1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Xử lý nợ xấu ở Việt Nam nhìn từ mô hình Trung Quốc và một số nền kinh tế khác

26 33 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để xây dựng một hệ thống ngân hàng mạnh, Việt nam đã có những giải pháp tích cực như: cấp vốn thêm cho các ngân hàng thương mại nhà nước, sắp xếp lại các ngân hàng thương mại cổ phần, từng bước nới lỏng hoạt động của các ngân hàng nước ngoài, áp dụng các chuẩn mực kế toán, xếp loại tín dụng, phân loại nợ theo tiêu chuẩn quốc tế, cơ cấu, thành lập các công ty quản lý tài sản (AMC) để xử lý nợ xấu cho các ngân hàng thương mại… Nhưng nợ xấu và xử lý nợ xấu vẫn là vấn đề hết sức nan giải, cần phải có những giải pháp hữu hiệu hơn.

Trang 1

Theo báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt nam, đến cuối năm 2003, tỷ lệ nợ xấu (quá hạn) của các ngân hàng thương mại Việt Nam chiếm 4,74% trong tổng dư nợ cho vay gần 300.000 tỷ VNĐ (tương đương với 14.200 tỷ VNĐ) Con số này chưa kể khoản nợ tồn đọng 21.280 tỷ VNĐ trước ngày 01/01/2001 mới chỉ xử lý được 13.386 tỷ đồng Nếu tính số chưa được xử lý cộng với số nợ tồn đọng nêu trên thì số nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại Việt Nam là 22.094 tỷ VNĐ (bằng 7,36% dư nợ và 3,4% GDP) Nhưng theo ý kiến của bà Susan Adams đại diện thường trú cao cấp của IMF tại Việt Nam và ông Klaus Rohland - Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam

* Tôi xin chân thành cảm ơn thầy Châu Văn Thành - Giám đốc Đào tạo, thầy Nguyễn Xuân Thành - nguyên Phó giám đốc phụ trách nghiên cứu, tiến sỹ Vũ Thành Tự Anh - phụ trách nghiên cứu Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright đã giúp tôi hình thành ý tưởng và hỗ trợ thực hiện bài viết này Xin cảm ơn các thành viên tham gia buổi thảo luận ngày 20/10/2004 tại Trường Fulbright đã góp ý cho tôi rất nhiều vấn đề bổ ích để tôi thực hiện bài viết này

Những nội dung, nhận xét, bình luận trong bài nghiên cứu này chỉ là ý kiến riêng của tác giả mà không phải là công bố của Trường Fulbright

Bản quyền © 2004 Chương trinh Giảng dạy Kinh tế Fulbright

Trang 2

thì nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam vào khoảng 15-20%1 (tương đương 45.000-60.000 tỷ VNĐ), chiếm từ 7-10% GDP Việt nam Theo đánh giá của một số chuyên gia thì tỷ lệ nợ xấu lên đến 30% (Thomas 2003) Đây là con số lớn, nhưng so với Trung Quốc, nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường trước Việt Nam gần một thập kỷ, thì con số này là không đáng kể Vào thời điểm cuối năm 2003, nợ xấu của các ngân hàng Trung Quốc là 480 tỷ USD, chiếm 24,8% tổng dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng và 36% GDP (Herrero&Santabárbara 2004)

Tỷ lệ nợ xấu cao của Trung Quốc và các nền kinh tế chuyển đổi chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp nhà nước mà nguyên nhân các doanh nghiệp này hoạt động không hiệu quả Để giải quyết nợ xấu ở các ngân hàng (giải pháp xử lý các khoản nợ xấu đã phát sinh)2, các nước áp dụng các mô hình xử lý nợ xấu khác nhau, có nước thành công, có nước không thành công Trung Quốc đã và đang có những nỗ lực nhất định, nhưng việc xử lý nợ xấu ở các ngân hàng vẫn chưa đem lại kết quả như mong đợi

Với đặc điểm chuyển đổi nền kinh tế nói chung, cải cách hệ thống tài chính ngân hàng nói riêng gần tương tự như Trung Quốc, liệu trong một vài năm nữa, tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng Việt Nam sẽ như thế nào? Ngay cả khi khối lượng nợ xấu không phát sinh thêm mà chỉ ở mức hiện tại thì những vấn đề rút ra cho Việt Nam từ Trung Quốc và một số mô hình xử lý nợ tiêu biểu trên thế giới (nhất là các nền kinh kế chuyển đổi) là gì? Đó chính là vấn đề được đặt ra trong bài nghiên cứu này

Để trả lời câu hỏi được đặt ra, bài viết sẽ đi tuần tự qua từng phần như sau: Phần thứ nhất là một sự so sánh giữa hệ thống ngân hàng Trung quốc và hệ thống ngân hàng Việt nam Phần tiếp theo sẽ đánh giá thực trạng và những nguyên nhân gây ra nợ xấu của hệ thống ngân hàng Trung Quốc và Việt nam nói riêng, các nền kinh tế nói chung Phần 3, đánh giá các mô hình xử lý nợ tiêu biểu, ưu điểm, nhược điểm, thành công và thất bại của nó Phần 4 đánh giá việc lựa chọn mô hình và kết quả xử lý nợ xấu ở Trung Quốc và Việt nam Phần 5 sẽ phân tích các nguyên nhân chính dẫn đến việc xử lý nợ xấu ở Trung Quốc

và Việt nam chưa đạt được kết quả như mong đợi Cuối cùng là các kết luận và đề xuất chính sách đối với việc xử lý nợ xấu tại các ngân hàng Việt nam

1 Hệ thống ngân hàng Việt Nam - bản sao của mô hình Trung Quốc?

Nhìn lại quá trình hình thành, phát triển và những việc mà hệ thống ngân hàng Việt Nam đã và đang trải qua cho chúng ta thấy rằng, Hệ thống ngân hàng Việt Nam gần như là bản sao của hệ thống ngân hàng Trung Quốc Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa được thành lập vào ngày 01/12/1948 (Trước thời điểm quốc khánh Trung Quốc), trên cơ sở hợp nhất các ngân hàng Bắc Hải, Hoa Bắc và Tây Bắc Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa trực thuộc Bộ Tài chính và hoạt động theo mô hình hệ thống ngân hàng một cấp (monobank), vừa làm nhiệm vụ phát hành tiền, vừa cung ứng tín dụng cho nền kinh tế Để thực hiện chức năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, một số ngân hàng chuyên doanh được thành lập và sau này trở thành bốn ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất Trung Quốc Đến tháng 09/1983, Hội đồng Nhà nước Trung Quốc đã quyết định để cho Ngân hàng Nhân Dân Trung Hoa hoạt động như Ngân hàng Trung ương Điều này có nghĩa là hệ thống ngân hàng hai cấp ở Trung Quốc chính thức được thành lập Trong thập niên 80, bốn ngân hàng chuyên doanh, sau này trở thành bốn ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất Trung Quốc có vai trò rất lớn gồm: Ngân hàng Trung Quốc (Bank of China - BOC), Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc (Construction China Bank - CCB), Ngân hàng Công thương Trung Quốc (Industrial and Commercial Bank of China - ICBC) và Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc (Agriculture Bank of China - ABC) Các ngân hàng này có nhiệm vụ cấp phát vốn cho những khu vực chuyên biệt (gần với tên gọi của chúng) và có quan hệ (phụ thuộc) rất chặt chẽ với Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa Cũng trong thời gian này, các hợp tác xã tín dụng, ngân hàng khu

Trang 3

vực, ngân hàng cổ phần bắt đầu được thành lập và hoạt động Các ngân hàng nước ngoài bắt đầu được tham gia theo hình thức liên doanh, thành lập chi nhánh hoặc thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài Luật Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa năm 1995 đã khẳng định lại vai trò ngân hàng trung ương của Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa Đồng thời trong giai đoạn này, các ngân hàng chính sách cũng được thành lập nhằm tách bạch tín dụng chỉ định và tín dụng thương mại Năm 1998, trước yêu cầu của việc xử lý nợ xấu, Chính phủ Trung Quốc đã rót 5 tỷ USD để thành lập 4 Công ty Quản lý tài sản với nhiệm vụ xử lý nợ cho 4 ngân hàng thương mại quốc doanh của Trung Quốc Trong kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khoá 10 (năm 2003) của Trung Quốc đã quyết định tách chức năng giám sát của Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa để thành lập Uỷ ban giám sát ngân hàng Trung Quốc Tháng 8/2004, lần đầu tiên một ngân hàng thương mại quốc doanh dược cổ phần hoá Đó chính là Ngân hàng Trung Quốc Hiện nay, các ngân hàng thương mại quốc doanh Trung Quốc vẫn chiếm lĩnh thị phần chủ yếu với 62% Trong khi các loại hình khác như 123 Ngân hàng khu vực, ngân hàng cổ phần chiếm 21,5%, 36.000 hợp tác xã tín dụng chiếm 11,4%, 157 chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ chiếm 1,2% thị phần (Herrero&Santabárbara 2004) và (Pei&Shirai 2004)

Đối với hệ thống ngân hàng Việt nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được thành lập vào ngày 06/05/1951 Tuy là thời điểm sau quốc khánh, nhưng là thời điểm trước khi giải phóng Miền bắc 1954 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lúc bấy giờ là Ngân hàng Quốc gia, hoạt động theo mô hình ngân hàng một cấp Để thực hiện nhiệm vụ cấp phát vốn cho nền kinh tế, các ngân hàng chuyên doanh lần lượt ra đời Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được thành lập năm 1957, Ngân hàng Nông nghiệp và Ngân hàng Ngoại thương được thành lập năm 1962, Ngân hàng Công thương Việt Nam được thành lập vào năm 1990 Năm 1990, hệ thống ngân hàng Việt Nam mới chính thức hoạt động theo mô hình ngân hàng 2 cấp sau khi Hội đồng Nhà nước Việt Nam ban hành các pháp lệnh ngân hàng năm 1989 - thời điểm hệ thống các hợp tác xã tín dụng bị đổ bể Chính điều này, khác với hệ thống ngân hàng Trung Quốc, các hợp tác tín dụng được đổi tên thành Quỹ tín dụng Nhân dân Từ năm 1990, các ngân hàng cổ phần bắt đầu được thành lập, các ngân hàng nước ngoài được tham gia dưới hình thức thành lập chi nhánh hoặc liên doanh với các ngân hàng trong nước Năm 1996, Ngân hàng người nghèo và sau đó đổi thành Ngân hàng chính sách được thành lập Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997, khẳng định lại vai trò Ngân hàng Trung ương của Ngân hàng Nhà nước Việt nam Năm 2000, bốn công ty quản lý tài sản được thành lập để làm nhiệm vụ xử lý nợ cho các ngân hàng thương mại quốc doanh, nhưng với mức vốn điều lệ chỉ 30 tỷ đồng Một con số hoàn toàn không tương xứng với số nợ hơn 21.000 tỷ đồng vào cuối năm 2000 Ngoài ra, còn có một công ty quản lý tài sản thuộc ngân hàng thương mại cổ phần, nhưng mức vốn điều lệ chỉ có 3 tỷ đồng Cũng giống như hệ thống ngân hàng Trung Quốc, 5 Ngân hàng Thương mại Quốc doanh vẫn chiếm thị phần chi phối với 75%, 37 ngân hàng thương mại cổ phần chiếm 11%, 27 chi nhánh ngân hàng nước ngoài chiếm 12%, các quỹ tín dụng nhân dân chỉ chiếm khoảng 1,5%3 Hơi khác với hệ thống ngân hàng Trung Quốc, hiện nay, Việt Nam chưa

có ngân hàng 100%4 vốn nước ngoài và các ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam chiếm một thị phần rất đáng kể, tới 12%, trong khi ở Trung Quốc chỉ có 1,2%

Hệ thống ngân hàng Việt Nam và Trung Quốc có một điểm khác biệt nữa là quy mô so với nền kinh tế Vào cuối năm 2003, tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng Trung Quốc lên đến 1.963 tỷ USD, bằng 165% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Trong khi tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng Việt Nam chỉ khoảng 20

tỷ USD, bằng 50% GDP Một con số còn khiêm tốn Tuy nhiên, với mức độ tăng trưởng tín dụng trên 25% trong những năm qua, thì chỉ trong một thời gian ngắn nữa, dư nợ cho vay sẽ vượt quá GDP Tốc

độ tăng trưởng tín dụng cao như vậy đã được IMF, WB khuyến cáo là nóng, không có lợi cho việc ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển dài hạn

Quá trình phát triển và cơ cấu hệ thống ngân hàng Trung Quốc và Việt Nam có thể tóm tắt theo hộp dưới đây

3 Nguồn Ngân hàng Nhà nước Việt nam, IMF và tính toán của tác giả

4 Theo Hiệp định thương mại Việt nam Hoa kỳ (BTA), đến năm 2010, các ngân hàng 100% vốn của Hoa Kỳ mới được phép thành lập và hoạt động tại Việt nam

Trang 4

Hộp 1:

CÁC MỐC LỊCH SỬ CHÍNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM

NA: Không có số liệu

Nguồn: Herrero&Santabárbara 2004, Ngân hàng Nhà nước Việt nam, IMF và ước tính của tác giả

Trang 5

2 Nợ xấu và quá trình phát sinh nợ xấu ở Trung Quốc và Việt nam

Khối lượng nợ xấu ở các ngân hàng Trung Quốc và Việt Nam

Việc phân loại nợ có nhiều tiêu chí khác nhau Theo chuẩn chung thì một khoản nợ được xem là xấu khi không còn khả năng thu hồi, bất kể nó là khoản mới cho vay hay đã cho vay từ lâu (không phân theo thời gian mà phân theo bản chất nợ) Tiêu chí này đang dần được áp dụng tại Trung Quốc và Việt nam Tuy nhiên, phân loại nợ theo thời gian vẫn là tiêu chí đang được áp dụng tại Trung quốc và Việt nam Trong bài Viết này, xin tạm dùng định nghĩa nợ xấu là các khoản nợ không thu hồi được đúng thời hạn Khối lượng nợ xấu tính đến thời điểm cuối năm 2003 của các Ngân hàng Trung Quốc và Việt Nam như sau:

Nguồn: Herrero&Santabárbara 2004, Ngân hàng Nhà nước Việt nam, IMF và ước tính của tác giả

Những nguyên nhân phát sinh nợ xấu

Đối với một nền kinh tế, một hệ thống tài chính ngân hàng, nợ xấu phát sinh tập trung chủ yếu vào các nguyên nhân chính sau:

Các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài Vấn đề ở đây là sự việc kéo dài trong nhiều năm,

các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả do nhiều nguyên nhân Thua lỗ kéo dài dẫn đến việc

5 Theo báo cáo kiểm toán do Ernst & Young thực hiện, ở Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, tổng dư nợ không đạt tiêu chuẩn chiếm 67%, nợ dưới chuẩn 33,5% trong 52.860 tỷ đồng dư nợ cho vay vào cuối năm 2003

Trang 6

không thể hoàn trả được các khoản công nợ, nhất là các khoản nợ vay ngân hàng Đây là loại nợ khó xử

lý nhất và nó bị tồn đọng trong nhiều năm, bản chất là đã mất vốn, không còn tài sản tương ứng với các khoản nợ này Đây cũng chính là nguyên nhân chính trong việc phát sinh nợ xấu ở các nước kém phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi Các khoản nợ này thường tập trung vào các doanh nghiệp nhà nước hoặc các đối tượng doanh nghiệp được chính phủ ưu tiên

Mối quan hệ ràng buộc giữa chính phủ và các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhà nước trong các nền kinh tế chuyển đổi: Chính sự trợ giúp của chính phủ đã tạo ra tâm lý ỷ lại “không trưởng thành” được

của các doanh nghiệp nhà nước János Kornai đã mô tả mối quan hệ ràng buộc này trong quyển sách

“Hệ thống Xã hội chủ nghĩa” đã được dịch giả Nguyễn Quang A dịch sang tiếng Việt do Nhà xuất bản Văn hoá – Thông tin xuất bản năm 2002 như sau:

Hộp 2:

SỰ PHỤ THUỘC DỌC CỦA XÍ NGHIỆP

1 Gia nhập: Nhìn chung bộ máy quan liêu vẫn quyết định về việc thành lập mới các doanh

nghiệp độc lập thuộc sở hữu công cộng Bộ máy quan liêu thậm chí còn quyết định việc cấp phép thành lập các doanh nghiệp tư nhân và có cho phép cạnh tranh nhập khẩu không

2 Rút lui: Bộ máy quan liêu quyết định khi nào giải thể một doanh nghiệp thuộc sở hữu công

cộng Việc này có quan hệ mật thiết thiết với hiện tượng ràng buộc ngân sách mềm

3 Sáp nhập và tách: Cơ hội khởi xướng việc sáp nhập hay tách các xí nghiệp tăng lên, nhưng

bộ máy quan liêu vẫn có quyền phán quyết cuối cùng

4 Bổ nhiệm lãnh đạo: Bộ máy quan liêu hoặc quyết định trực tiếp hoặc có ảnh hưởng mang

tính quyết định đến việc bổ nhiệm, chọn hay chuẩn y sự lựa chọn

5 Đầu ra và đầu vào: Sự can thiệp của bộ máy quan liêu có thể là sự hỗ trợ hiệu quả khi có

khó khăn mua một nguyên liệu đầu vào nào đó Sự can thiệp này về đầu vào nhiều khi dẫn đến sự can thiệp không chính thức về đầu ra Sự xoá bỏ kiểm soát đã làm tăng vai trò của của những hợp đồng tự nguyện trong các mối quan hệ giữa người bán và người mua

6 Xuất nhập khẩu và trao đổi ngoại hối: Vai trò của doanh nghiệp sản xuất đã tăng đáng kể

trong các giao dịch xuất nhập khẩu Nhưng thậm chí cả khi doanh nghiệp được phép chính thức tham gia hoạt động ngoại thương, mà không phải nhờ vả đến một doanh nghiệp chuyên làm ngoại thương khác, thì các cơ quan cấp cao vẫn can thiệp bằng nhiều cách khác nhau như: việc quy định các mặt hàng xuất khẩu, thúc ép xí nghiệp hoàn thành các đơn hàng nhất định, ưu tiên một số thị trường và loại trừ các thị trường khác Về nhập khẩu, hạn ngạch được thiết lập hoặc mỗi hợp đồng phải đi kèm với một thủ tục cấp phép Cùng với tất cả các điều này, vẫn còn sự tập trung hoá chặt chẽ liên tục trong quản lý ngoại hối

7 Sự lựa chọn công nghệ và phát triển sản phẩm: Các cơ quan cấp cao thường can thiệp vào việc

lựa chọn công nghệ của doanh nghiệp cũng như việc lựa chọn các sản phẩm mới Từ việc trợ cấp, các phương tiện tín dụng, đến giấy phép nhập khẩu… thường đều gắn bó với lựa chọn này

8 Giá cả: Phi điều tiết từng phần được thực hiện trong việc định giá Một dải rộng giá cả vẫn

được quy định bởi các cơ quan có thẩm quyền, tuy vậy họ vẫn can thiệp vào việc quy định các mức giá, mà trên danh nghĩa người bán và người mua tự do quyết định Các phương pháp tính toán được quy định, mức lãi được cố định và nếu mức giá được coi là cao một cách vô lý thì họ phản đối

9 Việc làm và lương: Những giới hạn nhiều loại khác nhau ngăn cản việc thoả thuận tự do về

Trang 7

lương giữa xí nghiệp sử dụng lao động và người lao động Thường xuyên có sự can thiệp

về việc làm thông qua các quy định chính thức hay không chính thức về các giới hạn trên

và giới hạn dưới về việc làm

10 Thuế và trợ cấp: Trên danh nghĩa, hệ thống thuế có hiệu lực thống nhất cho các doanh

nghiệp Trên thực tế, thì việc định mức thuế riêng cho một ngành hay cho một doanh nghiệp cụ thể là rất phổ biến và ngoài ra người ta còn có những nhượng bộ riêng lẻ về thực hiện nghĩa vụ thuế - cả về số thuế lẫn thời hạn nộp thuế

11 Tín dụng và thanh toán nợ: Các đặc điểm của chế độ quan liêu vẫn tiếp tục chi phối hoạt

động của ngành ngân hàng Quan hệ giữa một ngân hàng và một xí nghiệp không phải là quan hệ thương mại theo chiều ngang, trong đó ngân hàng quan tâm đến chính lợi nhuận của mình, mà nó hoạt động như một ngành của chế độ quan liêu nhằm duy trì sự kiểm soát đối với doanh nghiệp

12 Đầu tư: Phi điều tiết từng phần xảy ra trong việc quyết định đầu tư Ở tất cả các nền kinh

tế xã hội chủ nghĩa cải cách, có thể thấy sự gia tăng đáng kể tỷ trọng các khoản đầu tư mà doanh nghiệp có thể quyết định độc lập và nguồn tài chính chủ yếu là các khoản trích lại

từ lợi nhuận Tỷ trọng các khoản đầu tư không hoàn lại từ ngân sách giảm xuống, và vai trò của tín dụng ngân hàng tăng lên Cho dù các khoản đầu tư từ nguồn tài chính tự có của doanh nghiệp tăng lên đáng kể, nhưng mức độ phi tập trung hoá thực tế khiêm tốn hơn thế nhiều Các dự án lớn đòi hỏi sự tài trợ thêm ngoài các nguồn tài chính tự có của xí nghiệp Điều này mở ra khả năng can thiệp đối với quyết định đầu tư từ các tổ chức tài chính nhà nước cung cấp vốn, từ ngân sách nhà nước hoặc từ hệ thống ngân hàng được tập trung hoá chặt chẽ

Những chính sách không hiệu quả hoặc nhà nước thay đổi chính sách tác động đến một số ngành, một số doanh nghiệp Như chính sách đóng cửa rừng những năm cuối thập niên 90 đã ảnh hưởng không ít đến một số

doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực chế biến lâm sản Chính sách xây dựng các nhà máy đường, chính sách dữ trữ cà phê Sự thay đổi hoặc áp dụng các chính sách không hiệu quả nhiều khi gây ra những khối lượng nợ xấu rất lớn cho các ngân hàng6 Điều này cũng thường xảy ra đối với các nền kinh tế chuyển đổi Vì quá trình vừa làm vừa rút kinh nghiệm không tránh khỏi những điều bất hợp lý mà không thể lường đoán trước được

Nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng Do phản ứng dây chuyền, các doanh nghiệp tạm thời mất khả

năng thanh khoản không đủ tiền để trả các khoản nợ vay Các khoản nợ xấu phát sinh do nguyên nhân này là tương đối dễ xử lý và có thể xử lý trong một thời gian ngắn vì cơ bản các khoản nợ vẫn được cấn đối bằng các tài sản nằm bên trái bản cân đối chứ không phải là những khoản phải thu hay chi phí chờ phân bổ không bao giờ thực hiện được Về bản chất kinh tế, hầu hết các doanh nghiệp vẫn có khả năng phục hồi và hoạt động kinh doanh có hiệu quả

Đối với các nền kinh tế chuyển đổi từ mô hình kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường, dù có chuyển đổi ngay hay làm từng bước một thì các doanh nghiệp nhà nước vẫn là khách hàng chính và là đối tượng gây ra nợ xấu cho các ngân hàng thương mại nhà nước nhiều nhất Những khoản nợ xấu này chiếm tỷ lệ chủ yếu trong nợ xấu của các ngân hàng thương mại quốc doanh Đây cũng chính là sự khác biệt rất lớn trong việc xử lý nợ xấu của các nền kinh tế chuyển đổi và các nền kinh tế thị trường rơi vào khủng hoảng nói chung, xử lý nợ của hệ thống tiết kiệm ở Hoa Kỳ vào cuối thập niên 80 nói riêng

6 Tổng khối lượng đầu tư cho chương trình mía đường của Việt nam gần 700 triệu USD Nợ khoanh cho các doanh nghiệp cà phê gần 1.000 tỷ đồng

Trang 8

Đối với Trung Quốc và Việt nam, nợ xấu phát sinh chủ yếu là do nguyên nhân thứ nhất và thứ hai, tức

là do các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả và do sự thay đổi chính sách hoặc chính sách không thành công Để thấy rõ vấn đề này, chúng ta cùng xem xét con nợ của các ngân hàng thương mại quốc doanh Trung quốc và Việt Nam là ai?

Đối với Trung Quốc, đến cuối năm 2001, Trung Quốc còn 174.000 doanh nghiệp nhà nước, với tổng tài

sản khoảng 2.032 tỷ USD, tổng nợ 1.186 tỷ USD, vốn chủ sở hữu 749 tỷ USD Như vậy tỷ lệ nợ/vốn chủ

sở hữu bằng 158% Trong đó có 51,2% doanh nghiệp thua lỗ, số tài sản không luân chuyển (unhealthy asset) của các doanh nghiệp địa phương chiếm 15% tổng tài sản của các doanh nghiệp này (tương

đương 186 tỷ USD)(Mako&Zhang 2003) Tổng dư nợ của các doanh nghiệp nhà nước trong các ngân

hàng thương mại chiếm 75% (Unteroberdoester 2004)7 Nợ xấu của các ngân hàng thương mại quốc doanh Trung Quốc chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước (Pei&Shirrai 2004)

Đối với Việt nam, đến cuối năm 2003, cả nước còn khoảng 4.800 doanh nghiệp nhà nước, tổng số vốn

được đánh giá lại khoảng 189.000 tỷ đồng, bình quân mỗi doanh nghiệp sở hữu 40 tỷ đồng, song số doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm tới 47%, đa số do địa phương quản lý Tổng số nợ phải thu, phải trả là gần 300.000 tỷ đồng, trong đó khoản phải trả là 207.789 tỉ đồng mà các khoản nợ phải trả chủ yếu là vay ngân hàng (NH) và các tổ chức tín dụng (chiếm khoảng 76% nợ phải trả)8 Thực tế trong 3 năm qua, tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước chỉ ở mức 10% Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn là 10,8% Số doanh nghiệp có lãi chiếm 77%, nhưng chỉ khoảng 40% trong số đó có mức lãi cao hơn lãi suất huy động vốn của các ngân hàng thương mại9 Nếu loại trừ các doanh nghiệp có những lợi thế riêng biệt như bưu chính viễn thông, điện, khai khoáng, tài chính ngân hàng… và sử dụng suất chiết khấu hợp lý10 thì số doanh nghiệp có NPV <0 sẽ chiếm tỷ trọng đa số Theo IMF, dư nợ cho vay các doanh nghiệp nhà nước của các ngân hàng Việt Nam chiếm 37.8% (Unteroberdoester 2004) tổng dư nợ Nhưng nếu loại trừ phần dư nợ cho vay các hộ nông dân (có tính chất tương tự các khoản cho vay chỉ định vì nó có một số điều kiện ưu đãi và nỗ lực trả nợ của những hộ nông dân này là rất thấp, điển hình là chương trình cho vay đánh bắt hải sản xa bờ và chương trình cho vay xây nhà sống chung với lũ) và chỉ tính riêng các ngân hàng thương mại quốc doanh thì tỷ trọng dư nợ của các doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng rất lớn Khối lượng nợ xấu chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp này11

3 Các mô hình xử lý nợ

Nợ xấu và xử lý nợ xấu luôn là vấn đề đau đầu của hầu hết các quốc gia, các hệ thống tài chính và của từng tổ chức tài chính riêng biệt Khi khối lượng nợ xấu của các tổ chức tài chính gia tăng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung, hệ thống tài chính nói riêng Điều này đặt ra yêu cầu cho tất cả các nước cần phải có những biện pháp xử lý và ngăn chặn các khoản nợ xấu phát sinh Trong quá trình phát triển, hệ thống tài chính của nhiều quốc gia đã rơi vào khủng hoảng, phát sinh khối lượng

nợ xấu rất lớn Tuỳ theo đặc điểm riêng mà mỗi nước đã và đang áp dụng các mô hình xử lý nợ khác nhau Có nước thành công, có nước không thành công Nguyên nhân tạo ra sự khác biệt là gì? Dưới đây

là mô hình xử lý nợ của một số nước

Trước khi đi vào mô hình của từng quốc gia hay nhóm quốc gia cụ thể, chúng ta cùng xem qua hai mô hình xử lý nợ chính, đó là mô hình xử lý nợ tập trung và mô hình xử lý nợ không tập trung (Centralized and Decentralized Model)

11 http://www.vnn.vn/kinhte/2004/09/261340/

Trang 9

Mô hình xử lý nợ tập trung (điển hình là mô hình của Hoa Kỳ): Đây là mô hình mà nhà nước sẽ đóng vai trò

chính trong quá trình xử lý nợ bằng việc thành lập ra cơ quan xử lý nợ quốc gia (thường là công ty xử lý

nợ quốc gia) Cơ quan này có trách nhiệm chính trong việc xử lý tất cả các khoản nợ xấu của nền kinh tế được chuyển giao từ các tổ chức tài chính Ưu và nhược điểm của các AMC tập trung được mô tả theo hộp dưới đây:

Hộp 3:

ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA AMC TẬP TRUNG

Ưu điểm

 Tạo ra lợi thế kinh tế do qui mô lớn, tức là tập trung nguồn kỹ năng cơ cấu tài chính và

nguồn lực vốn khan hiếm vào một cơ quan

Trợ giúp việc chứng khoán hóa vì AMC công trung ương quản lý một cơ sở tài sản lớn hơn

 Tập trung về trung ương quyền sở hữu đối với tài sản thế chấp, tạo ra sức mạnh đòn bẩy

lớn hơn đối với con nợ và quản lý tốt hơn

 Phá vỡ sự liên kết giữa ngân hàng và công ty và cải thiện khả năng thu hồi nợ

 Cho phép ngân hàng tập trung vào hoạt động kinh doanh cốt lõi

 Cải thiện triển vọng tái cơ cấu ngành trong trật tự cho nền kinh tế

 Cho phép áp dụng các biện pháp thống nhất về tái cơ cấu tài chính

 Đẩy nhanh việc thu hồi nợ và tái cơ cấu ngân hàng khi được trao quyền hạn đặc biệt

Nhược điểm

tin về khách vay vốn

thu hồi nợ và tránh thua lỗ trong tương lai bằng cách cải thiện thủ tục phê duyệt và theo

dõi vốn vay

 Ngân hàng có thể cho vay thêm, điều này có thể là cần thiết trong tiến trình tái cơ cấu

hiện diện của một AMC có thể dẫn đến sự suy đồi chung về kỷ cương thanh toán và suy

giảm nhiều hơn nữa của giá trị tài sản

 Cách ly một cơ quan công khỏi áp lực chính trị có thể là điều khó khăn, nhất là nếu cơ

quan đó quản lý một tỷ lệ lớn tài sản của hệ thống ngân hàng

(Klingebiel 1999)

Mô hình xử lý nợ phi tập trung (điển hình là mô hình của Thuỵ Điển): Theo mô hình này thì các ngân hàng

sẽ tự xử lý các khoản nợ xấu của mình bằng việc thành lập ra AMC hoặc bộ phận xử lý nợ riêng hoặc là các tư nhân đứng ra thành lập các công ty xử lý nợ Và điều đương nhiên là các AMC tư nhân này hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận Những lợi thế và bất lợi của mô hình này gần như ngược lại với mô hình

xử lý nợ tập trung

Công ty xử lý tài sản quốc gia của Hoa Kỳ (The Resolution Trust Company in the United States)

RTC được thành lập như một cơ quan xử lý nợ nhanh vào năm 1989 để xử lý các khoản nợ xấu của các hiệp hội tiết kiệm và cho vay Như một cơ quan nhà nước, RTC có rất nhiều mục tiêu, gồm: Tối đa hoá thu nhập ròng từ việc bán các tài sản được chuyển nhượng; tối thiểu hoá tác động lên các thị trường địa

ốc và thị trường tài chính địa phương; tối đa hoá việc tạo ra nhà ở cho các cá nhân có thu nhập thấp RTC thực hiện việc xử lý đối với cả hai loại nợ luân chuyển thông thường và nợ tồn đọng, khó xử lý (Performing and non-performing assets) Kết quả xử lý nợ của RTC là rất tốt Tổng số tài sản mà RTC

đã xử lý được là 465 tỷ USD bằng 8,5% tổng tài sản trong khu vực tài chính, tương đương 8,5% GDP của Hoa Kỳ năm 1989 (Bonin&Huang 2002)

Trang 10

Nguyên nhân tạo ra thành công của RTC là do tổng khối lượng nợ xấu chỉ bằng 3% tổng tài sản tài chính trong giai đoạn khủng hoảng trầm trọng nhất Hơn thế nữa, khoảng 50% tài sản là các khoản vay bất động sản và vay cầm cố, 35% là tiền mặt và các loại chứng khoán khác Vì vậy, nhiều tài sản được chuyển nhượng là rất tốt và dễ dàng bán thông qua việc đóng gói, chứng khoán hoá và đấu giá trên thị trường tài chính phát triển nhất thế giới RTC chỉ hoạt động trong một thời gian ngắn và đã hoàn thành

sứ mệnh vào năm 1995 Một trong những yếu tố hết sức quan trọng khác tạo ra sự thành công này là các nhân sự cao cấp của RTC được lấy từ Công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang (đây là cơ quan có sự hiểu biết rất rõ về vấn đề lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại trong hoạt động tài chính) và đội ngũ nhân viên của

họ có rất nhiều kinh nghiệm trong việc xử lý các tổ chức tài chính khó khăn, lâm vào tình trạng phá sản Mặt khác, RTC đã dựa vào những nhà thầu tư nhân để đánh giá, quản lý và bán nhiều tài sản Một cấu trúc quản lý hiệu quả đã cho phép RTC thu hồi 1/3 tài sản được chuyển nhượng, giảm thiểu đáng kể khối lượng nợ phải bán

Mặc dù tỷ lệ thu hồi trên tổng tài sản được chuyển nhượng đạt 86%, nhưng tổng chi phí hoạt động của RTC là 88 tỷ USD, bằng 20% giá trị tài sản được chuyển nhượng và bằng 1,5% GDP năm 1989 Theo Klingebiel, có nhiều yếu tố không thuận lợi ảnh hưởng đến hoạt động của RTC như: việc tài trợ của chính phủ rời rạc làm gia tăng chi phí xử lý; việc xử lý tài sản nhanh chóng bị cản trở bởi nhiều mục tiêu không nhất quán đan xen

Tuy có một số khó khăn, trở ngại, nhưng nhìn chung hoạt động của RTC là rất thành công vì đã có những điều kiện rất thuận lợi và những yếu tố cơ bản giúp nó thực hiện được sứ mệnh của mình

Mô hình các nước Đông Á sau khủng hoảng 1997 (mô hình tập trung)

Đối với những con rồng, con hổ châu Á, năm 1997 quả là một cơn ác mộng đối với họ, Vấn đề còn trầm trọng hơn đối với hệ thống tài chính Sau cuộc khủng hoảng này, hàng loạt các tổ chức tài chính, các ngân hàng rơi vào tình trạng phá sản Tỷ lệ nợ xấu gia tăng đáng kể Để giải quyết vấn đề này, dù sớm hay muộn các nước Đông Á đều đã thành lập cơ quan xử lý nợ quốc gia như: Indonesia Bank Restructuring Agency (IBRA), Korea Asset Management Company (KAMCO), Thai Asset Management Company (TAMC), DANAHARTA của Malaysia Kết quả chỉ hơn 7 năm sau khủng hoảng, việc xử lý

nợ xấu của các nước này đã cơ bản hoàn tất IBRA đã ngừng hoạt động, DANAHARTA và TAMC dự kiến sẽ chấm dứt hoạt động vào năm 2005, KAMCO đã tham gia xử lý 125 tỷ USD nợ xấu xuống còn 15

tỷ USD12

Nguyên nhân dẫn đến thành công trong xử lý nợ của các nền kinh tế Đông Á là do khủng hoảng xảy ra đột ngột, các doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất thanh khoản tạm thời nên chưa thể hoàn trả đúng hạn các khoản nợ và các ngân hàng phải chuyển nợ quá hạn làm cho tỷ lệ nợ xấu tăng cao, nhưng về mặt bản chất, chủ nợ của các các khoản nợ nêu trên vẫn còn khả năng phục hồi và hoạt động hiệu quả

là rất cao Chính điều này làm cho việc xử lý nợ của các nền kinh tế Đông Á có tính khả thi cao Nói chung các nền kinh tế Đông Á xử lý nợ hiệu quả là các khoản nợ đều có con nợ và các con nợ này có nỗ lực trả nợ

Từ mô hình xử lý nợ của Hoa Kỳ và các nền kinh tế Đông Á cho thấy rằng, việc xử lý nợ xấu sẽ có tính khả thi cao nếu các khoản nợ được đảm bảo hoặc các khoản nợ vẫn còn con nợ và con nợ có nỗ lực trả

nợ Đối với loại nợ này, sử dụng mô hình xử lý nợ tập trung sẽ mang lại thành công

Mô hình các nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu

Mô hình của Cộng hoà Séc(mô hình tập trung): Bắt đầu quá trình cải cách hệ thống ngân hàng vào đầu

những năm 1990 Lúc này, tất cả vốn lưu động của các doanh nghiệp nhà nước được tài trợ bởi các khoản tín dụng ngắn hạn theo hạn mức với lãi suất thấp được xem là các khoản vay khó đòi (TOZ) (Bonin&Huang 2002) Với mục tiêu tái cấu trúc các khoản vay này theo các điều kiện thương mại, Séc

12

http://www.vir.com.vn/Client/Dautu/dautu.asp?CatID=13&DocID=3809

Trang 11

đã thành lập centralized hospital bank với tên gọi là Konsolidacni Banka (KnB) Tất cả các khoản vay khó đòi (TOZ) được chuyển nhượng cùng với một lượng tương ứng các khoản tiền gửi doanh nghiệp

từ các ngân hàng khác Tuy nhiên, các khách hàng là doanh nghiệp nhà nước vẫn duy trì quan hệ với các ngân hàng mà nó đang cung cấp các dịch vụ ngân hàng và các khoản vay mới Qua nhiều thời kỳ, nhiều khoản vay khác được phân loại nợ xấu và chuyển từ các ngân hàng lớn nhất cộng hoà Séc cho KnB để xử lý và nhà nước tái cấp vốn cho các ngân hàng này Mặc dù được xem thời điểm cải cách là phù hợp, nhưng Séc đã thất bại trong việc tái cấu trúc hệ thống tài chính với mục tiêu xây dựng 4 ngân hàng quốc doanh lớn nhất thành các trụ cột của hệ thống và tách bạch các khoản cho vay chỉ định với các điều kiện ưu đãi sang một ngân hàng chuyên biệt Nguyên nhân thất bại ở đâu? Đơn giản là vì nền tảng cho khu vực ngân hàng định hướng thị trường mạnh chưa được thiết lập Các ngân hàng lớn vẫn chưa có sự độc lập từ Chính phủ Nhà nước vẫn chiếm cổ phần chi phối trong các ngân hàng sau khi chúng được cổ phần hoá Thứ hai, các ngân hàng không những vẫn giữ lại mối quan hệ với các khách hàng mà còn nắm giữ cổ phần của các khách hàng này trong quá trình cổ phần hoá Điều này đã làm nảy sinh vấn đề mâu thuẫn giữa lợi ích của chủ sở hữu và chủ nợ Khi có một cuộc khủng hoảng tiền tệ nhỏ tác động, bảng cân đối của các ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng Một điểm thú vị là là chính sách bảo hộ của chính phủ Séc đã cho phép các ngân hàng nội địa duy trì một dải rộng và thu nhập các biên lợi nhuận đáng kể Mặc dù trong môi trường này trong các ngân hàng có thể tự cấp vốn Vấn đề nợ xấu không được xử lý vì các khoản tín dụng mềm vẫn được tiếp tục Để giải quyết triệt để vấn đề này, các ngân hàng lớn của Séc cần một đợt tái cấp vốn đáng kể trước khi có thể bán cho các nhà đầu tư nước ngoài Ước tính tổng chi phí của việc tái cấu trúc các ngân hàng của Séc lên đến 30% GDP Đây là con số cao nhất trong chương trình tái cấu trúc của các nền kinh tế chuyển đổi (Bonin&Huang 2002)

Mô hình Hungary (mô hình phi tập trung): Ngược lại với Cộng hoà Séc, Hungary theo đuổi chính sách cổ

phần hoá các ngân hàng quốc doanh bằng việc bán cổ phần chi phối cho các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài càng nhanh càng tốt Việc bán như vậy đã yêu cầu tái cấp vốn của các ngân hàng tạo ra sự kết nối giữa giá trị ròng hiện tại và những giá trị đặc lợi thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Hai đợt tái cấp vốn lớn và nhiều đợt tái cấp vốn bổ sung của các ngân hàng trong nước tạo cho Hungary có những ý niệm

về vấn đề tâm lý ỷ lại mà trước đó nó gần như chưa được đề cập đến Đợt tái cấp vốn lần thứ nhất chưa đủ tác động mạnh vì các công cụ được sử dụng chưa đủ thanh khoản và thu hút về phương diện tài chính và bởi vì các ngân hàng được tái cấp vốn vẫn cung ứng tín dụng và các dịch vụ ngân hàng cho các khách hàng kém hiệu quả (vấn đề này tương tự như trường hợp của Cộng hoà Séc) Đợt tái cấp vốn thứ hai sử dụng các công cụ có tính thị trường là sự thành công đáng kể vì việc cổ phần hoá thực sự nhắm đến các nhà đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài Việc kết hợp tái cấp vốn và chiến lược cổ phần hoá đưa Hungary trở thành nước có hệ thống ngân hàng mạnh nhất trong các nền kinh tế chuyển đổi Kinh nghiệm của Hungary chỉ ra tầm quan trọng của việc vận hành một cách độc lập và giảm thiểu các

áp lực từ nhà nước và các khách hàng hoạt động kém hiệu quả Quan trọng hơn những khoản nợ xấu được thừa hưởng tác động đến hoạt động sắp tới của ngân hàng là phải duy trì quan hệ với những khách hàng kém hiệu quả Ngân hàng Hungary có doanh nghiệp nhà nước thua lỗ nhiều nhất là Magyar Hitel Bank (MHB) Đầu tiên tìm kiếm một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, nhưng sau khi được tái cấp vốn, danh mục nợ của MHB được chia thành tài sản tốt và tài sản không tốt Những khoản

nợ xấu cùng với các khoản tiền gửi của các khách hàng này được tách ra khỏi các khoản nợ tốt MBH đã thành lập bộ phận chuyên xử lý các khoản nợ xấu Với quan điểm chỉ ngân hàng tốt mới được cổ phần hoá Điều này đã thu hút được một nhà đầu tư chiến lược tham gia để tăng vốn của ngân hàng này (Bonin&Huang 2002)

Mô hình Ba lan (mô hình phi tập trung): Kinh nghiệm của Ba Lan chỉ ra sự không thích hợp của việc tạo ra

trách nhiệm của các ngân hàng cho việc cơ cấu lại các doanh nghiệp Ngân hàng Thế giới đã hỗ trợ một chương trình tái cấu trúc doanh nghiệp dựa trên khái niệm cho rằng các ngân hàng có đủ thông tin về các con nợ của mình để đưa ra quyết định hoặc là thúc đẩy việc cơ cấu lại hoặc là thanh lý các doanh nghiệp Phá sản đã được xem là lựa chọn ưa thích hơn trong quá trình tái cấu trúc tài chính Công cụ chính được sử dụng để cấu trúc lại các khoản nợ là chuyển nợ thành vốn chủ sở hữu Lựa chọn này không phù hợp với các ngân hàng yếu Do các ngân hàng này không có kinh nghiệm trong việc tái cơ

Trang 12

cấu các doanh nghiệp lớn, sở hữu những khách hàng hoạt động kém hiệu quả Hơn thế nữa, các khoản tín dụng mới được cung cấp chỉ giải quyết được phần nào khó khăn trong thời gian đầu, nhưng kết quả ngày một trầm trọng hơn Trong tình huống nghiên cứu một ngân hàng Ba Lan Bonin&Leven (2000) nhận ra rằng các khoản tín dụng mới được mở rộng cho 3 khách hàng công nghiệp quốc phòng lớn trong chương trình đã vượt quá tổng khối lượng tái cấp vốn và đặt ngân hàng rơi vào tình thế khó khăn hơn với các khách hàng này sau khi cơ cấu lại Cũng như trường hợp của Cộng hoà Séc, chương trình của Ba Lan đã tạo ra sự ràng buộc lớn hơn giữa ngân hàng và các khách hàng kém hiệu quả Vì vậy, chương trình của Ba Lan tạo cho các doanh nghiệp yếu kém có điều kiện trì hoãn việc cơ cấu lại bằng những giải pháp quyết liệt hơn Điều này càng khó khăn hơn cho các ngân hàng trong việc loại bỏ các khách hàng hoạt động kém hiệu quả nhằm lành mạnh hoá tình hình tài chính và nâng cao hiệu quả hoạt động của mình (Bonin&Huang 2002)

Từ mô hình của 3 nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu cho thấy, việc xử lý nợ có thể được thực hiện tốt nếu giải quyết được những ràng buộc giữa ngân hàng và các doanh nghiệp mà ở đây chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước, tránh được vấn đề lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại do thông tin bất cân xứng xảy ra trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp Điều này có nghĩa là phải xác định rõ con nợ và tạo ra nỗ lực trả nợ của con nợ thì mới có thể xử lý được

4 Trung Quốc và Việt nam đã và đang làm gì trong việc xử lý nợ xấu?

4.1 Trung Quốc

Lựa chọn mô hình và cơ chế xử lý nợ

Trung Quốc là một trường hợp riêng biệt trong việc lựa chọn mô hình xử lý nợ xấu do những đặc điểm riêng của họ Hệ thống ngân hàng có quy mô rất lớn với tổng dư nợ cho vay toàn nền kinh tế lên đến gần 2.000 tỷ USD, gấp hơn 1,5 lần GDP Tổng khối lượng nợ xấu 480 tỷ USD bằng 36% GDP Nếu xét con số tuyệt đối thì khối lượng nợ này tương đương với khối lượng nợ xấu của Hoa Kỳ năm 1989, nhưng tỷ lệ so với GDP lại gấp hơn 5 lần Trung Quốc đã lựa chọn mô hình cho riêng mình Nhà nước

đã bỏ vốn để thành lập các AMC Nhưng thay vì thành lập công ty xử lý nợ quốc gia, năm 1999, Trung Quốc đã thành lập bốn công ty quản lý tài sản với vốn điều lệ khoảng 5 tỷ USD (tương đương 1% tổng

số nợ xấu của hệ thống ngân hàng Trung Quốc hiện nay) Đây là một con số rất nhỏ so với khối lượng

nợ xấu Do đó để có thể “mua” lại nợ của các ngân hàng, các AMC đã vay từ Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc và phát hành trái phiếu

Mỗi AMC có trách nhiệm xử lý nợ xấu cho một ngân hàng thương mại quốc doanh Các công ty này chịu sự quản lý và chỉ đạo đồng thời của Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa và có mối quan hệ ràng buộc rất lớn với các ngân hàng "mẹ"

Bên cạnh khoản nợ chuyển giao cho các AMC, các ngân hàng thương mại quốc doanh Trung Quốc vẫn còn một khối lượng nợ xấu rất lớn còn 232 tỷ USD vào cuối năm 2003 Khối lượng nợ xấu này giảm 13

tỷ so với năm 2002 Nhưng thực ra, khoản nợ được xử lý chủ yếu là việc xoá các khoản nợ không còn khả năng thu hồi Khối lượng nợ được xử lý này là cơ sở để Chính phủ cấp thêm cho hai ngân hàng xử

lý nợ tốt nhất Trung Quốc Ngân hàng trung Quốc (BOC) và Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc (CCB) 45

tỷ USD từ nguồn dự trữ ngoại hối

Cơ chế xử lý nợ của Trung Quốc tập trung vào việc tận thu các khoản nợ bằng việc thanh lý tài sản thế chấp, cầm cố; chuyển nợ thành vốn chủ sở hữu và bán các khoản nợ cho các nhà đầu tư, trong đó quan trọng nhất là các nhà đầu tư nước ngoài

Trang 13

Diễn biến và kết quả xử lý nợ

Đối với các AMC, trong thời gian 1999, một khối lượng nợ bằng 170 tỷ USD đã được chuyển giao cho các AMC Để đảm bảo nguồn vốn cân bằng khối lượng nợ chuyển sang, ngoài 5 tỷ USD vốn điều lệ được cấp ban đầu, thì khoản vay từ Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc là 67 tỷ USD, phát hành trái phiếu là 108 tỷ USD13 Kết quả xử lý đến cuối tháng 3/2004, các AMC xử lý được 63,9 tỷ USD, phần lớn

là chuyển nợ thành vốn chủ sở hữu, số thu bằng tiền đạt 12,7 tỷ USD14 Như vậy số nợ thu hồi được thực chỉ đạt 7,6% tổng số nợ xấu được chuyển sang và bằng 20% số nợ được xử lý

Nếu tính từ thời điểm hoạt động, đến nay đã trải qua hơn 5 năm (thời gian hoạt động của các AMC tại Trung Quốc theo dự tính là 10 năm) thì kết quả mà các AMC mang lại là rất hạn chế và người ta đã bắt đầu đặt vấn đề đối với vai trò và sự tồn tại của các AMC ở Trung Quốc (Guonan Ma and Ben SC Fung

2002 and Guifen Pei and Sayuri Shirai 2004)

Do các AMC hoạt động không hiệu quả và khối lượng nợ xấu của các ngân hàng thương mại quốc doanh quá lớn, nên bản thân các ngân hàng thương mại quốc doanh ở Trung Quốc cũng đã có những

nỗ lực xử nợ các khoản nợ xấu của bản thân ngân hàng mình, nhưng kết quả mang lại cũng rất hạn chế Đối với các ngân hàng thương mại quốc doanh, trong suốt thời gian từ năm 1997 đền 2003, khối lượng

nợ xấu gia tăng đều Chỉ có hai thời điểm nợ xấu giảm là năm 1998 các ngân hàng này chuyển 170 tỷ USD cho các AMC và năm 2003 đợt xoá nợ cùng với cấp thêm vốn của Chính phủ Trung Quốc Các khoản nợ xấu mà các ngân hàng thương mại quốc doanh xử lý được vẫn là việc dùng quỹ dự phòng rủi

ro Phần thu được từ khách hàng là rất hạn chế

Ngoài ra, tính đến thời điểm cuối tháng 08/2004, các ngân hàng thương mại và các AMC của Trung Quốc đã bán cho các nhà đầu tư nước ngoài khối lượng nợ với mệnh giá (face value) khoảng 6 tỷ USD, trong đó Citigroup chiếm tỷ trọng cao nhất, với khối lượng mua gần 2,2 tỷ USD15 Con số này chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ tổng số nợ xấu của hệ thống ngân hàng quốc nội Trung Quốc, nhưng đây là một con

số rất đáng kể đối với mỗi ngân hàng nước ngoài Về động cơ mua lại các khoản nợ này của các ngân hàng nước ngoài, tác giả bài viết này chưa có điều kiện tìm hiểu một cách chi tiết, nhưng theo ý kiến chủ quan thì đây có thể là chiến lược gia tăng thị phần của các ngân hàng nước ngoài trên thị trường Trung Quốc (thị phần của các ngân hàng nước ngoài đến cuối năm 2003 chỉ chiếm một phần rất khiêm tốn là 1,2%)

Khối lượng nợ xấu của các Ngân hàng Thương mại Trung Quốc đến cuối năm 2003 được thể hiện theo

Ngày đăng: 02/03/2020, 12:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w