Các doanh nghiệp bảo hiểm thường được cho là một phân khúc tương đối ổn định của hệ thống tài chính, do bảng cân đối tài sản của các doanh nghiệp này bao gồm các khoản nợ ít tính thanh khoản. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp bảo hiểm còn góp phần ổn định thị trường tài chính thông qua việc phân bổ rủi ro, bảo hiểm cho doanh nghiệp và hộ gia đình. Tuy nhiên, với quy mô tài sản ngày càng tăng và sự đa dạng về các hàng hóa bảo hiểm, cùng với sự liên kết ngày càng chặt chẽ giữa doanh nghiệp bảo hiểm với ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp này có nguy cơ trở thành nguồn lan truyền sự bất ổn tài chính từ khu vực này sang khu vực khác. Dựa trên số liệu báo cáo từ Cục Quản lý giám sát bảo hiểm- Bộ Tài chính, bài viết phân tích thực trạng phát triển của các doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam, từ đó đánh giá vai trò của các doanh nghiệp bảo hiểm tới sự ổn định tài chính tại Việt Nam qua quy mô đầu tư và mối quan hệ.
Trang 1Trương Hoàng Diệp Hương Phạm Mỹ Linh
Viện Nghiên cứu khoa học Ngân hàng, Học viện Ngân hàng
Ngày nhận: 17/06/2019 Ngày nhận bản sửa: 06/08/2019 Ngày duyệt đăng: 27/08/2019
Các doanh nghiệp bảo hiểm thường được cho là một phân khúc tương đối
ổn định của hệ thống tài chính, do bảng cân đối tài sản của các doanh
nghiệp này bao gồm các khoản nợ ít tính thanh khoản Bên cạnh đó, các
doanh nghiệp bảo hiểm còn góp phần ổn định thị trường tài chính thông
qua việc phân bổ rủi ro, bảo hiểm cho doanh nghiệp và hộ gia đình Tuy
nhiên, với quy mô tài sản ngày càng tăng và sự đa dạng về các hàng hóa
bảo hiểm, cùng với sự liên kết ngày càng chặt chẽ giữa doanh nghiệp bảo
hiểm với ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp này có nguy cơ trở
thành nguồn lan truyền sự bất ổn tài chính từ khu vực này sang khu vực
khác Dựa trên số liệu báo cáo từ Cục Quản lý giám sát bảo hiểm- Bộ Tài
chính, bài viết phân tích thực trạng phát triển của các doanh nghiệp bảo
hiểm tại Việt Nam, từ đó đánh giá vai trò của các doanh nghiệp bảo hiểm
tới sự ổn định tài chính tại Việt Nam qua quy mô đầu tư và mối quan hệ
The development of insurance enterprises and their impacts on financial stability in Vietnam
Insurance companies are often viewed as a relatively stable segment of the financial system, since the balance sheet of these companies includes low liquidity debts In addition, insurance companies contribute
to stabilizing the financial market through reallocating risks and insurance for businesses and households However, with the increasing scale of assets and the diversity of insurance products, along with the increasingly close linkage between insurance companies and commercial banks, these businesses are at risk of becoming a source of contaging financial instability from one region to another This paper analyzes the role of insurance businesses to financial stability in Vietnam, thereby drawing some policy implications Based on data reported
by the Department of Insurance Supervision- Ministry of Finance, the article analyzes the development of insurance companies in Vietnam, thereby assessing the role of insurance businesses to financial stability in Vietnam through the scale of investment and the relationship between these businesses and the banking system Finally, the article draws some suggestions to enhance the effectiveness of macro prudential policies for insurance companies in Vietnam.
Keywords: insurance companies, financial stability
Huong Hoang Diep Truong
Email: huongthd@hvnh.edu.vn
Linh My Pham
Email: linhpm@hvnh.edu.vn
Organization of all: Institute of Banking Research, Banking Academy
Trang 2giữa các doanh nghiệp này với hệ thống ngân hàng Cuối cùng, bài viết rút
ra một số gợi ý nhằm tăng cường hiệu quả của các chính sách an toàn vĩ
mô đối với doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam.
Từ khóa: doanh nghiệp bảo hiểm, ổn định tài chính
1 Thực trạng phát triển của các doanh
nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam
1.1 Sự phát triển về quy mô
Hoạt động bảo hiểm ở nước ta đã có sự
phát triển mạnh, tính tới tháng 9/2018,
cả nước có 64 doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực bảo hiểm, trong số đó có
30 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ,
18 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 02
doanh nghiệp tái bảo hiểm và 14 doanh
nghiệp môi giới bảo hiểm (Bộ Tài chính,
2019) Nếu so sánh với thời điểm 15 năm
trước (2003), thì số doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực bảo hiểm đã tăng gần
3 lần, với các doanh nghiệp bảo hiểm phi
nhân thọ và nhân thọ chiếm chủ yếu
Cùng với sự tăng lên về số lượng doanh
nghiệp bảo hiểm, tổng doanh thu phí bảo
hiểm cũng tăng mạnh từ mức 39,14 nghìn
tỷ đồng năm 2010 lên mức 132,37 nghìn
tỷ đồng năm 2017, với tốc độ tăng trưởng
bình quân là 19%/năm (cao gấp 3,1 lần
tốc độ tăng trưởng GDP bình quân) Một
điểm dễ nhận thấy là cơ cấu đóng góp của
các loại hình bảo hiểm trong tổng doanh
thu cũng có sự thay đổi theo biến động của
các điều kiện kinh tế Nếu trong giai đoạn
2008- 2013 khi nền kinh tế gặp nhiều rủi
ro, người dân quan tâm hơn tới các dịch
vụ bảo hiểm phi nhân thọ; thì kể từ 2014
trở lại đây, trong điều kiện thu nhập bình
quân đầu người tăng, giá dịch vụ y tế tăng,
và quỹ hưu trí giảm xuống, thì doanh thu
ngành bảo hiểm chủ yếu tới từ dịch vụ
bảo hiểm nhân thọ Tính tới tháng 9/2018,
doanh thu từ hoạt động bảo hiểm nhân thọ cao gấp 2,65 lần doanh thu từ hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ Bên cạnh hoạt động bảo hiểm, thì hoạt động tái đầu tư cũng đem lại nguồn lợi nhuận đáng kể cho các doanh nghiệp bảo hiểm, năm 2017, doanh thu tái đầu tư đạt mức 24,54 nghìn
tỷ đồng, đóng góp 18,5% tổng doanh thu
và tăng gần 3 lần so với năm 2010
Sự lớn mạnh của doanh nghiệp bảo hiểm còn thể hiện ở năng lực tài chính Với mức tăng trưởng bình quân là 18,09%/năm và 18,67%/năm, tổng tài sản của các doanh nghiệp bảo hiểm đã tăng từ 99 nghìn tỷ đồng năm 2010 lên mức 370 nghìn tỷ đồng 9/2018, trong khi tổng dự phòng nghiệp vụ tăng từ mức 55 nghìn tỷ đồng lên mức 234 nghìn tỷ đồng, tương ứng
Xét riêng về tổng tài sản, thì kể từ 2013, các doanh nghiệp bảo hiểm đã vượt qua các công ty chứng khoán và công ty tài chính, trở thành tổ chức tài chính đứng thứ
2, chỉ xếp sau các NHTM trong tổng số các tổ chức tài chính tại Việt Nam Tương quan khác biệt giữa tổng tài sản của các NHTM với các doanh nghiệp bảo hiểm cũng không còn lớn như 6 năm trước (40,8 lần năm 2011 so với 30,4 lần năm 2017) Thị trường bảo hiểm cũng thể hiện sự cạnh tranh lớn, với mức độ tập trung cao vào một số doanh nghiệp chủ chốt Tại phân khúc bảo hiểm phi nhân thọ, 7 doanh nghiệp bảo hiểm hàng đầu là Bảo Việt, PVI, Bảo Minh, PTI, Pijco, VASS, và BIC chiếm tới 68% thị phần, trong khi 23 doanh nghiệp còn lại chia nhau 32% thị
Trang 3phần Trong đó, Bảo Việt là doanh nghiệp
bảo hiểm phi nhân thọ lớn nhất, chiếm
19 % thị phần, theo sau là PVI (16% thị
phần) Tại phân khúc bảo hiểm nhân thọ,
5 doanh nghiệp lớn nhất là Bảo Việt Life
(26%), Prudential (25%), Manulife (12%),
Daiichi (12%), và AIA (9,5%), 13 doanh
nghiệp còn lại chia nhau 15,5% thị phần
Theo nhận định của SSI (2018), chính sự
cạnh tranh khốc liệt và các quy định ngày
càng chặt chẽ về vốn pháp định là những
rào cản gia nhập thị trường bảo hiểm tại
Việt Nam
So với các quốc gia trên thế giới, thị
trường bảo hiểm Việt Nam vẫn còn nhiều
tiềm năng phát triển Hình dưới cho thấy
các quốc gia phát triển có mật độ bảo hiểm
(doanh thu phí bảo hiểm trên đầu người)
và mức độ thâm nhập của thị trường bảo hiểm (doanh thu phí bảo hiểm trên GDP) đều ở mức cao (trung bình 3.517 USD và 7,8%); trong khi đó, các quốc gia mới nổi
có mật độ bảo hiểm và mức độ thâm nhập thị trường bảo hiểm ở mức thấp hơn (166 USD và 3,3%, tương ứng) (Swiss re sigma
8, 2018) Có thể nhận thấy, quy mô của thị trường bảo hiểm tỷ lệ thuận với mức
độ phát triển kinh tế Nói cách khác, khi thu nhập đầu người tăng lên, người dân
có xu hướng chi tiêu nhiều hơn cho dịch
vụ bảo hiểm nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của mình trước những rủi ro có thể xảy đến Nếu xét thị trường bảo hiểm tại Việt Nam năm 2017, mức độ bảo hiểm mới đạt 50 USD, trong khi mức độ thâm nhập
Hình 1 Số lượng doanh nghiệp bảo hiểm
Nguồn: Bộ Tài chính, 2019
Hình 2 Quy mô thị trường bảo hiểm
Nguồn: Bộ Tài chính, 2019
Trang 4mới đạt 2,2%, thấp hơn nhiều so với mức
trung bình chung của thế giới (650 USD
và 6,1%, tương ứng) Điều này cho thấy
dư địa phát triển của ngành Bảo hiểm Việt
Nam vẫn còn rất lớn
1.2 Sự phát triển về sản phẩm
Các doanh nghiệp bảo hiểm đã đẩy mạnh
phát triển sản phẩm mới theo hướng ngày
càng hoàn thiện và đa dạng hóa, trên cả
hai phân khúc thị trường bảo hiểm phi
nhân thọ và bảo hiểm nhân thọ
1.2.1 Sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ
Trên thị trường bảo hiểm nhân thọ, quy
mô phát triển của các nghiệp vụ bảo hiểm
đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ, từ mức 13,8 nghìn tỷ đồng năm 2010 lên mức 41,59 nghìn tỷ đồng năm 2017 Trong đó, mức tăng trưởng lớn nhất thuộc về nghiệp
vụ bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính (22,47 lần), tiếp đó là bảo hiểm thiệt hại kinh doanh (13,36 lần) và bảo hiểm sức khỏe (4,89 lần) Điều này cho thấy sức khỏe của nền kinh tế đã được phản ánh vào thị trường bảo hiểm Khi nền kinh tế gặp vấn đề ở khâu nào thì mức độ người dân và doanh nghiệp tham gia bảo hiểm ở khâu đó sẽ tăng lên
Hình 3 Tổng tài sản và tổng dự phòng nghiệp vụ của các công ty bảo hiểm
Nguồn: Bộ Tài chính, 2019
Thị trường phi nhân thọ Thị trường nhân thọ
Hình 4 Thị phần doanh thu phí bảo hiểm năm 2017
Nguồn: Bộ Tài chính, 2019
Trang 5Về mặt sản phẩm, số lượng sản phẩm bảo
hiểm phi nhân thọ tăng từ 200 sản phẩm
năm 1999 lên hơn 1000 sản phẩm năm
2019 (Bảo Việt Securities, 2019) Đặc
biệt, kể từ năm 2014 đã xuất hiện thêm
nghiệp vụ bảo hiểm bảo lãnh Đây là
nghiệp vụ mà doanh nghiệp bảo hiểm sẽ
thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo
lãnh nếu khi đến thời hạn mà bên được
bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ của mình Sự tăng
mạnh về số lượng và sự đa dạng về loại
hình bảo hiểm đã đặt ra những thách thức
nhất định trong công tác quản lý thị trường
bảo hiểm phi nhân thọ
Về mặt cơ cấu, qua 7 năm, bảo hiểm xe
cơ giới vẫn là nghiệp vụ đem lại doanh
thu cao nhất cho các doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ (chiếm 1/3 doanh thu)
Tuy nhiên, cơ cấu doanh thu đã có sự thay
đổi, sự đóng góp của nghiệp vụ bảo hiểm
sức khỏe đã tăng từ mức 14% năm 2010
lên mức 26% năm 2017, ngược lại sự
đóng góp của bảo hiểm tài sản và thiệt hại
giảm từ 22% xuống còn 15%, tương ứng
Ô nhiễm môi trường, nguy cơ mắc bệnh
hiểm nghèo và chi phí dịch vụ y tế tăng lên là các nguyên nhân dẫn đến việc người dân quan tâm hơn đến dịch vụ bảo hiểm sức khỏe Chỉ tính riêng nghiệp vụ này, theo thống kê của the banker (2019), đã có đến 61 loại sản phẩm bảo hiểm khác nhau,
đa dạng về đối tượng thụ hưởng, phí bảo hiểm, thời gian bảo hiểm, các loại bệnh được bảo hiểm đến đơn vị cung cấp
1.2.2 Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
Trên thị trường bảo hiểm nhân thọ, quy
mô phát triển các nghiệp vụ bảo hiểm còn tăng lên nhiều hơn thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Với mức tăng 4,8 lần trong vòng
7 năm, tổng doanh thu các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ tăng từ mức 13,77 nghìn tỷ đồng lên mức 66,23 nghìn tỷ đồng Trong
đó, loại trừ các nghiệp vụ mới phát sinh, thì mức tăng nhiều nhất thuộc về nghiệp vụ bảo hiểm trả tiền định kỳ (14,8 lần), tiếp đó
là nghiệp vụ liên kết đầu tư (13,08 lần)
Về mặt sản phẩm, số lượng sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đã tăng từ 100 sản phẩm năm 2009 lên 350 sản phẩm năm 2016
Hình 5 Quy mô phát triển của thị trường bảo hiểm của Việt Nam so với thế giới
Nguồn: Swiss re sigma 5/2018, 2018
Trang 6(Bảo Việt Securities, 2019); đặc biệt là sự
xuất hiện của 3 nghiệp vụ mới là nghiệp
vụ bảo hiểm nhóm phát sinh từ 2016, bảo
hiểm nhân thọ kèm bảo hiểm sức khỏe
phát sinh từ 2016, và bảo hiểm hưu trí
phát sinh từ 2014 Trong đó, bảo hiểm
nhóm là việc bảo hiểm cho một nhóm
người tham gia bảo hiểm đồng nhất nhằm
áp dụng quy luật số đông, thay vì bảo
hiểm cho 1 người hoặc người trong cùng 1
gia đình như trước đây Bảo hiểm hưu trí
là bảo hiểm mà người tham gia đóng góp tiền tiết kiệm định kỳ vào các sản phẩm hưu trí và sẽ được nhận chi trả từ quỹ khi đến tuổi nghỉ hưu, còn bảo hiểm nhân thọ sức khỏe là sản phẩm bảo hiểm kết hợp đặc điểm của cả bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe Như vậy, các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đã có sự đa dạng và phức tạp hơn nhiều so với giai đoạn trước Điều này khiến việc quản lý thị trường bảo hiểm nhân thọ gặp nhiều khó khăn
Hình 6 Quy mô phát triển các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ
Nguồn: Bộ Tài chính, 2019
Hình 7 Cơ cấu doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ gốc theo nghiệp vụ
Nguồn: Bộ Tài chính, 2019
Trang 7Về mặt cơ cấu, bảo hiểm hỗn hợp tiếp tục
là loại hình bảo hiểm nhân thọ được ưa
chuộng nhất Tuy nhiên, cùng với sự ra
đời của các sản phẩm bảo hiểm mới, mức
độ đóng góp của bảo hiểm hỗn hợp trong
tổng doanh thu phí bảo hiểm đã giảm từ
76% năm 2010 xuống còn 45% năm 2017
Ngược lại, loại hình bảo hiểm nhân thọ
phổ biến thứ 2, bảo hiểm liên kết đầu tư
vẫn có mức tăng trưởng khả quan, số hợp
đồng có hiệu lực đã tăng hơn 5 lần trong
7 năm, từ mức 415 nghìn hợp đồng năm
2010 lên mức 2.833 nghìn hợp đồng năm
2017 Cùng lúc, số tiền bảo hiểm bình
quân trên mỗi hợp đồng cũng có sự cải
thiện đáng kể so với giai đoạn trước, phù
hợp hơn với tình hình thực tế và đáp ứng
được nhu cầu đảm bảo an toàn của người
sử dụng
2 Tầm quan trọng của các công ty bảo
hiểm với sự ổn định tài chính
Với cơ cấu tài sản có tính thanh khoản
thấp, các doanh nghiệp bảo hiểm có thể
không được coi là một nguồn rủi ro chính
dẫn tới khủng hoảng, nhưng được coi là một nguồn khiến sự mất ổn định tài chính trở nên trầm trọng thêm (Vucetich và cộng
sự, 2014) Các doanh nghiệp bảo hiểm có thể có vai trò quan trọng đối với ổn định
hệ thống tài chính chủ yếu vì 2 nguyên nhân sau: (1) do họ là các nhà đầu tư lớn trên thị trường, và (2) do sự liên kết ngày càng tăng giữa các doanh nghiệp bảo hiểm
và ngân hàng thương mại
2.1 Sự ảnh hưởng từ quy mô đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm
Các doanh nghiệp bảo hiểm là những nhà đầu tư lớn trên thị trường tài chính, do họ
có thể tái đầu tư khoản phí bảo hiểm nhận được từ khách hàng Trong vòng 7 năm, tổng mức tái đầu tư vào nền kinh tế của các doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam
đã tăng từ mức 80,5 nghìn tỷ đồng năm
2010 lên mức 247,8 nghìn tỷ đồng năm
2017 (gấp 3 lần) Để đạt được mức tăng trưởng như trên, trung bình một năm, tốc
độ tăng trưởng tái đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm phải đạt 17,4%/năm, tức
Hình 8 Quy mô phát triển các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ
Nguồn: Bộ Tài chính, 2019
Trang 8là gần gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng kinh
tế Trong đó, các doanh nghiệp bảo hiểm
nhân thọ là những nhà đầu tư chính trên
thị trường
Trong phần lớn thời gian, do có chiến lược
đầu tư dài hạn, mà các doanh nghiệp bảo
hiểm có thể được coi là nhà đầu tư ổn định
trên thị trường Tuy nhiên, do sự thay đổi
quy mô đầu tư và chuyển dịch cơ cấu đầu
tư, mà các doanh nghiệp bảo hiểm có thể
tạo ra ảnh hưởng nhất định trên thị trường,
và do đó, ảnh hưởng tới sự ổn định tài
chính thông qua việc gây ra các biến động
về giá tài sản (ECB, 2009)
Trong danh mục đầu tư, trái phiếu chính phủ (TPCP) và các trái phiếu do Chính phủ bảo lãnh tiếp tục là loại tài sản được các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư nhiều nhất sau 7 năm Tuy nhiên, cơ cấu đầu
tư đã có sự thay đổi nhất định, khi trong năm 2017, tài sản này chiếm tới 54%
trong tổng danh mục đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm Quy mô đầu tư vào trái phiếu Chính phủ và các trái phiếu do
Hình 9 Số lượng các hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực
Nguồn: Bộ Tài chính, 2019
Hình 10 Cơ cấu doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ gốc theo nghiệp vụ
Nguồn: Bộ Tài chính, 2019
Trang 9Chính phủ bảo lãnh đã tăng tới 5,6 lần
trong 7 năm, từ mức 24 nghìn tỷ năm
2010 lên mức 134,2 nghìn tỷ năm 2017
Sở dĩ có sự điều chỉnh như vậy là do trong
những năm gần đây, Kho bạc Nhà nước
đã phát hành trái phiếu Chính phủ ở các
kỳ hạn dài từ 5 năm trở lên đến 7 năm,
15 năm, 20 năm và 30 năm Điều này cho
thấy bước đầu cơ cấu nhà đầu tư trên thị
trường trái phiếu (TTTP) đã có sự thay đổi
theo hướng ngày càng thu hút sự tham gia
của các nhà đầu tư dài hạn như các công
ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư và các tổ chức
có nhu cầu nắm giữ TPCP dài hạn khác
Định hướng phát triển thị trường trái phiếu
kho bạc được Chính phủ đề ra là thực hiện
đa dạng hóa kỳ hạn phát hành TPCP, trong
đó chú trọng phát hành TPCP kỳ hạn dài
để đáp ứng nhu cầu đầu tư TPCP của các
công ty bảo hiểm, bảo hiểm xã hội, các
quỹ đầu tư Với định hướng trên, cơ cấu
nhà đầu tư có sự cải thiện theo hướng tích
cực, giảm tỷ lệ nắm giữ của các ngân hàng
thương mại (NHTM), tăng tỷ lệ của các
nhà đầu tư dài hạn Tỷ trọng đầu tư của
các công ty bảo hiểm xã hội, doanh nghiệp
bảo hiểm, bảo hiểm tiền gửi và quỹ đầu
tư năm 2017 tăng 3% so với năm 2016
(năm 2016 là khoảng 44,7 %, năm 2017
là khoảng 47,6%) Với quy mô ngày càng
tăng, hành vi đầu tư của các doanh nghiệp
bảo hiểm có thể ảnh hưởng tới lãi suất
dài hạn và giá cả trên thị trường thứ cấp
Ngoài ra, các doanh nghiệp bảo hiểm cũng
trở thành nguồn cung cấp tài chính quan
trọng cho chính phủ và các công ty
Ngoài việc trực tiếp sử dụng vốn để tái
đầu tư vào nền kinh tế, các doanh nghiệp
bảo hiểm còn thực hiện việc đầu tư hộ
người tham gia bảo hiểm thông qua sản
phẩm bảo hiểm nhân thọ liên kết đầu
tư Theo đó, các chuyên gia đầu tư của
doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm
tìm kiếm, lựa chọn các tài sản đầu tư để lập nên bản danh mục đầu tư Hình thức bảo hiểm nhân thọ liên kết đầu tư đã phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây Năm 2017, số tiền bảo hiểm theo hợp đồng của loại hình bảo hiểm liên kết đầu
tư là 1.183 nghìn tỷ đồng, trong khi số tiền phí bảo hiểm đạt khoảng 28,8 nghìn tỷ đồng Dữ liệu trên cho thấy sức ảnh hưởng của các doanh nghiệp bảo hiểm khi họ thay đổi chiến lược đầu tư Dù vậy, trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp bảo hiểm thường có chiến lược dài hạn, và do đó giúp ổn định giá cả khi thị trường tài chính
có vấn đề
2.2 Sự ảnh hưởng từ liên kết giữa các công
ty bảo hiểm và ngân hàng thương mại
Từ quan điểm ổn định tài chính, sự xuất hiện của mối liên kết giữa hệ thống ngân hàng và các doanh nghiệp bảo hiểm là rất quan trọng, do sự liên kết như vậy có thể quyết định đến kênh chuyển tải rủi ro từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác Các kênh chuyển tải đó có thể không trực tiếp (ví dụ, thông qua hoạt động trên thị trường của các doanh nghiệp bảo hiểm) hoặc trực tiếp (thông qua liên kết về sở hữu và lợi ích giữa doanh nghiệp bảo hiểm và ngân hàng) Trong giai đoạn gần đây, xu hướng liên kết giữa các ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng phát triển Các ngân hàng liên kết với doanh nghiệp bảo hiểm theo nhiều hình thức và cấp độ khác nhau, bao gồm: (1) ngân hàng ký thỏa thuận phân phối sản phẩm với doanh nghiệp bảo hiểm, đóng vai trò là người đại diện bán hàng hoặc môi giới bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm; (2) ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm nắm giữ cổ phần của nhau; (3) liên doanh: ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm cùng thành lập một
Trang 10doanh nghiệp bảo hiểm mới để cùng kinh
doanh; (4) ngân hàng mua toàn bộ hoặc
một phần doanh nghiệp bảo hiểm hoặc
ngược lại; và (5) ngân hàng thành lập một
doanh nghiệp bảo hiểm mới (Huỳnh Thị
Hương Thảo, 2008)
Tại Việt Nam, việc các ngân hàng thương
mại lớn tham gia trực tiếp vào thị trường bảo hiểm thông qua hình thức góp vốn, mua lại cổ phần hoặc liên kết thành lập doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng phổ biến Mở đầu bằng việc Vietinbank thành lập doanh nghiệp bảo hiểm VBI năm 2002, hiện nay, theo thống kê của tác giả, đã có 8 ngân hàng lớn trực tiếp sở hữu cổ phần tại một doanh nghiệp bảo hiểm Bên cạnh hình thức sở hữu trực tiếp, các ngân hàng tại Việt Nam còn ký kết thỏa thuận hợp tác, làm đại lý giới thiệu và bán sản phẩm bảo hiểm cho các doanh nghiệp bảo hiểm Lợi ích từ sự hợp tác này là đa dạng hóa nguồn thu nhập, giảm thiểu chi phí, và tận dụng được các kênh phân phối sản phẩm đã có Bên cạnh
đó, ngân hàng và các doanh nghiệp bảo hiểm có thể tận dụng lợi thế từ việc kết hợp hai cấu trúc bảng cân đối tài sản khác nhau, giữa ngân hàng- đơn vị có thời hạn đáo hạn của tài sản dài hơn thời hạn đáo hạn của
Bảng 1 Danh mục tái đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm
Đơn vị tính: nghìn tỷ đồng
(lần)
Nhân thọ Phi nhân thọ Tổng cộng Nhân thọ Phi nhân thọ Tổng cộng
Trái phiếu chính phủ, trái phiếu được
chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính
quyền địa phương
Cổ phiếu, chứng chỉ quỹ, trái phiếu
Nguồn: Bộ Tài chính, 2019
Hình 11 Cơ cấu tái đầu tư của các doanh nghiệp
bảo hiểm
Nguồn: Bộ Tài chính, 2019