1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Ứng dụng kế toán quản trị tại các ngân hàng thương mại: Nghiên cứu tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam1

10 111 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài báo nhấn mạnh tầm quan trọng của kế toán quản trị (KTQT) trong ngân hàng thương mại (NHTM), qua đó cho thấy việc ứng dụng KTQT là một xu thế tất yếu. Bài viết lựa chọn nghiên cứu trường hợp Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), một ngân hàng được đánh giá đạt được thành tựu quan trọng trong quá trình triển khai KTQT bằng công cụ hỗ trợ phân tích lợi nhuận đa chiều MPA. Bằng phương pháp nghiên cứu khảo sát, phỏng vấn chuyên gia, tiếp cận tài liệu, nhóm tác giả chỉ ra sự đóng góp mà KTQT mang lại đối với BIDV nói riêng và các NHTM nói chung, đặc biệt cho thấy rõ tác dụng của những báo cáo phân tích chuyên sâu, đa chiều mà hệ thống phân tích lợi nhuận đa chiều (MPA) của KTQT mang lại. Từ những thành tích đạt được cũng như những tồn tại cần khắc phục trong triển khai KTQT của BIDV, nhóm Tác giả rút ra những điều kiện mà các NHTM cần có nếu muốn triển khai hiệu quả KTQT trong thời gian tới.

Trang 1

Bài báo nhấn mạnh tầm quan trọng của kế toán quản trị (KTQT) trong

ngân hàng thương mại (NHTM), qua đó cho thấy việc ứng dụng KTQT là

một xu thế tất yếu Bài viết lựa chọn nghiên cứu trường hợp Ngân hàng Đầu

tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), một ngân hàng được đánh giá đạt được

thành tựu quan trọng trong quá trình triển khai KTQT bằng công cụ hỗ trợ

phân tích lợi nhuận đa chiều MPA Bằng phương pháp nghiên cứu khảo

sát, phỏng vấn chuyên gia, tiếp cận tài liệu, nhóm tác giả chỉ ra sự đóng

góp mà KTQT mang lại đối với BIDV nói riêng và các NHTM nói chung,

đặc biệt cho thấy rõ tác dụng của những báo cáo phân tích chuyên sâu, đa

chiều mà hệ thống phân tích lợi nhuận đa chiều (MPA) của KTQT mang

lại Từ những thành tích đạt được cũng như những tồn tại cần khắc phục

trong triển khai KTQT của BIDV, nhóm Tác giả rút ra những điều kiện mà

các NHTM cần có nếu muốn triển khai hiệu quả KTQT trong thời gian tới

Nguyễn Minh Phương

Học viện Ngân hàng

Nguyễn Thị Thu Hà

Ngân hàng Đầu tư và Phát

Ngày nhận: 12/07/2019 Ngày nhận bản sửa: 25/07/2019 Ngày duyệt đăng: 27/08/2019

Applying management accounting in commercial bank: Research at Bank for Investment and

Development of Vietnam

This paper reviews the importances of management accounting in commercial banks and improves why applying management accounting is envitable trend The case of Bank for Investment and Development of Vietnam is

a good example to show that it is really necessary for the bank’s development, especially by indicating the differences between the Branch’s business analysis report before and after applying management accounting tool (MPA) The paper also draws on the success of the bank’s management accounting and the conditions needed to get those achievements These will be the lessons for the other banks to consider for their cases.

Keywords: Applying management accounting in commercial banks, MPA

Phuong Minh Nguyen

Email: phuongnm@hvnh.edu.vn

Deputy Head of Bank Accounting Division Banking Faculty, Banking Academy of Vietnam

Ha Thi Thu Nguyen

Email: hantt28@bidv.com.vn

Performance Management Department Deputy Director, Banking for Investment and Development of Vietnam JSC

Hai Thi Hong Nguyen

Email:hainth@hvnh.edu.vn

1 Nội dung Bài báo là một phần kết quả nghiên cứu của Đề tài cấp cơ sở: “Ứng dụng kế toán quản trị tại các NHTM Việt Nam” DTHV02/2018- Học viện Ngân hàng

Nguyễn Thị Hồng Hải

Học viện Ngân hàng

Trang 2

1 Đặt vấn đề

Hiện nay, trên thế giới, KTQT đã có sự

phát triển mạnh mẽ và đóng góp lớn vào

quá trình quản lý, ra quyết định của nhà

lãnh đạo trong mỗi doanh nghiệp Thông

tin của KTQT rất khác biệt so với thông

tin của kế toán tài chính do không nhằm

đến các đối tượng bên ngoài (cơ quan

quản lý, cơ quan thuế, đối tác, khách

hàng ) mà tập trung phục vụ các các nhà

quản lý bên trong doanh nghiệp để quản

trị nội bộ và ra quyết định, đồng thời phục

vụ việc kiểm soát, đánh giá doanh nghiệp

Từ việc sử dụng những thông tin quản trị

tin cậy, kịp thời gồm phân tích lợi nhuận

đa chiều, quản trị chi phí từ tổng thể đến

chi tiết với mức độ kịp thời, cập nhật,

chính xác cao, ban lãnh đạo mới có thể

nắm rõ hiện trạng kinh doanh, xác định

phương hướng, giám sát và tăng cường

hiệu quả hoạt động

Việt Nam, “ KTQT mới được đưa vào

giảng dạy trong các trường đại học vào

khoảng sau năm 1994 Như vậy, riêng về

KTQT, thế giới họ đi trước Việt Nam gần

100 năm Chúng ta đi sau đáng lẽ phải

tiếp cận ngay với những kiến thức mà họ

đang áp dụng, nhưng hầu hết những kiến

thức về KTQT truyền thống hiện đang

được giảng dạy trong các trường đại học

ở Việt Nam đều đã được hoàn thiện từ

trước năm 1925” (Lợi, 2015)

Do đó, KTQT trong các doanh nghiệp

cũng chưa được chú trọng để triển khai và

áp dụng Ngành Ngân hàng không phải là

một ngoại lệ khi mà “Hệ thống KTQT của

NHTM chưa hoàn thiện, chưa đánh giá

được hiệu quả của từng sản phẩm, từng khối

kinh doanh nên chưa tính được rủi ro và lợi

nhuận của NHTM” (Diệu, L.T.H, 2011)

Thời gian qua, một số NHTM của Việt Nam đã mạnh dạn triển khai, ứng dụng KTQT, có thể kể đến Vietinbank, BIDV, VCB, MB, Techcombank Cho đến nay, BIDV vẫn là ngân hàng đang kiên trì triển khai ứng dụng các lợi ích của KTQT và thu được nhiều thành tựu, trong khi các ngân hàng khác mới ở giai đoạn cơ bản, hoặc chưa thể hiện rõ hiệu quả áp dụng

Bởi vậy, nghiên cứu việc ứng dụng KTQT trong BIDV thông qua việc tiếp cận các chuyên gia cấp cao trực tiếp phụ trách KTQT cũng như các tài liệu được phép của ngân hàng, các tác giả sẽ tổng kết lại kết quả đạt được cũng như khó khăn mà BIDV đã trải qua, từ đó đưa ra bài học kinh nghiệm đối với các NHTM Việt Nam hiện nay

2 Tổng quan về kế toán quản trị tại các ngân hàng thương mại

2.1 Khái niệm

Theo Giáo sư Robert S.Kaplan, trường Đại học Harvard Busines School (HBS), trường phái KTQT của Mỹ, “KTQT là quá trình cung cấp cho các nhà quản lý

và nhân viên trong một tổ chức các thông tin liên quan về tài chính và phi tài chính,

để đưa ra quyết định, phân bổ nguồn lực, giám sát, đánh giá và khen thưởng”

(Robert S.Kaplan và cộng sự, 2011) Theo quan điểm này, KTQT là công cụ gắn liền với hoạt động quản trị Nó có vai trò quan trọng để xây dựng dự toán, hoạch định các chính sách và kiểm soát mọi hoạt động

Theo Luật Kế toán Việt Nam số 88/2015/

QH13 “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân

tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh

tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” Theo quan điểm này, ngoài việc nhấn mạnh vai trò của KTQT là thông tin hữu

Trang 3

quyết định, còn cho biết quy trình nhận

diện thông tin KTQT trong các tổ chức

hoạt động

Tuy không có khái niệm riêng biệt về

KTQT cho NHTM, nhưng với bản chất là

một đơn vị kế toán, ta có thể áp dụng khái

niệm KTQT của Luật Kế toán 2015 để

hiểu KTQT trong NHTM như sau: KTQT

trong NHTM là việc thu thập thu thập, xử

lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông

tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị

và quyết định kinh tế, tài chính trong nội

bộ NHTM

Ứng dụng KTQT trong NHTM được

hiểu là việc sử dụng các công cụ phục vụ

công tác KTQT, mà hiện nay các chuyên

gia thường xuyên nhấn mạnh việc sử

dụng các công cụ quản trị mới thay cho

các công cụ truyền thống Một trong các

ứng dụng mạnh mẽ đang được triển khai

chính là Phần mềm phân tích lợi nhuận đa

chiều- MPA (Multi-dimension Profitibility

Analysis) mà một số ngân hàng đang sử

dụng, cho phép khai thác, phân tích lợi

nhuận của ngân hàng theo nhiều cách tiếp

cận đa dạng, từ đó tạo điều kiện cho nhà

quản lý đưa ra quyết định kinh tế đúng

đắn, kịp thời

2.2 Nội dung chính của kế toán quản trị

trong ngân hàng thương mại

2.2.1 Quản lý chi phí

Có nhiều phương pháp phân bổ chi phí,

trong đó thường được sử dụng là phương

pháp ABC (Activity based costing- Phân

bổ chi phí dựa trên hoạt động) Tuy nhiên,

trong hoạt động kinh doanh ngân hàng,

để phản ánh đầy đủ kết quả hoạt động

kinh doanh, chi phí quản lý kinh doanh

quản lý như sản phẩm, khách hàng, khối kinh doanh, đơn vị tổ chức Việc phân bổ

chi phí phải đảm bảo công bằng, minh bạch và đạt được đồng thuận giữa đơn vị

đi phân bổ và nhận phân bổ chi phí Các tiêu chí phân bổ phải hợp lý, phù hợp với đối tượng phân bổ và khả năng khai thác, thu thập dữ liệu phân bổ trong các

hệ thống thông tin của ngân hàng Tiêu thức phân bổ chi phí được xác định dựa trên đặc điểm, tính chất hoạt động của đối tượng thụ hưởng, đơn vị phân bổ chi phí

đi, đơn vị nhận phân bổ chi phí và sự đồng thuận giữa các đơn vị Chi phí QLKD được tập hợp theo phòng, ban phát sinh chi phí Mỗi phòng, ban sẽ được phân loại vào các Trung tâm phân bổ để xác định cách thức

và tiêu thức phân bổ chi phí đến các đơn vị khác hoặc sản phẩm, khách hàng

2.2.2 Quản lý thu nhập và xác định hiệu quả hoạt động

Để xác định hiệu quả hoạt động của các đơn

vị kinh doanh liên quan đến các mảng hoạt động, bên cạnh việc phân bổ chi phí một cách minh bạch, chính xác và hợp lý giữa các sản phẩm, bộ phận hay nhóm khách hàng, thì sẽ cần xác định thu nhập từ dịch

vụ, bộ phận, ngạch kinh doanh hay nhóm khách hàng Doanh thu sẽ được hệ thống phần mềm xử lý nội dung chia sẻ doanh thu giữa các Khối/Ban/Phòng/Sản phẩm trên cơ

sở sự đóng góp trong quá trình bán chéo sản phẩm/ phối hợp triển khai…

2.2.3 Báo cáo kế toán quản trị NHTM

Báo cáo lợi nhuận đa chiều là các góc nhìn khác nhau khi phân tích lợi nhuận của NHTM Việc xác định các chiều báo cáo lợi nhuận nhằm xác định phương pháp luận và cách thức tính toán thống nhất cho

Trang 4

mỗi chiều báo cáo, bao gồm xác định các

phân cấp như phân cấp sản phẩm, phân

cấp đơn vị tổ chức , các giá trị đa chiều,

các khoản mục báo cáo chính (các khoản

mục số dư, thu nhập, chi phí); đồng thời

xác định nguyên tắc tập hợp dữ liệu cho

báo cáo đo lường lợi nhuận đa chiều

Báo cáo lợi nhuận đa chiều gồm các chiều

sau:

a) Chiều khối kinh doanh;

b) Chiều đơn vị tổ chức (toàn hàng, vùng

miền, chi nhánh, Ban/phòng/Trung tâm,

khối hành chính);

c) Chiều sản phẩm, nhóm sản phẩm;

d) Chiều khách hàng, phân khúc khách

hàng;

e) Chiều cán bộ quản lý khách hàng (RM),

quản lý tài khoản (AM);

f) Các chiều thuộc tính gồm chiều địa lý,

pháp nhân, thời gian, tiền tệ, tài khoản,

ngành nghề kinh doanh của khách hàng,

kỳ hạn, các thông tin chi tiết khác của

khách hàng, công cụ (BIDV, 2015)

3 Thực trạng triển khai kế toán quản

trị tại BIDV

3.1 Các giai đoạn triển khai

Nhiều ngân hàng trong khu vực và trên thế

giới đã triển khai hệ thống MPA từ đầu

những năm 2000 bởi những lợi ích của hệ

thống đo lường lợi nhuận đa chiều như:

Cung cấp thông tin lợi nhuận nhiều chiều,

hỗ trợ phân tích và đưa ra quyết định trong

các vấn đề kinh doanh sản phẩm, khách

hàng, phân bổ nguồn lực gắn với hiệu

quả, quản lý chi phí Bắt kịp xu hướng đó,

BIDV đã bắt đầu triển khai dự án KTQT-

MPA từ rất sớm qua 2 giai đoạn tương

ứng với 2 dự án:

Dự án 1- Thuê tư vấn xây dựng chính sách

tập hợp và phân bổ thu nhập chi phí theo đối tượng kinh doanh/ quản lý, xây dựng báo cáo nghiên cứu khả thi và hồ sơ mời thầu để lựa chọn giải pháp phần mềm (Dự

án CRA)

Dự án 2- Mua sắm giải pháp ứng dụng phù hợp với thực trạng BIDV và chính sách đã được phê duyệt tại Dự án 1 (Dự án MPA)

Trong quá trình thực hiện Dự án MPA từ giai đoạn xây dựng chính sách đến giai đoạn triển khai phần mềm, BIDV đã tiến hành các hoạt động khảo sát, tìm hiểu kinh nghiệm tại một số Ngân hàng như DBS, OCBC, UOB, RBS (Singapore), Westpac, Macquarie (Australia), Sumitrust, Johnan

Shinkin (Nhật Bản) Những kinh nghiệm thu thập được về các vấn đề như chuẩn bị

dữ liệu, xây dựng phần mềm, chính sách phân bổ chi phí, mối quan hệ giữa các đơn vị trong việc cung cấp dịch vụ lẫn nhau, cơ cấu tổ chức của bộ phận quản lý MPA, đã được BIDV tham khảo, sàng lọc áp dụng trong quá trình xây dựng

và triển khai dự án MPA (Hà, N.T.T, Tuấn.T.A, Khoa, L.Đ, Dung T.V, 2016)

3.1.1 Giai đoạn 1: Dự án CRA

Từ năm 2011 đến năm 2015, thực hiện dự

án thuê tư vấn xây dựng chính sách tập hợp và phân bổ thu nhập chi phí theo đối tượng kinh doanh/ quản lý, xây dựng báo cáo nghiên cứu khả thi và hồ sơ mời thầu

để lựa chọn giải pháp phần mềm Ban đầu việc triển khai Dự án diễn ra chậm chạp

do vừa ứng dụng, vừa mày mò nghiên cứu Giai đoạn này, việc triển khai KTQT nặng

về cả chính sách, công nghệ và dữ liệu

Thêm vào đó, KTQT khi đã được tổ chức ứng dụng thì đều liên quan hầu hết đến các đơn vị nên bộ phận triển khai không tránh

Trang 5

là cả sự phản đối từ các đơn vị khiến thành

tựu trong giai đoạn này thu được chưa

nhiều Trong bối cảnh đó, BIDV xác định

việc quan trọng nhất tại thời điểm này là

quản lý sự thay đổi, quản lý kỳ vọng của

các bên, làm sao để các bên liên quan thấu

hiểu và ủng hộ việc áp dụng KTQT, từ đó

dần dần đưa chính sách, hệ thống vào thực

tiễn kinh doanh

3.1.2 Giai đoạn 2: Dự án MPA

Đến cuối năm 2015, BIDV đã có được

một hệ thống phần mềm MPA tập trung

thống nhất từ Trụ sở chính đến 195 chi

nhánh của BIDV nhằm đo lường hiệu quả

kinh doanh theo đa chiều

○ Tại Trụ sở chính

+ Hệ thống phần mềm luôn đảm bảo vận

hành thông suốt, không để xảy ra ách tắc,

phục vụ các đơn vị truy cập khai thác dữ

liệu, sử dụng báo cáo hàng ngày, tháng,

quý

+ Từng bước hoàn thiện và đồng bộ dữ

liệu đầu vào, chính sách/ tiêu thức phân

bổ, nâng cao chất lượng dữ liệu MPA

+ Cung cấp khối lượng lớn các báo cáo

phân tích lợi nhuận đa chiều phục vụ các

Khối/Ban/Chi nhánh nỗ lực triển khai tài

chính kinh doanh

Việc khai thác hệ thống MPA và triển

khai tích cực tài chính kinh doanh tại Trụ

sở chính đã cung cấp cho các đơn vị kinh

doanh một bức tranh tổng thể, đa chiều,

khoa học để có cơ sở định hướng, thiết

lập kế hoạch và hành động phát triển kinh

doanh Qua kết quả phân tích đã đề xuất

một số giải pháp, rà soát các cơ chế động

lực chi tiết đến sản phẩm, khách hàng, đề

xuất tiếp tục cải tiến phân bổ nguồn lực

tài chính trong thời gian tới, đảm bảo kịp

đẩy kinh doanh Khối tài chính đã và đang từng bước trở thành “đối tác” của các đơn

vị kinh doanh

Qua một thời gian, các Ban trong BIDV

đã tin tưởng và coi khối tài chính là «đối tác” thực sự, tham vấn các ý kiến khi triển khai xây dựng kế hoạch, chương trình động lực

○ Tại các chi nhánh

Ở một số Chi nhánh MPA được triển khai nghiêm túc, bài bản, Ban Giám đốc chi nhánh đã thật sự hiểu rõ ý nghĩa, tính thiết thực, mức độ hữu ích và tầm quan trọng của việc khai thác, sử dụng MPA Từ đó, Ban Giám đốc chi nhánh đã chỉ đạo quyết liệt, theo dõi sát sao công tác triển khai cũng như khai thác tối đa hệ thống báo cáo MPA để phục vụ cho quản trị điều hành thường xuyên Chi nhánh đã thành lập Tổ triển khai MPA với thành phần đúng quy định, cử đi đào tạo, phân công đầu mối, triển khai nghiêm túc các hướng dẫn, chỉ đạo của Trụ sở chính về MPA

Một số Chi nhánh triển khai tốt đã nhìn nhận và đánh giá được mức độ khác biệt

rõ rệt giữa Báo cáo phân tích hoạt động kinh doanh Chi nhánh thực hiện trước và sau khi ứng dụng dữ liệu MPA (Bảng 1)

3.2 Đánh giá chung về kết quả và tồn tại

Căn cứ vào việc khảo sát, thu thập kết quả

tự đánh giá của Nhóm Tác giả và đánh giá độc lập của Ban tài chính, Ban quản

lý hiệu quả hoạt động BIDV đối với các đơn vị thực hiện MPA, một số kết quả và hạn chế được tổng kết như sau:

3.2.1 Kết quả đạt được của KTQT tại BIDV

Trang 6

Thứ nhất, hệ thống báo cáo quản trị đã

cung cấp các thông tin kịp thời và hiệu quả đến Ban lãnh đạo, các Khối, Phòng, chi nhánh Bởi vậy, các khách hàng lớn

Bảng 1 Khác biệt giữa Báo cáo phân tích hoạt động kinh doanh của Chi nhánh trước và

sau khi ứng dụng dữ liệu MPA (một số chiều cơ bản)

Phân tích hiệu quả hoạt động

kinh doanh Chi nhánh trước khi

sử dụng dữ liệu MPA

Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Chi nhánh sau khi sử dụng dữ liệu MPA

Chiều

Đơn vị

tổ chức

(Chi

nhánh,

Phòng)

- Về quy mô: đánh giá qua số

cuối kỳ và số bình quân, tuy

nhiên việc lấy số bình quân Chi

nhánh, từng Phòng cũng gặp

khó khăn và thiếu chính xác.

- Về hiệu quả: không đánh giá

được hiệu quả kinh doanh từng

phòng Nếu có thì dừng ở mức

Thu nhập thuần, song cũng

không chính xác (về thu nhập

chi phí lãi, thu chi dịch vụ,…)

Thiếu/không có số liệu về NIM

và chi phí QLKD, nếu có cũng

chưa chính xác.

- Về quy mô: Đánh giá qua số cuối kỳ, số bình quân,

xu hướng biến động kết quả từng Phòng qua các tháng, toàn Chi nhánh một cách dễ dàng.

- Về hiệu quả: Có chi tiết hiệu quả kinh doanh của

từng Phòng, đã tính đủ cả chi phí quản lý kinh doanh (QLKD) theo cấp Phòng Có số liệu NIM chi tiết các sản phẩm huy động vốn, cho vay theo phòng, từ đó giúp so sánh, phân tích hiệu quả kinh doanh từng phòng.

Khi xem xét từng Phòng, nhìn được rõ các cấu phần thu- chi, do đó tìm ra nguyên nhân chính xác biến động tăng/giảm hiệu quả do quy mô, do NIM hay do chi phí QLKD.

Trên cơ sở nhìn rõ hiệu quả từng Phòng, dễ dàng so sánh với kế hoạch đã giao.

Chiều

khách

hàng

- Chỉ tính được tổng hòa lợi ích

khách hàng theo doanh thu/

giá vốn của những sản phẩm

khách hàng sử dụng.

- Không tính được chi phí

QLKD đến sản phẩm, từ đó

không tính được đến khách

hàng.

- Không có dữ liệu về số lượng

sản phẩm khách hàng sử dụng.

- Đo lường đầy đủ hiệu quả thu nhập thuần từng khách hàng mang lại cho khách hàng, nhìn được dễ dàng chi tiết từng khách hàng đang sử dụng những sản phẩm nào, mỗi sản phẩm mang lại hiệu quả bao nhiêu.

- Đo lường được những khách hàng nào đang đóng góp lớn cho đơn vị qua các chiều: TOP hiệu quả (tổng thể/ từng sản phẩm ), TOP quy mô…

- Đo lường mức độ thành công trong bán hàng của chi nhánh thông qua tiêu chí số lượng sản phẩm sử dụng bình quân trên một khách hàng/từng khách hàng cụ thể.

Từ đó là cơ sở điều chỉnh ứng xử, chăm sóc, chính sách khách hàng phù hợp.

Chiều

sản

phẩm

- Hiệu quả sản phẩm mới tính

đến những sản phẩm tổng thể

như tín dụng bán buôn, tín

dụng bán lẻ, huy động vốn bán

buôn, huy động vốn bán lẻ,

song còn chưa chính xác đặc

biệt là thu chi từ dịch vụ.

- Kết quả không có chi phí

QLKD phân bổ cho bất kỳ sản

phẩm nào.

- Số liệu về NIM mới tính tổng

cho sản phẩm huy động vốn,

cho vay song thủ công và chưa

chính xác.

- Hiệu quả sản phẩm tính được chi tiết từ sản phẩm cấp nhỏ nhất (cấp 6) đến cấp tổng hợp (tín dụng, huy động, cho vay) Kết quả đã bao gồm cả chi phí QLKD phân bổ đến từng sản phẩm Đối với các sản phẩm tiền gửi, tiền vay chi tiết đến tổng hợp đều có xác định được NIM sản phẩmTừ đó biết được chính xác hiệu quả mang lại của từng sản phẩm, dịch vụ.

Là cơ sở để cơ cấu lại việc bán sản phẩm theo hướng tập trung vào những sản phẩm có thu nhập thuần cao, điều chỉnh phương án đối với các sản phẩm hiệu quả thấp…

Trang 7

mang lại hiệu quả cao cũng như những

khách hàng đem lại thua lỗ sẽ được quan

tâm xử lý

Thứ hai, sự phát triển của hệ thống MPA

đã cung cấp cho các đơn vị kinh doanh một

bức tranh tổng thể, đa chiều và cụ thể để lập

kế hoạch phát triển kinh doanh Dựa trên

kết quả phân tích, các giải pháp đã được

đưa ra, trong đó quan tâm tới việc phân bổ

các nguồn lực tài chính một cách rõ ràng,

tập trung, kịp thời Đến nay, Ban tài chính

đã thực sự trở thành đối tác tin cậy đối với

các đơn vị kinh doanh, bởi nhiều ý tưởng đã

được phát triển từ sự hợp tác này

Thứ ba, thông qua phân tích lợi nhuận đa

chiều, các chính sách kinh doanh được

phát triển hoặc được chỉnh sửa cho phù

hợp hơn Có thể thấy, MPA đã hỗ trợ

chuyển đổi việc quản lý tài chính từ cách

truyền thống sang hỗ trợ kinh doanh một

cách đắc lực khối kinh doanh, tạo dựng

mối quan hệ gần gũi, thân thiết, vững chắc

giữa khối tài chính kế toán, khối kế hoạch

và các đơn vị trực tiếp kinh doanh

Thứ tư, tác động tích cực tới kế hoạch

ngân sách và quản lý chi phí: Trước đây,

kế hoạch ngân sách của đơn vị chỉ bao

gồm các chi phí trực tiếp Sau khi thực

hiện MPA, kế hoạch này được làm chi tiết, minh bạch, khoa học hơn, bao gồm chi phí trực tiếp, chi phí được phân bổ, chi phí được phân bổ từ các khối kinh doanh khác Kế hoạch ngân sách cũng bao gồm

kế hoạch nhận được từ các đơn vị khác, sau đó phân bổ đến các sản phẩm hoặc khách hàng Điều này làm cho chi phí của các đơn vị kinh doanh rất rõ ràng, đồng thời tạo ra động lực để các đơn vị giảm thiểu chi phí một cách hợp lý

Thứ năm, tăng cường khả năng quản trị các chi nhánh Tại tất cả các chi nhánh của

BIDV đã tiếp cận được hệ thống MPA để chiết xuất ra các báo cáo liên quan đến khách hàng, từ đó đánh giá và điều chỉnh

kế hoạch kinh doanh cũng như chính sách khách hàng một cách phù hợp Các chi nhánh cũng sử dụng dữ liệu của MPA

để tạo các báo cáo phân tích lợi nhuận

đa chiều, đánh giá được hoạt động kinh doanh, vấn đề quản trị chi phí, cung cấp các giải pháp thực tiễn để hỗ trợ ra quyết định kinh doanh cũng như hỗ trợ các chính sách về sản phẩm, về khách hàng

3.2.2 Một số tồn tại

Một là, mức độ quan tâm, triển khai KTQT chưa đồng đều

Phân tích hiệu quả hoạt động

kinh doanh Chi nhánh trước khi

sử dụng dữ liệu MPA

Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Chi nhánh sau khi sử dụng dữ liệu MPA

Chiều

chi phí

quản

lý kinh

doanh

- Có dữ liệu chi phí QLKD đến

từng Phòng song còn chưa

chính xác.

- Không thấy được cơ cấu chi

phí QLKD phân bổ đến mỗi sản

phẩm.

- Nhìn được dễ dàng chi phí QLKD thực hiện của mỗi Phòng, xu hướng qua các tháng của từng Phòng, từ

đó đánh giá tình hình triển khai kế hoạch ngân sách của từng Phòng.

Thông qua xem xét tổng số và cơ cấu chi phí QLKD phân bổ đến các sản phẩm, cấu phần nào cao thấp, đến từ Phòng nào, làm cơ sở đánh giá và có động thái điều chỉnh dần cho phù hợp, hiệu quả.

Nguồn: Hà, N.T.T, Tuấn.T.A, Khoa, L.Đ, Dung T.V (2016)

Trang 8

Thực tế nhiều Lãnh đạo các đơn vị không

quan tâm, không chỉ đạo sát sao việc triển

khai, không/chưa có nhu cầu khai thác báo

cáo KTQT từ MPA phục vụ quản trị điều

hành Một số chi nhánh không thành lập

tổ triển khai MPA, không có bộ phận/cán

bộ đầu mối về MPA theo quy định chung,

hầu như chưa/không triển khai các công

việc này/ hoặc chỉ triển khai theo hình

thức đối phó, chỉ tạm gán AM/RM để lên

đủ dữ liệu cấp độ Phòng

Hai là, việc hoàn thiện dữ liệu đầu vào

còn gặp nhiều khó khăn

Với hệ thống MPA thì việc chuẩn hóa,

làm giàu dữ liệu đầu vào đóng vai trò quan

trọng, quyết định thành công bước đầu của

kết quả phân tích Tuy nhiên thực trạng dữ

liệu đầu vào hệ thống hiện nay vẫn tồn tại

những vấn đề sau:

+ Về công tác gán AM/ RM gắn với quản

trị điều hành tại Chi nhánh chưa hoàn thiện

Mặc dù tỷ lệ gán AM/RM trên toàn hệ

thống đã tăng lên nhiều song việc gán phần

lớn còn mang tính hình thức, đối phó

+ Về các dữ liệu đầu vào khác: Còn có

những đơn vị chưa hiểu và quan tâm đúng

mức, điều này không chỉ ảnh hưởng trực

tiếp đến chất lượng báo cáo MPA của chính

đơn vị, từ đó đến báo cáo tổng hợp toàn

hàng, mà còn ảnh hưởng đến dữ liệu các

chương trình nghiệp vụ của Ngân hàng

Ba là, việc khai thác sử dụng báo cáo

còn hạn chế

Việc khai thác, sử dụng báo cáo MPA để

hỗ trợ công tác quản trị điều hành tại nhiều

Đơn vị/Chi nhánh cũng như các Phòng/

Ban còn hạn chế về loại báo cáo cũng như

mức độ thường xuyên…

4 Bài học kinh nghiệm về điều kiện

triển khai kế toán quản trị từ BIDV

Để đạt được thành công nhất định trong triển khai KTQT như trên, BIDV đã gặp không ít khó khăn Vượt qua những trở ngại đó, để đạt được kết quả đáng ghi nhận như hiện nay, BIDVđã đúc kết được một số bài học kinh nghiệm trong triển khai KTQT như sau:

Thứ nhất, phải có sự đồng thuận của các cấp về chính sách và kết quả đo lường

- Trước hết, vấn đề quan trọng nhất khi triển khai là có được sự đồng thuận của Lãnh đạo các cấp rằng số liệu được tạo ra của quá trình đo lường lợi nhuận đa chiều phản ánh chính xác kết quả công việc

của họ (Hà, N.T.T, Tuấn.T.A, Khoa, L.Đ, Dung T.V, 2016) Muốn vậy, cần thay đổi

suy nghĩ của các nhà quản lý bởi đây là yếu tố thiết yếu tạo ra sự đồng thuận của ban lãnh đạo

- Tiếp theo, tất cả các bộ phận/cá nhân được đánh giá hiệu quả hoạt động phải đồng thuận với phương pháp luận cơ bản

về tập hợp và phân bổ thu nhập chi phí, đo lường lợi nhuận đa chiều Thay đổi nhận thức hướng tới hiệu quả, tới sản phẩm và khách hàng

- Phương pháp đo lường lợi nhuận và phân

bổ chi phí phải được mọi người hiểu rõ và thực hiện một cách công bằng

Thứ hai, phải tổ chức bộ phận đầu mối với chức năng rõ ràng trong quản lý vận hành hệ thống MPA và triển khai chức năng tài chính kinh doanh

Quy định chức năng rõ ràng, quy định về

sự phối hợp giữa bộ phận triển khai tài chính kinh doanh với các bộ phận khác

Bố trí đủ nhân sự đủ về số lượng và mạnh

về chất lượng, vừa am hiểu về tài chính,

Trang 9

nghiệm trong các mảng kinh doanh trực

tiếp của Ngân hàng

Thứ ba, vấn đề truyền thông cần được

quan tâm

Nhất thiết phải truyền thông cho các bên

liên quan hiểu rõ về sự cần thiết, chính

sách, phương pháp, dữ liệu, kết quả cần

được thực hiện kiên trì và bài bản

Thứ tư, hoàn thiện dữ liệu đầu vào

Tăng cường nhận thức về việc đảm bảo dữ

liệu đầu vào vì đây là yếu tố quan trọng

nhất quyết định chất lượng báo cáo, đặc

biệt là cần chuẩn hoá thông tin đầu vào từ

cấp chi nhánh Cần gắn kết với cơ chế tài

chính, động lực để thúc đẩy ý thức hoàn

thiện dữ liệu sơ cấp

Thứ năm, triển khai kế toán quản trị theo

định hướng trở thành đối tác kinh doanh

Đổi mới bộ phận tài chính kế toán trở

thành đối tác kinh doanh Tăng cường mối

quan hệ chặt chẽ giữa bộ phận tài chính kế

toán và bộ phận kinh doanh đảm bảo để bộ

phận kinh doanh nắm được thu nhập, chi

phí, hiệu quả của đơn vị mình cũng như

tác động ngược trở lại để bộ phận kế toán

phản ánh đầy đủ, chính xác kết quả

Thứ sáu, đồng bộ hóa các chính sách

trên cơ sở sử dụng kết quả đo lường để

KTQT thực sự đi vào cuộc sống

Các cấp lãnh đạo quan tâm, ủng hộ trong

công tác quản trị điều hành các công việc

có gắn với MPA, coi MPA là một trong

các công cụ quan trọng trong quản trị điều

hành hoạt động hệ thống, bằng cách:

+ Khi xử lý hoạt động kinh doanh hàng

ngày của hệ thống hay các báo cáo định

kỳ có liên quan đến đánh giá hiệu quả,

Ban lãnh đạo cần yêu cầu các đơn vị tham

chính yếu, cùng với nguyên tắc khác (nếu có) làm cơ sở ra quyết định

+ Bắt buộc toàn bộ các báo cáo đánh giá hoạt động kinh doanh, các đề xuất của Chi nhánh gửi trụ sở chính đều phải theo nguyên tắc MPA (tính và phân bổ đúng đủ thu nhập chi phí)

+ Bắt buộc toàn bộ các báo cáo đề xuất tái cấp, nâng cấp giới hạn tín dụng cho khách hàng từ các chi nhánh hay các Ban đầu mối đều phải phân tích, đánh giá khách hàng, khoản vay dựa trên nguồn dữ liệu MPA

Thứ bảy, cần có một bên tư vấn mạnh

Khi Trưởng các bộ phận nhìn thấy kết quả lợi nhuận được tính cho từng công việc sẽ

có xu hướng phản đối quyết liệt đối với các phương pháp phân bổ, bởi vậy, một bên “thứ ba” khách quan hơn trong việc thuyết phục, tư vấn, giải thích để đạt được

sự đồng thuận cao

5 Kết luận và khuyến nghị

Phân tích trường hợp ứng dụng KTQT của BIDV cho thấy rõ KTQT có vai trò quan trọng, đem lại lợi ích thiết thực cho ngân hàng Trong quá trình triển khai áp dụng KTQT, BIDV đã gặp không ít khó khăn, nhưng hơn cả là những thành tựu rất đáng khích lệ, mà điểm mấu chốt là có sự ủng

hộ và đồng thuận cao của Ban Lãnh đạo Ngân hàng trong việc quyết liệt triển khai đến cùng dự án MPA của KTQT

Tuy vậy, triển khai một cái mới và để được chấp nhận luôn là một thử thách

Bản thân Ngân hàng cần tiếp tục thực hiện một số giải pháp như sau để hoàn thiện quá trình ứng dụng KTQT, nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra:

Trang 10

Một là, tăng cường sự nhận thức, quản lý tốt

sự thay đổi trong ý thức, quan niệm, hiểu

biết về KTQT

Hai là, nâng cao chất lượng truyền thông

mà cốt lõi và sống động nhất chính là qua

việc nâng cao chất lượng báo cáo phân tích,

chất lượng các ý kiến đề xuất tham mưu thiết

thực, hiệu quả

Ba là, chú trọng công tác đào tạo theo nhu

cầu và tính phù hợp, thiết thực của chương

trình đào tạo với từng loại đối tượng tham

gia khai thác thông tin từ hệ thống MPA

của KTQT

Bốn là, hoàn thiện chất lượng dữ liệu đầu

vào MPA, đặc biệt là các dữ liệu đầu vào

từ chi nhánh

Năm là, làm chặt chẽ quy trình phối hợp

giữa các bộ phận trong triển khai KTQT Như vậy, bên cạnh việc đảm bảo các điều kiện cần thiết như đã thảo luận ở phần

4, thì những khuyến nghị trên đây cũng chính là những vấn đề mà các NHTM khác có thể quán triệt ngay từ ban đầu

để hạn chế những vướng mắc có thể xảy

ra trong quá trình ứng dụng KTQT bằng công cụ hỗ trợ phân tích lợi nhuận đa chiều MPA ■

Tài liệu tham khảo

1 BIDV (2015) Quyết định số 3880/QĐ-BIDV ngày 8/6/2015 Quy định quản lý, vận hành và khai thác hệ thống MPA

2 BIDV (2016,2017, 2018) Báo cáo tài chính,

3 BIDV (2016) Quy định 8811/QĐ-BIDV ngày 31/10/2016 Quy định đo lường hiệu quả cấp phòng trên hệ thống

BIDV.

4 Burns, Quinn, Warren & Oliveira (2013) Management Accounting, McGraw-Hill, London.

5 Clinton, B.D, Matuszewski, Tidrick, D (2011) “Escaping Professional Dominance?” Cost Management New

York: Thomas Reuters RIA Group (Sep/Oct).

6 Clinton, B.D, Van der Merwe, Anton (2006) “Management Accounting - Approaches, Techniques, and

Management Processes” Cost Management New York: Thomas Reuters RIA Group (May/Jun)

7 Diệu, L.T.H (2011) Tư duy mới về quản trị công ty tại các NHTM Việt Nam

8 E&Y, Reports of E&Y Contractors, BIDV for the Consultancy project on setting up Cost and Revenue Allocation policies of BIDV (BIDV-CRA-BC03- MPA Metholodogy), p.61

9 Ha, N T (2017) Design and implementation of Multi-demensional Profitability Analysis system at BIDV

10 Hà, N.T.T, Tuấn.T.A, Khoa, L.Đ, Dung T.V (2016), Giải pháp triển khai đo lường lợi nhuận đa chiều trên toàn hệ thống BIDV Khoá đào tạo lãnh đạo ngân hàng tương lai K4/2016.

11 Hussain, M M (2002) Management accounting and performance measures in Japanese banks.

12 King, I (2105) “New set of accounting principles can help drive sustainable success” Retrieved 28 January 2015.

13 Liên, H.T (2011) “Hoàn thiện công tác quản lý chi phí tại NHTM cổ phần Liên Việt”, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học kinh tế quốc dân.

14 Lợi, N.V (2015) Doanh nghiệp Việt còn mơ hồ về kế toán quản trị, https://tinnhanhchungkhoan.vn/thuong-truong/ doanh-nghiep-viet-con-mo-ho-ve-ke-toan-quan-tri-119770.html

15 Oanh N.T.N (2005) Giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị tại NHTM cổ phần chi nhánh Điện Biên Phủ

16 Robert S Kaplan, Atkinson, Anthony, Ella Mae Matsumura, and S Mark Young (2011) Management Accounting: Information for Decision Making and Strategy Execution 6 Pearson Education

17 Sharma, V (2017) Role of Management Accounting in Banks and Merchandiser

18 Thoan, L.T.P (2013), Giải pháp ứng dụng kế toán quản trị đối với nghiệp vụ tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương chi nhánh Hoàn Kiếm, Khoá luận, Học viện Ngân hàng

19 Thơm P.T (2008) Giải pháp hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán quản trị tại các NHTM Việt Nam Luận văn

thạc sĩ, Học viện Ngân hàng

20 Thủy, T.T.T (2005) Một số giải pháp nhằm vận dụng kế toán quản trị tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Học viện Ngân hàng.

Ngày đăng: 02/03/2020, 12:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm