1. Trang chủ
  2. » Tất cả

QUẢN LÝ THEO CÁCH TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

16 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 448,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước nhu cầu quản lý và phát triển bền vững tài nguyên TN và bảo vệ môi trường BVMT biển, quản lý dựa vào hệ sinh thái được xem là nguyên tắc cơ bản trong chính sách biển của nhiều quốc

Trang 1

KHU BẢO TỒN BIỂN CÙ LAO CHÀM – MỘT MÔ HÌNH THÀNH CÔNG VỀ QUẢN LÝ

THEO CÁCH TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI, DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

Chu Mạnh Trinh1; Hứa Chiến Thắng2

1 Giới thiệu

Quản lý dựa vào hệ sinh thái là một cách quản lý theo tiếp cận tổng hợp mà bản chất là xem xét các mối liên hệ xuyên suốt trong toàn hệ thống sinh thái, thông qua các tác động và ảnh hưởng tích tụ từ những hoạt động do con người tạo ra Trước nhu cầu quản lý và phát triển bền vững tài nguyên (TN) và bảo vệ môi trường (BVMT) biển, quản lý dựa vào hệ sinh thái được xem

là nguyên tắc cơ bản trong chính sách biển của nhiều quốc gia có biển như Úc, Mỹ, Canada…và đặc biệt là đã được áp dụng thực tiễn thành công tại Khu bảo tồn biển (KBTB) Great Barrier Reef Marine Park của Úc, vùng biển Bering của Mỹ

Nếu đây là thế kỷ của cộng đồng cùng chung tay BVMT và sử dụng bền vững TN trước thiên tai bởi hiệu ứng của biến đổi khí hậu; thì quản lý theo cách tiếp cận hệ sinh thái, dựa vào cộng đồng là giải pháp định hướng cộng đồng đến sự phát triển kinh tế xã hội bền vững trên cơ sở

hệ sinh thái

 Đặc điểm/giá trị Cù Lao Chàm

Quần đảo Cù Lao Chàm nằm tách xa đất liền gồm 8 đảo lớn nhỏ khác nhau thuộc tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Hội An khoảng 15 km từ vùng Cửa Đại về hướng Đông Trong quần đảo Cù Lao Chàm chỉ có Hòn Lao là có người ở, với số dân khoảng 2.600 người được chia thành hai cụm cộng đồng dân cư Bãi Làng và Bãi Hương

Người dân trên đảo này đã trải qua bao đời có sinh kế phụ thuộc vào nguồn lợi tự nhiên của các hệ sinh thái rừng và biển như: vụng biển, rạn san hô, thảm cỏ biển, ghềnh đá và bờ cát,… Với sức hấp dẫn của một môi trường không khí trong lành và phong cảnh thiên nhiên núi rừng giữa biển khơi, đã tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình của các làng chài với những bãi biển vẫn còn nguyên vẻ đẹp hoang sơ Các hệ sinh thái quan trọng này còn tạo cho vùng biển Cù Lao Chàm một đố tượng tiềm năng bảo tồn cao Người dân Cù Lao Chàm thì vẫn giữ được nét mộc mạc chân quê, hiếu khách của ngư dân vùng biển từ bao đời gắn liền với truyền thống văn hóa địa phương; những ngôi nhà ngày đêm không bao giờ khóa cửa dù vắng mặt chủ nhân cũng là một ấn tượng, thu hút ngày càng đông du khách đến tham quan và nghỉ dưỡng Biển bao bọc xung quanh

Cù Lao Chàm, vì thế sinh kế của hơn 80% tổng số dân trên đảo chủ yếu dựa vào đánh bắt cá gần bờ; chỉ trừ nghề câu, mành hoạt động cách bờ vài chục hải lý trở lại, còn đại đa số đánh bắt qua đêm chỉ vài giờ chạy tàu Phần còn lại làm nông nghiệp, dịch vụ, buôn bán nhỏ phục vụ nhu cầu của dân trên đảo và hành chính văn phòng Nguồn tài nguyên rừng cũng được cư dân nghèo trên đảo khai thác, đặc biệt là nguồn dược liệu thiên nhiên quý hiếm như rau rừng, lá thuốc

Chính vì vậy, dù chỉ một thay đổi nhỏ thôi của MT cũng tức khắc ảnh hưởng đến đời sống

hệ sinh thái biển, rừng, TN biển và cộng đồng ở đây

 Lý do hình thành khu bảo tồn biển

Thành lập KBTB Cù Lao Chàm là chủ trương của Chính phủ Việt Nam về Chiến lược quản

lý hệ thống Khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam; để quản lý bảo vệ nguồn lợi tài nguyên biển, hệ sinh thái biển, đa dạng sinh học và phát triển kinh tế biển, hải đảo, ven biển và bảo vệ biên giới biển của đất nước

Trước hiện trạng khai thác quá mức nguồn lợi tài nguyên biển hiện nay có thể phá vỡ cân bằng sinh thái trong tương lai gần; thì việc xây dựng vùng đảo Cù Lao Chàm trở thành một KBTB quan trọng trong hệ thống 16 KBTB Việt Nam với 02 mục đích là bảo tồn đa dạng sinh học, BVMT và sử dụng bền vững TN để phát triển kinh tế - xã hội, ổn định thu nhập, cải thiện đời sống cho cộng đồng, cũng là nhằm cải thiện quản lý nghề cá, bảo vệ phục hồi hệ sinh thái, bảo tồn phát triển đa dạng sinh học và nguồn lợi biển để khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên

1 BQL Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm

2 Trung tâm QHĐTĐG TNMT biển đảo, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

Trang 2

Thông qua cải thiện quản lý về vấn đề rác thải sinh hoạt gây ô nhiễm môi trường biển, đe dọa nghiêm trọng đến chất lượng tài nguyên biển, đồng thời, phát triển du lịch biển - đảo để cải thiện về sinh kế cho cộng đồng địa phương tại Đảo Kinh nghiệm của Thế giới cho thấy, việc thành lập KBTB cũng là sự tăng cường hợp tác giữa các bên liên quan, như: Nhà nước, các nhà khoa học, các tổ chức phi Chính phủ và cộng đồng địa phương cùng quản lý hiệu quả TN, BVMT trong KBTB

Để đáp ứng nhu cầu trên, Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm đã định hướng đến một phương thức quản lý và bảo vệ TN, sử dụng bền vững MT, lấy cộng đồng làm trọng tâm; đó chính là phương thức quản lý hệ sinh thái dựa vào cộng đồng, theo cách tiếp cận quản lý tổng hợp

 Mục tiêu đề ra ban đầu

Từ những cơ sở trên, một giải pháp tối ưu được đưa ra để vận động cộng đồng địa phương tham gia chia sẻ trách nhiệm, quyền lợi theo mô hình đồng quản lý bảo vệ và sử dụng hợp lý TN, BVMT ở KBTB Cù Lao Chàm

Mặc dù sự tham gia của cộng đồng trong BVMT, sử dụng hợp lý TN nói chung và biển nói riêng đã dần được trở thành các ưu tiên trong chính sách của Việt Nam; pháp lý hoá và được cụ thể trong nhiều văn bản chính sách, pháp luật khác nhau (Chỉ thị số 36 - CT/TW của Bộ Chính trị Trung ương Đảng CSVN ngày 26/8/1998 về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; Nghị quyết số 41 - NQ/TW ban hành ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trường; Luật Thủy sản ban hành tháng 11/2003,…) nhưng đến nay vẫn chưa có một mô hình đồng quản lý được tổng kết và đưa và hướng dẫn chung để áp dụng bài bản, đặc biệt các mô hình đồng quản lý cho KBTB chưa được phân tích sâu việc chia sẻ trách nhiệm

và lợi ích (quyền và lợi) cho cộng đồng được tham gia vào sự nghiệp quản lý khai thác bền vững

TN, BVMT và bảo vệ biên giới, chủ quyền quốc gia trên biển, hải đảo và các vùng ven biển của đất nước

Vì vậy, việc “Xây dựng mô hình đồng quản lý TN, BVMT tại KBTB Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam” để vận động cộng đồng địa phương tham gia với tư cách “chủ thể” không phải

“khách thể” là một đòi hỏi khách quan, một nhu cầu thực tế ở nước ta như là một trong những mẫu hình quản lý hệ sinh thái dựa vào cộng đồng trong hoàn cảnh hiện nay và trong tương lai

 Phạm vi

Dự án Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm (10/2003 đến 10/2006) được thành lập trên cơ sở

ký kết thoả thuận song phương giữa hai Chính phủ Đan Mạch và Việt Nam, nhằm giúp cho tỉnh Quảng Nam cụ thể là thành phố Hội An mà trực tiếp là xã đảo Tân Hiệp khoanh vùng, xây dựng

235 km2 vùng biển của mình thành khu bảo tồn biển; và đó chính là tiền thân của Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam ngày nay

Hình 1: Phân vùng Khu BTB Cù Lao Chàm

Trang 3

2 Các nội dung/nhiệm vụ khu bảo tồn biển

a Công tác chuẩn bị

Vào năm 2000, Bộ Thuỷ sản đã được chỉ định hợp tác với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường có trách nhiệm hoàn thành quy hoạch và quản lý hệ thống các khu bảo tồn biển Việt Nam Một danh mục đề nghị 15 khu bảo tồn biển đã được công bố, trong đó Hòn Mun của tỉnh Khánh Hoà là Khu bảo tồn biển đầu tiên được xây dựng với một dự án kéo dài trong 4 năm (2001 – 2005) với sự tài trợ tài chính của Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF), Cơ quan Phát triển Quốc tế của Chính phủ Đan Mạch (DANIDA), và được thực hiện bởi địa phương cùng cộng tác với Cơ quan Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế tại Việt Nam (IUCN) Tiếp theo là Cù Lao Chàm của tỉnh Quảng Nam, địa phương thứ hai được lựa chọn để trình diễn thí điểm về Bảo tồn biển ở Việt Nam

Dự án Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm được hình thành trên cơ sở là sự ký kết giữa hai Chính phủ Đan Mạch và Việt Nam nhằm hỗ trợ mạng lưới bảo tồn biển Việt Nam, và nhằm giúp cho tỉnh Quảng Nam mà cụ thể là thị xã Hội An và trực tiếp là xã đảo Tân Hiệp, Cù Lao Chàm xây dựng vùng đảo này thành một khu bảo tồn biển với 2 mục đích lâu bền đó là: (a) Bảo tồn nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên, văn hoá và lịch sử của quần đảo Cù Lao Chàm kết hợp với việc (b) Sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hoá, lịch sử của Cù Lao Chàm cho việc phát triển kinh tế xã hội ở đây

Dự án được triển khai từ tháng 10/2003, được thực hiện trong 3 năm, và kết thúc vào ngày 30/9/2006 Trong thời gian của 3 năm này Dự án hoạt động trên cơ sở tài trợ của 2 Chính phủ Việt Nam và Đan Mạch Về phía Đan Mạch, chi phí chính là khoảng 1 triệu USD, bao gồm tiền thuê cố vấn trưởng, chuyên gia quốc tế và trong nước, chi phí hoạt động dự án, chi phí nhân viên

và các khoảng khác như thiết bị, hỗ trợ vv Về phía Quảng Nam sự đóng góp đó là nhân lực bao gồm một một Ban chỉ đạo dự án, Trưởng ban chỉ đạo là Phó Chủ tịch Tỉnh, một giám đốc, một phó giám đốc, và một quản lý, cơ sở hạ tầng như là văn phòng làm việc, đất xây dựng trung tâm

du khách và các cộng tác viên khác từ các sở ban ngành, thị xã Hội An, và xã đảo Tân Hiệp

b Xây dựng khu bảo tồn biển (từ năm 2003 đến năm 2006)

- Năng lực quản lý của cán bộ, nhân viên và những người có liên quan đến công tác bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và quản lý, sử dụng hợp lý, bền vững nguồn lợi đó của tỉnh, huyện, xã được cải thiện và phát triển, thông qua công tác đào tạo theo nhu cầu được đánh giá Có

19 thành viên tham gia tham quan học tập nước ngoài với 5 chuyến tham quan khảo sát các mô hình và học tập trao đổi kinh nghiêm với cá khu bảo tồn biển, vườn quốc gia, hội nghị bảo tồn quốc tế ở các nước Thái Lan, Malaysia, Singapore, Anh, Trung Quốc, và Úc Tổ chức cho 116 thành viên, trong đó bao gồm 40 cán bộ và 76 người dân địa phương tham quan học tập các mô hình bảo tồn trong nước Các điểm đến tham quan học tập trong nước là các khu bảo tồn Núi Chúa, Phong Nha, Kẽ Bàng, Phú Quốc, Côn Đảo, Vịnh Hạ Long, Cần Giờ, Hòn Mun, Rạng Trào, Hội An, Mỹ Sơn, Huế…Có 800 người, trong đó gần 75% thành viên từ cộng đồng địa phương tham gia theo các nhóm đào tạo tăng cường nhận thức, kỹ thuật cộng đồng, và ngành nghề hỗ trợ cho phát triển sinh kế, với tổng số 29 khóa đào tạo tại các cơ sở Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Tp Hồ Chí Minh Trong ba năm hoạt động của dự án đã có gần 2/3 tổng số dân

cư trên đảo tham dự các hoạt động này của bảo tồn, cụ thể là có hơn 1.868 người lớn (trong đó có khoảng 50% là phụ nữ) và 606 trẻ em tham gia Tại thị xã Hội An đã có gần 334 lượt người tham

dự các hoạt động nâng cao nhận thức về bảo tồn

- Một hệ thống quản lý thông tin và chương trình quan trắc Khu bảo tồn biển được xây dựng và hoạt động cập nhật

- Nhận thức cộng đồng về giá trị các nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hoá, lịch sử và môi trường, cũng như việc quản lý, bảo vệ và sử dụng bền vững các nguồn lợi này được cải thiện và nâng cao thông qua một chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng được xây dựng và thực hiện có hiệu quả

Trang 4

- Một phương thức quản lý bảo tồn biển có sự tham gia của cộng đồng được hình thành và phát triển thông qua việc xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lý Khu bảo tồn biển có sự tham gia của cộng đồng trên cơ sở các tài liệu quản lý Khu bảo tồn biển

- Các hoạt động ưu tiên được xác định trong kế hoạch quản lý được thực hiện bao gồm các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, quản lý chất thải và việc đầu tư các phương tiện, thiết bị,

cơ sở vật chất kỹ thuật và các công cụ phục vụ cho quản lý

- Các hoạt động hỗ trợ cải thiện sinh kế được thực hiện, tạo cơ sở bước đầu cho kế hoạch cải thiện thu nhập của cộng đồng bằng kết quả của các hoạt động phát triển và quản lý tốt nguồn tài nguyên thiên nhiên

c Hoạt động quản lý và phát triển khu bảo tồn biển (từ năm 2006 đến năm 2011)

- Phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo tồn biển, tổ chức triển khai các hoạt động quản lý, bảo tồn, khai thác và phát huy các giá trị của Khu bảo tồn biển về đa dạng sinh học, tài nguyên thiên nhiên, văn hoá lịch sử, khoa học, giáo dục đào tạo, du lịch sinh thái, vui chơi giải trí, ., tổ chức triển khai thực hiện Quy chế quản lý KBTB Cù Lao Chàm do UBND tỉnh ban hành

- Tiếp nhận và triển khai Hợp phần hỗ trợ sinh kế bền vững trong và chung quanh KBTB

Cù Lao Chàm trong chương trình hỗ trợ về môi trường của Đan Mạch dành cho Việt Nam

- Nghiên cứu mở rộng công tác quản lý, bảo tồn biển và các hệ sinh thái, đáp ứng yêu cầu công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

-Tổ chức điều tra, theo dõi diễn biến tài nguyên thiên nhiên, hệ sinh thái, đặc biệt là các loài động vật, thực vật quý hiếm Thực hiện việc thống kê, kiểm kê tài nguyên, định kỳ báo cáo với Sở Nông nghiệp & PTNT, UBND tỉnh và Bộ Nông nghiệp & PTNT

- Tổ chức quan trắc, theo dõi, đánh giá diễn biến các thành phần môi trường của khu vực

và tác động của nó lên hệ sinh thái, cảnh quan của KBTB; tổ chức lực lượng và trang thiết bị cần thiết cho các hoạt động bảo vệ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học KBTB

- Tổ chức lưu giữ, xử lý số liệu phục vụ công tác thống kê, kiểm kê quản lý tài nguyên KBTB

- Tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học, văn hoá xã hội và các loại hình dịch vụ có thu liên quan đến KBTB theo quy định của pháp luật; tổ chức triển khai các dự án phục hồi hệ sinh thái, tái tạo nguồn lợi thuỷ sản

- Tổ chức các hoạt động thông tin tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, năng lực quản lý cho cộng đồng và các tổ chức chính trị - xã hội, xã hôị - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế có các hoạt động liên quan đến KBTB Cù Lao Chàm

- Triển khai các biện pháp nhằm duy trì và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên thuỷ sinh vật đồng thời phối hợp với các cấp chính quyền, các cơ quan liên quan để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên khác trong phạm vi KBTB

- Tổ chức phối hợp kiểm tra, kiểm soát phát hiện, ngăn chặn, bắt giữ và xử lý hoặc bàn giao cho các cơ quan có thẩm quyền xử lý các đối tượng có hoạt động vi phạm quy định quản lý KBTB

- Tham gia thẩm định các dự án phát triển kinh tế - xã hội có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến KBTB Cù Lao Chàm

- Tổ chức các hoạt động tham quan, dịch vụ du lịch sinh thái trong Khu bảo tồn biển; tổ chức thu phí tham quan, dịch vụ du lịch, bảo tồn biển theo quy định

- Phối hợp với các Sở: Tài chính, Du lịch, Thể dục thể thao và các cơ quan đơn vị địa phương có liên quan xây dựng quy chế quản lý các hoạt động dịch vụ du lịch, thể thao giải trí trên biển trình cấp có thẩm quyền quyết định và triển khai thực hiện

3 Kết quả chính của KBTB Cù Lao Chàm

 KBTB Cù Lao Chàm đã quản lý được TN, BVMT trên cơ sở hệ sinh thái

KBTB Cù Lao Chàm với phương thức đồng quản lý đã hỗ trợ phát triển sinh kế thay thế tại địa phương để vận động cộng đồng tích cực tham gia hoạt động bảo tồn, trước kia người dân sống trên đảo chỉ sống vào phương thức đánh bắt nguồn lợi tự nhiên và chế biến hải sản nhưng

Trang 5

ngày nay đã có thu nhập thêm từ các hoạt động dịch vụ khách thăm quan du lịch, quản lý KBTB, chăn nuôi và trồng rau trên đảo,…

Đồng thời, thông qua mô hình đồng quản lý các khái niệm về quản lý tổng hợp và quản lý thích ứng cũng đã được lồng ghép trong việc quản lý TN, BVMT Sự đồng thuận cao của cộng đồng trong lập kế hoạch phân vùng, xây dựng quy chế và kế hoạch quản lý của KBTB để khai thác hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đóng vai trò quan trọng trong định hướng phát triển bền vững; cũng như sự phê chuẩn các cam kết có ý kiến cộng đồng của UBND tỉnh Quảng Nam

đã giúp cho cộng đồng tiếp nhận kịp thời cách tiếp cận mới trong quản lý nguồn lợi trên cơ sở hệ sinh thái

 Kết quả sự tham gia của cộng đồng/đồng quản lý

• Kết quả Nhà nước đã chia sẻ được trách nhiệm quản lý và quyền lợi cho cộng đồng

- Xây d ựng được quy hoạch phân vùng và quy chế quản lý có ý kiến cộng đồng

Kế hoạch phân vùng, quy chế quản lý của KBTB là những quy định cấm ngư dân khai thác trong vùng truyền thống; đồng nghĩa với việc sẽ ảnh hưởng đến sinh kế của người dân sống trong vùng lõi của KBTB Nhưng người dân Cù Lao Chàm phấn khởi khi thấy ý kiến đóng góp của mình được tôn trọng; họ thấy được “cái tôi” của mình trong quy chế phân vùng đó Vì tâm lý người dân vốn không muốn bị áp đặt và đây có lẽ cũng là điểm mấu chốt quan trọng để người dân

Cù Lao Chàm đồng thuận tham gia đồng quản lý Sau khi được đối thoại chính thức “ba mặt một lời” cộng đồng đã thể hiện những cánh tay đưa lên biểu quyết sự đồng thuận của mình

Hình 2: Cộng đồng biểu quyết sự đồng thuận

- Xây d ựng được kế hoạch quản lý của KBTB Cù Lao Chàm có ý kiến cộng đồng: Các đối

tượng tài nguyên mục tiêu bao gồm san hô, cỏ biển, bãi biển, tôm Hùm, ốc Vú nàng và cua Đá đã được cộng đồng thảo luận, chọn lựa và đồng thuận đưa vào để bảo vệ, bảo tồn lâu dài

- C ộng đồng Cù Lao Chàm được quyền tiếp cận TN, BVMT: Cụ thể đã giao Bãi Ông cho cộng đồng quản lý, khai thác các dịch vụ du lịch từ năm 2008 và hiện đang xúc tiến hoàn chỉnh quy chế, trình phê chuẩn để giao tiếp khu vực Hòn Tai cho Bãi Hương, được cộng đồng tích cực hưởng ứng

• Cộng đồng Cù Lao Chàm đã thực thi và tuân thủ quy chế phân vùng quản lý: Thời gian đầu do KBTB chưa phát triển được sinh kế thay thế, nên cũng không tránh khỏi trường hợp người dân vi phạm quy chế Trong thời gian từ 8/2006 đến 9/2010, ngư dân KBTB vi pham 23,46% trong vùng khai thác hợp lý chủ yếu với nghề lặn, lưới kình, lưới mực, mành mực là những nghề truyền thống của người địa phương Tuy nhiên, số vụ vi phạm cao hơn đến 76,54% lại tập trung

Trang 6

vào người ngư dân bên ngoài KBTB với tổng số 140 vụ vi phạm chủ yếu là nghề giã cào Cho thấy, KBTB cần phải tiếp tục nâng cao nhận thức không chỉ cho ngư dân trong mà cả ngoài KBTB; nhất là việc duy trì và phát triển các ngành nghề sinh kế thay thế ổn định cho ngư dân trong KBTB Cù Lao Chàm Đây là một công việc cần phải được triển khai liên tục và lâu dài theo tiêu chí đồng quản lý

• Kết quả hành động tham gia của cộng đồng Cù Lao Chàm: Ở một nơi xa xôi giữa biển khơi ít được biết đến, từ bao đời nay hầu hết ngư dân địa phương đánh bắt cá và trao đổi hàng hóa với Hội An làm sinh kế hằng ngày Đến khi một KBTB được thành lập và áp dụng phương thức đồng quản lý, nâng cao nhận thức năng lực cho cộng đồng tham gia vào các hoạt động bảo tồn biển Tạo điều kiện cho cộng đồng được đào tạo các ngành nghề cải thiện và phát triển sinh kế thay thế dựa vào nguồn lợi TN, BVMT; đem lại lợi ích cho người dân và xây dựng cơ sở cộng đồng địa phương vững mạnh Và cho đến khi Cù Lao Chàm được công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển Thế giới, được du khách nước ngoài và trong nước đến tham quan du lịch ngày càng nhiều; thì cộng đồng Cù Lao Chàm càng ý thức về giá trị và ý nghĩa của TN, BVMT mà cộng đồng đang được trực tiếp hoặc gián tiếp sử dụng như: các bãi biển, rừng, môi trường biển, rạn san hô và nguồn hải đặc sản Đã trở thành những sản phẩm du lịch để cộng đồng phát triển các dịch vụ hưởng lợi kèm theo như lưu trú tại nhà dân (homestay), sản xuất nước mắm, chế biến hải sản khô, hàng lưu niệm, nhà hàng, xe ôm, hướng dẫn du khách tham quan Cù Lao Chàm theo hướng sinh thái biển Nhưng có một điều quan trọng nhất là cộng đồng đã nhận thức được du khách đến với

Cù Lao Chàm ngoài nguồn hải đặc sản phong phú, thì vì Cù Lao Chàm còn có môi trường biển xanh - sạch - đẹp và bầu không khí trong lành giữa biển khơi, vì cộng đồng Cù Lao Chàm đã thực

sự “nói không” với bao ni lông, tất cả cũng đều được cộng đồng đồng thuận biến thành những sản phẩm du lịch độc đáo, thu hút du khách Nên cộng đồng đồng lòng thực thi tuân thủ quy chế có ý kiến đóng góp của mình để phát triển bền vững

- C ộng đồng Cù Lao Chàm với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”:

Từ chỗ người dân Cù Lao Chàm không biết bắt nguồn từ nguyên nhân nào đã làm nguồn lợi suy giảm, ảnh hưởng thu nhập cá nhân và kinh tế trên đảo Dần dần người dân Cù Lao Chàm được tiếp cận với các khái niệm về bảo tồn biển, hiểu được việc đánh bắt tự do, bừa bãi bằng những ngư cụ như: lưới kình, lặn trong vùng rạn sẽ giẫm đạp hủy hoại san hô là nơi trú ẩn của các loài sinh vật biển và cũng là nguyên nhân sự suy giảm nguồn lợi gây nên những khó khăn cho cuộc sống cộng đồng Người dân thể hiện sự hứa hẹn tham gia nếu Nhà nước quan tâm hỗ trợ một kế hoạch giúp đỡ “dân biết để nói”- người dân Cù Lao Chàm đã được chia sẻ thông tin, được nghe, biết và được hướng dẫn tham gia, cho dù phút đầu còn nghe, biết với thái độ bàng quan, hờ hững, nửa tin nửa ngờ Tuy nhiên, trong những cuộc đối thoại không chính thức cũng đã cung cấp thông tin phản hồi sau khi được nghe biết chủ trương của Chính phủ về nhu cầu, thuận lợi và khó khăn thiết thực của mình thông qua cách tiếp cận của cán bộ tổ chức cộng đồng Người dân vận dụng tri thức địa phương cung cấp thông tin chính thức trong việc lập hồ sơ cộng đồng Cù Lao Chàm

“dân bàn để làm” - người dân Cù Lao Chàm được tham quan học tập trong nước, được tham gia hội thảo, hội họp, nâng cao nhận thức, năng lực để nói, bàn luận và phối hợp cộng tác trong các hoạt động phát triển cộng đồng; sử dụng tri thức địa phương góp ý trong việc lập kế hoạch phân vùng, xây dựng quy chế và kế hoạch quản lý Người dân Cù Lao Chàm được tham gia các hoạt động đào tạo ngành nghề, phát triển sinh kế thay thế và được phối hợp với chính quyền địa phương tham gia công tác tuần tra và đề nghị các biện pháp quản lý như một hương ước của cộng đồng để bảo vệ nguồn lợi cua Đá, tôm Hùm, ốc Vú nàng, bãi biển, rạn san hô Ở Cù Lao Chàm sự tham gia của cộng đồng đạt đến mức độ người dân đã được biết để nói và được nói để bàn và cùng làm với Nhà nước

- Nhà n ước và cộng đồng Cù Lao Chàm cùng làm trong chương trình cải thiện sinh kế:

KBTB phối hợp với Đại học Huế, Cao đẳng Lương thực và Chế biến thực phẩm Đà Nẵng, Cao đẳng Thương mại và Du lịch Đà Nẵng, Viện Hải sản Hải Phòng, Đại học Văn hóa Hà Nội, Chương trình tình nguyện viên đã mở một số khóa đào tạo về bảo tồn biển, kỹ thuật làm việc với cộng đồng, du lịch, tiếng Anh và các đào tạo khác liên quan đến phát triển sinh kế; nhằm nâng cao năng lực quản lý cho các cán bộ tỉnh, huyện và xã trong lĩnh vực bảo tồn biển và TN, BVMT

Trang 7

nhưng chủ yếu cho cộng đồng Cù Lao Chàm nhất là các khóa giao tiếp tiếng Anh do giảng viên tình nguyện người nước ngoài giảng dạy

Có khoảng hơn 700 lượt người hay gần 85% tổng số cộng đồng địa phương tham gia các khóa đào tạo ngắn ngày khác nhau theo các nhóm:

(i) Nhóm được đào tạo về tăng cường năng lực quản lý bảo tồn biển, quản lý

TN,BVMT;

(ii) Nhóm được đào tạo về kỹ thuật cộng đồng như tập huấn PRA, thông tin, đánh giá dự

án, kỹ năng đàm phán, phát triển giới, và giải quyết mâu thuẫn,…

(iii) Nhóm được đào tạo về hỗ trợ sinh kế như phục vụ, hướng dẫn du lịch, thuyền

trưởng

Trong đó nhóm được đào tạo nghề cho sinh kế thay thế là được cộng đồng yêu cầu nhiều nhất và cũng được tập trung đầu tư cao nhất Đây là các lớp ngành nghề được đào tạo một cách quy mô, cụ thể cho cộng đồng Cù Lao Chàm trên cơ sở nguồn nguyên liệu sẵn có của địa phương như: cá biển cho chế biến hải sản khô, tẩm gia vị; nghề thủ công như: làm lồng đèn, làm chổi, thêu, khởi sự doanh nghiệp, hầu hết các lớp học này kéo dài khoảng 3 - 4 tuần Có hơn 200 người địa phương đăng ký các lớp học, nhưng do điều kiện thời tiết cũng như vấn đề hậu cần của cơ sở đào tạo, cuối cùng chỉ có 133 thành viên trong cộng đồng được tham gia các lớp học này Đào tạo hướng dẫn viên du lịch người địa phương là lớp học ngắn hạn đã được tổ chức tại Cù Lao Chàm

và Hội An tiếp sau các lớp đào tạo về thuyền trưởng

Trong mô hình lưu trú tại nhà dân (homestay), hợp phần hỗ trợ cơ sở vật chất cho sản phẩm

du lịch này như bàn ghế, chăn màn, trang thiết bị vệ sinh,…cho 9 hộ gia đình tại thôn Bãi Hương; đồng thời tổ chức cho trường Cao đẳng Du lịch Huế đào tạo, huấn luyện các kỹ năng về giao tiếp

và nấu ăn; tham quan học tập mô hình tại làng cổ Phước Tích ở Huế năm 2009 và để cho cộng đồng tự quản lý, tổ chức các hoạt động thu hút du khách cũng phần nào giúp tăng thu nhập cải thiện đời sống người dân Bên cạnh đó, KBTB còn phối hợp với Công ty Tara, một đơn vị lữ hành tại Cù Lao Chàm tổ chức các chuyến du lịch sinh thái thí điểm đến Bãi Hương Đồn biên phòng, công an xã ban hành quy chế quản lý du khách

Trong mô hình hầm khí sinh học người dân chịu chi phí san ủi mặt bằng, đào hầm khoảng 4 triệu đồng/hộ, số còn lại khoảng 8 triệu đồng/hộ được hợp phần hỗ trợ Hầm khí sinh học có thể tích 6m3 có nắp đậy cố định và bổ sung một bể chứa rác xử lý rác hữu cơ tạo thêm đầu vào cho hầm Các hộ được hướng dẫn sử dụng và 4 hầm đều đi vào vận hành tốt Cụ thể, lượng khí đốt không những đảm bảo đủ dùng cho hộ ông Trần Mưa (Bãi Ông), bà Bùi Thị Mỗi (Bãi Hương),

mà còn giải quyết thêm chất thải chăn nuôi cho 6 hộ xung quanh Do đó, các hộ đã mạnh dạn đầu

tư nâng cấp chuồng trại, mở rộng quy mô tăng số lượng vật nuôi Mô hình hầm khí sinh học được cộng đồng đánh giá là phù hợp với điều kiện Cù Lao Chàm, khả thi trong việc giải quyết vấn đề chất thải chăn nuôi và một phần rác thải sinh hoạt cho hộ gia đình, cần được phát triển rộng rãi cho cộng đồng Cù Lao Chàm

Trong mô hình trồng rau sạch có hai chủ hộ thực hiện mô hình trồng rau sạch đã cung cấp cho thị trường trên 01 tấn rau xanh các loại và hơn 400 kg rau mầm

Trong mô hình đào tạo nguồn nhân lực địa phương có 6/16 em tốt nghiệp Trường trung cấp kinh tế Hoa Sữa, được các doanh nghiệp giải quyết việc làm tại Cù Lao Chàm, các học viên còn lại cũng đã tìm được công việc ổn định có thu nhập khá cao tại Hội An và Đà Nẵng 03 em của các gia đình tại Bãi Hương học nghề may túi xách du lịch tại cơ sở Thạch Thùy - Hội An, 01 em ở Bãi Hương đã tốt nghiệp Cao đẳng Y tế, được thực tập tại Bệnh viện Hội An, và đang làm việc tại

Cù Lao Chàm

Trong chương trình quỹ tín dụng, cộng đồng Cù Lao Chàm còn được giải quyết vay một số vốn để phát triển kinh tế gia đình như: chăn nuôi, chế biến nước mắm, hải sản khô; đã có sản phẩm phuc vụ du khách và dân trên đảo Hiện tại, nguồn vốn tín dụng này được ủy quyền cho Hội liên hiệp Phụ nữ Hội An quản lý và đã giải ngân hơn 400 triệu đồng riêng cho năm 2009

• Kết quả hành động tham gia của chính quyền địa phương trong thúc đẩy phát triển và duy trì bền vững

- Các thiết chế cộng đồng quản lý hiệu quả TN, BVMT

Trang 8

- Xây dựng, quản lý và vận hành hiệu quả hệ thống rác thải cho Cù Lao Chàm

- Quản lý hiệu quả mâu thuẫn cộng đồng Cù Lao Chàm

- Phát động thành công chiến dịch “Cù Lao Chàm nói không với túi nylon”

- Xây dựng được chương trình vì sức khỏe cộng đồng

 KBTB đã quản lý hiệu quả hơn nghề cá ven bờ theo phương thức đồng quản lý

Nghề cá tại Cù Lao Chàm đã từng được quản lý theo năng suất khai thác hàng năm (tấn/năm) Tuy nhiên, qua kết quả thử nghiệm mô hình đồng quản lý TN, BVMT tại KBTB Cù Lao Chàm từ 10/2003 đến 10/2010 cho thấy đã KBTB đã quản lý hiệu quả nghề cá ven bờ tại Cù Lao Chàm theo cách tiếp cận hệ sinh thái

• Kết quả điều tra năng lực và không gian khai thác nghề cá tại Cù Lao Chàm cho thấy nghề

cá Cù Lao Chàm thô sơ, công suất thấp, không thể đi xa bờ với thời gian dài ngày; phần lớn năng lực nghề cá Cù Lao Chàm tập trung chủ yếu vào vùng ngư trường ngoài rạn cách bờ từ 0,3 - 2 km với các nghề như câu tay, lưới trích, lưới dày, lưới thanh hai, lưới thanh ba, lưới mực chiếm 68.92%, tiếp đến là vùng nước sâu từ 2 - 20 km là ngư trường của các nghề lưới thưa, lưới cao, mành điện, mành mực và câu vàng, chiếm 17.15% và cuối cùng là ngư trường vùng rạn từ bờ trở

ra 0,3 km tập trung nghề lặn, lưới kình, lưới dí, lưới nhói, lưới bi và bắt ốc, chiếm 13,94%

- S ản lượng, sản phẩm đánh bắt: Từ 1996 đến 2004, sản lượng trung bình 1.467 tấn/năm

Từ 2005 đến 2009 giảm còn 865 tấn/năm Nếu trước 2005, khai thác chủ yếu các loại cá nổi như

cá Cơm, cá Nục, Trích, Lầm, thì từ 2005 đến nay, phần lớn khai thác các loại cá có giá trị kinh tế cao như cá Hồng, cá Mú, Hố, Nhói, Chim…

- Doanh thu ngh ề cá Cù Lao Chàm: Doanh thu hải sản của Cù Lao Chàm giai đoạn 1998 -

2004, tăng từ 10 tỷ đồng đến 21 tỷ đồng, nhưng sang giai đoạn 2005 - 2009 sản lượng đánh bắt giảm kéo theo doanh thu cũng giảm đáng kể Tuy nhiên, năm 2005 doanh thu khoảng hơn 8 tỷ và con số này đã tăng dần lên và đạt hơn 15 tỷ đồng trong những năm sau

Nguyên nhân được giải thích, do thời gian trước 2005 chủ yếu khai thác tập trung vào các loài cá nổi như cá Cơm, cá Nục, cá Trích, cá Lầm là những loại cá làm nước mắm, lại bán cho trung gian với giá rẻ nên phải gia tăng cường lực đánh bắt để tăng sản lượng theo kiểu năm sau phải cao hơn năm trước, cộng với khai thác không hợp lý và quá mức để tăng thu nhập Giai đoạn

2005 - 2009 là thời gian áp dụng mô hình đồng quản lý, mặc dù giá thủy hải sản trong nước luôn tăng nhưng doanh thu của thời kỳ này luôn thấp hơn giai đoạn 1998 - 2004, vì sản lượng khai thác thủy sản hằng năm giảm dần do ngư trường đánh bắt tại Cù Lao Chàm đã được kiểm soát bảo vệ theo quy chế bảo tồn biển Tuy doanh thu thấp hơn giai đoạn 1998 - 2004 nhưng qua đồng quản

lý, người ngư dân nhận thức được mục đích của bảo tồn để phát triển bền vững hệ sinh thái; nên ngư dân Cù Lao Chàm đồng thuận thực thi tuân thủ quy chế phân vùng mà cộng đồng đã đóng góp ý kiến, để bổ sung một số ngành nghề sinh kế thay thế hỗ trợ tăng thêm thu nhập và tập trung khai thác các loài cá có giá trị kinh tế như cá Hồng, cá Mú, cá Hố, cá Nhói, cá Chim…bán trực tiếp cho du khách với giá cao hơn; nên từ sau năm 2005 đến nay, doanh thu đã tăng dần lên, riêng năm 2006 doanh thu vọt tăng cao do trúng mùa cá Hố

 KBTB thúc đẩy phát triển hiệu quả sinh kế thay thế tại Cù Lao Chàm

Nếu như trước đây, sinh kế của người dân địa phương chủ yếu dựa vào khai thác biển; thì hiện nay, KBTB đã góp phần phát triển du lịch sinh thái cộng đồng Theo đó, người dân Cù Lao Chàm được đào tạo đa dạng những ngành nghề sinh kế thay thế dựa vào các lĩnh vực khai thác biển, khai thác rừng, dịch vụ biển, dịch vụ bờ, sản xuất chế biến, chăn nuôi trồng trọt và thủ công

mỹ nghệ

• Đánh giá được tác động kinh tế hộ gia đình do phân vùng bảo vệ: Được phân làm 6 mức

độ Mức 6: >50% cho hộ gia đình chấp hành nghiêm túc không đánh bắt trong vùng cấm và không có nghề nghiệp mới làm sinh kế thay thế, thì thu nhập bị giảm đi hơn 50% so với trước đây Mức 5: từ 40% - 50%, mức 4: từ 30% - 40%, mức 3: từ 20% - 30%, mức 2: từ 10% - 0%, và mức 1: <10% Ảnh hưởng đến kinh tế hộ gia đình này phần lớn nằm trong khoảng 30% trở lại, có nghĩa là 40% số người tham gia đánh bắt trong vùng rạn san hô trước đây bị ảnh hưởng ở mức 2 (từ 10% - 20% thu nhập), 30% ở mức 3 (từ 20% - 30% thu nhập) Một số hộ gia đình bị ảnh hưởng ở múc 4 trở lên, phần lớn là các hộ nghèo, thu nhập chủ yêu phụ thuộc vào việc đánh bắt

Trang 9

bằng thúng chai sơ sài ở vùng rạn san hô Đây là cơ sở quan trọng xác định ưu tiên, công bằng để

hỗ trợ cộng đồng

• Phát triển được các ngành nghề sinh kế thay thế: Ở Cù Lao Chàm được chia theo 7 nhóm nghề chính: du lịch bờ chiếm 15,70%, dịch vụ biển 1,77%, khai thác biển 65,35%, khai thác rừng 6,745%, sản xuất chế biến 2,59%, chăn nuôi trồng trọt 8,63% và thủ công mỹ nghệ 0,26% Thời gian 5 năm trở lại đây, tỷ lệ người tham gia trong nhóm nghề khai thác biển giảm dần từ 24,88% xuống 16,92%, đến 10,20% Các nhóm ngành nghề dịch vụ bờ, dịch vụ biển, sản xuất chế biến tăng dần Nhóm dịch vụ bờ tăng dần từ 2,42%, lên 3,79%, đến 8,14% Đặc biệt nhóm nghề khai thác rừng đã gia tăng từ 1,47%, lên 1,53% và đến 2,67% Cù Lao Chàm cần quan tâm giám sát chỉ

số này để bảo tồn tài nguyên rừng

• Sản phẩm du lịch: Kết quả khảo sát cho thấy mức độ ưa chuộng của du khách đến với Cù Lao Chàm tập trung phần lớn vào các nhóm sản phẩm khai thác biển 31,67%, nhóm khai thác rừng 15,65%, nhóm sản xuất chế biến 17,08%, nhóm dịch vụ bờ 19,92%, nhóm dịch vụ biển 12,45% và nhóm thủ công mỹ nghệ 3,2%

• Doanh thu từ các ngành nghề và sản phẩm du lịch ở Cù Lao Chàm

Trong năm 2007, tổng doanh thu của các nhóm sản phẩm du lịch là 6.125 triệu, năm 2008 là 7.171 triệu, và năm 2009 là 8.380 triệu Doanh thu từ các ngành nghề và các nhóm sản phẩm du lịch đã dần dần hỗ trợ và bù đắp thêm phần thu nhập bị thiệt hại của người ngư dân, do phải tuân thủ các quy định đánh bắt của bảo tồn biển

 KBTB góp phần phát triển hiệu quả kinh tế địa phương

• Tổng doanh thu từ các hoạt động kinh tế ở Cù Lao Chàm: Đã dần xuất hiện thêm doanh

thu phí dịch vụ sinh thái môi trường bao gồm phí tham quan và lặn biển (PES) Năm 2007 tổng doanh thu kinh tế Cù Lao Chàm là 17.580 triệu trong đó khai thác thủy sản là 11.088 triệu, du lịch

là 6.125 triệu và phí dịch vụ sinh thái là 367 triệu Năm 2008, tổng doanh thu là 21.465 triệu, trong đó thủy sản là 13.696 triệu, du lịch là 7.171 triệu và dịch vụ sinh thái là 598 triệu Năm 2009

là 25.539 triệu, trong đó thủy sản là 16.309 triệu, du lịch là 8.380 triệu và dịch vụ sinh thái là 849 triệu, chiếm 36% tổng doanh thu Cù Lao Chàm Doanh thu từ các nhóm sản phẩm du lịch cùng với doanh thu của hoạt động thủy sản đã nâng dần doanh thu của các hoạt động kinh tế Cù Lao Chàm lên ngang bằng với mức doanh thu trước khi làm bảo tồn Người dân thực sự làm chủ giá trị tăng lên mà họ đã tạo ra ví dụ thay vì bán rẻ hải đặc sản cho trung gian bây giờ cộng đồng bán trực tiếp cho du khách với giá cao hơn

 Các lợi ích mang lại từ KBTB Cù Lao Chàm

Phân tích tổng doanh thu từ các hoạt động kinh tế là cơ sở tính toán lợi ích trong việc xây dựng KBTB Đối với KBTB Cù Lao Chàm, lợi ích cụ thể quy được bằng tiền bao gồm tổng doanh thu các hoạt động kinh tế trong KBTB và tổng chi phí các hoạt động, còn có lợi ích không tính được bằng tiền ở Cù Lao Chàm Ngoài lợi ích quy được bằng tiền thì lợi ích không tính được bằng tiền đã được cộng đồng đồng thuận quy thành như: bãi biển xanh - sạch - đẹp, bầu không khí trong lành giữa biển khơi, đa dạng sinh học, hệ sinh thái, Cù Lao Chàm nói không với bao nilon để hưởng lợi Nhận thức được điều đó, cộng đồng đã đồng lòng tham gia quản lý bảo vệ

để biến lợi ích không quy được bằng tiền thành lợi ích quy được bằng tiền nhằm hưởng lợi lâu dài Có thể nói, lợi ích không quy được bằng tiền là một sản phẩm mới của đồng quản lý thì đây chính là lợi ích hướng đến sự bền vững

• Lợi ích hiện tại của KBTB Cù Lao Chàm = Lợi ích không quy được thành tiền + (tổng doanh thu các hoạt động kinh tế - tổng chi phí các hoạt động)

 Kết quả quan trắc, giám sát

• Bộ chỉ thị KBTB Cù Lao Chàm: Dựa vào tiêu chí bộ chỉ thị như một thước đo cộng đồng Bộ chỉ thị và chỉ tiêu giám sát được tác giả xây dựng trên cơ sở hướng dẫn cộng đồng tham gia thảo luận và sự tham gia thực hiện việc giám sát của các bên liên quan; được xây dựng cho các lĩnh vực môi trường, sinh thái, kinh tế, xã hội Trong đó, tập trung vào hai mục tiêu lớn là theo dõi diễn biến đa dạng sinh học và đời sống kinh tế

Trang 10

• Bộ chỉ tiêu đánh giá tài nguyên mục tiêu: Có 6 đối tượng tài nguyên mục tiêu đã được cộng đồng địa phương đồng thuận chọn lọc và được lượng hóa cụ thể, cho người dân dễ dàng tiếp cận, theo dõi, giám sát và đánh giá

 Kết quả đánh giá chất lượng môi trường và đa dạng sinh học

Công tác bảo tồn tại KBTB Cù Lao Chàm được đánh giá hiệu quả thông qua diễn biến chất lượng môi trường nước và đa dạng sinh học tại KBTB này

• Chất lượng nước: Nhìn chung, giá trị trung bình các yếu tố pH, nhiệt độ, độ muối, hàm lượng DO ở các mặt cắt khá tương tự nhau qua các năm Độ muối dao động trong khoảng từ 28,3‰ đến 32,4‰ Sự giàu có về hàm lượng oxy hòa tan chứng tỏ vùng biển Cù Lao Chàm có sự trao đổi oxy tốt, ít bị ảnh hưởng của các thành phần hữu cơ Hàm lượng BOD5 và COD có sự biến động tương đối

• Đa dạng sinh học rạn san hô: Kết quả đánh giá thông tin theo định tính của cộng đồng về tình trạng các rạn san hô đã được kiểm chứng bằng thông tin định lượng thu thập trong năm 2011 theo chương trình giám sát chất lượng môi trường, đa dạng sinh học và độ phủ rạn san hô được thực hiện bởi các nhà khoa học của Viện Hải Dương Nha Trang

Kết quả đánh giá nhanh cho thấy so với năm 2004 thì độ phủ trung bình của san hô sống giảm 2,40%, san hô cứng giảm gần 1% và san hô mềm giảm 1,41%, san hô chết tăng 2,46% Sự suy giảm này do ảnh hưởng của cơn bão số 6 (Xangsane) và số 7 (Cimaron) trong năm 2006

- Cá rạn san hô: Kết quả giám sát tại 10 điểm rạn cố định cho thấy mật dộ trung bình tổng số

cá rạn có sự khác nhau không lớn giữa năm 2004 và 2008, tương ứng là 84,5 và 94,7 con/100 m2

So sánh giữa các vùng được quản lý và bảo vệ khác nhau cho thấy vùng bảo vệ nghiêm ngặt có mật độ trung bình cá rạn cao hơn (107 con/100 m2) so với vùng không bảo vệ nghiêm ngặt (79,2/100 m2)

- Động vật không xương sống kích thước lớn: So với năm 2004, số lượng Sao biển gai và các vết tẩy trắng giảm hơn một nửa Khu vực giảm nhiều nhất là Hòn Mồ, từ 66 vết năm 2004 xuống còn 1 vết trong năm 2008 Số lượng Sao biển gai cũng giảm hơn so với năm 2004, từ 31 cá thể năm 2004 xuống 19 cá thể năm 2008 Còn Cầu gai đen có xu thế gia tăng mật độ và diện tích phân bố Mật độ Cầu gai đen (Diadema spp.) chiếm ưu thế, dao động 67%-85% tổng số *Hải sâm (Holothuridae) là nhóm ĐVKXS kích thước lớn cao thứ hai sau nhóm Cầu gai đen Nhìn chung mật độ nhóm này có sự gia tăng năm 2008 so với năm 2004 (đạt giá trị tương ứng là 1,3 và 5,2 con/100m2) Hải sâm đen (Holothuria atra) có mật độ cao nhất là 33,8 con/100m2 KBTB Cù Lao Chàm là nơi có mật độ Hải sâm còn lại trên rạn thuộc vào loại cao nhất Việt Nam hiện nay Mật

độ trung bình của Thân mềm (thuộc hai nhóm là trai Tai tượng Tridacna spp và ốc Đụn Trochus spp.) tại 10 điểm giám sát cố định hầu như không có sự thay đổi giữa hai lần giám sát năm 2004

và 2008 Trong đó vùng bảo vệ nghiêm ngặt mật độ tăng từ 6,7 con/100m2 lên 41,7 con/100m2, vùng không được bảo vệ nghiêm ngặt tăng từ 11,2 con/100m2 lên 17,7 con/100 m2

Kết quả giám sát cho thấy mật độ trung bình của ĐVKXS kích thước lớn tại 10 điểm cố định năm 2008 cao hơn so với 2004 (tương ứng 31,0 và 8,7 con/100m2) nhưng nhiều loài trong vùng lại giảm mạnh (có loài giảm tới hơn 8 lần) trong cùng kỳ quan trắc, từ 259con/400m2 xuống còn 29,49 con/100m2 Điều này được giải thích do hệ sinh vật trong vùng biển Cù Lao Chàm khá phong phú và đa dạng với trên 736 loài thuộc 263 giống; thì so với năng lực của cộng đồng trong giai đoạn đầu của chương trình đồng quản lý không thể cùng một lúc quản lý bảo vệ được tất cả Cho nên, cộng đồng thống nhất chọn 6 đối tượng tài nguyên mục tiêu đặc trưng của Cù Lao Chàm quản lý bảo vệ để đem lại lợi ích trước Vì thế, kết quả giám sát đã cho thấy một số loài không nằm trong danh sách đỏ đã bị giảm và giảm mạnh Trên cơ sở đó, trong tương lai các đối tượng tài nguyên mục tiêu sẽ được cộng đồng chọn lọc và luân phiên chuyển đổi để quản lý bảo vệ theo tiêu chí đồng quản lý

4 Cơ chế vận hành

UBND tỉnh Quảng Nam là cơ quan quản lý cao nhất ở địa phương, phê chuẩn kế hoạch quản lý khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm Phụ giúp cho UBND tỉnh là các sở, ban, ngành cấp tỉnh

và vì thế, UBND tỉnh đã cho phép hình thành một Ban chỉ đạo cho vấn đề bảo tồn biển của tỉnh

Ngày đăng: 02/03/2020, 08:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w