Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư 7 1.2.3.1.. Theo theođịnh nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, SDD là sự mất cân bằng trong cungcấp chất dinh dưỡng và nă
Trang 1CHƯƠNG 1 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan về ung thư vú 3
1.1.1 Khái nệm ung thư vú 3
1.1.2 Phân loại ung thư vú 3
1.1.3 Dịch tễ học ung thư 4
1.2 Tình trạng dinh dưỡng và bệnh ung thư vú 5
1.2.1 Định nghĩa tình trạng dinh dưỡng và suy dinh dưỡng 5
1.2.2 Suy dinh dưỡng và ung thư 6
1.2.3 Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư 7 1.2.3.1 Tiêu chí đánh giá các chỉ số nhân trắc học 7
1.2.3.2 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng qua điều tra khẩu phần 8
1.2.3.3 Phương pháp đánh giá tổng thể chủ quan PG-SGA (Patient – Generated Subjective Global Assessment): 9
1.2.3.4 Phương pháp đánh giá bằng chỉ tiêu sinh hóa 10
1.3 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư vú 10
1.3.1 Tuổi 10
Độ tuổi chủ yếu mức ung thư vú là từ 41 đến 59 tuổi (chiếm 49%) [8] 10
Ở những bệnh nhân già, những yếu tố khác như sa sút trí tuệ, bất động, chán
ăn hay răng yếu có thể làm trầm trọng thêm tình trạng dinh dưỡng Những lý
do SDD tiến triển khu bệnh do đa yếu tố, nhưng sự giảm lượng ăn vào, tăng
Trang 2nhu cầu protein – năng lượng, sụt cân tăng kèm với tình trạng viêm có thể là
trung tâm của vấn đề [22] 10
1.3.2 Tần suất tiêu thụ thực phẩm 11
1.3.3 Khẩu phần ăn 24 giờ 11
1.3.4 Hoạt động thể lực 11
1.3.5 Tác dụng phụ của các phương pháp điều trị ung thư 11
[38] Hebuterne X, Lemarie E, Michallet M, de Montreuil CB, Schneide SM, Goldwasser F Prevalence of malnutrition and current use of nutrition support in patients with cancer 2014 tháng 2; 38 (2): 196-204 doi: 10.1177 / 0148607113502674 14
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về ung thư vú
1.1.1 Khái nệm ung thư vú
Ung thư là một thuật ngữ chung cho một nhóm bệnh đặc trưng bởi sự phát triển bất thường của tế bào và xâm lấn các tế bào khỏe mạnh khác trong cơ thể Ung thư vú bắt đầu trong các tế bào mô vú, xảy ra khi khối u ác tính phát triển trong
vú Những tế bào này có thể lây lan bằng cách tách ra khỏi khối u ban đầu và xâm nhập vào các mạch máu hoặc mạch bạch huyết, phân nhánh đến các mô trên khắp cơ thể Khi các tế bào ung thư di chuyển đến các bộ phận khác của cơ
Trang 3thể và bắt đầu làm hỏng các mô và cơ quan khác, quá trình này được gọi là dicăn [7]
1.1.2 Phân loại ung thư vú
Theo giải phẫu bệnh
Loại ung thư vú phổ biến
Ung thư biểu mô ống xâm lấn (IDC- Invasive Ductal Carsinoma): Các tế bàoung thư hình thành trong các ống dẫn sữa và phát triển ra bên ngoài ống đếncác phần khác của mô vú Các tế bào ung thư xâm lấn cũng có thể lây lan,hoặc di căn sang các bộ phận khác của cơ thể
Ung thư biểu mô tiểu thùy xâm lấn (ILC- Invasive Lobular Carsinoma): Các
tế bào ung thư lây lan từ các tiểu thùy đến các mô vú gần nhau Những tếbào ung thư xâm lấn này cũng có thể lan sang các bộ phận khác của cơ thể.[8]
Loại ung thư vú ít phổ biến
Ung thư biểu mô ống dẫn tại chỗ (DCIS- Ductal Carcinoma In Situ): Các tếbào ung thư chỉ nằm trong niêm mạc của các ống dẫn và không lan sang các
mô khác trong vú
Ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ (LCIS- Lobular Carcinoma In Situ):Không phải là một loại ung thư thực sự, nhưng làm tăng nguy cơ phát triểnthành ung thư vú xâm lấn hoặc phát triển khối u vú ở đối bên [9]
Ung thư vú thể viêm (IBC- Inflammatory Breast Cancer): Phát triển nhanh
và mạnh, nhưng không có khôi u riêng Các tế bào ung thư xâm nhập vào da
và các mạch bạch huyết của vú [10]
Phân loại theo biểu hiện của thụ thể Hormon
Trang 4 ER (Estrogen Receptor) và PR (Progesterol Receptor): Khối u có hay không
có biểu hiện của 2 thụ thể này
HER2 (Protein thúc đẩy tăng trưởng): Khối u có hay không sự biểu hiện quámức của protein này [11]
1.1.3 Dịch tễ học ung thư
Trên thế giới
Theo Tổ chức Y tế Thế giơi, ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữtrên toàn thế giới, ảnh hưởng tới 2,1 triệu phụ nữ mỗi năm và cướp đi sinh mạngcủa hàng trăm ngàn phụ nữ, gây ra số ca tử vong liên quan đến ung thư nhiềunhất ở phụ nữ Năm 2018, ước tính có 627.000 phụ nữ chết vì ung thư vú - đó làkhoảng 15% tổng số ca tử vong do ung thư ở phụ nữ Trong khi tỷ lệ ung thư vúcao hơn ở phụ nữ ở các khu vực phát triển hơn, tỷ lệ đang gia tăng ở hầu hết cáckhu vực trên toàn cầu [12]
Năm 2019, ước tính có khoảng 268.600 ca ung thư vú xâm lấn mới sẽ đượcchẩn đoán ở phụ nữ ở Mỹ cũng như 62.930 trường hợp mới mắc ung thư vúkhông xâm lấn (tại chỗ), ước tính có 41.760 phụ nữ sẽ chết vì ung thư vú ở Mỹ
Cứ 8 phụ nữ ở Hoa Kỳ thì 1 người sẽ bị ung thư vú trong đời [13]
Tại Việt Nam
Ung thư vú là loại ung thư phổ biến hàng đầu ở nữ giới với tỷ lệ mắc mớichuẩn hóa theo tuổi (ASR) vào năm 2013 là 24,4/100.000 dân (ước tính củaGLOBOCAN năm 2018 là 26,4/100.000 dân) Xu hướng mắc ung thư vú ở phụ
nữ Việt Nam bắt đầu tăng từ độ tuổi 30-34 tuổi và tăng nhanh, đỉnh cao ở 55-59tuổi với tỷ lệ là 135/100.000 dân
Trang 5Theo thống kê, hiện có khoảng 42.188 người đang sống cùng căn bệnh ung thư
vú Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam vẫn còn đến một nửa bệnh nhân ung thư vúđến viện khi đã ở giai đoạn 3 – 4, lúc này khả năng chữa khỏi không còn cao.[14]
1.2 Tình trạng dinh dưỡng và bệnh ung thư vú
1.2.1 Định nghĩa tình trạng dinh dưỡng và suy dinh dưỡng
Tình trạng dinh dưỡng (TTDD): TTDD là tập hợp các đặc điểm chức phận,cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể.Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng cácchất dinh dưỡng của cơ thể Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ảnh sự cân bằnggiữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi cơ thể thiếu hoặc thừa dinhdưỡng là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc vấn đề về dinh dưỡng Đối vớimỗi lứa tuổi, giới tính, tình trạng sinh lí và mức độ hoạt động thể lực, trí lực
sẽ cần số lượng và các loại thực phẩm khác nhau để đáp ứng nhu cầu dinhdưỡng
Suy dinh dưỡng (SDD): SDD là một vấn đề sức khỏe phổ biến Theo theođịnh nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, SDD là sự mất cân bằng trong cungcấp chất dinh dưỡng và năng lượng so với nhu cầu của cơ thể tại các tế bàonhằm đảm bảo sự phát triển, duy trì hoạt động các chức năng chuyên biệtcủa chúng [15] Tóm lại, SDD được hiểu là tình trạng cơ thể không đủ khảnăng để duy trì sự phát triển và các chức năng chuyên biệt của chúng Hiệnnay, tỉ lệ SDD trong bệnh viện còn rất phổ biến do chưa có những tiêu chíđược chấp nhận quốc tế để chẩn đoán tình trạng SDD [1]
1.2.2 Suy dinh dưỡng và ung thư
Dinh dưỡng trong điều trị đang ngày một được chú trọng do những hiệu quả tolớn mà nó mang lại cho người bệnh và đặc biệt là bệnh nhân ung thư Bệnh ungthư cũng như các phương pháp điều trị ung thư (xạ trị, hóa trị, phẫu thuật…)
Trang 6đều ảnh hưởng tới việc cung cấp và chuyển hóa dinh dưỡng của người bệnh Vàngược lại, tình trạng dinh dưỡng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến các đáp ứng điềutrị của bệnh nhân ung thư Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, mỗi nămViệt Nam có khoảng 95.000 bệnh nhân chết vì ung thư, trong đó 80% bị sụt cân,30% chết vì suy kiệt trước khi qua đời do khối u [3] Nhiều nghiên cứu trên thếgiới chỉ ra rằng chỉ cần sụt 5% cân nặng đã rút ngắn 1/3 thời gian sống của bệnhnhân ung thư SDD có thể là kết quả của quá trình mắc bệnh và điều trị Tácdụng phụ liên quan đến liệu pháp điều trị ung thư gồm hóa trị liệu, tia xạ, miễndịch trị liệu và phẫu thuật, đây là những yếu tố quan trọng thúc đẩy tình trạngSDD Ngoài ra, việc bệnh nhân UT thiếu kiến thức về dinh dưỡng hợp lí, ănkiêng quá mức cũng là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng SDD.Bác sĩ dinh dưỡng làm việc trong lĩnh vực UT có vai trò quan trọng trong đảmbảo quản lý các vấn đề dinh dưỡng của bệnh nhân, là một phần trong chăm sócbệnh nhân UT và đảm bảo bệnh nhân nhận được sự chăm sóc cần thiết [17] ,[18] Việc xây dựng một chế độ dinh dưỡng hợp lí trước, trong và trong quátrình điều trị sẽ tăng cường thể lực cho bệnh nhân giúp hạn chế tình trạng SDD
và tăng đáp ứng với điều trị góp phần tăng thời gian sống của bệnh nhân ungthư
Suy mòn UT là một trạng thái SDD nặng với các biểu hiện chán ăn, giảm cân,suy nhược cơ thể, giáng hóa mạnh các mô cơ và mỡ, rối loạn chức năng miễndịch và chuyển hóa nặng do thay đổi nội tiết tố và sản xuất các cytokine tiềnviêm [19] , [20] Theo nghiên cứu của Leandro-Merhi V.A cho kết quả nhữngbệnh nhân SDD có nguy cơ nằm viện lâu hơn (p = 0,0034); đồng thời nhữngbệnh nhân được nuôi dưỡng bằng đường tiêu hóa được xuất hiện sớm hơnnhững bệnh nhân nuôi dưỡng bằng đường khác có cùng tình trạng dinh dưỡng(p = 0,02; RR = 2,5) [21] Thêm vào đó, việc ăn đúng các loại thực phẩm trước,trong và sau khi điều trị UT có ý nghĩa quan trọng trong hỗ trợ bệnh nhân tiếntriển tốt hơn [22] Do vậy, phòng ngừa và điều trị tình trạng suy kiệt dinh
Trang 7dưỡng để duy trì sức khỏe về thể chất và đảm bảo chất lượng cuộc sống cànglâu càng tốt là mục tiêu quan trọng trong chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhânung thư.
1.2.3 Tình trạng dinh dưỡng ảnh hưởng đến điều trị ung thư vú
Béo phì ảnh hưởng đến tất cả các phương pháp điều trị ung thư vú như xạ trị,hóa trị, miễn dịch ,… Ngoài ra, tình trạng dinh dưỡng còn ảnh hưởng đến khảnăng hồi phục chức năng của bệnh nhân sau phẫu thuật, thời gian nằm viện,trạng thái tâm lý và nguy cơ tử vong [4],[5],[6]
1.2.4 Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư1.2.4.1 Tiêu chí đánh giá các chỉ số nhân trắc học
Chỉ số khối cơ thể (BMI – Body Mass Index):
BMI ≥ 25: thừa cân/béo phì
18,5 – 24,99: bình thường
Để đánh giá tình trạng gầy hay thiếu năng lượng trường diễn (ChronicEnergy Deficiency – CED), dựa vào chỉ số khối cơ thể BMI như sau :
CED độ 1: 17 – 18,49 (gầy nhẹ)
CED độ 2: 16 – 16,99 (gầy vừa)
CED độ 3: < 16,0 (quá gầy)
Chu vi vòng cánh tay (Mid Arm Circumference – MAC): chúng tôi tiến hànhđánh giá TTDD của bệnh nhân bằng cách so sánh kết quả thu được với giá
Trang 8trị tham khảo tương ứng từ dữ liệu chuẩn của cộng đồng dân số Nhật Bản[40] (xem phụ lục 3) Xác định SDD khi giá trị thu được < giá trị 10thpercentile số đo của dữ liệu chuẩn tương ứng theo độ tuổi và giới; tương tự <
5th perxentile chỉ thị cho SDD nặng [29]
1.2.4.2 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng qua điều tra khẩu phần
Điều tra khẩu phần là một phương pháp trong quá trình đánh giá TTDD.Phương pháp này có thể phát hiện được những bất thường trong khẩu phần ănhàng ngày (thiếu hoặc thừa so với nhu cầu) ngay ở giai đoạn đầu Thông quaviệc thu thập, phân tích số liệu về tiêu thụ lương thực thực phẩm và tập quán ănuống (chỉ số dinh dưỡng của thực phẩm dựa vào bảng thành phần hoá học ViệtNam của Viện dinh dưỡng quốc gia) từ đó cho phép đưa ra các kết luận về mốiliên quan giữa ăn uống và tình trạng sức khoẻ của đối tượng [30] Điều tra khẩu
có 3 phương pháp chính: điều tra trọng lượng lương thực thực phẩm, phươngpháp hỏi ghi và điều tra tập quán ăn uống, phương pháp hỏi ghi khẩu phần 24hthường được áp dụng do có thể đánh giá ngay TTDD của đối tượng tại thờiđiểm đánh giá
Phương pháp hỏi ghi khẩu phần 24h có ưu điểm là: đơn giản, nhẹ nhàng nên có
sự hợp tác cao của đối tượng, mặt khác phương pháp này còn cho kết quảnhanh, chi phí thấp và có thể áp dụng được với cả người có trình độ học vấnthấp Nhưng nó cũng có một số mặt hạn chế: đối tượng có thể miêu tả quá hoặcgiảm số lượng khẩu phần một cách vô tình hay cố ý, hiện tượng "trung bình hoákhẩu phần" có thể xảy ra do điều tra viên điều chỉnh khi phỏng vấn, một số thựcphẩm khó ước tính được lượng thành phần các chất cũng như không thể áp dụngphương pháp này với đối tượng có trí nhớ kém [31]
Trang 91.2.4.3 Phương pháp đánh giá tổng thể chủ quan PG-SGA (Patient –
Generated Subjective Global Assessment):
Năm 2002, Bauer và cs sử dụng bảng SGA cải biên (PG-SGA) để đánhgiá TTDD ở bệnh nhân ung thư với giá trị tương đương phương pháp SGAnguyên thủy (với độ nhạy 98% và độ đặc hiệu 82%) [9] PG-SGA là mộtphương pháp cụ thể hóa hơn trong đánh giá TTDD cho bệnh nhân ung thư;chẳng hạn như việc đánh giá sự xuất hiện các triệu chứng buồn nôn, nôn, tiêuchảy, khô miệng và thay đổi vị giác Đây là một đánh giá tổng thể chủ quanđược thực hiện trên tất cả các khía cạnh bao gồm: giảm cân, giảm tiêu hóa thức
ăn, giảm các hoạt động và chức năng, tăng nhu cầu trao đổi chất (sốt, sử dụngcorticoid) và khám thực thể (bao gồm đánh giá teo cơ, mất lớp mỡ dưới da vàphù, cổ chướng) Một điểm số của nguy cơ dinh dưỡng thu được, điều này chothấy mức độ khác nhau của sự can thiệp Điểm số cao hơn cho thấy một nguy
cơ dinh dưỡng cao hơn PG-SGA cũng cung cấp việc đánh giá nguy cơ SDDcủa bệnh nhân theo 3 mức độ (xem phụ lục 2):
+ PG-SGA A (dinh dưỡng tốt): cân nặng ổn định hoặc tăng cân cách đây
không lâu; không giảm khẩu phần ăn vào hoặc được cải thiện gần đây; không cóbất thường về các chức năng, hoạt động trong 1 tháng qua
+ PG-SGA B (SDD nhẹ hoặc vừa hay có nguy cơ SDD): giảm 5% trong 1
tháng hoặc 10% trong 6 tháng; giảm tiêu thụ khẩu phần ăn; có sự hiện diện củacác triệu chứng tác động đến dinh dưỡng; suy giảm các chức năng ở mức độvừa phải; mất lớp mỡ dưới da hoặc khối lượng cơ vừa phải
+ PG-SGA C (SDD nặng): giảm >5% cân nặng trong 1 tháng hoặc >10%
trong 6 tháng; thiếu nghiêm trọng về lượng khẩu phần ăn; có sự hiện diện củacác triệu chứng tác động đến ăn uống; suy giảm các chức năng mức độ nặnghoặc suy giảm đột ngột; có dấu hiệu rõ ràng của SDD (mất lớp mỡ dưới da, teocơ…)
Trang 101.2.4.4 Phương pháp đánh giá bằng chỉ tiêu sinh hóa
Albumin huyết thanh: bình thường khi albumin huyết thanh của người lớn từ
35 - 48 g/l Lượng albumin <35 g/l được coi là SDD [41], trong đó:
+ SDD nhẹ: 28 - <35 g/l
+ SDD vừa: 21 – 27 g/dl
+ SDD nặng: <21 g/dl.
Tổng số lượng tế bào lympho (Total Lymphocyte Count – TLC): Dựa vào cơ
sở SDD gây suy giảm chức năng miễn dịch nên TTDD được đánh giá thôngqua phép đo tổng số lượng tế bào Lynpho Tổng số lượng tế bào Lymphođược tính theo công thức sau [42]:
TLC= %tế bào Lympho x tế bào bạch cầu
100Tình trạng dinh dưỡng tốt khi TLC > 1800/mm3; SDD nhẹ khi TLC = 1500-1800/mm3; SDD vừa khi LTC = 900 - <1500/mm3; SDD nặng khi TLC <900.mm3
Hemoglobin: chẩn đoán thiếu máu khi hemoglobin <130 g/l đối với nam và
<120 g/l đối với nữ
AST/ALT : AST (hay còn gọi là SGOT) mức bình thường vào khoảng từ
20-40 UI/L, ALT (SGPT) có giới hạn bình thường từ 7 U/L đến 56 U/L
Creatinin : ở người trưởng thành nộng độ creatinin bình thường ở nam là0.6-1.2 mg/dl( tức là 53-106 mmol/l) , nữ từ 0.5-1.1 mg/dl ( tức là 44-97mmol/l)
1.3 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư
vú
1.3.1 Tuổi
Độ tuổi chủ yếu mức ung thư vú là từ 41 đến 59 tuổi (chiếm 49%) [8]
Trang 11Ở những bệnh nhân già, những yếu tố khác như sa sút trí tuệ, bất động, chán ănhay răng yếu có thể làm trầm trọng thêm tình trạng dinh dưỡng Những lý doSDD tiến triển khu bệnh do đa yếu tố, nhưng sự giảm lượng ăn vào, tăng nhucầu protein – năng lượng, sụt cân tăng kèm với tình trạng viêm có thể là trungtâm của vấn đề [22]
1.3.2 Tần suất tiêu thụ thực phẩm
AICR khuyến nghị chế độ ăn nhiều rau và trái cây (17) Sự gia tăng của trái cây
và rau quả có liên quan đến kết quả ung thư tốt hơn và cải thiện kết quả trong phản ứng viêm, tiến triển khối u và dấu ấn sinh học của nguy cơ tái phát ở bệnh nhân ung thư vú (39) Trong quá trình hóa trị, chế độ ăn uống đã được tìm thấy giảm trong suốt quá trình điều trị và thậm chí đạt đến một lượng không đủ (38) Đặc biệt, lượng trái cây, cam và rau xanh và các loại đậu đã được tìm thấy giảmđáng kể trong quá trình điều trị
Nói chung, trái cây và rau quả có liên quan đến việc giảm vừa phải nguy cơ ungthư vú (73) Những thực phẩm này có nhiều vitamin, khoáng chất và chất chốngoxy hóa, có một số đặc tính có lợi cho sức khỏe Một khẩu phần 150 g và một khẩu phần rau 75 g ở mức 5 - 9 khẩu phần mỗi ngày sẽ cung cấp một lượng chấtchống oxy hóa và chất xơ thỏa đáng trong chế độ ăn kiêng Tốt hơn là, rau nên giàu chủ yếu là β - carotene và vitamin A, E và C (77) Những vitamin này có liên quan đến những thay đổi tích cực về nhân trắc học, trao đổi chất, viêm và DNA
Vitamin B6, magiê, riboflavin, thiamine, kẽm và niacin có đặc tính chống viêm,
có khả năng làm giảm nguy cơ kết quả bất lợi cho sức khỏe ở bệnh nhân ung thư bằng cách giúp cytokine chống viêm (78)
Tỏi (79,80) và rau quả (81, 82) họ cải có hoạt tính chống oxy hóa và chống oxy hóa lớn hơn trong các tế bào ung thư vú, do đó chúng đã được khuyến nghị trong chế độ ăn uống của bệnh nhân ung thư vú để can thiệp dinh dưỡng trị liệu (83) Chúng cũng đã được tìm thấy có chứa các hợp chất hoạt tính sinh học đã
Trang 12cho thấy các hoạt động hóa học trong tất cả các giai đoạn gây ung thư ung thư
vú (84)
Protein đóng vai trò quan trọng ở bệnh nhân ung thư Một lượng tiêu thụ 1,2 - 1,5 g / kg mỗi ngày được cho là để ngăn ngừa béo phì do sarcopenic vì nó duy trì khối lượng không có chất béo (85, 86) Có ý kiến cho rằng các nguồn proteintiêu thụ đầy đủ là cá, thịt gia cầm và thịt lợn vì chúng có hàm lượng chất béo thấp (87) và thịt, trứng và sữa ít béo chỉ chiếm một lượng nhỏ nguồn protein trong chế độ ăn uống (1 - 2 lần / tuần mỗi lần) do khả năng tăng nguy cơ phát triển ung thư vú
1.3.3 Khẩu phần ăn 24 giờ
Tình trạng dinh dưỡng đánh giá khẩu phần ăn hàng hàng đủ hay thiếu, nếu khẩuphần ăn đủ so với nhu cầu của cơ thể thì tình trạng dinh dưỡng phát triển tốt,nếu khẩu phần ăn không đủ so với nhu cầu thì cơ thể phản ứng nhanh nhất làcân nặng giảm, khẩu phần ăn thường xuyên thiếu so với nhu cầu sẽ dẫn tới suydinh dưỡng trường diễn
1.3.4 Hoạt động thể lực
Hoạt động thể lực đã được nghiên cứu làm giảm nguy cơ tái mắc ung thư vúdựa vào một số giả thiết sau Sự tăng cường hoạt động thể lực làm giảm lượngchất béo ở dưới da, nội tạng và gan bằng những thay đổi ở hệ nội tiết và hoạtđộng của yếu tố tăng trưởng và điều này có khả năng giảm nguy cơ dẫn đến ungthư Ví dụ , việc hoạt động thể lực thường xuyên sẽ dẫn đến tăng độ nhạy đốivới insulin do đó làm giảm hàm lượng insulin và C-peptid lúc đói giảm nguy cơung thư [1]
Sự tiếp xúc lâu dài đối với estrogen và progestrogen ( dẫn đến dậy thì sớm ,mãn kinh muộn) hoặc trải qua những sự thay đổi của hàm lượng estrogen liênquan đến tăng nguy cơ ung thư vú ở cả phụ nữ trước và sau mãn kinh Hoạtđộng thể lực khiến hàm lượng estrogen và endrogens giảm ở phụ nữ tiền mãn
Trang 13kinh và giảm lượng estrogen tuần hoàn , kéo dài chu kỳ kinh nguyệt và giảmsinh trứng ở phụ nữ trước mãn kinh
Hoạt động thể lực cũng cải thiện khả năng đáp ứng miễn dịch của cơ thể làmgiảm sự hình thành và tăng loại bỏ các tế bào ung thư [23][24] Ngoài ra ,Những hoạt động thể lực ở ngoài trời làm tăng tiếp xúc với ánh nắng mặt trờidẫn đến tăng tổng hợp Vitamin D chất đóng một vai trò quan trọng trong sựngăn ngừa ung thư.[25]
Hoạt động thể lực còn giúp cải thiện lượng máu tuần hoàn, kích thích hệ tiêuhóa hoạt động tốt, cải thiện chất lượng, số lượng các thành phần đặc hiệu trong
hệ miễn dịch và tăng cường giải phóng endorphin nội sinh, giúp giảm đau, tănghưng phấn thần kinh, giảm suy nghĩ tiêu cực, trầm cảm của bệnh nhân mắc ungthư
1.3.5 Tác dụng phụ của các phương pháp điều trị ung thư
1.3.5.1 Phẫu thuật điều trị ung thư vú
Phẫu thuật là phương pháp điều trị ung thư vú đầu tiên và cũng là phương phápchính điều trị ung thư vú, nhất là ở những trường hợp chưa có di căn Bao gồm:
• Phẫu thuật cắt tuyến vú triệt căn biến đổi Đây là phương pháp phẫu thuật
cơ bản, bao gồm cắt bỏ toàn bộ tuyến vú và nạo vét hạch nách thành một khối,
có bảo tồn cơ ngực lớn, cơ ngực bé và thần kinh
• Phẫu thuật tạo hình sau phẫu thuật ung thư vú: sau khi cắt bỏ toàn bộtuyến vú người bệnh được thực hiện tạo hình vú bằng đặt túi độn ngực hoặc tạohình vú bằng vạt da cơ tự thân
• Phẫu thuật bảo tồn tuyến vú: Áp dụng với bệnh nhân đáp ứng được đầy
đủ các yêu cầu về chỉ định bảo tồn Phẫu thuật bao gồm cắt rộng phần tuyến vú
có u và nạo vét hạch nách Sau phẫu thuật bảo tồn người bệnh phải điều trị xạ trị
bổ trợ Ngày nay phẫu thuật bảo tồn được áp dụng rộng rãi nhằm nâng cao chấtlượng sống cho người bệnh
Trang 14• Phẫu thuật giảm nhẹ; với những khối u vú vỡ loét thì phẫu thuật sạch sẽkhối u là phương pháp giảm nhẹ làm cải thiện chất lượng cuộc sống cho ngườibệnh
Phẫu thuật có thể gây sụt cân theo nhiều cách Trước hết, phẫu thuật là một chấnthương làm tăng nhu cầu năng lượng của cơ thể để làm lành vết thương và phụchồi sức khỏe Sau phẫu thuật, bệnh nhân có thể bị sụt cân vì không thể ăn đầy
đủ do đau, buồn nôn hay do các quy định hạn chế thức ăn
Hậu quả của phẫu thuật trên tình trạng dinh dưỡng cũng tùy thuộc vào vị trí và
độ lớn của phẫu thuật Chẳng hạn như, phẫu thuật bất kỳ phần nào thuộc đườngtiêu hóa đều có thể khiến bệnh nhân có nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng vì nó cóthể cản trở việc tiếp nhận, tiêu hóa và/hay hấp thu thức ăn
• Thủ thuật cắt bỏ khối u ở đầu cổ Thủ thuật cắt bỏ các khối u ở vùng đầu,lưỡi, họng và cổ có thể cản trở việc ăn uống đến mức độ bệnh nhân cần phảiđược cho ăn qua ống thông
• Phẫu thuật tuyến tụy Phẫu thuật tuyến tụy có thể gây ra chứng kém hấpthu chất béo và bất dung nạp glucose do tuyến tụy là cơ quan sản xuất các mentiêu hóa và insulin cần thiết để tiêu hóa và sử dụng các dưỡng chất này Sự kémhấp thu chất béo và bất dung nạp glucose gây ra các vấn đề về hấp thu và sửdụng dưỡng chất
• Phẫu thuật ruột Phẫu thuật rộng có thể gây ra hội chứng ruột ngắn, làmgiảm trầm trọng bề mặt hấp thu dưỡng chất của đường tiêu hóa Hội chứng ruộtngắn có thể gây ra sự kém hấp thu nặng đối với chất béo và các vitamin hòa tantrong chất béo
1.3.5.2 Xạ trị điều trị ung thư vú
Xạ trị đã được áp dụng rộng rãi trong điều trị ung thư vú bao gồm:
• Xạ trị bổ trợ phẫu thuật cắt tuyến vú triệt căn
• Xạ trị bổ trợ sau mổ bảo tồn ung thư vú
• Xạ trị triệu chứng: trong những trường hợp ung thư vú di căn xương, dicăn não, xạ trị với mục đích giảm nhẹ triệu chứng cho người bệnh
Trang 15Xạ trị gây thương tổn các tế bào ung thư và một số tế bào bình thường Đặc biệtcác tế bào của đường tiêu hóa rất dễ bị tổn thương bởi vì chúng tăng sinh nhanhnên dễ bị tổn thương hơn Phạm vi của tác dụng phụ từ xạ trị tùy thuộc vào loại,liều lượng cùng với khoảng thời gian xạ trị và vào vị trí và kích thước của khốiu.
Tia xạ vào đầu và cổ có thể:
• làm biến đổi các cảm giác về mùi vị, giảm cảm giác ngon miệng
• làm tổn hại các tuyến nước bọt, gây khô miệng và khó nuốt
• làm viêm mô họng và thực quản, gây đau khi nhai và nuốt
Tia xạ vào vùng thân, bụng hay chậu có thể làm tổn hại đường tiêu hóa, gâybuồn nôn, nôn, tiêu chảy và kém hấp thụ
1.3.5.3 Hóa trị điều trị ung thư vú
Ung thư vú là bệnh toàn thân do đó chỉ định điều trị hoá chất là điều trị khôngthể thiếu, bao gồm: Điều trị hóa chất bổ trợ sau mổ, điều trị hóa chất tân bổ trợ(trước phẫu thuật), điều trị hóa chất triệu chứng với những ung thư vú giai đoạnmuộn
Có nhiều các phác đồ hoá trị liệu được áp dụng, nhưng sơ bộ có thể phân ra làm
3 nhóm: các phác đồ không có anthracycline, các phác đồ có anthracycline vàcác phác đồ có taxanes
Hóa trị có thể gây các tác dụng phụ trên khắp cơ thể mà một số có thể đưa đếnsụt cân do cản trở cảm giác ngon miệng, việc tiêu hóa và hấp thụ thức ăn Độnặng và thời gian của các tác dụng phụ tùy thuộc vào thuốc hóa trị được sửdụng, liều lượng và đường dùng Giống như xạ trị, hóa trị cũng ảnh hưởng đếncác tế bào đang phân bào nhanh bao gồm các tế bào ở đường tiêu hóa và nangtóc Các tác dụng phụ trên đường tiêu hóa của hóa trị có thể gây ra các vấn đềlàm giảm cảm giác ngon miệng hay cản trở việc ăn uống và đưa đến sụt cân baogồm: