, kỹ năng trìnhbày, giao tiếp, khả năng thuyết phục người khác và cũng là để các em có bảnlĩnh, kỹ năng sống tốt hơn
- Rèn kỹ năng làm văn NLXH cho học sinh là thêm một lần tôi trau dồikiến thức chuyên môn, thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học của ngành;muốn chia sẻ kinh nghiệm với bạn bè đồng nghiệp, muốn góp phần nâng caochất lượng giảng dạy bộ môn Ngữ văn trong nhà trường THCS
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đề tài nghiên cứu kỹ năng làm văn Nghị luận xã hội lớp 9
- Nghiên cứu trên cơ sở thực hiện là nội dung, chương trình, kế hoạchgiáo dục ở trường THCS, các định hướng và quan điểm về ĐMPPDH, các thầy
cô giáo và các em học sinh khối 9 trường THCS Phù Cừ
II PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
1 Cơ sở lý luận và thực tiễn.
a Cơ sở lí luận.
a.1 Dạy học tích cực là gì?
Dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để
chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo của người học
Trang 5"Tích cực" trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với
tiêu cực
Dạy tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận
thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người họcchứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy
Học tích cự chỉ xảy ra khi học sinh được trao cơ hội thực hiện các tương
tác đề tài chính trong một giai đoạn giáo dục, được động viên để hình thành trithức hơn là việc nhận tri thức từ việc giới thiệu của giáo viên
a.2 Một số yêu cầu của dạy học tích cực
Luật giáo dục, điều 28.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh”.
có hạn
3 Thực tế học sinh THCS hiện nay quá mải mê vào việc học mà ít chú ýđến các kiến thức xã hội nên sự hiểu biết về các vấn đề xã hội còn nhiều hạnchế Vì vậy các em ngại tìm hiểu các vấn đề này
4 Học sinh trường THCS Phù Cừ nhiều em chỉ chú ý học các môn tựnhiên mà chưa thực sự dành thời gian cho việc học bộ môn văn Nhất là phầnvăn nghị luận xã hội
5 Tôi đã tiến hành điều tra sơ bộ HS Trường THCS Phù Cừ về thựctrạng làm văn nghị luận của học sinh khối 9 năm học 2014-2015 như sau:
Trang 65.1 Điều tra thực trạng việc làm bài văn NLXH:
* Kết quả qua phiếu điều tra:
Mức độ
Lớp
Tự làm bài văn nghịluận
Làm bài văn nghịluận bằng cách dựavào STK
Làm bài vănnghị luận theogợi ý của GV
*Đánh giá kết quả điều tra
Phần lớn học sinh chưa tự lực làm bài văn nghị luận xã hội mà còn phụthuộc quá nhiều vào sách tham khảo hoặc sự hướng dẫn của giáo viên những tiếttrước đó Khi được hỏi lí do, các em chia sẻ: Vì công thức làm văn nghị luận chỉ
có như vậy Chấm bài giáo viên cũng dựa vào biểu điểm đó thì mất công sángtạo làm gì Hơn nữa, các em có quá ít thời gian quan sát các vẫn đề trong cuộcsống nên cách nhìn nhận đánh giá không sâu
5.2 Kết quả điều tra các kỹ năng làm văn nghị luận của học sinh
5.2.1 Điều tra học sinh khối 9 của trường THCS Phù Cừ (Năm học 2014- 2015)
qua câu hỏi điều tra: “Trong các kỹ năng làm một bài văn nghị luận xã hội ,
em thấy khó nhất là kỹ năng nào nào ?”
* Đánh giá kết quả điều tra:
Phần lớn các em đều có tâm lí ngại viết bài nên cho rằng khâu nào cũng
Trang 75.2.2 Điều tra học sinh khối 9 của trường THCS Phù Cừ đầu năm học
2015- 2016 qua câu hỏi điều tra: “Khi lập luận em thấy khó khăn nhất là thao tác nào: Chứng minh, giải thích hay bình luận?”
a) Chứng minh: 10%
b) Giải thích :20 %
c) Bình luận : 70 %
* Kết quả điều tra
*1 Có nhiều em học sinh không bao giờ bình luận khi tiến hành viết mộtbài văn nghị luận
*2 Một số học sinh cho rằng đó là phần giành cho HS khá giỏi, làm cũngđược, không cũng chẳng sao
Từ những nghiên cứu thực tế trên, tôi nhận thấy giải pháp rèn chocác em kỹ năng viết một bài văn nghị luận xã hội là vô cùng quan trọng và cầnthiết
Từ những cơ sở trên, từ quá trình tích lũy những kinh nghiệm giảng dạyphân môn Tập làm văn trong chương trình Ngữ văn THCS, tôi mạnh dạn trình
bày những kinh nghiệm của bản thân về “ Rèn kỹ năng làm bài văn nghị luận cho học sinh lớp 9”.
2 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu tài liệu, giáo trình có liên
quan đến đề tài khoa học Nghiên cứu sách giáo khoa Ngữ văn 9, sách thamkhảo và các nguồn tư liệu
- Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành dạy thực nghiệm; ra đề cho học
sinh luyện tập
- Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm
- Phương pháp thống kê toán học: Thu thập, xử lý, đánh giá kết quả sau
khi áp dụng đề tài
3 Kế hoạch nghiên cứu
Trang 81 Đăng ký nghiên cứu chuyên đề “ Rèn kỹ năng làm một bài văn nghị
luận xã hội cho HS lớp 9” với trường THCS Phù Cừ từ đầu năm học
2015-2016
2/ Thực hiện nhóm phương pháp thực tiễn tại Trường THCS Phù Cừ trong năm
học 2014-2015, đầu năm học 2015-2016 bao gồm:
+ Điều tra thực tiễn qua học sinh trường THCS Phù Cừ
+ Tổ chức chuyên đề cấp Tổ đối với Tổ KHXH (tháng 10 năm 2015)+ Tổng kết, viết đề tài, thông qua Hội đồng khoa học trường THCS Phù
Cừ (Tháng 3 năm 2016)
B NỘI DUNG.
I Mục tiêu
1 Mục tiêu giáo dục của môn Ngữ văn ở Trường Phổ thông cơ sở.
1.1 Trang bị cho HS kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống vềngôn ngữ và văn học Hướng tới 4 kĩ năng: Nghe- đọc-nói-viết phù hợp với trình
độ HS và phù hợp với yêu cầu đào tạo nhân lực trong thời kì công nghiệp hóa,hiện đại
1.2 Hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng Tiếng Việt, tiếpnhận văn bản, cảm thụ thẩm mĩ, phương pháp học tập tư duy đặc biệt là phươngpháp tự học, năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống
1.3 Bồi dưỡng cho HS tình yêu Tiếng Việt, văn học, văn hóa truyền thống; tìnhyêu gia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc; ý chí tự lập tự cường; lýtưởng xã hội chủ nghĩa; tinh thần dân chủ nhân văn; giáo dục học sinh tráchnhiệm công dân, tinh thần hữu nghị hợp tác quốc tế; ý thức tôn trọng và pháthuy các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại
2 Mục tiêu của việc rèn kỹ năng làm bài NLXH.
* Kiến thức:
- Hoàn thiện kiến thức về dạng bài nghị luận xã hội trong nhà trường phổthông
Trang 9- Hiểu yêu cầu và cách thức vận dụng tổng hợp các thao tác và các phươngthức biểu đạt trong bài văn nghị luận xã hội:
+ Chứng minh, giải thích, phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận
+ Tự sự, biểu cảm, miêu tả, thuyết minh
- Biết vận dụng tích hợp phương pháp tạo lập VB NLXH để đọc - hiểu 1 vănbản nghị luận
* Kĩ năng:
- Kĩ năng quan sát và nhận biết các vấn đề trong cuộc sống
- Biết phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận
- Biết huy động kiến thức và những trải nghiệm của bản thân để viết bài vănnghị luận về một vấn đề xã hội
- Biết vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận và các phương thức biểu đạt đểviết bài văn nghị luận xã hội về một vấn đề tư tưởng, đạo lí, lối sống, về mộthiện tượng trong đời sống
* Thái độ:
- Có thái độ tích cực, đúng đắn trước các vấn đề xã hội
- Có nhận thức đúng đắn về vai trò của bài văn nghị luận xã hội trong đờisống; tuân thủ các bước trong quá trình tạo lập một văn bản nghị luận xã hộitrong trường THPT
Từ đó học sinh có thể hình thành các năng lực sau:
- Năng lực thu thập và xử lý thông tin, dẫn chứng
- Năng lực trình bày, suy nghĩ, quan điểm riêng về vấn đề nghị luận XH
- Năng lực tạo lập văn bản NLXH giàu sức thuyết phục
- Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về một vấn đề xã hội
II NỘI DUNG
Để HS triển khai tốt một bài làm văn NLXH, tôi hướng dẫn HS tiến hành một sốnội dung như : Tìm hiểu bản chất vấn đề; xây dựng dàn ý; hướng dẫn kỹ năngviết từng phần cho học sinh Cụ thể như sau:
Trang 10
* NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1 THẾ NÀO LÀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Nghị luận xã hội là bàn về những vấn đề xã hội, chính trị, đời sống Đềtài của dạng bài nghị luận xã hội cũng hết sức rộng mở Nó gồm tất cả nhữngvấn đề về tư tưởng, đạo lí, một lối sống đẹp, một hiện tượng tích cực hoặc tiêucực trong cuộc sống hàng ngày; vấn đề thiên nhiên môi trường; vấn đề hội nhập,toàn cầu hoá…Nghĩa là, ngoài những tác phẩm nghị luận văn học (lấy tác phẩmvăn học, nhà văn làm đối tượng), tất cả các dạng văn bản viết khác đều có khảnăng được xếp vào dạng nghị luận xã hội, chính trị
2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Văn nghị luận ở trường THCS có tác dụng hoàn thiện việc rèn luyện tưduy, hoàn chỉnh quá trình nhận thức ở học sinh
Văn nghị luận không phản ánh cuộc sống và con người như văn sáng tácnghệ thuật ( thơ, truyện, kí) mà nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, vấn đề vănhọc, rèn luyện lập trường tư tưởng cũng như góp phần hình thành bản lĩnh, nhâncách cho học sinh
3 ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Phải có hệ thống luận đề, luận điểm, luận cứ, luận chứng
3.1 Luận đề: Là vấn đề nêu ra để bàn bạc, giải quyết đồng thời cũng là
nội dung cốt lõi của bài viết Xác định luận đề đúng là công việc quan trọng đầutiên của người viết văn nghị luận
3.2 Luận điểm: Là những ý kiến, quan điểm chính mà người viết nêu ra
để khẳng định một luận đề
- Luận điểm trong bài văn nghị luận cần phải chính xác, rõ ràng, phù hợpvới yêu cầu giải quyết vấn đề và đủ để làm sáng tỏ toàn bộ luận đề Các luậnđiểm trong bài văn nghị luận vừa phải liên kết khăng khít lại vừa cần có sự phânbiệt rành mạch và phải được sắp xếp theo một trình tự hợp lí
Trang 113.3 Luận cứ: Là chỗ dựa của luận điểm, phục vụ cho việc triển khai luận
điểm Nêu được các luận cứ xác thực, chắc chắn thì luận điểm mới đứng vững
và có sức thuyết phục để chứng minh cho luận đề
3.4 Luận chứng: là những dẫn chứng thực tế được sử dụng để chứng
minh cho luận cứ
3.5 Lập luận: Văn nghị luận rất chú trọng lí luận Lý luận bao gồm lí lẽ
và cách lập luận Chọn lí lẽ nào và sắp xếp chúng ra sao? Cách tìm ra lí lẽ và sắpxếp, trình bày lí lẽ, dẫn chứng nhằm thuyết phục người dọc, người nghe và toàn
bộ luận đề hoặc từng khía cạnh của luận đề gọi là lập luận
4 MỘT SỐ KỸ NĂNG CƠ BẢN LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
4.1 Kỹ năng nắm bắt thông tin
5.1 YÊU CẦU CỦA KIỂU BÀI NLXH
1 Yêu cầu nội dung: học sinh nêu được:
+ Quan điểm, thái độ của mình về một vấn đề xã hội nào đó (được nêutrong yêu cầu của đề bài) Tư tưởng mà người viết thể hiện trong bài làm vănNghị luận xã hội phải phù hợp với đạo lí, lẽ phải Nói cách khác, tư tưởng ấyphải thể hiện trách nhiệm của người viết với bản thân, gia đình, xã hội, đất nước
Tư tưởng trong bài văn nghị luận xã hội phải là tư tưởng có cơ sở khách quannhưng chân thật, tự nhiên của học sinh, không phải tư tưởng sao chép với nhữngsáo ngữ cũ mòn
Trang 12+ Xác định được bài học cho bản thân trên các khía cạnh: Nhận thức được
gì sau khi bàn luận và tự nêu được hành động / hoặc đề xuất những biện phápgóp phần làm cho vấn đề vừa bàn luận tốt đẹp hơn trong cuộc sống
2 Yêu cầu về hình thức
+ Bài NLXH thường được triển khai hơn một trang giấy thi ( Khoảng400->600 từ)
+ Bố cục : 3 phần (Đặt vấn đề- Giải quyết vấn đề - Kết thúc vấn đề) + Yêu cầu lập luận (Lý lẽ) chặt chẽ Lập luận tức là xây dựng lô gic giữaluận điểm với lí lẽ, dẫn chứng nhằm khẳng định, chứng minh cho luận điểm toànbài
5.2- CÁC KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI:
Có những kiểu bài Nghị luận xã hội sau:
1 Nghị luận về một tư tưởng đạo lí.
Là bàn về những vấn đề về tư tưởng, đạo lí
Các vấn đề đạo lí thường gặp là :
- Nhận thức: Lí tưởng, mục đích sống
- Tâm hồn, tích cách: Lòng yêu nước, nhân ái, tính trung thực, dũng cảm, chămchỉ cần cù, thái độ hòa nhã, khiêm tốn, thói ba hoa, ích kỉ, vụ lợi…
- Quan hệ gia đình:Tình mẫu tử, tình anh em
- Quan hệ xã hội: Tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn
2 Nghị luận về một sự việc hiện tượng
Là bàn về một hiện tượng thường xảy ra, thường gặp trong đời sống
Các sự việc hiện tượng thường gặp là :
+ Tai nạn giao thông
+ Gia tăng dân số
+ Tệ nạn xã hội
+ ô nhiễm môi trường
Trang 133 Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.
Là bàn về một vấn đề nào đó được đặt ra trong tác phẩm văn học là vănxuôi hoặc thơ Những vấn đề ấy có thể là những triết lí hoặc những tư tưởng
4.Nghị luận về một vấn đề cảm nhận từ một hình ảnh ( Đây là dạng đề
rất mới, chưa được phổ biến, chủ yếu dùng cho đối tượng học sinh khá giỏi)
VD: Quan sát bức hình sau và cho biết mỗi người trong bức tranh đang
“gần” nhau hay “xa “ nhau
Trang 14Hai bức hình trên gợi cho em suy nghĩ tới vấn đề nào trong xã hội?Viết bài văn ngắn bàn về những điều em cảm nhận được từ hai bức hình đó.
* CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
1 Kỹ năng thu thập thông tin
*Đối tượng của bài nghị luận xã hội là những vấn đề thuộc về xã hội mà
cụ thể là các vấn đề về tư tưởng, đạo lý; các vấn đề về sự việc, hiện tượng trongđời sống xã hội Vì vậy người viết phải có hiểu biết nhất định về xã hội và vốnsống thực tế Không có vốn sống sẽ không có tư liệu làm bài Thu thập thông tin
là việc quan trọng đầu tiên chuẩn bị cho một bài NLXH có chất lượng
*GV hướng dẫn HS có thể tìm nguồn từ liệu từ rất nhiều kênh:
- Sách tham khảo làm văn NLXH.
- Các tạp chí: Thế giới trong ta; Giáo dục và thời đại; Văn học và tuổi
trẻ…
- Những tác phẩm: Quà tặng cuộc sống; Hạt giống tâm hồn; Truyện ngụ
ngôn
Trang 15* Đặc biệt, phải có ý thức quan sát cuộc sống Quan sát để biết cuộc sốngdiễn ra như thế nào Quan sát để thấy cuộc sống có gì tích cực, có gì hạn chế Việc đó rất cần thiết cho việc bàn bạc, đánh giá, so sánh khi làm văn NLXH
VD: Những thông tin về vấn đề khủng bố; về ô nhiễm môi trường; về tainạn giao thông; tấm gương về những tấm lòng nhân ái trong cuộc sống
* Những thông tin thu thập được rồi cũng sẽ trôi đi nếu học sinh khôngbiết cách lưu giữ Hơn nữa, thông tin cần chính xác, không thể đại khái, qua loanên tôi đã hướng dẫn HS có sổ ghi chép những sự việc, vấn đề tiêu biểu rồi tổngkết theo tháng Tôi thường xuyên kiểm tra bằng cách xem sổ ghi chép của họcsinh Làm như vậy vừa giúp học sinh có thói quen quan sát cuộc sống, vừa giúp
HS thấy được những vấn đề nổi cộm trong xã hội; lại giúp các em có cái nhìn,
sự đánh giá về các sự việc hiện tượng đó
Việc rèn kỹ năng nắm bắt thông tin, thu thập dẫn chứng sẽ giúp học sinh
có được những dẫn chứng tiêu biểu, chọn lọc, cụ thể, thuyết phục
VD: Suy nghĩ từ truyện ngụ ngôn:” Ngọn nến”
Với dạng đề này, tôi hướng dẫn các đưa ra những cảm nhận đầu tiên củamình về câu chuyện: Ấn tượng hay không? Vì sao ấn tượng? Nó mang đến cho
em những giá trị nào trong cuộc sống?
Từ đó, hướng HS hiểu cách phân tích đề là mình được trình bày nhữngsuy nghĩ chủ quan của mình về câu chuyện ( hướng tới những điều tích cựctrong cuộc sống)
- Đề không có mệnh lệnh: Đạo lý”Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”
Trang 16Với dạng đề này, học sinh có thể hiểu là được phép bàn bạc về mọi vấn đềxoay quanh câu tục ngữ Vấn đề đúng, sai; xuôi chiều, trái chiều để từ đó rút rachân lí, bài học về lẽ sống, cách sống.
* HS đọc chậm, đọc kĩ, gạch chân dưới các từ khóa quan trọng Từ đó, giải nghĩa thật chính xác các từ khóa, hiểu đúng vấn đề cần nghị luận cũng như xác định đúng yêu cầu của đề bài Điều đó sẽ quyết định bài viết đi đúng hướng.
VD : Suy nghĩ của em về câu nói " Bàn tay tặng hoa hồng bao giờ cũngphảng phất hương thơm"
Tôi đã hướng dẫn các em hiểu nghĩa của các từ quan trọng sau:
-Hoa hồng: là loài hoa đẹp nhất trong các loài hoa, nó là biểu tượng cho
tình yêu và hạnh phúc từ bao đời nay
->Hoa hồng đây chính là ẩn dụ cho tình yêu thương, sự sẻ chia
- Hương thơm: là điều tốt đẹp mà ta đón nhận được khi ta trao đi tình yêu
Mỗi dạng bài Nghị luận xã hội lại có cách xây dựng dàn ý khác nhau
3.1 Nghị luận về một hiện tượng đời sống.
Trước hết, tôi hướng dẫn HS trả lời các câu hỏi :
Trang 17tượng tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường, nghiện internet, bạo lực học đường
- Hiện tượng đó đang diễn ra trong cuộc sống ra sao?
Tương ứng với câu trả lời này là việc nêu thực trạng hay biểu hiện củavấn đề Đây là phần việc đòi hỏi học sinh phải có kiến thức xã hội sâu rộng để cóthể nhận diện được thực trạng vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống như thế nào
Đối với các hiện tượng tiêu cực trong đời sống như tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường, gian lận trong thi cử…, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh “mô
típ” của việc nêu thực trạng là: Xảy ra ở không gian nào ( Thành thị , nông thôn);Đối tượng nào ( ngành nghề); Lứa tuổi nào ( Già, trẻ); hiện tượng đó đang diễn
ra ở mức độ nghiêm trọng, ngày càng phổ biến, đáng báo động và là nỗi quantâm lo lắng của toàn xã hội
- Nguyên nhân của hiện tượng đó?
Sự việc nào cũng có nguyên nhân, phải tìm ra nguyên nhân thì mới có thểtìm ra giải pháp
- Hậu quả ( hoặc tác dụng ) của hiện tượng đó?
Nếu vấn đề cần nghị luận là hiện tượng tiêu cực của đời sống thì bài viếtphải đưa ra hậu quả của hiện tượng Ngược lại, nếu là hiện tượng tích cực phảinêu được tác dụng của hiện tượng
- Giải pháp để ngăn chặn(hoặc đẩy mạnh) hiện tượng đó?
Tôi hướng dẫn học sinh tự tìm giải pháp ( cá nhân) ; có ý kiến gì với cácngành chức năng ( xã hội)
- Suy nghĩ và hành động của bản thân với hiện tượng đó?
HS trình bày theo suy nghĩ cá nhân hướng tới những hành động đẹp có ý nghĩatích cực
3.2 Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí.
Để tìm ý cho dạng bài NL về một vấn đề tư tưởng đạo lí, tôi hướng dẫn HS trảlời các câu hỏi:
- Là gì?( giải thích)
Trang 18Có những đề bài, khâu giải thích có thể làm rất đơn nhưng lại có những
đề bài phải giải thích cả nghĩa đen rồi sau đó suy ra nghĩa bóng
Ví dụ: Anh, chị suy nghĩ như thế nào về câu nói sau: “Đời người phải trải qua giông tố nhưng không được cúi đầu trước giông tố” (Nhật kí Đặng Thùy Trâm)
+ Giông tố: những gian nan, thử thách, những khó khăn xảy ra với con người
trong cuộc sống
+ Cúi đầu: đầu hàng, lùi bước, chấp nhận thất bại, đầu hàng
→ Câu nói khuyên con người không đầu hàng, lùi bước trước những khó khăn,thất bại trong cuộc đời, dám chấp nhận giông tố Khuyên con người cần có ý chínghị lực vượt , đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống
- Nói như thế đúng hay sai? Tại sao đúng? Tại sao sai?
- Cơ sở nào chứng minh cho điều đó?( dẫn chứng )
Thao tác này yêu cầu phải lấy được những dẫn chứng xác thực để chứngminh cho luận điểm của mình Bài viết phải đưa ra được những dẫn chứng thìmới thuyết phục được người đọc
- Em rút ra được bài học gì cho bản thân?
HS tự bộc lộ
4 Lập dàn ý: Từ những ý đã xác định được ở trên, tôi hướng dẫn các em lập
dàn ý cho bài viết theo trình tự:
4.1 Dàn ý của bài NL về một sự việc hiện tượng
Trang 19- Giới thiệu sự việc, hiện tượng cần bàn luận
- Nêu được tính cấp thiết của vấn đề cần nghị luận
* Phân tích và bình luận nguyên nhân
- Nguyên nhân khách quan
- Nguyên nhân chủ quan
Mở bài:
- Nêu hiện tượng tại nạn giao thông đang trở thành vấn nạn trong xã hội
- Nêu tính cấp bách và tầm quan trọng hàng đầu của việc phải giải quyếtvấn đề giảm thiểu tai nạn giao thông đang có chiều hướng gia tăng như hiện nay
Thân bài:
1 Thực trạng:
Trang 20* Tai nạn giao thông ngày càng gia tăng với mức độ ngày càng nghiêmtrọng ở cả thành thị lẫn nông thôn, miền xuôi miền ngươc
2 Nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông:
- Khách quan:
Cơ sở vật chất, hạ tầng còn yếu kém; phương tiện tham gia giao thôngtăng nhanh; do thiên tai gây nên,…
- Chủ quan:
+ Chưa có hiểu biết vầ luật lệ an toàn giao thông
+ Ý thức tham gia giao thông ở một số bộ phận người dân còn hạn chế,đặc biệt là giới trẻ, trong đó không ít đối tượng là học sinh
+ Xử lí chưa nghiêm minh, chưa thỏa đáng Ngoài ra còn xảy ra hiệntượng tiêu cực trong xử lí
+ Tai nạn giao thông ảnh hưởng lâu dài đến đời sống tâm lý
+ Tai nạn giao thông gây rối loạn an ninh, trật tự
+ Tai nạn giao thông gây thiệt hại khổng lồ về kinh tế
+ Tai nạn giao thông làm tiêu tốn thời gian lao động, nhân lực lao động
4 Giảm thiểu tai nạn giao thông là một yêu cầu bức thiết, có ý nghĩa
to lớn với toàn xã hội Thanh niên, học sinh cần phải làm gì?
+ Tuyên truyền cho mọi người biết tác hại và hậu qủa nghiêm trọng của tainạn giao thông
+ Tự giác và nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ khi tham gia giao thông.+ Tổ chức và tham gia các cuộc thi tìm hiểu về Luật giao thông
+ Tham gia các đội Tình nguyện, đội xung kích an toàn giao thông
Trang 21+ Phát hiện, báo cáo kịp thời các trường hợp vi phạm, cứu giúp khi cầnthiết.
+ Chính quyền cần xử lý nghiêm minh các vụ vi phạm…
Kết bài:
- Khẳng định lại ý nghĩa của vấn đề: an toàn giao thông là hạnh phúc củamọi nhà
- Liên hệ bài học cho bản thân
4.2 Dàn ý của bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
Mở bài
- Giới thiệu tư tưởng đạo lí cần nghị luận
- Trích câu nói hoặc lời dẫn
Thân bài
Ý 1 Giải thích để chỉ ra vấn đề cần nghị luận là gì.( Trả lời câu hỏi: là gì?)
- Làm sáng tỏ điều mà người ta muốn nói
Những từ ngữ nào quan trọng trong đề, chúng có ý nghĩa gì? Tổng hợp ýcủa các từ ngữ vừa giải thích thì đề muốn đề cập đến nội dung gì?
Ý 2 Phân tích: Trả lời câu hỏi đúng hay sai? Tại sao đúng tại sao sai?
có 3 khả năng.
+ Hoàn toàn nhất trí
+ Chỉ nhất trí 1 phần (có giới hạn, có điều kiện)
+ Không chấp nhận (bác bỏ)
- Nếu vấn đề đúng ( hoàn toàn nhất trí) thường có biểu hiện sau đây:
+ Phù hợp với văn hóa truyền thống Việt Nam
+ Mang lại giá trị sống tốt đẹp
+ Giáo dục những điều tốt để con người vươn lên chinh phục cuộc sống + Được mọi người thừa nhận yêu mến và làm theo
- Nếu vấn đề là sai ( bác bỏ) : dùng lý luận phê phán ngược lại những ý
trên
Trang 22- Nếu vấn đề có chỗ đúng có chỗ sai : dùng 2 loại ý kiến khẳng định
hoặc phê phán theo gợi ý
* Nêu những biểu hiện về vấn đề trong thực tế để chứng minh
Dẫn chứng từ cụ thể cuộc sống, hoặc sách vở báo chí thông tin về việc con người đã làm theo nó như thế nào?đã có ai răn dạy điều tương tự? Có tấm gương tiêu biểu nào? Có số liệu cụ thể gì?
Ý 3 Bàn luận mở rộng: Những quan điểm cùng chiều, trái chiều với vấn
Tóm lại, xây dựng dàn ý cũng là để HS hiểu rõ với đề bài đó, cần giải
quyết mấy nội dung Và để xác định rõ nhất, đúng nhất hướng làm, cần thựchiện theo 3 bước:
– Làm sáng tỏ điều mà người ta muốn nói.(Là gì?)
– Trả lời vì sao người ta đã nói như vậy?(Tại sao?)
– Từ chân lý được nói lên, rút ra bài học gì trong thực tiễn?(Để làm gì?)
VD: Suy nghĩ của anh/chị về câu tục ngữ: “Một điều nhịn là chín điều
lành”.
Gợi ý:
1 Giải thích ý nghĩa câu nói:
- Nhịn: là nhún nhường, biết kiềm chế nóng giận, biết lắng nghe ý kiến
của người khác, luôn giữ được hoà khí trong giao tiếp, ứng xử, tránh xung khắcđối đầu
- Lành: kết quả tốt đẹp, thoả đáng, đúng như mong muốn.
- Một, chín: những con số có tính chất ước lệ.
- > Cha ông ta khuyên trong cuộc sống nên biết nhường nhịn, nhẫn nhịn
Trang 232 Bàn luận vấn đề:
- Khẳng định mặt đúng của câu tục ngữ: Câu tục ngữ thể hiện một
quan niệm xử thế đúng đắn của cha ông ta Bởi vì cuộc sống vốn đa dạng phứctạp Một con người thường có rất nhiều mối quan hệ khác nhau (trong gia đình,ngoài xã hội) Muốn phát triển, con người phải biết đoàn kết hợp tác với nhau đểtăng cường sức mạnh, đem lại hiệu quả cao nhất Sự hoà thuận trong giao tiếp là
vô cùng cần thiết vì đó là cách ứng xử có hiệu quả, là phương châm sống tốtnhất (Thí sinh cần nêu và phân tích được các dẫn chứng thực tế trong gia đình,ngoài xã hội để chứng minh)
- Bàn luận mặt chưa đúng của vấn đề: Tuy nhiên cần thấy rằng câu tục
ngữ chỉ nêu lên một cách rất chung chung Trong thực tế đời sống, không phải
sự nhẫn nhịn, nhún nhường bao giờ cũng là giải pháp tốt nhất Khi đối mặt vớicái xấu, cái ác thì sự nhẫn nhịn lại đồng nghĩa với thái độ hèn nhát, nhu nhược,lại trở thành tiêu cực vì nó cản trở sự vươn lên, hoàn thiện của bản thân mỗingười cũng như của cả cộng đồng (Thí sinh cần nêu và phân tích được các dẫnchứng thực tế để chứng minh)
3 Mở rộng: Phê phán những người được sự nhún nhường của người khác thì lấn tới; phê phán những người nhường nhịn đến nhẫn nhịn.
Sau khi giúp học sinh xây dựng dàn ý, tôi cho thêm các bài tập về dạng này để học sinh suy nghĩ và trình bày trong những giờ luyện tập, luyện nói.
Hệ thống bài tập bao gồm cả những vấn đề đúng, những vấn đề chưa đúng, những vấn đề có nhiều ý kiến trái chiều để HS có nhiều góc nhìn VD:
Trang 24Bài tập 1 (Dưới dạng một câu danh ngôn, một lời trích dẫn): Không
chiến thắng nổi bản thân là sự thất bại lớn nhất trong cuộc đời mỗi người ( Khoảng 600 từ- hơn hai trang giấy)
Gợi ý:
MB: Giới thiệu vấn đề cần bàn luận
( Cuộc sống của con người là sự phấn đấu để đạt được những mongmuốn, mơ ước, khao khát Có những mong muốn lành mạnh nhưng không ítnhững mong muốn, ước mơ tiêu cực Vấn đề đặt ra là chúng ta phải chiến thắngbản thân mình thế nào để có cuộc sống tốt đẹp, ngạn ngữ có câu: “ ”
Thân bài:
1 Giải thích: ( Chú ý từ hoặc cụm từ quan trọng)
- Chiến thẳng bản thân: ( là gì?: vượt lên khó khăn, ham muốn, cám dỗ đề
hoàn thiện bản thân của bản thân
- Sự thất bại lớn nhất? Không đạt được ước mơ, mong muốn của cá nhân.
Nhưng vẫn chưa bằng thất bại vì không vượt qua được bản thân
=> Sau đó phải chỉ được vấn đề cốt lõi của câu nói: Nếu không vượt
qua được những thói xấu của bản thân mình thì đó là sự thất bại lớn nhất
2 Bình luận: Đúng hay sai? Tại sao đúng, tại sao sai?
- Câu nói đúng.
- Tại sao không chiến thắng nổi bản thân mình lại là thất bại lớn nhất?
+ Mỗi con người luôn tồn tại hai phần tính cách: tốt và xấu ( Nguyễn
Minh Châu cho rằng mỗi người luôn tồn tại hai con người: Rồng phượng và rắnrết- cao đẹp và xấu xa), ta phải tìm cách hạn chế cái xấu và phát huy cái tích cực
+ Không vượt qua được bản thân thì những thói quen xấu, suy nghĩ khônglành mạnh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân Nếu không kiểm soát được thì
sẽ chi phối tính cách xấu ( Ví dụ tính ỷ lại, trì trệ, vô cảm)
+ Cuộc sống luôn tồn tại khó khăn, phải tìm cách vượt qua ( Một bà mẹTrung Quốc đẻ sinh đôi hai cậu con trai bị bãi não, 1 anh nặng hơn 200 kg; ngàyngày bà phải nâng lên, lau chùi rửa ráy Bà vẫn kiên trì đặt niềm tin vào con Sau