Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM LÊ THỊ VINH VĂN HÓA HÀ NỘI TRONG TIỂU THUYẾT “SỐNG MÃI VỚI
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ THỊ VINH
VĂN HÓA HÀ NỘI TRONG TIỂU THUYẾT
“SỐNG MÃI VỚI THỦ ĐÔ” CỦA NGUYỄN HUY TƯỞNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ THỊ VINH
VĂN HÓA HÀ NỘI TRONG TIỂU THUYẾT
“SỐNG MÃI VỚI THỦ ĐÔ” CỦA NGUYỄN HUY TƯỞNG
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Bích Thu
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Văn hóa Hà Nội trong tiểu thuyết “Sống
mãi với thủ đô” của Nguyễn Huy Tưởng” là công trình nghiên cứu của cá nhân
tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Bích Thu Các nội dung nêu
trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan Các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019
Tác giả luận văn
Lê Thị Vinh
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học, cán bộ phòng quản lý khoa học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Bích Thu, người
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, đồng nghiệp cùng bạn bè đã động viên, quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành tốt khoá học này
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019
Tác giả luận văn
Lê Thị Vinh
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
5 Phương pháp nghiên cứu: 12
6 Đóng góp của luận văn 12
7 Cấu trúc luận văn 13
Chương 1: GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM VĂN HÓA VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN HUY TƯỞNG 14
1.1 Giới thuyết khái niệm 14
1.1.1 Khái niệm về “văn hóa” và “văn hóa Hà Nội” 14
1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học 20
1.1.3 Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa 22
1.2 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng 24
1.2.1 Tiểu sử và hành trình sáng tác của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng 24
1.2.2 Tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng 28
Tiểu kết chương 1 33
Chương 2: DẤU ẤN VĂN HÓA HÀ NỘI TRONG TIỂU THUYẾT SỐNG MÃI VỚI THỦ ĐÔ CỦA NGUYỄN HUY TƯỞNG 34
2.1 Bức tranh thiên nhiên mang dấu ấn văn hóa trong tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng 34
2.2 Đời sống văn hóa - xã hội Việt Nam trong tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng 40
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
2.3 Con người - chủ thể văn hóa trong tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô của
Nguyễn Huy Tưởng 45
2.3.1 Con người Hà Nội hào hoa, thanh lịch 45
2.3.2 Con người có bản lĩnh và nhân cách cao đẹp 48
Tiểu kết chương 2 61
Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN DẤU ẤN VĂN HOÁ HÀ NỘI TRONG TIỂU THUYẾT SỐNG MÃI VỚI THỦ ĐÔ CỦA NGUYỄN HUY TƯỞNG 62
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 62
3.1.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật 62
3.1.2 Nghệ thuật miêu tả cử chỉ, hành động nhân vật 68
3.1.3 Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật 73
3.2 Ngôn ngữ 80
3.3 Hệ thống biểu tượng văn hóa trong tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng 83
3.3.1 Biểu tượng và biểu tượng trong văn học 83
3.3.2 Biểu tượng văn hóa Hà Nội nổi bật trong tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng 85
Tiểu kết chương 3 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
20 năm hiện diện trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, Nguyễn Huy Tưởng luôn hướng tới sự thăng hoa trong sáng tạo, mong cho sản phẩm tinh thần của mình góp phần tô điểm cho nền văn hóa dân tộc Trong quá trình sáng tác, Nguyễn Huy Tưởng đến với nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, tùy bút, tiểu thuyết, kịch bản sân khấu, kịch bản phim, truyện viết cho thiếu nhi Ở địa hạt nào, Nguyễn Huy Tưởng cũng có những tác phẩm đồng hành với công chúng và người đọc
1.2 Nguyễn Huy Tưởng được xem là nhà văn đa tài ở địa hạt văn xuôi Ông hầu như đụng bút trên hầu hết thể loại như : nhật ký, ký sự, phóng sự, truyện ngắn, đặc biệt là tiểu thuyết Đối với nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Huy Tưởng là một trong số hiếm hoi những tiểu thuyết gia có sở trường về đề tài
lịch sử Với Đêm hội Long Trì, An Tư, Sống mãi với thủ đô, Lá cờ thêu sáu chữ vàng…Nguyễn Huy Tưởng đã xác lập được vị trí của mình trên văn đàn dân
tộc Dựa vào “những dòng viết ngắn ngủi và hóa thạch” của chính sử, bằng tài năng vốn có, Nguyễn Huy Tưởng sáng tạo và hư cấu, đặt ra những vấn đề lớn lao về đất nước, con người và nghệ thuật, bằng văn học làm nên sức sống của sử học Những vấn đề xưa và nay, quá khứ và hiện tại, lịch sử và thời sự luôn giao hòa, phối trộn trong cảm hứng sáng tạo của Nguyễn Huy Tưởng, gợi không khí rất gần mà rất xa, đượm hồn nước trong cái nhìn của nhà văn, nhà văn hóa Nguyễn Huy Tưởng
1.3 Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu các sáng tác của Nguyễn Huy
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tưởng, chúng tôi nhận thấy tiểu thuyết của ông in đậm dấu ấn văn hóa Việt Nam, đặc biệt là dấu ấn văn hóa Hà Nội Với một nhà văn hiểu biết sâu rộng về Hà Nội, Nguyễn Huy Tưởng đã tìm thấy mảnh đất riêng của mình, bằng những liên tưởng đối chiếu giữa kiến thức trong sách vở và với những trải nghiệm trong
cuộc đời, Hà Nội đã vào văn ông, “làm nên toàn bộ hồn cốt và đường nét trong văn ông” khiến độc giả không chỉ “yêu tác giả tiểu thuyết” mà còn yêu quý thêm
“Hà Nội trung tâm tim óc của cả nước Qua bao triều đại chế độ, cái tim óc bền dẻo vĩ đại ấy đã đập đều trên chín thế kỉ rưỡi”[50]
1.4 Văn học là một bộ phận hợp thành của toàn thể cấu trúc văn hóa Bất
kì tác phẩm văn học ở thời kì nào cũng đều mang dấu ấn văn hóa của thời kì đó
Do vậy, khi nghiên cứu một tác phẩm văn học, chúng ta cần tìm hiểu những giá trị văn hóa được thể hiện trong tác phẩm văn học đó Nhất là trong giai đoạn hội nhập toàn cầu như hiện nay thì việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của mỗi quốc gia đang là vấn đề được đặt lên hàng đầu Nhận biết được điều này nên chúng tôi mong muốn đi sâu nghiên cứu sáng tác của một tác giả cụ thể theo hướng tiếp cận văn hóa Chúng tôi lựa chọn tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng,
đặc biệt với tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô làm đối tượng nghiên cứu Bởi
trong những công trình nghiên cứu các sáng tác của ông, các nhà nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào khai thác những yếu tố mang tính lịch sử và cách mạng mà chưa
có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, có hệ thống về tiểu thuyết của ông theo hướng liên ngành văn hóa - văn học
1.5 Sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng đã được đưa vào chương trình học
ở đại học và các trường phổ thông hiện nay Trong nhà trường phổ thông, tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng được giảng dạy ở cả ba cấp học: Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông với ba trích đoạn văn bản tác phẩm khác nhau
ở sách giáo khoa Tiếng Việt và Ngữ Văn Cụ thể: văn bản Bóp nát quả cam trích
từ truyện Lá cờ thêu sáu chữ vàng (Tiếng Việt lớp 2); văn bản Bắc Sơn trích hồi 4 kịch Bắc Sơn (Ngữ Văn 9); văn bản Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài trích kịch
Vũ Như Tô (Ngữ văn 11) Nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi mong phần nào
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
luận văn sẽ là tài liệu tham khảo đối với các thầy cô giáo và các bạn học sinh, sinh viên trong việc giảng dạy, học tập tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng ở các cấp học
Từ những lí do trên cùng với niềm say mê và lòng kính trọng, khâm phục tài năng Nguyễn Huy Tưởng, đặc biệt yêu thích tiểu thuyết của ông, chúng tôi
lựa chọn đề tài: “Văn hóa Hà Nội trong tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng”
2 Lịch sử vấn đề
Khi nội lực sáng tạo đang dồi dào thì cơn bạo bệnh đã buộc Nguyễn Huy Tưởng phải vĩnh biệt dương thế Nhưng di sản văn học cùng với những trang nhật ký tư tưởng của nhà văn vẫn được lưu giữ và đã trở thành đối tượng cuốn hút sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình và giảng dạy văn học Tác phẩm của ông vẫn là đối tượng để độc giả và giới phê bình, nghiên cứu và hơn một lần khám phá và lý giải những ý tưởng phong phú, sâu sắc tiềm ẩn trong sáng tác của ông trên những chiều kích mới, vượt qua những khía cạnh bất cập một thời Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của người đi trước về sự nghiệp văn chương của Nguyễn Huy Tưởng nói chung và về tiểu thuyết nói riêng Khi thực hiện đề tài, chúng tôi có những thuận lợi nhất định khi kế thừa, tham
khảo những công trình mang tính tập hợp như “Nguyễn Huy Tưởng - về tác gia
và tác phẩm” (NXB Giáo dục - 2007), “Nguyễn Huy Tưởng - khát vọng một đời văn” (NXB Văn hóa thông tin - 2001), “Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng từ khởi nguồn Dục Tú - Đông Anh” (NXB Kim Đồng - 2015) Ngoài ra các nhà nghiên
cứu vẫn tiếp tục phân tích, bình giá tác phẩm của nhà văn thông qua các bài viết trên tạp chí, đề tài luận văn, luận án Trên cơ sở đó, chúng tôi tập hợp thành những khía cạnh liên quan đến đề tài như sau:
2.1 Những ý kiến đánh giá về tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyễn Huy Tưởng đặc biệt tâm huyết với lịch sử, văn hóa quê nhà, đó là vùng quê ngoại thành Hà Nội Chính vì vậy mà ông gắn bó với mảnh đất Thăng Long bằng mối tơ duyên kì lạ Gần hai
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
mươi năm trời lao động sáng tạo, Nguyễn Huy Tưởng đã viết về Hà Nội hoặc những gì dính dáng đến Hà Nội, tính theo tỷ lệ phần trăm chiếm trên một nửa khối lượng sáng tạo của nhà văn Qua đó, nhà văn thể hiện sự am hiểu sâu sắc tâm tư, cá tính của con người Thủ đô, cũng như những truyền thống văn hóa, những giai thoại lịch sử của vùng đất ngàn năm văn hiến này Có lẽ vì thế mà
Vương Trí Nhàn đã từng khẳng định ông là “một trong những người xứng đáng
nhất với danh hiệu nhà văn Hà Nội”
Ngay nhan đề, tên gọi của những đứa con tinh thần Đêm hội Long Trì,
An Tư, Sống mãi với Thủ đô…đã rất gợi, bộc lộ cảm xúc thăng hoa của trái tim
nghệ sĩ nơi nhà văn Nguyễn Huy Tưởng Nguyễn Minh Châu đã từng bị lôi cuốn
bởi các sáng tác về Hà Nội của Nguyễn Huy Tưởng “Những cái tên sách gợi lên hình ảnh một cái đài tưởng niệm bằng ngôn ngữ, một vòng nguyệt quế từ bàn tay Nguyễn Huy Tưởng đặt lên trán những trai thanh gái lịch của Hà Nội rất giàu lòng yêu nước”[7]
Đọc Nguyễn Huy Tưởng, ai cũng nhận ra cảm hứng lịch sử bao trùm phần lớn các tác phẩm Lần trở lại nhật ký năm 1932, khi ông mới hơn 20 tuổi, ta hiểu thêm rằng con người ấy từ tuổi trẻ đã nặng lòng với lịch sử dân tộc đến thế nào
Ông viết: “Người không biết lịch sử nước mình là con trâu đi cày ruộng Cày với ai cũng được, mà cày ruộng nào cũng được”[21]
Như một sự sắp đặt của số phận, những sáng tác văn xuôi đầu tiên Đêm hội Long Trì (1942), An Tư (1943), và sáng tác cuối cùng của Nguyễn Huy Tưởng, tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô đều viết về đề tài lịch sử, về Thăng Long Nhà văn Nguyễn Tuân trong lời bạt cuốn Sống mãi với Thủ đô đã có
cảm nhận tinh tế: “Đọc lại những tiểu thuyết lịch sử, kể cả Sống mãi với Thủ
đô, người đọc vẫn thấy gây gây mùi khói vấn vương ngàn năm Thăng Long chốn cũ”[50] Nguyễn Tuân đã vô cùng yêu mến và không khỏi nuối tiếc những
nhân vật trong tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô mà Nguyễn Huy Tưởng chưa
kịp “tác thành” đường đi nước bước của họ, ông cũng say trong “khí hậu của
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
thủ đô” và khung cảnh “bừng bừng cháy lên” của Hà Nội trong cuộc đụng độ
với thực dân Pháp mà Nguyễn Huy Tưởng tái tạo trong Sống mãi với Thủ đô
Bằng ngôn ngữ của riêng mình, Nguyễn Tuân viết: “Tôi coi tiểu thuyết này như một bức tranh có nhiều đức tính truyền cảm mà tôi chỉ muốn được làm một người thợ mộc cố tìm cho tác giả nó một bộ khung tương xứng bằng gỗ tốt, gỗ quý”[50]
Trong bài Vài điều ghi nhận được trên một số tác phẩm văn học gần đây - Văn nghệ, 9 - 1961, Nhà văn Như Phong đã cảm nhận được bước ngoặt mới trong quá trình sáng tạo của Nguyễn Huy Tưởng mà Sống mãi với thủ đô là
một minh chứng “Tập tiểu thuyết chưa trọn vẹn này đã làm cho ta thấy được cái tính chất phức tạp của thực tế kháng chiến không còn cái vẻ tráng lệ hơi dễ dãi, cái lối lý tưởng hóa con người hơi ngây thơ mà nhiều tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng trước đây vẫn có Với tác phẩm cuối cùng này, anh đã tự đổi mới trong phương pháp nghệ thuật của mình”[53]
Trong một hệ thống bài viết Sống mãi với thủ đô, tác phẩm cuối cùng của Nguyễn Huy Tưởng (Báo Nhân dân 18 - 6- 1961), chuyên luận Nguyễn Huy Tưởng (1966), chương viết về sáng tác của nhà văn trong thời kì hòa bình
đã nhắc nhiều đến Sống mãi với thủ đô, lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Huy Tưởng (1984), Hà Minh Đức đã đưa ra nhận xét tổng quát Sống mãi với thủ đô
“bộc lộ rõ nét nhất đỉnh cao cũng như cái đích đi tới cuối cùng của Nguyễn Huy Tưởng”, bởi tiểu thuyết đã “kết hợp được sự miêu tả sự kiện lịch sử với số phận
cá nhân, vẻ đẹp lý tưởng với chiều sâu hiện thực, âm hưởng anh hùng ca của cuộc chiến đấu với nét trữ tình đằm thắm Tác phẩm đã tạo dựng được nhiều bức tranh hoành tráng của Hà Nội kháng chiến và không khí đặc biệt của một thời
kì lịch sử”[53]
Tác giả Nguyễn Phương Chi trong bài viết Sống mãi với Thủ đô đã nhận
định “Sống mãi với Thủ đô thấm đượm tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Hết thảy các nhân vật chính diện của tác giả, ở nhiều mức độ
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
và sắc thái biểu hiện khác nhau, đều mang trong mình những phẩm chất cao đẹp: tinh thần dân tộc và ý chí tự do, thái độ sẵn sàng hy sinh vì đất nước…Nhà văn đã bắt đầu kết hợp được quy mô sử thi rộng lớn của sự kiện với việc đi sâu vào diễn biến số phận cũng tâm lý phức tạp của nhiều cá nhân”[6]
Với tiểu thuyết Đêm hội Long Tŕ, trong bài Nguyễn Huy Tưởng tác giả
Hà Minh Đức có viết “Tác phẩm đầu tay Đêm hội Long Trì mở đầu cho quá trình sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng, dựa trên những tư liệu lịch sử đề cập qua Hoàng Lê nhất thống chí và Việt Lãm xuân thu, khai thác câu chuyện xoay quanh quan hệ giữa chúa Trịnh Sâm và hai chị em Đặng Thị Huệ” tuy nhiên “Viết Đêm hội Long Trì, Nguyễn Huy Tưởng không khai thác tập trung vào quan hệ giữa Trịnh Sâm và Đặng Thị Huệ như một vài cuốn sách khác Tác giả lấy Đặng Mậu Lân làm đầu mối cho các quan hệ Đặng Mậu Lân - Quỳnh Hoa, Đặng Mậu Lân
- Nguyễn Mại: ở đây thể hiện hai sự đối lập, đối lập giữa sự tàn ác thô bỉ của dục vọng với vẻ đẹp mềm mại và tình yêu thơ mộng, và đối lập giữa tội ác và công lý”[12]
Ở bài viết Sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng các tác giả Trần Đình Nam
và Nguyễn Phương Chi cũng đã có những nhận xét, đánh giá về tiểu thuyết An
Tư, “Đọc An Tư ta cảm nhận được rất rõ không khí và màu sắc thời đại mà nhà
văn mô tả Người đọc rất tự nhiên bước vào cái thế giới do nhà văn sáng tạo ra
và cũng rất tự nhiên, vui sướng đau khổ ký thác tâm sự cùng người thiên cổ Tình yêu con người, đất nước, tinh thần thượng võ, những của cải tinh thần vô giá mà cha ông hương hỏa lại cho ta, ẩn kín đâu đó sâu thẳm trong tâm linh bỗng trỗi dậy, và ta càng tự hào, sung sướng vì mình là con Lạc cháu Hồng…”[39]
Hai tác giả Hà Minh Đức và Phan Cự Đệ trong bài Tiểu thuyết và kịch lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng trước Cách mạng tháng Tám đã ghi nhận những dấu ấn văn hóa trong tiểu thuyết Đêm hội Long trì “Viết Đêm hội Long
trì, Nguyễn Huy Tưởng đã dựa vào Hoàng Lê nhất thống chí, Tang thương ngẫu lục, Vũ trung tùy bút Cảnh đêm trung thu ở hồ Long trì đã được Nguyễn Huy
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tưởng mô tả gần giống như đoạn Kinh phủ (Nguyễn Án) nói về “Chuyện cũ trong phủ chúa””[14] Cùng với đó là những ý kiến, nhận xét của Trần Đình
Nam và Nguyễn Phương Chi trong bài Sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng
“Trước An Tư, Nguyễn Huy Tưởng viết Đêm hội Long trì Ngay ở cuốn tiểu thuyết đầu tay này đã thấy rõ tài viết truyện lịch sử của ông Ông đã làm sống lại dĩ vãng xa lắc xa lơ, bị sức nặng của hàng mấy thế kỉ đào sâu chôn chặt Những phong tục, tập quán, lễ nghi, những hội hè đình đám lộng lẫy với những tài tử giai nhân “ngựa xe như nước áo quần như nêm” hiển hiện trước mắt ta”[39]
Tác giả Nguyễn Huy Thắng trong bài viết Những khúc sông, mảnh hồ trong cuộc đời cha tôi , đã từng khẳng định: “Hồ Tây đã đi vào những trang sách của cha tôi trong Đêm hội Long Trì Hồ Tây cũng là niềm tự hào của cha
tôi về những cảnh đẹp một thời của Hà Nội, với những rừng chúc, rừng bang mà người dân kinh kì khi xưa thường tới thưởng ngoạn”[56]
Như vậy, qua việc tìm hiểu những ý kiến, đánh giá cũng như các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học, chúng tôi nhận thấy cảm hứng chủ đạo trong những sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng là cảm hứng lịch sử Đó được xem như là sở trường của nhà văn Tuy nhiên, để có những
trang “chính sử viết bằng văn chương” ấy, thì Nguyễn Huy Tưởng phải là một
người am hiểu tường tận về nền văn hóa nước nhà Chính điều này đã tạo nên khoảng trống giúp chúng tôi tìm hiểu và nghiên cứu đề tài
2.2 Những ý kiến đánh giá về dấu ấn văn hóa Hà Nội trong tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn của đề tài lịch sử nhưng ông cũng là nhà văn của cuộc sống mới, con người mới Trong tâm thức văn hóa của người Việt nói chung và người Hà Nội nói riêng, thiên nhiên, ngoại cảnh, môi trường sinh thái gắn bó, hòa hợp với con người Cùng viết về Hà Nội và dành cho trái tim của cả nước tình yêu của chính mình, nhưng khác với Tô Hoài, Thạch Lam, Vũ
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Bằng…trong cảm hứng sáng tạo của Nguyễn Huy Tưởng nổi bật âm hưởng lịch
sử - văn hóa Trong bài viết Bên nhà văn Nguyễn Huy Tưởng cùng ngắm Hồ Gươm, Nguyễn Minh Châu đã viết: “Nghĩ về ông, bao giờ tôi cũng tưởng tượng
ra một nhà văn đồng thời là một nhà văn hóa” Quả vậy, trong cảm quan sáng
tạo của mình, Nguyễn Huy Tưởng đã trực tiếp hoặc gián tiếp giới thiệu những tinh hoa văn hóa Việt với người đọc Nhờ vào những trang viết tài hoa của nhà văn, người đọc đương thời và hậu thế nhận ra dấu ấn văn hóa của Hà Nội, của Việt Nam trải qua những giai đoạn, thời khắc khác nhau của lịch sử và văn hóa dân tộc Có thể thấy khá nhiều giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng được tái hiện trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng
Trong bài viết Nguyễn Huy Tưởng - khát vọng một đời văn các nhà
nghiên cứu Tôn Thảo Miên và Nguyễn Bích Thu đã chỉ ra “ Với Sống mãi với thủ đô, Nguyễn Huy Tưởng không chỉ thành công trong tái tạo không khí hào hùng, bi tráng của lịch sử mà cả trong miêu tả diễn biến tâm lí phức tạp, tinh vi của đời sống tâm hồn nhân vật, mang ý nghĩa nhân bản, đề cao lòng yêu nước
và sự sống con người Ở một góc độ khác, chỉ với ngòi bút tài hoa, tác giả cuốn tiểu thuyết mới “tả được những nét sang trọng, lịch sự của thủ đô Sang trọng lịch sự mà vẫn yêu nước, ghét Tây”, điều đó làm nên cuộc sống riêng, không lẫn với các trường thiên tiểu thuyết cùng thời với Sống mãi với thủ đô”[53]
Viết về nhân vật trong tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô, tác giả Phong Lê trong bài viết Sống mãi với thủ đô trong quá trình sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng nhận xét: “Miêu tả Hà Nội trong tính phức tạp của nó, Nguyễn Huy
Tưởng cố gắng mở rộng thế giới nhân vật của mình Anh miêu tả nhiều tầng lớp nhân dân lao động Hà thành, cô gái bán hoa Ngọc Hà, mẹ Thắng bán xôi chè, Dân thợ nguội, Sơn thợ xẻ, Quý tài xế,…nhiều con người thuộc nhiều thành phần
xã hội khác nhau đó đã tham gia vào cuộc kháng chiến khỏe khoắn, tự nhiên vì cuộc đời của họ nói chung đã phải trải qua nhiều cực khổ Trong lớp quần chúng
cơ bản, Nguyễn Huy Tưởng chú ý những công nhân ưu tú, những cán bộ lãnh
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đạo phong trào như Dân, Quốc Vinh, Nguyễn Gia Định là lực lượng nòng cốt, tiêu biểu cho tinh thần sống chết với thủ đô, chèo chống cho cuộc kháng chiến ở thủ đô ”[26].Cũng trên tinh thần ghi nhận nét mới trong cảm hứng sáng tạo của Nguyễn Huy Tưởng, Phong Lê viết: “Nguyễn Huy Tưởng đã phác họa được nhiều thái độ khác nhau, nhiều số phận khác nhau của con người trong một cơn rung chuyển lớn lao của lịch sử Một cách đặt vấn đề như thế đối với các sáng tác trước Cách mạng của anh là hoàn toàn mới lạ, chưa thể có được”[26]
Với bài viết Dấu ấn văn hóa trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng tác giả Nguyễn Bích Thu đã cho chúng ta thấy: “Trong Sống mãi với thủ đô, bên
cạnh cái lạnh giá của mùa đông năm 1946, cái bóng tối đặc quánh bao trùm Hà Nội trong đêm đầu tiên quân và dân Thủ đô chống trả giặc Pháp là những hình ảnh mang hơi ấm của văn hóa truyền thống Cái hơi ấm ấy như tiếp sức, truyền thêm khí thế “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” với người dân Thủ đô vốn giàu lòng yêu nước, ghét Tây Những yếu tố văn hóa xuất hiện khá đắc địa trong tiểu thuyết đã dệt nên bức tranh toàn cảnh Hà Nội trong thời điểm có một không hai của lịch sử dân tộc Bức tranh ấy cho thấy sự đan bện, phối màu của hai đối cực : chiến tranh và đời thường, hiện tại và quá khứ, cái chết và sự sống, lịch sử và văn hóa, xưa và nay, hào hùng và hào hoa Sự điểm xuyết, hiện diện của các yếu
tố văn hóa ấy trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng tạo nên mỹ cảm trong tiếp nhận của người đọc”[54] Cũng trong bài viết này, tác giả nhận định rằng
“Những nét đẹp mang bản sắc của Hà Nội ba mươi sáu phố phường mà biểu tượng của nó là Hồ Gươm xuất hiện với mật độ đáng kể trong các trang văn Sống mãi với Thủ đô…Với Nguyễn Huy Tưởng, tình yêu và niềm tự hào dành cho
Hà Nội trong những ngày Tổ quốc lâm nguy, bắt đầu từ chính tình yêu với thiên nhiên, với Hồ Gươm, một trong những yếu tố mang đặc trưng của Hà Nội Bởi văn hóa chính là cách con người quan hệ với thiên nhiên”[54]
Phong Lê trong bài Sống mãi với thủ đô trong quá trình sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng, đã có những nhận xét khá sâu sắc về chất kịch và chất thơ
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
trong tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô, Ông viết: “không khi nào những xung đột
lớn lao trong đời sống…đem đến những đảo lộn trong tâm trạng, tình cảm, quan
hệ giữa con người lại được tập trung bằng lúc này Cho nên có thể nói Sống mãi với thủ đô cũng đồng thời là một thiên kịch lớn”; “nói đến chất thơ trong Sống mãi với thủ đô trước hết là nói đến cái nhìn sâu vào bên trong các biến cố của đời sống, phát hiện trong hiện tại những gì thuộc về quá khứ và báo hiệu cho tương lai Cái nhìn của Nguyễn Huy Tưởng luôn luôn là cái nhìn suốt cả quá trình Mỗi vấn đề, mỗi hiện tượng anh nêu lên đều có lịch sử riêng Trong nét vẽ rành rõ, sáng sủa của hiện tại, anh phủ lên một lượt mây mờ cổ kính của quá khứ và cũng đồng thời rọi chiếu một thứ ánh sáng, rực rỡ của tương lai Cảm hứng lãng mạn do nhiệt tình của người viết đã đem đến cho thiên truyện nhiều chất thơ Âm hưởng chung của thiên truyện là âm hưởng lạc quan Tiếng cười nói, tiếng súng đạn, tiếng trẻ bán báo, rao hàng, tiếng đàn ấm áp, tiếng sinh hoạt của cuộc đời…bản hòa tấu của nhiều âm thanh khác nhau đó trong thiên truyện nghe sao khác rất nhiều tiếng gõ quan tài bi thảm trong Những người ở lại”[26]
Cùng với đó, Nguyễn Minh Châu trong bài viết Bên nhà văn Nguyễn Huy Tưởng cùng ngắm Hồ Gươm đã cho thấy sự cảm nhận tinh tế của tác giả
về nét đẹp văn hóa của Hà Nội trong Sống mãi với Thủ đô “Tôi đọc Sống mãi
với Thủ đô đã mấy chục năm nay thế mà vẫn còn giữ nguyên vẹn trong trí nhớ một chiếc lá sấu vàng khô cong như một tấm vàng giát, từ từ và lặng lẽ gieo mình xuống vạt cỏ ven Hồ Gươm trong một buổi chiều mùa đông năm ấy - mùa đông năm 1946 - trong một sắc trời một màu xám đầy lạnh lẽo chứa đựng một cái gì gai gai, rờn rợn mà tôi - tôi có cảm tưởng chỉ ngòi bút Nguyễn Huy Tưởng mới
tả được hay đến như thế - về mấy ngày trước khi cuộc kháng chiến trường kì nổ ra”[7]
Luận văn Hà Nội trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng, trường hợp Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Thị Phương Lan cũng đã đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu những nét đẹp của Hà Nội trong tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô của
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Nguyễn Huy Tưởng qua hai phương diện nội dung và nghệ thuật Luận văn có
đề cập đến một Hà Nội với sự thấm quyện giữa lịch sử và văn hóa
Tóm lại, từ việc tìm hiểu lịch sử vấn đề nghiên cứu sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng, chúng tôi thấy: Dấu ấn văn hóa trong tiểu thuyết của nhà văn đã ít nhiều được đề cập đến tuy nhiên đó mới chỉ là những nhận định khái quát mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống Từ đó đã gợi
mở cho chúng tôi lựa chọn đề tài: Văn hóa Hà Nội trong tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng Kế thừa những kết quả nghiên cứu của
người đi trước, chúng tôi sẽ mở rộng, khơi sâu và làm rõ những giá trị, dấu ấn
văn hóa có trong nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô
của Nguyễn Huy Tưởng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa văn học và văn hóa, những dấu ấn
văn hóa trong tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng
nhìn từ hai phương diện nội dung và nghệ thuật thể hiện
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn khái lược tìm hiểu về mối quan hệ tương tác giữa văn học
và văn hóa Từ đó có cơ sở để tìm hiểu tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng nói
chung và Sống mãi với Thủ đô nói riêng trong mối quan hệ liên ngành văn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung vào việc tìm hiểu văn hóa Hà
Nội trong tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Phạm vi tài liệu nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi
chọn khảo sát các tập tiểu thuyết: Đêm hội Long Trì, An Tư, Sống mãi với thủ đô, đặc biệt đi sâu vào tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy
Tưởng
5 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Phương pháp này được sử dụng nhằm tìm hiểu những dấu ấn văn hóa có trong tác phẩm qua việc nghiên cứu mối quan
hệ giữa văn học và văn hóa
- Phương pháp thống kê, phân loại: Chúng tôi tập trung thống kê các tác phẩm của ông và phân loại theo đặc trưng thể loại để có thể dễ dàng trong việc tiếp cận và phân tích tác phẩm
- Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại: Được sử dụng phổ biến trong luận văn để nhận xét, đánh giá tác phẩm một cách toàn diện về cả hai mặt nội dung và nghệ thuật
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trong luận văn chúng tôi sẽ tìm hiểu
tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô bên cạnh những tác phẩm khác của ông trước
và sau cách mạng Bởi phương pháp này giúp chúng tôi nhìn nhận tác phẩm trong cái nhìn tương quan, từ đó tìm ra điểm tương đồng và khác biệt của tác phẩm với những tác phẩm khác
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương pháp này giúp chúng tôi có cái nhìn toàn diện, đầy đủ hơn về tác phẩm
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình đầu tiên tìm hiểu một cách hệ thống trường hợp
tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng từ góc nhìn văn hóa
Trên cơ sở đó luận văn đã nhận diện dấu ấn văn hóa Hà Nội trong tiểu thuyết
Sống mãi với Thủ đô trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật thể hiện
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho công việc học tập, giảng dạy tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng trong các nhà trường phổ thông
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Giới thuyết khái niệm văn hóa và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng
Chương 2: Dấu ấn văn hóa Hà Nội trong tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô
của Nguyễn Huy Tưởng
Chương 3: Một số phương thức thể hiện dấu ấn văn hóa trong tiểu thuyết
Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 1 GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM VĂN HÓA VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC
CỦA NGUYỄN HUY TƯỞNG
1.1 Giới thuyết khái niệm
1.1.1 Khái niệm về “văn hóa” và “văn hóa Hà Nội”
Khái niệm “văn hóa”
Văn hóa là một khái niệm rất phức tạp Có rất nhiều định nghĩa văn hóa
tùy theo góc độ của người nghiên cứu muốn nhấn mạnh phương diện nào Hiện nay, trên thế giới có đến gần 500 định nghĩa khác nhau về “văn hóa”
Vào thế kỉ XIX, thuật ngữ “văn hóa” được những nhà nghiên cứu phương Tây sử dụng như một danh từ chính Họ cho rằng “văn hóa” thế giới có thể phân
ra từ trình độ thấp đến trình độ cao nhất, và văn hóa của họ chiếm vị trí cao nhất Bởi vì họ cho rằng bản chất văn hóa hướng về trí lực và sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh, E.B.Tylor là đại diện cho quan niệm đó Theo tác giả,
văn hóa là “một tổng thể phức tạp bao gồm các kiến thức tín ngưỡng (tín niệm), nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục, và tất cả những khả năng và thói quen
mà con người đạt được với tư cách là một thành viên trong xã hội”[8]
Định nghĩa này được nhiều nhà khoa học chấp nhận và sau đó, khi có những nhà khoa học đưa ra những định nghĩa khác, thì nó vẫn được nhắc đến như một định nghĩa dùng để tham khảo Cùng với sự phát triển của việc nghiên cứu văn hóa theo nhiều hướng khác nhau, có rất nhiều định nghĩa được đề cập sau định nghĩa của E.B.Tylor Tiêu biểu là định nghĩa của Edward Sapir, William Isaac Thomas, định nghĩa về văn hóa của ông Tổng giám đốc UNESCO F Mayor
Trong bài phát biểu với nhan đề Thập kỉ thế giới phát triển văn hóa ông
Tổng giám đốc UNESCO F Mayor định nghĩa văn hóa như sau:
“Văn hóa là một bộ phận không thể tách rời của cuộc sống và nhận thức
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- một cách hữu thức cũng như vô thức - của các cá nhân và các cộng đồng Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỉ, hoạt động sáng tạo ấy hình thành nên một hệ thống các giá trị và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc”[8]
Ở phương Đông, trong đó có Việt Nam, từ xa xưa đã phổ biến khái niệm văn hiến, văn vật trong khi ở phương Tây thường gắn với khái niệm văn minh Như vậy, cho đến nay, chưa phải mọi người đã đồng ý với nhau tất cả về định nghĩa văn hóa Ở Việt Nam, nghiên cứu văn hóa như một khoa học được bắt đầu vào nửa đầu thế kỉ XX Những người mở đầu có thể kể đến các nhà nghiên cứu Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên…
Ở nước ta, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó do loài ngươi đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[8]
Nhà nghiên cứu Phan Ngọc đưa ra một định nghĩa văn hóa như sau: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng
tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác”[33] Trong định nghĩa này, tác giả không
nói đến lịch sử, mà chỉ xét mặt bên ngoài của cái hiện tượng độc đáo mang tên văn hóa
Trên cơ sở phân tích định nghĩa về văn hóa, tác giả Trần Ngọc Thêm đã
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đưa ra một định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”[62]
Gần đây nhất, trong một bài viết của mình, nhà nghiên cứu Nguyễn Từ Chi đã quy các kiểu nhìn khác nhau về văn hóa vào hai góc độ Góc độ thứ nhất, ông gọi là góc hẹp, “góc nhìn báo chí”, thông dụng trong cuộc sống hàng ngày Theo góc nhìn này thì “văn hóa” thường được hiểu là kiến thức của con người, của xã hội Nhưng còn các định nghĩa văn hóa từ góc độ thứ hai mà ông gọi là góc độ “dân tộc học” Cách định nghĩa “văn hóa” từ góc độ thứ hai này là cách định nghĩa của một ngành khoa học, cách định nghĩa dùng trong nghiên cứu khoa học
Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả ở nước ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn hóa do
UNESCO đưa ra năm 1994 Theo UNESCO “văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những
hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng soi xét về bản thân Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thi những sự lựa chọn Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tìm tòi không biết mệt những giá trị văn hóa mới mẻ và sáng tạo
ra những công trình vượt trội lên bản thân”[64]
Có thể nói, các định nghĩa văn hóa hiện nay rất đa dạng Mỗi định nghĩa
đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa Từ những định nghĩa về “văn hóa” như trên, ta có thể hiểu một cách khái quát như
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
sau: Văn hóa là một hoạt động sáng tạo riêng của con người, hoạt động sáng tạo
đó bao trùm lên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống con người, thành tựu chính của những hoạt động sáng tạo đó là các giá trị văn hóa, và văn hóa của mỗi cộng đồng người có những đặc tính riêng hình thành trong lịch sử, phân biệt cộng đồng người này với cộng đồng người khác “Văn hóa” gắn liền với cuộc sống con người, với sự phát triển và hoàn thiện của con người, xã hội
Khái niệm “văn hóa Hà Nội”
“Hà Nội ba sáu phố phường Hàng Gạo, Hàng Đường, Hàng Muối trắng tinh”
Nói đến Hà Nội, người ta nghĩ ngay tới một thành phố với 36 phố phường mang đậm nét văn hóa cổ xưa, là nơi lưu giữ lịch sử Việt có giá trị văn hóa truyền thống Bên cạnh đó, Hà Nội còn là thành phố vì hòa bình được UNESCO công nhận
Đã hơn mười thế kỉ trôi qua, nhưng Hà Nội xưa và nay vẫn luôn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa lớn của nước Việt Nam Hà Nội trong nghìn năm
ấy, vừa bảo tồn những giá trị truyền thống vừa biết tiếp thu những gì là tinh túy nhất của mọi vùng miền đất nước và xa hơn là của bạn bè quốc tế, để với bản lĩnh của Hà Nội ngàn năm văn hiến, những điều hay đã được nhân lên, đồng thời xóa đi những cái dở, để làm nên một nền văn hóa mang bản sắc riêng đầy quyến
rũ - văn hóa Hà Nội Và không chỉ những người sống ở Hà Nội, yêu Hà Nội mà tất cả những ai đã từng đặt chân đến Hà Nội đều có thể cảm nhận được nét quyến
rũ ấy
Là mảnh đất ngàn năm văn hiến, văn hóa Hà Nội đã hội tụ biết bao tinh hoa văn hóa của mọi miền đất nước Hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Hà Nội vô cùng phong phú, đa dạng và mang đậm bản sắc của người Tràng An Hệ thống di sản đó đã trở thành một biểu tượng của văn hóa Việt Nam
Hà Nội - trái tim của đất nước, thành phố của hòa bình - đã được biết đến
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
với những tinh hoa văn hóa ngàn năm Đó là “Khu phố cổ” - nơi lưu giữ những
dấu ấn đặc sắc của một “Hà Nội băm sáu phố phường”, nơi đây đã chứng kiến biết bao sự kiện lịch sử hào hùng của dân tộc trong công cuộc kháng chiến để giữ nền độc lập cho nước nhà Nơi đây, không những là trung tâm kinh tế mà còn là một trung tâm văn hóa độc đáo, với văn hóa ẩm thực khá phong phú Những cái tên Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Bạc, Hàng Khoai, Hàng Bông, Hàng Chuối…không chỉ là tên phố mà ẩn sau mỗi tên gọi ấy là một nghề thủ
công đặc sắc, một hoài niệm của lịch sử Đó là “Thành Cổ Thăng Long” - biểu
tượng sống động của một kinh đô được xây dựng cách đây hàng nghìn năm, hơn nữa đó còn là một di tích độc nhất vô nhị, mang tính biểu tượng cho cộng đồng người dân Hà Nội, giá trị lịch sử của nó luôn đứng vững với không gian, thời
gian Và đó là “thành Cổ Loa”, một trong những tòa thành cổ nhất ở các nước
Đông Nam Á
Bên cạnh đó, là “Chùa Một Cột” thanh thoát như đóa hoa sen Là “Văn
miếu Quốc Tử Giám” - Trường đại học lâu đời nhất Việt Nam, là biểu tượng
của nền học vấn quốc gia, là nơi giáo dục mỗi con người cần phải giữ gìn và phát
huy truyền thống hiếu học, tôn vinh người hiền tài của dân tộc Là “Quảng
trường Ba Đình”, nơi chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc Lập, khai
sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945 Là “Hồ
Tây”, mặt gương của Hà Nội, lá phổi của chốn Long Thành với một bề dày lịch
sử mấy nghìn năm Là “Hồ Hoàn Kiếm”, với cầu Thê Húc, Tháp Bút, Tháp Rùa,
đền Ngọc Sơn lung linh bóng nước đã đi vào thơ ca, nhạc, họa của những người nghệ sĩ tài hoa…Và còn rất nhiều những di tích lịch sử khác như những ngôi chùa, ngôi đình, những cổng làng…tất cả đã tạo nên một quần thể các di sản văn hóa vật thể đặc sắc của Hà Nội
Tinh hoa văn hóa của Hà Nội không chỉ là những di sản vật thể như trên
mà còn là những di sản văn hóa phi vật thể Mảng văn hóa này có trữ lượng khá lớn, và đã phản ánh được một cách phong phú, đa dạng những truyền thống,
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
những nét sinh hoạt văn hóa của người Hà Nội Văn hóa phi vật thể Hà Nội là tổng hòa các yếu tố giao lưu, hội nhập, dung hòa, tiếp biến, cởi mở, linh hoạt, để tạo nên bản sắc Thăng Long- Hà Nội, một vùng đất “hội thủy, hội nhân và hội tụ văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng”
Đến với những giá trị văn hóa phi vật thể chúng ta sẽ được hòa mình vào
hệ thống các lễ hội dân gian cổ truyền của người Hà Nội, những lễ hội mang đậm màu sắc lịch sử Lễ hội dân gian xưa của Hà Nội có vị trí khá quan trọng bởi nó tác động tích cực, sâu sắc đến đời sống tinh thần, đời sống văn hóa của người Hà Nội Mọi hoạt động diễn ra trong lễ hội đều mang một ý nghĩa vô cùng thiêng liêng Thông qua lễ hội các thành viên của cộng đồng được gắn bó lại với nhau
Nó còn là thời điểm mà đời sống văn hóa của mọi người được tổ chức chặt chẽ và
có quy mô, là thời điểm hội tụ các khả năng sáng tạo các thể loại văn nghệ, đưa lại niềm phấn khởi hào hứng cho mọi người
Tiếp đến là những tục lệ, hương ước của những làng cổ ở chốn kinh kỳ xưa Hiện nay, Hà Nội còn lưu giữ được hàng trăm bản hương ước bằng chữ Hán
và chữ Nôm
Trong kho tàng văn hóa phi vật thể của Hà Nội thì các giá trị về văn hóa
ẩm thực chiếm một vị trí đáng kể Những món ăn đặc sắc như phở Hà Nội, Nem, bún chả, giò chả Ước Lễ, chả cá Lã Vọng, cốm Vòng, bánh cuốn Thanh Trì…mỗi món ăn mang một hương vị đặc biệt, quyến rũ mà không nơi nào có thể bắt chước được Điều đó đã làm nên một phong vị, một thương hiệu riêng của Hà Nội, góp phần làm cho Hà Nội trở thành nơi khó quên đối với những ai đã từng một lần đặt chân tới nơi đây Có thể nói, nghệ thuật ẩm thực là một phần tạo nên cái tinh
tế, đặc sắc của văn hóa và con người Hà Nội
Hà Nội xưa và nay với những giá trị văn hóa ngàn năm đã và đang được bảo tồn, phát triển, trở thành thế mạnh để Hà Nội thu hút khách trong nước và ngoài nước đến thăm quan và tìm hiểu.Vì vậy, trong những năm qua Hà Nội luôn giữ vững vị trí là một trong hai trung tâm du lịch lớn nhất
1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Văn hóa và văn học là hai vấn đề luôn gắn bó mật thiết với nhau Xét
trong mối quan hệ giữa văn học và văn hóa, có thế thấy văn học là sự “tự ý thức” của văn hóa, nó không chỉ là bộ phận của văn hóa, chịu sự ảnh hưởng và chi phối trực tiếp của văn hóa, mà còn là một trong những phương tiện để văn hóa được
tồn tại và bảo lưu Như GS Trần Đình Sử khẳng đinh “văn học có một vị trí không thể thiếu trong mỗi nền văn hóa”
Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học là mối quan hệ biện chứng, phản ánh đặc điểm có tính quy luật của quan hệ riêng chung có tầm cấp triết học, đó
là mối quan hệ giữa tổng thể và bộ phận Văn học, nghệ thuật cùng với triết học, chính trị, tôn giáo, đạo đức, phong tục…là những bộ phận hợp thành của toàn thể cấu trúc văn hóa Nếu văn hóa thể hiện quan niệm và cách ứng xử của con người trước thế giới, thì văn học là hoạt động lưu giữ những thành quả đó một cách sinh động nhất Để có được những thành quả đó, văn hóa của một dân tộc cũng như của toàn thể nhân loại từng trải qua nhiều chặng đường tìm kiếm, chọn lựa, đấu tranh và sáng tạo để hình thành những giá trị trong xã hội Văn học vừa thể hiện con đường tìm kiếm đó, vừa là nơi định hình những giá trị đã hình thành
Nói như nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương “văn học là văn hóa lên tiếng bằng ngôn từ nghệ thuật”
Văn học là biểu hiện của văn hóa, cho nên văn học là “tấm gương của văn hóa” Như vậy có nghĩa là, trong tác phẩm văn học, chúng ta luôn tìm thấy hình
ảnh của văn hóa qua sự tiếp nhận và tái hiện của nhà văn Đó là bức tranh văn hóa dân gian trong thơ của bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, hay đó là những nét đẹp văn hóa truyền thống trong truyện ngắn và tùy bút của Nguyễn Tuân, và
đó là những tín ngưỡng, phong tục tập quán trong tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn
của Nguyễn Xuân Khánh (đạo Mẫu và tín ngưỡng phồn thực, tục thờ Thần Chó
đá, Thần Cây đa, Thần Thành hoàng, cách lên đồng, hát chầu văn…) Tác phẩm văn học còn dẫn chúng ta đi đến những nguồn mạch sâu xa của văn hóa qua việc
lí giải tấn bi kịch lịch sử như trong kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng hay
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
cốt cách người nông dân được đào luyện qua những biến thiên cách mạng trong
các truyện ngắn Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu
Văn hóa tác động đến văn học không chỉ ở đề tài mà còn ở toàn bộ hoạt động sáng tạo của nhà văn và hoạt động tiếp nhận của bạn đọc Nhà văn với thế giới nghệ thuật của mình là một sản phẩm văn hóa Người đọc, khi tiếp nhận tác phẩm cũng
sẽ được rèn luyện, bồi dưỡng thêm về thị hiếu thẩm mỹ trong một môi trường văn hóa nhất định Chính không gian văn hóa này đã chi phối cách lựa chọn đề tài, thể hiện chủ đề, xây dựng nhân vật, sử dụng thủ pháp nghệ thuật…trong quá trình sáng tác của nhà văn; và chi phối cách phổ biến, đánh giá, thưởng thức…trong quá trình tiếp nhận của người đọc Một nền văn hóa cởi mở, bao dung mới tạo điều kiện thuận lợi cho văn học phát triển Vì vậy, có thể nói văn học là thước đo, là “nhiệt kế” vừa định lượng, vừa kiểm nghiệm chất lượng và trình độ văn hóa của một xã hội trong một thời điểm lịch sử nhất định
Trên tinh thần đó, đã có khá nhiều nhà nghiên cứu căn cứ vào những dữ liệu của văn học để tìm hiểu bức tranh văn hóa của một thời đại Nói cách khác, thực tiễn văn học có thể cung cấp những cứ liệu đáng tin cậy cho khoa học nghiên cứu văn hóa Chẳng hạn, thông qua nội dung tái hiện của văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XX, người ta có thể chứng minh cho quá trình thâm nhập của văn hóa Tây
Âu trong xã hội thời kỳ này…
Nếu văn hóa chi phối hoạt động và sự phát triển của văn học, thì ngược lại, văn học cũng có sự tác động trở lại đến văn hóa Trước hết, văn học là nơi lưu giữ văn hóa, có những giá trị văn hóa từ lâu đã bị mai một theo thời gian nhưng chúng ta vẫn có thể bắt gặp trong các tác phẩm văn học, chính những tác phẩm văn học ấy đã đưa văn hóa đến với người đọc Cũng từ đó mà người đọc
có thêm những hiểu biết về văn hóa, góp phần vào việc lưu giữ và bảo tồn những giá trị văn hóa
Bên cạnh đó, văn học góp phần khẳng đinh, định hướng những giá trị văn
hóa nhân loại Bởi “những nhà văn tiên phong của dân tộc bao giờ cũng là những
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nhà văn hóa lớn” Bằng nghệ thuật ngôn từ, họ đấu tranh, phê phán những biểu
hiện văn hóa tiêu cực, đồng thời khẳng định những giá trị văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, giàu giá trị nhân bản Dù là phản ứng trước những làn sóng văn hóa tiêu cực hay cổ vũ cho sự tiếp biến văn hóa, giới trí thức sáng tác tinh hoa bao giờ cũng là những người tiên phong mở ra hướng nhìn về vận hội mới của văn hóa dân tộc
Tóm lại, giữa văn học và văn hóa có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết với nhau Sự ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau giữa văn hóa và văn học sẽ ngày càng làm cho nền văn hóa được bảo tồn và phát triển còn văn học cũng trở nên hoàn thiện hơn khi phản ánh được mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, con người
1.1.3 Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa
Giữa văn học và văn hóa có mối quan hệ hữu cơ mật thiết như vậy, cho nên việc tìm hiểu văn học dưới góc nhìn văn hóa là một hướng đi cần thiết và có triển vọng
Bên cạnh cách tiếp cận văn học bằng xã hội học, mỹ học, thi pháp học…cách tiếp cận văn học bằng văn hóa sẽ giúp chúng ta lí giải được một cách trọn vẹn hơn tác phẩm nghệ thuật Những yếu tố văn hóa liên quan đến thiên nhiên, địa lý, lịch sử, phong tục, tập quán, ngôn ngữ…có thể được vận dụng để cắt nghĩa những phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm Đồng thời nó cũng có thể góp phần lý giải tâm lý sáng tác, thị hiếu độc giả và con đường phát triển nói chung của văn học
Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa chính là việc đặt văn học trong không gian văn hóa với những đặc trưng của nó đã thâm nhập một cách tinh vi vào cảm quan sáng tạo của nhà văn Ở những người nghệ sĩ lớn, đó không phải là sự “ăn tươi nuốt sống” mà là sự tiêu hóa và thẩm thấu vào từng hình tượng, chi tiết của tấm thảm dệt ngôn từ Nền văn hóa dân tộc là mảnh đất ươm mầm cho văn học nảy nở, mang lại cho văn học một sức sống, một màu sắc riêng Mỗi nhà văn đều
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
chịu ảnh hưởng của một nền văn hóa riêng Vì thế muốn hiểu giá trị tư tưởng của một tác phẩm văn học ta không thể tách rời những yếu tố văn hóa thể hiện trong tác phẩm đó
Văn hóa không bao giờ là một hiện tượng thuần nhất Sự đan xen văn hóa đôi khi dẫn đến sự pha tạp, trộn lẫn, nhưng cũng có thể dẫn đến sự kết tinh, chưng cất nên những giá trị mới Về thời gian, khi cái cũ chưa bàn giao cho cái mới, văn học có thể là nơi hội tụ của những tìm tòi cho sự chuẩn bị chuyển tiếp thời đại Còn về không gian, khi một địa bàn trở thành ngã ba đường của sự giao lưu văn hóa, thì văn học có thể là nơi hòa giải của những xung đột tinh thần, nhằm tìm một tiếng nói cho sự chung sống giữa các nhóm người
Văn học không chỉ thừa hưởng và hấp thụ những yếu tố của một không gian văn hóa rộng như văn hóa phương Đông, văn hóa dân tộc Mà văn học còn thừa hưởng và hấp thụ những yếu tố của một không gian văn hóa hẹp là văn hóa tộc người, văn hóa vùng Sự giao lưu văn hóa của các vùng sẽ tạo ra những nét chung trong văn học của từng vùng, đồng thời nó vẫn giữ lại những nét riêng làm
cơ sở giúp ta nhận diện bộ mặt của từng vùng văn hóa, từ đó phân biệt “lãnh thổ” trên bản đồ văn học
Gần đây, nhờ UNESCO phát động những thập kỉ phát triển văn hóa, người
ta bắt đầu nhận thức được văn hóa là động lực của phát triển, thì phê bình văn học từ văn hóa càng được chú ý nhiều hơn Đặc biệt, khi bộ môn văn hóa học và nhân học văn hóa xuất hiện ở Việt Nam thì văn hóa bắt đầu được coi như một nhân tố chi phối văn học Phương pháp tiếp cận này được giới nghiên cứu vận dụng hoặc là tự giác, hoặc là tự phát trong một số công trình nghiên cứu Năm
1995, Trần Đình Hượu trong Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại
nghiên cứu văn học Việt Nam từ Nho giáo và đã chỉ ra được đặc điểm của giai đoạn văn học kể từ đầu Lê đến cuối Nguyễn Ông cũng nêu ra những hình mẫu nhà nho (hành đạo, ẩn dật, tài tử), tác giả của thứ văn học Nho giáo này, như là
một giả thuyết làm việc Điều này, về sau, được Trần Ngọc Vương trong Nhà
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nho tài tử và văn học Việt Nam (1995) cụ thể hóa bằng một cái nhìn loại hình học Đỗ Lai Thúy trong Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực đã lý giải những
biểu tượng lấp lửng hai mặt trong thơ bà bằng tín ngưỡng phồn thực, còn Trần
Nho Thìn trong Văn học trung đại Việt Nam dưới cái nhìn văn hóa (2003) thì
cho rằng nghiên cứu văn học trung đại từ những phạm trù cơ bản của văn hóa trung đại để tránh hiện đại hóa văn học dân tộc Nhưng có lẽ, Phan Ngọc là người
có ý thức trong câu chuyện này hơn cả Là một nhà văn hóa học, ông đã sớm lấy yếu tố văn hóa xã hội để tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” Rồi lại thử thách văn học bằng ngôn ngữ Và khi một số công trình của M Bakhtin được dịch và giới thiệu ở Việt Nam thì hướng đi này càng được thuyết phục
Như vậy, có thể thấy, nếu văn học có chức năng phản ánh hiện thực thì cũng không thể phản ánh trực tiếp được, mà chỉ có thể phản ánh thông qua “lăng kính” văn hóa, thông qua “bộ lọc” của các giá trị văn hóa Nhờ thế mà văn học tránh được sự phản ánh “gương”, phản ánh một cách trần trụi Và có lẽ, cũng nhờ thế mà văn học có một lối phản ánh đặc trưng, một phản ánh, như người ta thường nói, có nghệ thuật, có “nghiền ngẫm” (Lê Ngọc Trà)
1.2 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng
1.2.1 Tiểu sử và hành trình sáng tác của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng
Tiểu sử cuộc đời Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960), ông sinh ra và lớn lên tại làng Dục Tú, phủ Từ Sơn, tình Bắc Ninh (nay thuộc xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội) Nguyễn Huy Tưởng xuất thân trong một gia đình nho giáo nề nếp và thanh bạch Ông thân sinh, cụ Nguyễn Huy Liễn, là một nhà nho không làm việc với chính quyền thực dân, quanh năm sống giản dị trong lũy tre làng
Năm Nguyễn Huy Tưởng lên bảy tuổi thì cha mất, mẹ gửi ra Hải Phòng ở với gia đình người chị, học tiểu học ở trường Bonnal Ông bắt đầu tham gia các hoạt động yêu nước của thanh niên học sinh ở Hải Phòng năm 1930 Năm 1932, Nguyễn Huy Tưởng đậu bằng thành chung và cũng bắt đầu học chữ Hán Sau
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đó, Nguyễn Huy Tưởng làm thư ký nhà Đoan (Thuế quan) ở Hải Phòng năm
1935, rồi năm 1938 ông tham gia Hội Truyền bá Quốc ngữ và phong trào hướng đạo sinh ở Hải Phòng
Ông gia nhập nhóm Văn hóa cứu quốc bí mật năm 1943 và được bầu làm Tổng thư ký Hội Truyền bá Quốc ngữ Hải Phòng Sau đó ông tiếp tục hoạt động
ở Hà Nội, Nam Định và Phúc Yên
Tháng 6/1945, Nguyễn Huy Tưởng tham gia ban biên tập tạp chí Tiên Phong của Văn hóa cứu quốc Đến tháng 8 cùng năm, ông đi dự Đại hội quốc
dân ở Tân Trào Ông tham gia biên tập các tờ báo Cờ giải phóng, Tiên Phong
Tiếp đó ông giữ chức vụ Tổng thư ký Ban Trung ương Vận động đời sống mới Ngày 1-1-1946, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương và cũng năm
1946 ông được vào Quốc hội khóa I, giữ chức Phó thư ký Hội văn hóa cứu quốc Việt Nam Tháng 12 năm 1946, toàn quốc kháng chiến, ông tổ chức và đưa Đoàn văn hóa kháng chiến lên Việt Bắc Tiếp tục hoạt động văn hóa, ông là ủy viên
Thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam, sau đó làm thư ký toà soạn Tạp chí Văn nghệ và tham gia tiểu ban Văn nghệ Trung ương Đảng
Năm 1951, Nguyễn Huy Tưởng tham gia chiến dịch biên giới Trong hai năm 1953, 1954 ông công tác giảm tô trong cải cách ruộng đất Hòa bình lập lại
1954, ông làm Uỷ viên ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa 1
Bên cạnh công tác lãnh đạo Hội văn nghệ, Nguyễn Huy Tưởng còn tham gia nhiều hoạt động gây dựng phong trào văn nghệ quần chúng trong kháng chiến Ông có công phát hiện và bồi dưỡng nhiều cây viết trẻ trong quân đội Dù
ở cương vị và hoàn cảnh nào, Nguyễn Huy Tưởng luôn có những sáng tác kịp thời đóng góp cho văn học và cách mạng
Nguyễn Huy Tưởng mất ngày 25-7-1960, khi ông mới hoàn thành xong
tập 1 tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô Tháng 9 năm 1966, Nguyễn Huy Tưởng
được Nhà nước trao tặng giả thưởng Hồ Chí Minh, dành cho những tác phẩm tiêu biểu của ông viết ở hai thời kì trước và sau Cách mạng tháng Tám
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Hành trình sáng tác của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng
Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, ông đã say mê với những câu chuyện về các nhân vật anh hùng trong lịch sử Vùng đất Dục Tú quê hương ông, nơi mà có nhiều nhà nghiên cứu cho là “tất cả mọi cái đều là lịch sử” đã truyền cho ông sự say mê đặc biệt, về quá khứ oai hùng của cha ông, đồng thời cũng sớm đặt ra cho ông những băn khoăn của một người dân mất nước Năm 18 tuổi, khi còn là cậu học trò thành chung, ông đã xác định con đường đi của mình “Phận sự của một người tầm thường như tôi muốn tỏ lòng yêu nước thì chỉ có việc viết văn quốc ngữ mà thôi” Những trang viết đầu tay của Nguyễn Huy Tưởng còn lưu giữ được, cho thấy sự vụng về của một người không hẳn đã có năng khiếu bẩm sinh
về văn chương, nhưng cũng bộc lộ một khát vọng lớn lao, một tâm hồn nhạy cảm với những suy nghĩ nhiều khi vượt qua “tầm” của một học trò đang tập sự nghề văn Công việc đó thầm lặng kéo dài suốt từ năm 1930 cho đến những năm 1940,
khi ông bắt đầu có tác phẩm được công bố: bộ ba truyện, kịch lịch sử Đêm hội Long trì (1942), Vũ Như Tô (1942), An Tư (1943)
Nhật kí Nguyễn Huy Tưởng bắt đầu trang đầu tiên ngày 2 - 11 - 1930, ghi lại cảm tưởng của chàng trai Dục Tú 18 tuổi lúc này đang học trường Bonnal ở Hải Phòng Một tháng sau, anh xác định mục đích đời mình “ Tôi sẽ trở nên một người văn sĩ hoặc một người viết báo” Suốt mấy năm sau đó là quá trình Nguyễn Huy Tưởng đọc văn và học viết văn, bất kể là khi về quê Dục Tú hay khi theo học ở Hải Phòng
Nguyễn Huy Tưởng bắt đầu viết là viết kịch, và viết kịch văn xuôi và kịch bản điện ảnh Sự lựa chọn này cho thấy, Nguyễn Huy Tưởng ngay từ lúc trẻ đã
ưa thích loại hình nghệ thuật sân khấu và trong sự nghiệp của ông để lại thì kịch, nhất là các vở về đề tài lịch sử, chiếm một vị trí quan trọng
Tác phẩm đầu tay Đêm hội Long Trì mở đầu cho quá trình sáng tác của ông Đêm hội Long trì dựa trên những tư liệu lịch sử đề cập qua Hoàng Lê nhất thống chí và Việt Lãm xuân thu, khai thác câu chuyện xoay quanh quan hệ giữa
chúa Trịnh Sâm và hai chị em Đặng Thị Huệ và Đặng Mậu Lân Tiếp đó, với
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
quan điểm nhận thức tiến bộ hơn, Nguyễn Huy Tưởng đã viết Vũ Như Tô, vở
kịch lịch sử có giá trị sáng tạo về nhiều mặt Một trong những vấn đề lịch sử quan trọng nhất mà Nguyễn Huy Tưởng trân trọng say mê, đó là truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam trong hàng ngàn năm lịch sử
Nguyễn Huy Tưởng viết kịch Cột đồng Mã viện và tiểu thuyết An Tư dựa vào
hai hiện tượng lịch sử tuy không lớn nhưng là hai câu chuyên xót xa trong những năm đất nước bị xâm lược Có thể nói, toàn bộ sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng
ở thời kì trước cách mạng tháng Tám đều dành cho đề tài lịch sử
Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Huy Tưởng ghi lại những cảm
xúc ban đầu về khung cảnh đất nước đang trỗi dậy và hồi sinh Kịch Bắc Sơn
được tác giả viết ra trong sự tích tụ và bừng sáng của nhiệt tình cách mạng và
cảm hứng công dân Bắc Sơn thành công và được xem là một bước ngoặt cho
sân khấu cách mạng Hơn thế nữa, Nguyễn Huy Tưởng đã thành công với thiên
Ký sự Cao Lạng và những tác phẩm viết về Hà Nội kháng chiến, đặc biệt là những tiểu thuyết sử thi Sống mãi với Thủ đô - tác phẩm khép lại những chặng
đường sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng
Suốt thuở ấu thơ Nguyễn Huy Tưởng đã sống gắn bó với khoảng không gian êm đềm và không khí gia đình trong lành, ấm cúng Ngôi nhà, khoảng sân, chiếc ngõ, khu trường, cái xưởng gỗ với ánh trăng, bầu bạn và những trò chơi dân dã, cùng với khoảng không gian tinh thần yên ả đầy trìu mến mà những người ruột thịt đã chắt chiu, tạo dựng cho ông, đó là tất cả thế giới tuổi thơ của Nguyễn Huy Tưởng: phong phú mà không xô bồ, thân thuộc mà không đơn điệu, sinh động mà không xáo động Và cũng chính từ gia đình, Nguyễn Huy Tưởng đã được tiếp nhận nguồn học vấn quý giá đầu tiên Những câu chuyện sử sách về tấm gương của những người tài giỏi có công với làng với nước qua những câu chuyện kể đầy cảm kích của bà nội, những chuyện cổ tích do người cậu ông kể lại, vốn Nho học do bác và cụ đồ truyền cho…Tất cả đã thấm hòa vào ông để rồi sau này trở lại trong những truyện cổ tích ông viết cho lứa tuổi thiếu nhi Nguyễn
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Huy Tưởng là một trong số ít nhà văn sớm quan tâm đến việc viết cho thiếu nhi Ngay từ trước Cách mạng, ông đã từng viết những câu chuyện cho thiếu nhi in trong tủ sách “Hoa xuân” Nhýng những tác phẩm quan trọng nhất của ông cho ðối týợng này ðều xuất hiện sau nãm 1951 Nhiều truyện cho ðến nay vẫn ðýợc
coi là mẫu mực và ðýợc các em tìm đọc: Tìm mẹ, An Dương Vương xây thành
Ốc, Kể chuyện Quang Trung, Lá cờ thêu sáu chữ vàng Sáng tác cho thiếu
nhi có thể nói là một phần sự nghiệp, một phần tâm huyết trong đời văn của ông
Ở lĩnh vực này, Nguyễn Huy Tưởng xứng đáng là “nguồn sáng”, là “người dẫn đầu gương mẫu cho nền văn học thiếu nhi Việt Nam”
Tóm lại, hành trình sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng là hành trình của sự sáng tạo và cống hiến cho nghệ thuật Những tác phẩm của ông không chỉ là những giá trị văn học mà còn là “khát vọng một đời văn” của một người nghệ sĩ Trên con đường sáng tạo nghệ thuật của mình, Nguyễn Huy Tưởng đã chịu sự
ảnh hưởng rất nhiều từ gia đình và quê hương.“Môi trường trong sạch của một gia đình Nho giáo, những tấm gương đạo đức của những bậc tiền bối trong làng
sẽ giữ vững hướng đi của ông trên con đường trưởng thành và phát triển sau này như con quay hổi chuyển giữa trục quay của một vệ tinh nhân tạo bất chấp mọi ngả nghiêng.”[24]
1.2.2 Tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng
Văn chương là “một thứ phần thưởng rất hay” nhưng cũng lại là “một thứ hình phạt rất nặng” Nguyễn Huy Tưởng sớm cảm nhận chân xác điều ấy Vậy
mà ông vẫn đến với văn chương bằng thái độ dấn thân đầy quả quyết “Áo may không phải để chơi mà để mặc Ta không sợ áo của ta nhàu hay nát Người sinh
ra để hành động, không phải để tiếc thân, áo có nhàu, có nát, người ta phải sứt sẹo, đau khổ Đó là lẽ thường”[19] Chính bản lĩnh ấy, cốt cách khỏe khoắn ấy
đã tạo nên giá trị của ngòi bút ông, tạo nên phong độ cao sang riêng của người trí thức, người nghệ sĩ Nguyễn Huy Tưởng qua những chuyển động dữ dội, những thử thách nghiệt ngã của đời sống xã hội và văn học
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Nghệ thuật là sản phẩm của sự sáng tạo và nghệ sĩ là người thể hiện khát vọng sáng tạo ấy Trong tư duy và cảm quan nghệ thuật của mình, Nguyễn Huy Tưởng luôn hướng tới sự kiếm tìm nghệ thuật, mong sao sản phẩm tinh thần của mình không chỉ hữu ích mà còn thể hiện giá trị nghệ thuật, mang hiệu ứng thẩm
Nguyễn Huy Tưởng mong muốn sự có mặt của mình với lịch sử, với cuộc đời chung Dòng suy nghĩ ấy sẽ trở thành hành động cụ thể với cuộc sống mà trước hết là hoạt động văn chương
Phải nói rằng, lịch sử - là mối quan tâm sâu sắc và thường xuyên của Nguyễn Huy Tưởng Mối quan tâm ấy đã phủ khắp toàn bộ hầu hết các sáng tác của ông, đặc biệt là những trang tiểu thuyết, đó thực sự là những trang sử viết bằng văn chương của Nguyễn Huy Tưởng
Ở tiểu thuyết đầu tay Đêm hội Long Trì đã sớm hiển lộ tài năng viết
truyện lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng Ông đã làm sống lại dĩ vãng xa xưa, bị sức nặng của hàng mấy thế kỉ đào sâu chôn chặt Những phong tục, tập quán, lễ
nghi, những hội hè đình đám lộng lẫy với những tài tử giai nhân “ngựa xe như nước áo quần như nêm” hiển hiện trước mắt ta Rồi cảnh Đặng Mậu Lân quây
màn chướng hiếp người giữa phố, cung cách Trịnh Sâm uống chè, sinh hoạt của Trịnh Sâm và Đặng Thị Huệ trong cung thất, những thủ đoạn của Thị Huệ…tất
cả đều được hiện hữu một cách sống động
Tiếp tục khai thác đề tài lịch sử và đào sâu thêm vào chủ đề sức sống dân
tộc, Nguyễn Huy Tưởng viết tiếp An Tư - cuốn tiểu thuyết về cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Đọc An Tư ta cảm nhận được rất rõ không khí và màu sắc
thời đại mà nhà văn mô tả Người đọc rất tự nhiên bước vào cái thế giới do nhà
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
văn sáng tạo ra và cũng rất tự nhiên, vui sướng đau khổ ký thác tâm sự cùng người thiên cổ Tình yêu con người, đất nước, tinh thần thượng võ, những của cải tinh thần vô giá mà cha ông hương hỏa lại cho ta, ẩn kín đâu đó sâu thẳm trong tâm linh bỗng trỗi dậy, và ta càng tự hào, sung sướng vì mình là con Lạc
cháu Hồng An Tư là bức tranh hoành tráng về cuộc kháng chiến chông quân
Nguyên Chúng ta hình dung ra quy mô của cuộc xâm lược và sức chống trả của dân tộc ta Từ vị quốc công tiết chế đến người lính trong quân ngũ đều tự xóa mình đi, đều ước nguyện được xả thân vì nước Một cô công chúa sống trong lầu son gác tía như An Tư cũng thêu thùa may vá giúp các chiến sĩ ngoài mặt trận và biết đặt tình yêu Tổ quốc lên trên tình yêu đôi lứa
Qua An Tư, Nguyễn Huy Tưởng đã bắt được cái chất bi tráng của một thời
đại lịch sử thấm sâu trong số phận nhiều người Nguyễn Huy Tưởng đã tránh được cách nhìn sơ lược đối với những vấn đề lịch sử phức tạp Tiểu thuyết lịch
sử An Tư tuy kết thúc bằng cái chết của một vài nhân vật, nhưng nỗi buồn riêng
không hạn chế được cảm hứng phấn chấn chung trong niềm vui thắng trận của toàn dân tộc
Như vậy, trước Cách mạng tháng Tám, với hai bộ tiểu thuyết Đêm hội Long Trì và An Tư, Nguyễn Huy Tưởng đã sớm ưu tư về vận mệnh của đất nước
và dân tộc Khi Cách mạng tháng Tám thành công, kháng chiến toàn quốc bùng
nổ, Nguyễn Huy Tưởng bước vào chặng đường mới của lịch sử dân tộc Trong quá trình sáng tác của mình, ngòi bút của ông luôn hướng vào những vấn đề nóng hổi của đất nước và thời đại Nguyễn Huy Tưởng từ một cây bút chuyên khai thác đề tài lịch sử đã trở thành nhà văn thời sự trong “ý nghĩa chân chính của thuật ngữ này” Nhà văn Như Phong đã từng công nhận Nguyễn Huy Tưởng là một “nhà văn viết kịp thời nhất”
Sự đổi mới trong cảm hứng sáng tác này được thể hiện đậm nét qua những
trang tiểu thuyết như Truyện anh Lục, Bốn năm sau, đặc biệt hơn cả là tiểu
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
thuyết Sống mãi với Thủ đô
Với tiểu thuyết Truyện anh Lục sáng tác năm 1955, Nguyễn Huy Tưởng
đã thể hiện rõ nỗ lực sáng tạo của nhà văn khi đi sâu vào đề tài cải cách ruộng
đất, là mảnh đất còn ít người khai vỡ, lật xới lúc bấy giờ Truyện anh Lục là
chuyện một người nông dân, chuyện những người nông dân Anh nông dân ấy
và những người nông dân ấy đã phải trải qua những ngày đau khổ, đen tối vô cùng của chế độ cũ và khi hòa bình lập lại, nhân vật trung tâm của tiểu thuyết đã
“rũ bùn đứng dậy” làm người theo đúng nghĩa của nó Với Truyện anh Lục ngòi
bút của Nguyễn Huy Tưởng đã lấy quyền lợi của nhân dân làm lẽ sống, với nỗ lực khắc họa người nông dân trưởng thành từ sau Cách mạng tháng Tám
Tiếp theo, ở tiểu thuyết Bốn năm sau, các bài viết của Vũ Tú Nam, Nam
Mộc, Nguyễn Khải đều thừa nhận bước phát triển mới của ngòi bút Nguyễn Huy
Tưởng và nhà phê bình Nam Mộc đã đi sâu hơn: “Dưới ngòi bút lành nghề của Nguyễn Huy Tưởng, nhiều đoạn tả Điện Biên Phủ, tả lao động kiến thiết có màu sắc sử thi khá đậm Đồng thời những cảnh éo le trong đời sống tình cảm của Doan, Ngàn, Cường đã được thể hiện bằng những đoạn văn tế nhị, giàu tính chất kịch và tính chất trữ tình”[53] Với con mắt của một họa sĩ, Dương Bích Liên
khen Bốn năm sau “ là tài hoa, thơ mộng”[53]
Sau những tiểu thuyết viết về cuộc sống mới, con người mới như Truyện Anh Lục, Bốn năm sau Nguyễn Huy Tưởng trở lại với đề tài Hà Nội kháng
chiến, một đề tài ấp ủ với nhiều tâm huyết nhất, gắn bó với biết bao kỉ niệm và
vốn hiểu biết sâu sắc của nhà văn, Sống mãi với Thủ đô - tác phẩm khép lại những chặng đường sáng tác của ông Lịch sử nhưng thời sự, và Sống mãi với Thủ đô đã dựng lại cuộc kháng chiến của quân dân Hà Nội chỉ sau khoảng lùi
ngót 15 năm, còn rất thời sự, nhưng không khí truyện, âm hưởng truyện, màu sắc
truyện lại vẫn như được gội trong một màn sương lịch sử Sống mãi với Thủ đô
là tiểu thuyết đánh dấu trình độ trưởng thành của nghệ thuật tiểu thuyết hiện đại, cảm hứng lịch sử và dân tộc hòa quyện không khí bi tráng của sử thi, với thế giới
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nhân vật đông đảo, nhiều dáng vẻ mang tâm trạng, nỗi niềm riêng đã hấp dẫn và lôi cuốn người đọc từ sự kiện này đến biến cố khác, vừa hiện thực vừa lăng mạn
Như vậy, đánh giá về tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng, chúng ta có thể
dễ dàng nhận thấy nhìn chung tác phẩm của ông đều toát lên một bầu không khí lịch sử cho dù đó là những sáng tác trước Cách mạng tháng Tám hay trong thời bình Những giá trị lịch sử của dân tộc cứ thế mà tự nhiên býớc vào những trang vãn của ngýời nghệ sĩ đầy tài năng và giàu giá trị nhân bản Chính vì vậy, mà
nhà văn Tô Hoài từng coi Nguyễn Huy Tưởng là “Cây bút sử thi hết sức hùng tráng” vì “tấm lòng đối với lịch sử và quê hương từng tiềm thức gắn bó và thôi thúc”[18]
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tiểu kết chương 1
Ở chương 1, trên cơ sở tìm hiểu các khái niệm văn hóa, văn hóa Hà Nội, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa và văn học Và nhận thấy văn hóa và văn học có mối quan hệ mật thiết chặt chẽ với nhau Cho nên tiếp cận văn học thì góc nhìn văn hóa vừa là một hướng tiếp cận mới, vừa là hướng tiếp cận có nhiều triển vọng
Qua việc tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng, chúng tôi nhận thấy, Nguyễn Huy Tưởng bước vào làng văn khá muộn nhưng với các sáng
tác của mình trên nhiều thể loại, đặc biệt với tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô và kịch Vũ Như Tô đã làm sáng lên tên tuổi Nguyễn Huy Tưởng, khiến sáng tác
của ông luôn đồng hành cùng công chúng, bạn đọc và thời gian
Trên nền tảng ban đầu đó, chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu tiểu thuyết
Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng trên hai phương diện: nội dung
và nghệ thuật, hướng tới nhận diện dấu ấn văn hóa trong tác phẩm mà ông dành nhiều tâm huyết này
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 2 DẤU ẤN VĂN HÓA HÀ NỘI TRONG TIỂU THUYẾT
“SỐNG MÃI VỚI THỦ ĐÔ” CỦA NGUYỄN HUY TƯỞNG
2.1 Bức tranh thiên nhiên mang dấu ấn văn hóa trong tiểu thuyết Sống mãi
với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng
Thiên nhiên tự bao đời nay, có vai trò hết sức quan trọng với con người Cuộc sống của con người dường như phụ thuộc rất nhiều vào sự thay đổi của môi trường tự nhiên Do vậy, trong tâm thức, con người luôn mong muốn sống hòa mình với thiên nhiên, gắn bó với thiên nhiên Con người trong cuộc sống hàng ngày, bên cạnh việc khắc phục những hạn chế do thiên nhiên gây ra thì
họ cũng dành cho mình những phút giây thư giãn cùng thiên nhiên, họ ca ngợi thiên nhiên và biến nó thành một phần để tạo nên nền văn hóa dân tộc Những cảm xúc, suy nghĩ, phản ứng của con người trước thiên nhiên được xem là một biểu hiện của thái độ ứng xử văn hóa của con người Như vậy, khi nói đến văn hóa có nghĩa là ta đang nói đến mối quan hệ của hai yếu tố “con người và thiên nhiên”
Đến với văn chương, có thể nói thiên nhiên luôn là đối tượng phản ánh quen thuộc của người nghệ sĩ Thiên nhiên không chỉ là đề tài, là nguồn cảm hứng bất tận dành riêng cho người nghệ sĩ Mà nó còn là người bạn, là nơi gửi gắm tâm sự của con người Con người đến với thiên nhiên không chỉ để thưởng thức, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nó, mà còn giãi bày những niềm vui, nỗi buồn của mình Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu những sáng tác của Nguyễn Huy
Tưởng, đặc biệt là tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô, chúng tôi nhận thấy hiện
lên trong tác phẩm của ông bức tranh thiên nhiên mà trong từng trang giấy, bức tranh ấy thấm đẫm những dấu ấn văn hóa của người Việt Cách tác giả miêu tả thiên nhiên cũng chính là cách tác giả thể hiện thái độ ứng xử của mình với văn hóa dân tộc Với Nguyễn Huy Tưởng, tình yêu và niềm tự hào dành cho mảnh đất và con người Việt Nam bắt đầu từ tình yêu thiên nhiên Vẻ đẹp của thiên