1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định

89 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn

Thạc sĩ Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm về “Thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định” là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG VỤ ÁN HỦY HOẠI RỪNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 9

1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật

tố tụng hình sự Việt Nam 9 1.2 Chủ thể, phạm vi, nội dung của thực hành quyền công tố các vụ án hình sự 14 1.3 Đặc điểm của các vụ án hủy hoại rừng và đặc trưng của thực hành quyền công

tố các vụ án hủy hoại rừng 18 1.4 Mối quan hệ giữa hoạt động thực hành quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát trong vụ án hủy hoại rừng 23

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CÁC VỤ ÁN HỦY HOẠI RỪNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH 26

2.1 Quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động thực hành quyền công tố các

vụ án hủy hoại rừng 26 2.2 Thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố các vụ án hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Bình Định 32 2.3 Một số khó khăn vướng mắc và nguyên nhân của khó khăn, vướng mắc đối với công tác thực hành quyền công tố các vụ án hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Bình Định 60

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG VỤ ÁN HỦY HOẠI RỪNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH 66

3.1 Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và thể chế 66 3.2 Giải pháp tổ chức thực hiện nhằm nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Bình Định 69

KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS Bộ luật hình sự

BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự

CQĐT Cơ quan điều tra

KSĐT Kiểm sát điều tra

VKSND Viện kiểm sát nhân dân

HĐXX Hội đồng xét xử

Trang 6

Số liệu thụ lý THQCT trong giải quyết nguồn tin về tội

phạm hủy hoại rừng và khởi tố, không khởi tố vụ án/bị

can

41

2.3 Số vụ, số bị can tội Hủy hoại rừng từ năm 2014 đến năm

2.4 Bảng thống kê đối tượng bị can trong vụ án hủy hoại

rừng ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 46

2.5 Số liệu THQCT trong giai đoạn điều tra, các vụ án Hủy

2.6 Số vụ, số bị can tội Hủy hoại rừng được thụ lý, đã truy tố

2.7 Số vụ, số bị cáo tội Hủy hoại rừng đã được xét xử 55

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Như chúng ta đã biết, rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống con người cũng như môi trường sinh thái: rừng giữ nước, phòng chống lũ lụt, xói mòn, thanh lọc không khí tạo ra bầu khí quyển trong lành, là nơi cứ trú của hàng triệu loài động, thực vật Chính vì rừng có tác động rất to lớn, trực tiếp đối với cuộc sống của con người nên Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác bảo vệ và phát triển rừng, đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp nhằm tăng cường trong công tác bảo vệ phát triển rừng, hàng năm đã bỏ ngân sách nhà nước để đầu tư thực hiện các chương trình, dự án phủ xanh đất trống đồi núi trọc Mặc dù rừng có những vai trò quan trọng như vậy, nhưng hiện nay tình trạng phá rừng, hủy hoại rừng vẫn tiếp tục diễn biến hết sức phức tạp, gây nên những hậu quả rất nghiêm trọng, tiềm ẩn những nguy cơ làm suy vong hệ sinh thái trong hiện tại cũng như ở tương lai; diện tích rừng bị thu hẹp sẽ làm mất cân bằng hệ sinh thái, sự đa dạng sinh học, làm ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người, ảnh hưởng đến phát triển kinh

tế, xã hội của các quốc gia, trong đó có Việt Nam

Hiện nay, diện tích rừng cả nước nói chung và ở địa bàn tỉnh Bình Định nói riêng đang bị suy giảm nhanh cả về diện tích và chất lượng Cùng với đó

là các vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng có chiều hướng gia tăng Mới đây, vào tháng 9/2017, phát hiện vụ hủy hoại 64,18 ha rừng (trong đó có 25,87 ha rừng phòng hộ và 38,31 ha rừng sản xuất), tại Khoảnh 7 và Khoảnh

8, Tiểu khu 1, xã An Hưng, huyện An Lão, tỉnh Bình Định, cho thấy mức độ

"nóng" của việc xâm phạm rừng và đặt ra sự cấp bách phải tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng trong thời gian đến Trước thực trạng tình hình hủy hoại rừng tại địa phương, các cơ quan bảo vệ pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Định, trong đó có Viện kiểm sát đã kịp thời phối hợp xử lý nghiêm minh, góp

Trang 8

phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Tuy nhiên, hoạt động thực hành quyền công tố đối với tội Hủy hoại rừng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định trong những năm qua còn bộc lộ một số hạn chế, tồn tại như trong giai đoạn tiếp nhận xử lý tin báo tội phạm, giai đoạn khởi tố vụ án nhưng đề ra yêu cầu điều tra không kịp thời, chưa thực hiện đúng chủ trương "tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra", vẫn còn tình trạng Tòa án trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung, án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm hủy án để điều xét xử lại do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, do bỏ lọt tội phạm

Viện kiểm sát nhân dân tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, đây là nội dung được nêu rõ trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Nội dung này đã được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2013 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014 Tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, một trong những chức năng, nhiệm vụ của VKSND là thực hành quyền công tố Vì thế, thực hành quyền công tố là một hoạt động quan trọng đối với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung cũng như tội phạm hủy hoại rừng nói riêng Vì vậy, hoạt động thực hành quyền công tố luôn phải được đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội và không làm oan người vô tội Song, đến nay có nhiều quan điểm về khái niệm thực hành quyền công tố cũng như thực hành quyền công tố Chất lượng thực hành quyền công tố đối với tội phạm liên quan đến rừng chưa tương xứng so với yêu cầu đặt ra Hành vi hủy hoại rừng tại tỉnh Bình Định vẫn còn đang diễn biến phức tạp, từ sự cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn nêu trên, học viên đã

lựa chọn đề tài “Thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại rừng theo

pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định” để nghiên

cứu làm luận văn thạc sĩ luật học

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đề tài thực hành quyền công tố rất được quan tâm trong khoa học tố tụng hình sự và khoa học kiểm sát, nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến

đề tài có thể khái quát một số như:

Cuốn sách "Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp (trong giai đoạn điều tra)" của tác giả TS Lê Hữu Thể, chủ biên, NXB

Tư pháp phát hành năm 2005 Cuốn sách này nghiên cứu về cơ sở lý luận của quyền công tố, cũng như thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự của VKS, kết quả nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của cơ quan công tố của một số nước trên thế giới Song, cuốn sách này chú trọng nhiều đến hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát và so sánh với mô hình tố tụng của nhiều nước trên thế giới nên chưa tập trung phân tích, đánh giá sâu về hoạt động thực hành quyền công tố nói chung và thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố, xét xử nói riêng

Cuốn sách "Cơ sở lý luận, thực trạng của điều tra và truy tố các tội phạm ma túy" của TS Nguyễn Thị Mai Nga Sách này, chủ yếu đề cập đến

những kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án về tội phạm ma túy, chưa phản ánh thực trạng của hoạt động thực hành quyền công tố đối với tội hủy hoại rừng

Cuốn sách "Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách

tư pháp" của TS Nguyễn Hải Phong, đề cập đến nội dung tăng cường trách

nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra, tập trung đề cập chủ yếu đến các giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra vụ án hình sự

Trang 10

Các công trình nghiên cứu nêu trên tuy có đề cập đến các vấn đề lý luận

và thực trạng thực hành quyền công tố nhưng chủ yếu chủ yếu đề cập ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự hoặc có nội dung đề cập đến các giai đoạn truy tố, xét xử nhưng chỉ đối với vụ án hình sự nói chung mà chưa đề cập đến một tội phạm cụ thể

Luận văn thạc sĩ luật học: Thực hành quyền công tố đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi của Lý Tường Vy Đề tài này, tuy nghiên cứu về thực hành quyền công tố nhưng đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, chưa nghiên cứu đến thực hành quyền công tố đối với tội hủy hoại rừng, mang những đặc trưng khác biệt

Ngoài ra, còn có nhiều bài viết các tác giả trên các tạp chí khoa học pháp lý cũng bàn về quyền công tố và chức năng thực hành quyền công tố của

VKS như: Bài viết của GS.TS Lê Cảm (2011), “Viện kiểm sát Việt Nam”, đã

đề cập một cách sâu sắc chức năng, nhiệm vụ, thiết chế về Viện Công tố, Viện kiểm sát nhân dân các nước trên thế giới; vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước ta; phân tích sự cần thiết phải tiếp tục duy trì các chức năng của Viện kiểm sát nhân dân như quy định của Hiến pháp hiện

hành; sách chuyên khảo do TS Lê Hữu Thể làm chủ biên (năm 2008), “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra”, Nhà xuất bản Tư pháp, đã đề cập các quan điểm và lý luận chung về

chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, đối tượng, phạm vi quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự trong

giai đoạn điều tra; đề tài “Vai trò của Viện kiểm sát trong việc THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị” năm 2002 của Viện Khoa học Kiểm sát - VKSNDTC; các bài

Trang 11

nghiên cứu “Nâng cao chất lượng công tác công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp” của Phạm Xuân Khánh trên Tạp chí Kiểm sát số 5/1999, “Những biện pháp chủ yếu về nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động tư pháp và THQCT trong năm 2002” của Hoàng Công Huấn trên Tạp chí Kiểm sát số 2/2002…

Tuy nhiên, các công trình này chỉ nghiên cứu một hoặc một số nội dung của công tác thực hành quyền công tố theo pháp luật trong tố tụng hình sự trong giai đoạn khởi tố - điều tra của tố tụng hình sự

Hiện nay, đối với đề tài thực hành quyền công tố đối với tội hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam ở một địa phương là địa bàn tỉnh Bình Định thì chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, đặc biệt ở bậc cao học Do vậy, có thể coi đề tài “Thực hành quyền công tố trong

vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định” là một công trình nghiên cứu chuyên sâu không trùng lắp với các công trình đã nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố đối với tội hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự và các quy định của pháp luật liên quan đến tội hủy hoại rừng Bên cạnh đó, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự từ thực trạng, số liệu khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử đối với tội hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Bình Định, luận văn tập trung đánh giá kết quả đạt được, nêu ra những hạn chế, để từ đó hướng tới góp ý một số giải pháp và đề xuất nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu vấn đề lý luận cơ bản thực hành quyền công tố đối với tội

Trang 12

hủy hoại rừng theo pháp luật trong tố tụng hình sự Việt Nam

Nghiên cứu thực trạng thực hành quyền công tố đối với tội hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Bình Định, từ đó rút ra những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân của hoạt động thực hành quyền công tố theo pháp luật trong các

vụ án liên quan đến loại tội phạm này

Xuất phát từ những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót đã phát hiện để đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố đối với tội hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, theo BLTTHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Bình Định

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các vấn đề về thực hành quyền công tố trong các giai đoạn giải quyết tố giác tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố (giai đoạn khởi tố), giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố, giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với tội hủy hoại rừng (quy định tại Điều 189 BLHS năm 1999), có đối chiếu so sánh với tội hủy hoại rừng (quy định tại Điều 243 BLHS năm 2015), thuộc phạm vi cấp huyện và cấp tỉnh, trên địa bàn tỉnh Bình Định, trong thời gian 5 năm (từ năm 2014 đến năm 2018)

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác – Lênin, tư tưởng

Trang 13

Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách pháp luật của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam

về đấu tranh và phòng ngừa tội phạm ở nước ta

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp sử dụng để nghiên cứu luận văn bao gồm: phương pháp, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê và phương pháp xã hội học kết hợp tư duy logic

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Thông qua các nội dung nghiên cứu, luận văn "Thực hành quyền công

tố trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định" góp phần làm rõ thêm về mặt lý luận cơ bản về thực hành quyền công tố nói chung cũng như thực hành quyền công tố đối với tội phạm hủy hoại rừng

Trên cơ sở khảo sát thực tế đề tài đánh giá, phân tích thực trạng của công tác thực hành quyền công tố đối với tội hủy hoại rừng từ thực tiễn địa bàn tỉnh Bình Định, từ đó tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng nói chung và tội hủy hoại rừng nói riêng Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập và công tác nghiên cứu khoa học liên quan đến nội dung thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại rừng cũng như đối với các nhà hoạch định chính sách pháp luật và nhất là cán bộ, kiểm sát viên Viện KSND tỉnh Bình Định trong công tác thực tiễn

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố các vụ án

hủy hoại rừng theo pháp luật trong tố tụng hình sự Việt Nam

Trang 14

Chương 2: Quy định của pháp luật và thực tiễn hoạt động thực hành

quyền công tố các vụ án hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Bình Định

Chương 3: Một số giải pháp và đề xuất nhằm nâng cao chất lượng hoạt

động thực hành quyền công tố các vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN

CÔNG TỐ TRONG VỤ ÁN HỦY HOẠI RỪNG THEO

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

1.1.1 Khái niệm quyền công tố

Quyền công tố là một phạm trù lịch sử, là sản phẩm của xã hội loài người khi phát triển đến một giai đoạn nhất định, quyền công tố xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước Trên thế giới, do có sự khác biệt về thể chế chính trị và các điều kiện lịch sử, truyền thống văn hóa, tôn giáo nên chế định công tố cũng có sự khác biệt nhất định trong cơ chế vận hành, song quá trình diễn biến của nó vẫn thể hiện rõ quy luật tất yếu chung của sự phát triển lịch sử

Đó là quyền công tố luôn luôn gắn liền với bản chất của Nhà nước và là một bộ phận cấu thành không thể tách rời khỏi Nhà nước

Theo từ điển Tiếng Việt, "công" có nghĩa là "thuộc về nhà nước, thuộc

về tập thể, trái với tư", còn "tố" nghĩa là "nói về sự sai phạm và tội lỗi của người khác một cách công khai, trước người có thẩm quyền", còn "công tố"

nghĩa là "điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước tòa án" [53, tr.1056]; hiểu theo thuật ngữ pháp lý phổ thông: Hoạt động của Kiểm sát viên và những người khác theo quy định của pháp luật có nhiệm vụ vạch mặt kẻ phạm tội, xác định các căn cứ để kết tội và để áp dụng hình phạt đối với người phạm tội … Như vậy, công tố có mối liên hệ chặt chẽ với pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự Bất kỳ Nhà nước nào ở thế chế chính trị nào cũng quan tâm đến lĩnh vực hình sự, bởi vì chính pháp luật hình sự là phương tiện để cai trị hữu hiệu nhất của Nhà nước Bởi khi một hành vi bị coi là tội

Trang 16

phạm nó sẽ làm phát sinh một mối quan hệ pháp luật giữa một bên là Nhà nước và phía bên kia là người phạm tội Trong mối quan hệ này, Nhà nước chính là chủ thể quyền lực (quyền lực công) và là người thực hiện sự buộc tội, còn đối tượng bị nhà nước cáo buộc chính là người đã thực hiện hành vi phạm tội Công tố, chính vì thế được hiểu là sự buộc tội thay mặt cho Nhà nước đối với người đã thực hiện hành vi bị coi là phạm tội trước Tòa án để xét xử một người là có tội hay không có tội và hình phạt áp dụng

Quyền công tố và thực hành quyền công tố là hai khái niệm điển hình trong LTTHS ở nước ta khi nói đến chức năng của VKS Đối với khoa học tố tụng hình sự, việc xác định khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công

tố có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng Nhất là, trong giai đoạn hiện nay, việc giải quyết tốt vấn đề này giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí của VKS nói chung và các cơ quan tư pháp nói riêng; xác định được chức năng của VKS; từ đó có những quyết định đúng đắn về tổ chức của VKS Ngoài ra, việc giải quyết những vấn đề quyền công tố và thực hành quyền công tố giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí cũng như trách nhiệm của VKS trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm

Có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều quan điểm khác nhau về quyền công

tố như:

Quan điểm thứ nhất: Công tố không phải là chức năng độc lập của VKS

mà chỉ là hình thức để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật

[11] Theo tác giả đây là hai dạng hoạt động có nội dung hoàn toàn độc lập với nhau

Quan điểm thứ hai: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các

cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, thi hành án hình sự người phạm tội [52,tr.204] Đó là hoạt động của ĐTV,

KSV và những người khác được pháp luật quy định có trách nhiệm xác định

Trang 17

người phạm tội cũng như các căn cứ để kết tội và áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội Quan điểm này, không chỉ có VKS, CQĐT mà cả Tòa án,

Cơ quan thi hành án hình sự đều là chủ thể thực hành quyền công tố

Quan điểm thứ ba: Quyền công tố là quyền của Nhà nước đưa các việc làm phạm pháp liên quan đến lợi ích chung ra Tòa án xét xử vì Nhà nước nhân danh xã hội duy trì trật tự chung bằng pháp luật Sự can thiệp của Nhà nước vào các việc phạm pháp nói trên là do nhu cầu duy trì mọi xung đột xã hội gắn với trật tự công cộng mà trách nhiệm của Nhà nước phải đứng ra điều hòa - đó là bản chất của quyền lực công Quyền công tố là quyền lực công, đòi hỏi phải xử lý các vụ việc xâm phạm lợi ích chung một cách công khai bằng con đường Tòa án, vì thế quyền công tố thường gắn liền với quyền tài phán của Tòa án [33] Theo quan điểm này, phạm vi hoạt động của quyền

công tố là quá rộng, chưa phù hợp với thực tiễn là phải coi trọng quyền quyết định và tự định đoạt của công dân trong lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động

Thời gian gần đây, các công trình nghiên cứu về quyền công tố, quy định tại BLTTHS năm 2003 và đặc biệt là BLTTHS năm 2015 đã tiếp cận gần hơn, rõ ràng và chính xác với quan niệm chung về quyền công tố Tác giả

đồng tình với quan điểm của TS Lê Hữu Thể: Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền công tố được thực hiện bởi một cơ quan nhất định (ở nước ta

là VKS), có trách nhiệm đảm bảo việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử bằng bản cáo trạng và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa Vì vậy quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự với đối tượng tội phạm và người phạm tội [26, tr40]

1.1.2 Khái niệm thực hành quyền công tố

Văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta đưa ra thuật ngữ "thực hành

Trang 18

quyền công tố" là Hiến pháp năm 1980, tại Điều 138, khi xác định chức năng của VKS Thuật ngữ ngữ này cũng được nhắc lại ở Điều 1 và Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 1980 Như vậy, trong hoạt động của VKSND, bên cạnh khái niệm "kiểm sát việc tuân theo pháp luật" có khái niệm "thực hành quyền công tố" Quy định này cũng được nhắc lại trong Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2013 Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND thì các văn bản tố tụng hình sự khác cũng

tác giả thống nhất với quan điểm cho rằng: "Thực hành quyền công tố là việc

sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử" Nội dung quyền công tố là sự buộc tội của Nhà nước đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội [32]

Cách hiểu về khái niệm thực hành quyền công tố nêu trên cũng là cách hiểu được thể hiện tại khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

năm 2014 đó là: "Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự"[20,tr.8]

1.1.3 Khái niệm vụ án hủy hoại rừng

Để làm rõ khái niệm vụ án hủy hoại rừng, cần làm rõ thuật ngữ "hủy

Trang 19

hoại rừng"

Thuật ngữ "hủy hoại" theo từ điển Từ và ngữ Việt Nam của tác giả Nguyễn Lân [16], từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì có nghĩa là làm cho hư hỏng đi, phá đi, cho tan nát Để hiểu như thế nào là hủy hoại rừng, cần làm rõ khái niệm "hủy hoại tài sản", bởi rừng củng được xem là một loại tài sản theo quy định của pháp luật nước ta

Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường đại học luật Hà Nội, định nghĩa "hủy hoại tài sản" là cố ý làm cho tài sản mất giá trị sử dụng ở mức độ không còn hoặc khó có khả năng khôi phục lại được Hủy hoại tài sản

có thể qua hành động (đập, đốt ) hoặc không hành động (cố ý không tắt máy, không ngắt điện khi có sự cố dẫn đến máy bị hư hỏng hoàn toàn ) Theo đó

"hủy hoại rừng" là cố ý làm hư hỏng tài nguyên rừng, dẫn tới cây rừng bị hủy hoại, bị chết hàng loạt Hành vi hủy hoại rừng là những hành vi cố ý đốt, phá rừng trái phép hoặc có những hành vi khác làm cho rừng tan nát, hư hỏng và cây rừng chết hành loạt

Trong khoa học pháp lý hình sự "tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật và phải chịu hình phạt"

Dựa trên khái niệm trên, có thể đưa ra khái niệm về tội hủy hoại rừng

như sau "Tội hủy hoại rừng là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do cá nhân hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý như đốt, phá rừng trái phép hoặc hành vi khác, làm cho rừng mất hoàn toàn hoặc giảm một cách đáng kể giá trị, xâm phạm các quan hệ xã hội về bảo vệ rừng của Nhà nước, gây thiệt hại cho môi trường sinh thái, được quy định trong Bộ luật hình sự và phải chịu hình phạt"

1.1.4 Khái niệm thực hành quyền công tố các vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Từ các khái niệm quyền công tố, thực hành quyền công tố, vụ án hủy

Trang 20

hoại rừng nêu trên, có thể khái niệm thực hành quyền công tố các vụ án hủy

hoại rừng như sau: Khái niệm thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát đối với các vụ án Hủy hoại rừng là hoạt động nhân danh Nhà nước của Viện kiểm sát để thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội Hủy hoại rừng có căn

cứ, đúng pháp luật bảo đảm mọi hành vi phạm tội được phát hiện đều phải được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, kịp thời, không để lọt

người, lọt tội, không làm oan người vô tội

1.2 Chủ thể, phạm vi, nội dung của thực hành quyền công tố các vụ

Về chức năng công tố, được quy định tại Điều V, Sắc lệnh 33c là

"Đứng buộc tội là một Ủy viên quân sự hay một Ủy viên trinh sát" Như vậy, lần đầu tiên chức năng công tố nhà nước được quy định bằng một văn bản pháp lý do người đứng đầu Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành

Sự hiện diện đầu tiên của tổ chức công tố và quyền công tố là ở Tòa án Quân

sự Theo đó, nội dung của quyền công tố là đưa một người phạm tội ra xét xử tại Tòa án và thực hiện việc buộc tội trước Tòa án

Bên cạnh việc thiết lập hệ thống Tòa án quân sự và Tòa án binh để xét

xử những tội phạm phản cách mạng, những vi phạm trật tự quân đội, vi phạm

kỷ luật của nhà binh, cần thiết phải thiết lập hệ thống Tòa án thường để xét xử

Trang 21

các tội phạm và vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ Nhà nước và bảo vệ nhân dân Từ yêu cầu đó, ngày 24/01/1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số 13 về việc tổ chức các Tòa án và các ngạch thẩm phán (trong đó

có thẩm phán buộc tội)

Về tổ chức bộ máy, Tòa án thường gồm có Tòa sơ cấp, Tòa đệ nhị cấp

và Tòa thượng thẩm Cơ quan công tố được tổ chức trong Tòa án đệ nhị cấp

và Tòa thượng thẩm, tạo thành một đoàn thể độc lập với các thẩm phán xét

xử

Hiến pháp năm 1959 và các Luật tổ chức nhà nước, trong đó có Luật tổ chức VKSND năm 1960 đã đánh dấu sự ra đời của hệ thống cơ quan VKSND Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật ấy, các cơ quan công tố được chuyển thành hệ thống các cơ quan nhà nước mới - VKSND Việc thành lập VKSND thay cho Viện công tố là xuất phát từ yêu cầu khách quan của việc chuyển giai đoạn cách mạng ở nước ta, vừa tiến hành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân ở miền Nam, vừa tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc

Hiến pháp năm 1959 của Nhà nước ta đã quy định các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của VKSND Theo đó, VKSND có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ,

cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân (Điều 105)

Qua các lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp thì Hiến pháp năm 2013 vẫn giữ nguyên, tiếp tục khẳng định VKSND có thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Trang 22

Từ đó có thể thấy, VKS là cơ quan duy nhất có chức năng thực hành quyền công tố Trước đây đồng chí Trường Chinh, Chủ tịch Hội đồng Nhà

nước đã khẳng định: "Không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành Kiểm sát để sử dụng quyền công tố Việc bắt, giam, điều tra, tha, truy tố, xét

xử có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, đó chính là việc mà Viện kiểm sát phải trông nom, bảo đảm cho tốt"

- Phạm vi của hoạt động thực hành quyền công tố

Phạm vi thực hành quyền công tố là vấn đề có nhiều ý kiến khác nhau trong thực tiễn Song, theo quy định của pháp luật hiện hành thì phạm vi thực hành quyền công tố được bắt đầu từ khi VKS nhận được tin báo, tố giác về tội phạm và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị hoặc

vụ án bị đình chỉ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Theo đó, VKSND thực hành quyền công tố ở các giai đoạn và lĩnh vực sau:

Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố tội phạm

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự

1.2.2 Mục đích của thực hành quyền công tố đối với vụ án hình sự

Mục đích thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát đối với các vụ án hình sự nhằm đảm bảo:

- Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội;

- Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế

Trang 23

quyền con người, quyền công dân trái luật

1.2.3 Nội dung của thực hành quyền công tố đối với vụ án hình sự

Nội dung của thực hành quyền công tố là sử dụng tất cả các quyền năng

tố tụng nhằm đảm bảo phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Theo đó, nội dung thực hành quyền công tố bao gồm các hoạt động: thực hành quyền công tố trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án; thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố; thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự

Tại Khoản 3 Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định quyền năng chung của VKS khi thực hành quyền công tố như sau:

Yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do BLTTHS quuy định;

Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra, truy tố theo quy định của BLTTHS;

Hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết

tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

Khi cần thiết đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện;

Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm rõ tội phạm, người phạm tội;

Trang 24

Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố; tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định buộc tội đối với người phạm tội;

Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố; Quyết định truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa;

Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp VKS phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội;

Thực hiện quyền hạn khác trong việc buộc tội đối với người phạm tội theo quy định của BLTTHS [20, tr.9]

1.3 Đặc điểm của các vụ án hủy hoại rừng và đặc trưng của thực hành quyền công tố các vụ án hủy hoại rừng

1.3.1 Đặc điểm của các vụ án hủy hoại rừng

Tội hủy hoại rừng là tội xâm phạm đến chế độ quản lý, bảo vệ môi trường, xâm phạm đến chế độ bảo vệ và phát triển rừng, thể hiện với các hành vi: đốt rừng trái phép, phá rừng trái phép, hành vi khác hủy hoại rừng, được quy định tại Điều 189 của BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, nay là Điều 243 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Theo quy định tại Điều 189 BLHS năm 1999, Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT/BNN&PTNT -BTP - BCA - VKSNDTC - TANDTC ngày 08/3/2007 hướng dẫn một số điều của BLHS về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (Thông tư số 19) thì đối tượng tác động của hành vi hủy hoại rừng là cây rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất), đây là những yếu tố tạo thành môi trường, được pháp luật hình sự bảo vệ, là đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng Có sự phân biệt khác nhau giữa rừng là đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng và rừng

là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu Rừng không từ nguồn vốn ngân sách của Nhà nước, mà do chính tổ chức, tập thể, hộ gia đình, cá

Trang 25

nhân đã bỏ vốn đầu tư và phát triển, tuy cũng là rừng, nhưng rừng lại thuộc sở hữu cá nhân, tổ chức đã bỏ vốn đầu tư, được Nhà nước giao chăm sóc, quản

lý Vì vậy, hành vi hủy hoại rừng mà không phải là chủ rừng thực hiện thì sẽ tác động đến quyền sở hữu tài sản của chủ rừng, trở thành đối tượng tác động của tội phạm xâm phạm về sở hữu, sẽ bị truy cứu TNHS theo các điều luật tương ứng quy định tại chương XVI - Các tội xâm phạm sở hữu Song, đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng, là rừng do Nhà nước quản lý, hoặc giao cho cơ quan, tổ chức quản lý như chính quyền địa phương, các lâm trường hoặc cá nhân, hộ gia đình, tổ chức chăm sóc, bảo vệ, nguồn vốn đầu tư chăm sóc, trồng trọt và bảo vệ là từ nguồn ngân sách của Nhà nước sẽ thuộc đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng vì nguy cơ tác động xấu cho sự ổn định

và tồn tại, phát triển bình thường của môi trường và sự quản lý của Nhà nước

về rừng

Nắm rõ các đặc điểm đặc trưng của vụ án Hủy hoại rừng là cơ sở để nâng cao chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố đối với tội này Một trong những đặc trưng đó là: địa điểm xảy ra tội phạm thường là ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, khi bị phát hiện thì hành vi phạm tội đã xảy ra rất lâu trước đó; đối tượng thực hiện hành vi phạm tội phần lớn là người đồng bào dân tộc thiểu số, có tập quán du canh du cư, có trình độ học vấn thấp, việc xác minh, điều tra gặp không ít khó khăn; là một loại tội phạm có cấu thành vật chất, do đó việc trưng cầu giám định thiệt hại rừng (loại rừng, diện tích, trữ lượng, thiệt hại về môi trường) và định giá giá trị lâm sản thiệt hại là yếu tố mang tính bắt buộc là cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự

1.3.2 Đặc trưng của thực hành quyền công tố các vụ án hủy hoại rừng

Đặc điểm thực hành quyền công tố theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định: Thông qua các chức năng của VKS trong việc thực hành quyền

Trang 26

công tố đối với tội phạm hình sự có thể thấy được đặc điểm thực hành quyền công tố theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định gồm:

Hoạt động điều tra đối với tội phạm hủy hoại rừng đúng pháp luật là điều kiện tiên quyết và là tiền đề bảo đảm cho việc thực hiện tốt chức năng công tố tương ứng trong hai giai đoạn tiếp theo đó là truy tố bị can trước Tòa

án và buộc tội bị cáo tại phiên tòa

Thực hiện việc truy tố:

Ở nước ta, chức năng truy tố do VKS thực hiện Kết thúc giai đoạn điều tra đối với tội hủy hoại rừng, VKS quyết định có đưa vụ án ra tòa không Trong quá trình ra quyết định truy tố đối với tội hủy hoại rừng VKS đánh giá chứng cứ để xem xét về khả năng người phạm tội có thể bị kết tội về tội này tại tòa hay không Thực hiện tốt việc truy tố không những là điều kiện quan trọng nhằm loại trừ các vi phạm pháp luật có thể xảy ra trong quá trình VKS chuyển hồ sơ sang Tòa án để xét xử mà là cơ sở đảm bảo cho việc buộc tội của VKS đúng hành vi, đúng người, đúng pháp luật đối với tội phạm thực hiện hành vi hủy hoại rừng trong giai đoạn tiếp theo

Truy tố đối với hành vi hủy hoại rừng được thực hiện bằng việc sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra của CQĐT, VKS ra quyết định đúng trong từng trường hợp tương ứng như truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng, trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án Sau khi quyết định truy tố bị can, VKS phải đảm bảo tuân thủ nghiêm chỉnh

và đầy đủ các quy định của BLTTHS về giao bản cáo trạng cho bị can, cho người bào chữa đọc bản cáo trạng, ghi chép cáo trạng và đề xuất yêu cầu; gửi

hồ sơ và quyết định truy tố đến Tòa án trong thời hạn quy định; đảm bảo cho nội dung cáo trạng phù hợp với quy định của pháp luật

Về buộc tội:

Buộc tội là một trong những chức năng cơ bản trong tố tụng hình sự

Trang 27

Thực hiện việc buộc tội đối với người có hành vi phạm tội hủy hoại rừng nhằm phát hiện người đã thực hiện hành vi phạm tội, tội phạm đã thực hiện, những tình tiết thể hiện tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, chứng minh lỗi của người đã thực hiện tội phạm, động cơ, mục đích cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi hủy hoại rừng

Thực hiện tốt việc buộc tội không những là điều kiện quan trọng nhằm loại trừ các vi phạm pháp luật có thể xảy ra trong quá trình xét xử tội hủy hoại rừng của Tòa án mà còn là cơ sở đảm bảo cho Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật để tuyên một bản án (quyết định) có hiệu lực pháp luật thật sự công bằng, có căn cứ Việc buộc tội được thực hiện bằng việc sau khi đọc bản cáo trạng, VKS tham gia vào việc làm rõ các tình tiết vụ án tại phiên tòa, hỏi những người tham gia tố tụng, nghiên cứu các vật chứng, tranh luận, quyết định rút truy tố hoặc định tội danh nhẹ hơn Quá trình này, nhằm góp phần làm cho quá trình xét xử của Tòa án được tiến hành theo đúng trình

tự do luật định, đảm bảo sự bình đẳng trong quá trình tranh tụng Thực hiện việc buộc tội nhằm đạt được mục đích là góp phần làm cho bản án (quyết định) của của Tòa án có hiệu lực pháp luật, thực sự thấu tình, đạt lý

Đặc trưng riêng của thực hành quyền công tố đối với tội hủy hoại rừng

Để thực hiện tốt hoạt động thực hành quyền công tố đối với tội hủy hoại rừng bên cạnh nắm vững những nội dung cơ bản của công tác thực hành quyền công tố còn phải xác định được những đặc điểm riêng biệt của hoạt động này

Trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố: khác với những tội phạm khác, tố giác, tin báo tội phạm về hủy hoại rừng thường diễn ra rất chậm, sau khi phát hiện tố giác thì thường hành vi hủy hoại rừng đã diễn ra trước đó rất lâu Bởi hành vi hủy hoại rừng thường được

Trang 28

tiến hành lén lút, hoặc ở những địa điểm vùng cao, vùng sâu, vùng xa, ít có người nhìn thấy Thông qua sự phát hiện của quần chúng nhân dân, của lực lượng chức năng quản lý bảo vệ rừng hoặc phản ảnh của các phương tiện thông tin đại chúng đến cơ quan kiểm lâm tiếp nhận, điều tra xác minh ban đầu

Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm lại kéo dài hơn so với các tội khác, vì tội hủy hoại rừng có cấu thành vật chất Do đó, bắt buộc phải có kết quả giám định thiệt hại của cơ quan chuyên môn thì cơ quan Kiểm lâm hoặc Cơ quan điều tra mới ra quyết định khởi tố hay không khởi tố

Việc giám định đối với diện tích rừng bị thiệt hại bởi hành vi hủy hoại rừng, trong thực tế gặp rất nhiều khó khăn Bởi trên diện tích rừng bị hủy hoại, có thể do rất nhiều người cùng thực hiện, với diện tích của từng người khác nhau, trường hợp trong giai đoạn xác minh, giải quyết tin báo tội phạm chưa xác định được đối tượng hủy hoại rừng thì để xác định ranh giới địa điểm của từng người hủy hoại là khó thực hiện

Khách thể của tội hủy hoại rừng là tài nguyên quốc gia, do đó cơ quan nhà nước, cơ quan đơn vị được giao quản lý bảo vệ rừng tham gia tố tụng với

tư cách là nguyên đơn dân sự

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 23 BLTTHS năm 2003 quy đinh:

"Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử

lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội" [22]

Điều 20 BLTTHS năm 2015 quy định:

Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp

Trang 29

luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội [27]

Từ những phân tích trên, ta có thể rút ra: THQCT các vụ án Hủy hoại rừng của VKSND là việc VKSND thực hiện các quyền năng pháp lý do Nhà nước giao để bảo đảm các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án các

vụ án hủy hoại rừng được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội

1.4 Mối quan hệ giữa hoạt động thực hành quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát trong vụ án hủy hoại rừng

Chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát hoạt động

tư pháp luôn có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ với nhau trong mọi giai đoạn của TTHS Trong thực tiễn hoạt động thực hiện chức năng của Ngành trong lĩnh vực tư pháp hình sự, VKS các cấp luôn quán triệt đường lối của công tác kiểm sát là đấu tranh chống tội phạm gắn liền với công tác đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật; nên VKS thực hiện đồng thời hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình là mang tính khách quan [54] Do đó, giữa hoạt động thực hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp luôn tồn tại mối liên hệ mật thiết với nhau Mối liên hệ đó được xuyên suốt các giai đoạn giải quyết vụ án hình sự Để thực hiện tốt các nhiệm vụ, quyền

Trang 30

hạn này đòi hỏi VKS phải kiểm tra, giám sát tính có căn cứ và tính hợp pháp của các quyết định tố tụng và hành vi tố tụng mà CQĐT và các cơ quan có thẩm quyền áp dụng, hoạt động kiểm tra giám sát này chính là kiểm sát hoạt động tư pháp trong giải quyết vụ án hình sự Thông qua kết quả của công tác kiểm sát hoạt động tư pháp giúp cho VKS nắm được các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, từ đó xem xét tính có căn cứ và tính hợp pháp của các quyết định, hành vi này, tiến hành phê chuẩn hoặc không phê chuẩn hoặc hủy bỏ trong trường hợp quyết định, hành vi này trái pháp luật Như vậy có thể thấy việc thực hiện tốt công tác kiểm sát hoạt động tư pháp sẽ là tiền đề, tạo điều kiện để công tác thực hành quyền công tố trong giải quyết vụ án hình sự được thực hiện một cách kịp thời, đúng pháp luật và hạn chế thấp nhất việc trả lại hồ sơ để bổ sung chứng

cứ, hoặc có vi phạm, thiếu sót về trình tự, thủ tục tố tụng

Mặc khác, việc thực hành quyền công tố được thực thi tốt, truy cứu đúng người, đúng tội, đúng pháp luật là sự khẳng định các hoạt động tư pháp trước đó là đúng đắn Do vậy có thể thấy, nếu gắn kết chặt chẽ hai nội dung, hai mặt hoạt động này trong quá trình giải quyết sự kiện phạm tội, sẽ tránh được oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm và người phạm tội Ngược lại, nếu chỉ quan tâm đến các hoạt động kiểm sát mà không sử dụng triệt để các quyền và nghĩa vụ pháp lý khác có tính quyết định của VKS sẽ dẫn đến nguy cơ làm oan và nhất là việc bỏ lọt tội phạm

Như vậy, chức năng kiểm sát việc TTPL của VKS nhằm bảo đảm cho các hoạt động tố tụng được hợp pháp, khách quan, đầy đủ, tương hỗ cho chức năng THQCT, cả hai chức năng đều có chung mục đích cao nhất là giải quyết

vụ án được chính xác, khách quan và công bằng Theo đó, việc VKS thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc TTPL không những là điều kiện quan trọng nhằm loại trừ các vi phạm pháp luật có thể xảy ra trong quá trình thực hiện

Trang 31

một loạt các hành vi TTHS của các cơ quan điều tra (như khởi tố và hỏi cung

bi can, lấy lời khai người làm chứng, khám xét, thu giữ, kê biên tài sản, ) mà còn là cơ sở đảm bảo cho việc truy tố được khách quan, đúng tội, đúng người

và đúng pháp luật

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

1 Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích về thực hành quyền công tố, trên cơ

sở làm rõ các đặc điểm của tội Hủy hoại rừng, luận văn đã xây dựng khái niệm thực hành quyền công tố đối với tội Hủy hoại rừng Theo đó, thực hành quyền công tố đối với tội Hủy hoại rừng là việc VKS sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý, bảo vệ môi trường, xâm phạm đến chế độ bảo vệ và phát triển rừng, được thực hiện từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

và kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình

sự nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

2 Thực hành quyền công tố đối với tội Hủy hoại rừng có pháp vi áp dụng rộng, được thực hiện từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình

sự

3 Thực hành quyền công tố đối với tội Hủy hoại rừng có nội dung và đặc điểm khác với kiểm sát hoạt động tư pháp và chỉ được thực hiện trong việc giải quyết vụ án hình sự

Trang 32

để người nào bị khởi tố, bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền con người, quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm một cách trái pháp luật; việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác và đúng pháp luật, những vi phạm trong quá trình điều tra phải được phát hiện kịp thời, khắc phục và xử lý nghiêm minh, việc truy cứu TNHS đối với bị can phải có căn cứ và đúng pháp luật Theo đó, VKS thực hành quyền công tố đối với vụ hủy hoại rừng qua các giai đoạn sau:

2.1.1 Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được quy định tại Điều 12 của Luật tổ chức VKSND, Chương II, Quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, ban hành kèm theo Quyết định số 169/QĐ -VKSTC ngày 02/5/2018 của Viện trưởng VKSNDTC và Điều 159 BLTTHS năm 2015

Hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đối với tội Hủy hoại rừng với mục

Trang 33

đích xác định dấu hiệu tội phạm của hành vi hủy hoại rừng để xem xét việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Với ý nghĩa là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý nhằm mục đích xác định dấu hiệu tội phạm, đối tượng của hoạt động thực hành quyền công tố là tội phạm và người phạm tội, hoạt động thực hành quyền công tố nhằm xác định: có hay không hành vi hủy hoại rừng - hành vi nguy hiểm đã xảy ra trên thực tế; việc hủy hoại rừng đó

do cá nhân (pháp nhân thương mại) thực hiện; việc hủy hoại rừng đó, có được quy định là tội phạm trong BLHS hay không

Hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố đối với tội Hủy hoại rừng bắt đầu từ khi

có tố giác, tin báo tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố, kết thúc khi xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm hủy hoại rừng để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án

2.1.2 Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra

Với mục đích nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi

tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội phải

có căn cứ và đúng pháp luật, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với vụ án hình sự, VKSND có những nhiệm vụ, quyền hạn được quy định Điều 14 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Điều 165 BLTTHS năm

2015

Hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với tội Hủy hoại rừng được xác định là nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can phải có căn cứ và đúng pháp luật

Trang 34

Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với tội Hủy hoại rừng, tùy từng trường hợp mà VKS thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, tự mình khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can hoặc yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo quy định của BLTTHS

Trong giai đoạn điều tra, một nhiệm vụ quan trọng của VKS khi thực hành quyền công tố là đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra KSV đề ra yêu cầu điều tra khi có quyết định khởi tố vụ án và trong từng giai đoạn của quá trình điều tra nhằm đảm bảo giải quyết vụ án, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Trong trường hợp cần thiết VKS có thể trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS như: triệu tập hỏi cung bị can, triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, tiến hành đối chất, thực nghiệm điều tra để củng cố chứng cứ, giải quyết vụ án được khách quan, chính xác VKS có quyền yêu cầu thay đổi điều tra viên, trong trường hợp phải thay đổi theo quy định tại Điều 51 của BLTTHS; yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét khởi tố nếu hành vi của điều tra viên có dấu hiệu của tội phạm; có quyền quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo; phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và phê chuẩn các lệnh, các biện pháp ngăn chặn

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, khi phát hiện các quyết định tố tụng của cơ quan điều tra không có căn cứ và trái pháp luật thì VKS có quyền ra quyết định hủy bỏ theo đúng quy định của BLTTHS

2.1.3 Quy định của pháp luật thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố

Theo quy định tại Điều 16 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Điều 236 của BLTTHS về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố

Trang 35

Sau khi việc điều tra kết thúc, CQĐT ra bản kết luận điều tra hoặc đề nghị truy tố (nếu theo thủ tục rút gọn) hoặc quyết định đình chỉ điều tra, thì nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng của VKS trong giai đoạn này mà không cơ quan nào thay thế được là việc quyết định có truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử hay không Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố đối với vụ

án hủy hoại rừng, VKS có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ; quyết định khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi

tố vụ án, bị can nếu xét thấy có đủ căn cứ để truy tố bị can thì VKS thực hiện việc truy tố bị can ra trước Tòa án bằng bản cáo trạng

2.1.4 Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử

Theo quy định tại Điều 18 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Điều 266 của BLTTHS thì nhiệm vụ quyền hạn của VKSND khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử đối với vụ án hủy hoại rừng, VKS công bố cáo trạng, công bố quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn; luận tội, tranh luận, phát biểu quan điểm của VKS về giải quyết vụ án, có quyền kháng nghị bản

án nếu phát hiện bản án, quyết định của tòa án trong trường hợp oan, sai, bỏ lọt tội phạm

2.1.5 Các văn bản hướng dẫn áp dụng Bộ luật hình sự về tội Hủy hoại rừng

Tội hủy hoại rừng, được quy định tại Điều 189 của BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, nay là Điều 243 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố về tội hủy hoại rừng theo Điều 189 của BLHS năm 1999 thì trước hết phải xác định hậu quả xảy ra có thuộc một trong các trường hợp sau đây: "gây hậu quả nghiêm trọng" "gây

Trang 36

hậu quả rất nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" hoặc "hủy hoại diện tích rừng rất lớn", "hủy hoại diện tích rừng đặc biệt lớn"

Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT/BNN&PTNT - BTP - BCA- VKSNDTC - TANDTC ngày 08/3/2007 của liên ngành Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ tư pháp, Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao (gọi tắt là Thông tư liên tịch 19), hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản Theo đó, một trong những cơ sở để xác định thế nào là gây hậu quả nghiêm trọng, hủy hoại diện tích rừng rất lớn, hủy hoại diện tích rừng đặc biệt lớn, là phải tương ứng với diện tích rừng bị hủy hoại với trên mức tối đa xử phạt vi phạm hành chính đến 02 lần, trên 02 lần đến 04 lần, trên 04 lần, mức tối đa xử phạt vi phạm hành chính

Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội hủy hoại rừng có một số quy định mới, thể hiện sự tiến bộ trong trình độ lập pháp của nước ta, cũng như thể hiện tính phù hợp với đòi hỏi, yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm hủy hoại rừng nói riêng, đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung Cụ thể: BLHS 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, quy định Tội hủy hoại rừng tại Điều 189 với 04 khoản; BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, quy định Tội hủy hoại rừng tại Điều 243 với 05 khoản, trong đó khoản 5 quy định chủ thể phạm tội là pháp nhân (đây là điểm mới mang tính quan trọng so với BLHS 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 về chủ thể phạm tội mới trong pháp luật hình sự Việt Nam), tuy nhiên so với BLHS 1999, sửa đổi

bổ sung năm 2009 thì BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã xây dựng một số điểm mới thể hiện sự tiến bộ về kỹ thuật lập pháp của nước ta trong Tội hủy hoại rừng

Theo quy định của BLHS mới, về định khung cơ bản đã sửa đổi, bổ

sung và xây dựng mới dấu hiệu phạm tội theo định khung cơ bản tại Khoản 1

Trang 37

Điều 243 bỏ tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, xây dựng cụ thể các điểm

a, b, c, d, đ Khoản 1 Điều 243 với các quy định cụ thể về “diện tích rừng thiệt hại tương ứng từng phân loại rừng và giá trị lâm sản bị thiệt hại” để làm căn

cứ định tội danh (không còn phụ thuộc vào Thông tư liên tịch 19/2007 như Điều 189 BLHS 1999); và xây dựng điểm e Khoản 1 Điều 243 quy định tình

tiết “bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã

bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”, đây là quy định

mới phù hợp với thực tiễn

So với BLHS 1999, thì điểm đ Khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có một số sửa đổi, bổ sung mới, cụ thể: Sửa đổi, bổ

sung mới về hậu quả“Gây thiệt hại về lâm sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích” Theo đó, đây là những sửa đổi phù hợp, cụ thể hơn, không

còn phân biệt giá trị thiệt hại về lâm sản theo từng phân loại rừng

BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tình tiết định khung

cơ bản trong trường hợp diện tích rừng hoặc trị giá lâm sản dưới mức quy định tại một trong các điểm a, b, c, d, đ, e, g và so với khoản 1 Điều 189 BLHS 1999, thì điểm g Khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung

năm 2017 bổ sung thêm tình tiết “…hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm ”bên cạnh tình tiết “bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”

So với BLHS 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 về tội hủy hoại rừng, thì BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tội này đã có sửa đổi mới theo hướng phù hợp hơn, khắc phục được tình trạng biên độ dao động của khung hình phạt rộng tại Điều 189 BLHS 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 Theo đó, Khoản 1 Điều 243 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam

Trang 38

giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm; Khoản 2 quy định phạt tù

từ 03 năm đến 07 năm; Khoản 3 quy định phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

2.2 Thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố các vụ án hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Bình Định

2.2.1 Khái quát chung về tỉnh Bình Định

2.2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội của Bình Định

Bình Định thuộc vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Mùa mưa bắt đầu

từ tháng 9 đến tháng 12, riêng đối với khu vực miền núi có thêm một mùa mưa phụ từ tháng 5 đến tháng 8 do ảnh hưởng của mùa mưa Tây Nguyên Mùa khô kéo dài từ tháng 01 đến tháng 8 Khí hậu và thổ nhưỡng Bình Định rất thích hợp cho việc phát triển nông lâm nghiệp đem lại hiệu quả kinh

Kinh tế của tỉnh duy trì tốc độ tăng trưởng khá, bình quân hàng năm giai đoạn 2005 - 2015 tăng 10,7%; Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, hợp lý với điều kiện thực tiễn của tỉnh; bình quân mỗi năm GRDP đạt mức tăng trưởng gần 10% Trong đó, khu vực nông lâm thủy sản tăng 6%/năm, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,1%/năm, khu vực dịch vụ

Trang 39

tăng 11,7%/năm Quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh đến năm 2015 tăng gấp 6 lần so với 10 năm trước; GRDP bình quân đầu người đạt 40,1 triệu đồng/người năm 2015, gấp 5,7 lần so với năm 2005 Đã định hình các vùng chuyên canh tập trung cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày gắn với các nhà máy chế biến phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu [47]

2.2.1.2 Khái quát về vị trí địa lý, tài nguyên rừng của tỉnh Bình Định

Bình Định nằm ở phía đông dãy Trường Sơn Nam, có tọa độ 14042'10 Bắc và 108055'4 Đông, có địa hình phức tạp, có hướng dốc chủ yếu từ Tây sang Đông với sự phân bậc địa hình rất rõ rệt Nếu ở cao nguyên phía Tây giáp tỉnh Gia Lai có độ cao trung bình 600 - 700 m thì ở đồng bằng Bình Định chỉ có cao độ 20 - 30m, vùng ven biển cao độ 2-3m

Vùng núi thấp và trung bình thuộc dãy Trường Sơn Đông, nằm ở ranh giới phía Tây của tỉnh giáp với tỉnh Gia Lai và các nhánh núi chạy đâm ra biển nằm phía Bắc, giáp với Quảng Ngãi và phía Nam giáp với Phú Yên với diện tích 240.750 ha chiếm khoảng 40% diện tích tự nhiên của tỉnh Vùng này

có độ cao trung bình 700m đến 800m, có những đỉnh cao 989m, 1046m, 1138m nằm trên đường phân thủy giữa sông Kôn và sông Ba ở phía Tây trên lãnh thổ tỉnh Gia Lai; các đỉnh 1.045m, 1.053m, 1.202m nằm trên đường phân thủy giữa sông Kôn, sông An Lão với sông Vệ, sông Re trên đất Quảng Ngãi; các đỉnh 815m, 1122m trên đường phân thủy giữa sông Hà Thanh và Sông Kôn Độ dốc sườn trung bình 30-400, có nơi đến 60 - 700 Vùng núi có độ che phủ rừng rất lớn, đạt đến 54,7- 62,4%, có nơi còn gặp những mảng rừng nguyên sinh như An Toàn- An Lão, Vĩnh Sơn - Vĩnh Thạnh, Canh Phong- Vân Canh, đây cũng là nơi bắt nguồn những con sông lớn Bình Định

Vùng gò đồi trung du Đây là vùng trung gian xen kẹp giữa vùng núi và vùng đồng bằng, nằm dọc theo thung lũng các con sông lớn với diện tích 160.110ha, chiếm khoảng 10% diện tích tự nhiên của tỉnh Độ cao trung bình

Trang 40

khoảng 40 - 60m đến 200m, có một số đồi cao 200 - 400m phổ biến ở các địa phận các huyện Hoài Ân, Phù Mỹ, trung lưu sông Kôn Độ dốc sườn đồi thường thấp, khoảng 15 - 250[47; tr.7, 8, 9]

Do vị trí địa lý và địa hình như vậy đã tạo nên hệ sinh thái đặc biệt phong phú về các loài động thực vật và tập trung rất cao tính đa dạng sinh học Bình Định có khoảng 350 ngàn ha đất lâm nghiệp, trong đó trên 216 ngàn ha rừng tự nhiên với trữ lượng gỗ và các loại lâm sản khác khá dồi dào

và phong phú về chủng loại Bên cạnh đó, có hơn 134 ngàn ha rừng trồng cung ứng nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến Rừng hiện nay, còn tập trung chủ yếu ở những vùng xa đường giao thông nên chỉ có ý nghĩa lớn về phòng hộ và bảo vệ môi trường Xét theo mục đích kinh tế thì rừng sản xuất có 65,5 ngàn ha, rừng phòng hộ có gần 128 ngàn ha Rừng Bình Định có hơn 40 loài cây có giá trị dược liệu, phân bố hầu khắp các huyện như: ngũ gia

bì, sa nhân, thiên niên kiện, bách bộ, thổ phục linh, hoàng đằng, thiên môn, phong kỳ, kim ngân

Thảm thực vật rừng: rừng tự nhiên, có nhiều loại cây quý hiếm, gỗ tốt như: sao, giáng hương, gội, trắc, kiền kiền, bằng lăng, chò sót… với hệ sinh thái rừng giàu, nguyên sinh được phân bố chủ yếu được phân bổ chủ yếu ở các huyện An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh và một số ít ở huyện Tây Sơn, với diện tích khoảng 47 ngàn ha, với kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm Rừng vẫn còn khá nhiều các loài cây gỗ có đường kính tương đối lớn, trung bình 30-45cm, chiều cao trung bình 25-30m, trữ lượng gỗ có thể đạt tới 200 - 250m3/ha Thảm thực vật rừng thường có cấu trúc bốn đến năm tầng, tầng ưu thế với đa số các cây lá rộng như: dẻ, re, sao mặt quỷ, lát, gội, giổi, sồi, sến Khu vực có hệ sinh thái rừng tự nhiên độc đáo mang tính điển hình của vùng rừng núi thuộc Đông Trường Sơn Tại đây có Khu bảo tồn thiên nhiên An Toàn, huyện An Lão với diện tích 22.545 ha, là nơi cư trú của rất nhiều loài

Ngày đăng: 01/03/2020, 22:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w