Cho đến nay, qua các lần sửa đổi và ban hành mới các bản Hiến pháp và Luật Tổ chức VKSND, xuất phát từ thực tiễn của hoạt động tư pháp, xuất phát từ tính chất và tầm quan trọng của công
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ HÙNG THÁI
CHẾ ĐỊNH VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
QUA CÁC BẢN HIẾN PHÁP VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ HÙNG THÁI
CHẾ ĐỊNH VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
QUA CÁC BẢN HIẾN PHÁP VIỆT NAM
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Ngô Hùng Thái
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7
1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 7
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 19
1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu 23
1.4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 26
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 28
2.1 Khái niệm, đặc điểm của chế định Viện kiểm sát nhân dân 28
2.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định Viện kiểm sát nhân dân 40
2.3 Vị trí, vai trò của chế định Viện kiểm sát nhân dân và mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với một số thiết chế trong Hiến pháp Việt Nam 53
2.4 Nội dung của chế định Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp Việt Nam 65
Chương 3: THỰC TRẠNG CHẾ ĐỊNH VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TRONG CÁC BẢN HIẾN PHÁP VIỆT NAM 75
3.1 Thực trạng các quy phạm về Viện kiểm sát nhân dân trong các bản Hiến pháp Việt Nam (Phụ lục 1) 75
3.2 Thực trạng thực hiện chế định Viện kiểm sát nhân dân trong các bản Hiến pháp Việt Nam 83
3.3 Đánh giá thực trạng chế định Viện kiểm sát nhân dân trong các bản Hiến pháp Việt Nam 106
Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM 124
4.1 Quan điểm hoàn thiện chế định Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp Việt Nam 124
4.2 Giải pháp hoàn thiện và bảo đảm thực hiện chế định Viện kiểm sát nhân dân 132 KẾT LUẬN 155
DANH MỤC C NG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 157
TÀI LIỆU THAM KHẢO 158
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HĐND Hội đồng nhân dân
LTC.VKSND Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
TAND Toà án nhân dân
UBKS Uỷ ban kiểm sát
UBND Uỷ ban nhân dân
UBTVQH Uỷ ban thường vụ Quốc hội
VKSND Viện kiểm sát nhân dân
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp – một văn kiện pháp lý đặc biệt quan trọng phản ánh ý chí, nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân, thể hiện rõ và đầy đủ bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước và chế độ ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội;“với vị thế là luật gốc, luật cơ bản, là văn kiện chính trị - pháp lý căn bản nhất
của Quốc gia, Hiến pháp có vị trí, vai trò, sự ảnh hưởng to lớn và thường nhật trong đời sống quốc gia, nhà nước, và của bản thân mỗi công dân” [87,tr.2], với
các chế định của mình, với tư cách là ―văn bản quy định việc phân chia quyền lực
nhà nước” [48,tr8], Hiến pháp quy định rõ ràng và đầy đủ về mọi phương diện, về
các cơ quan trong bộ máy nhà nước, trong đó có nội dung hết sức quan trọng về chế định Viện kiểm sát nhân dân
Với cơ sở là một chế định trong Hiến pháp, VKSND là hệ thống cơ quan
trong bộ máy nhà nước, “là thiết chế hữu hiệu trong bảo vệ Hiến pháp và pháp
luật, đấu tranh với các loại tội phạm, trở thành chỗ dựa đáng tin cậy của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người” [77,tr.2] Xuất phát từ chức
năng, nhiệm vụ, có thể thấy đây là một cơ quan có vị trí quan trọng, có nhiều đóng góp nhiều trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và kiểm soát quyền lực nhà nước Với bề dày lịch sử đến nay đã trải qua 60 năm tồn tại, trưởng thành, phát triển, với chiều dài lịch sử của mình, VKSND luôn được xác định là một cơ quan không thể thiếu trong thực hiện chức năng cơ bản và mục tiêu của nhà nước Việt Nam, và trở thành chế định quan trọng trong Hiến pháp Việt Nam
Với tư cách là một hệ thống cơ quan, các vấn đề từ tổ chức, hoạt động, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND luôn là những vấn đề được quy định trong văn bản có hiệu lực pháp lý cao, luôn gắn với Hiến pháp, được quy định trong các quy phạm pháp luật Hiến pháp Cho đến nay, qua các lần sửa đổi và ban hành mới các bản Hiến pháp và Luật Tổ chức VKSND, xuất phát từ thực tiễn của hoạt động tư pháp, xuất phát từ tính chất và tầm quan trọng của công việc ngành kiểm sát, từ quan hệ phối hợp ngang cấp giữa các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử
và quan hệ với các cấp uỷ đảng, chính quyền, có thể nói VKSND là hệ thống cơ quan có vị trí hết sức quan trọng, thể hiện được vai trò to lớn trong đấu tranh phòng chống tội phạm, trong hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước nói riêng và đối với
sự phát triển của đất nước nói chung, thể hiện là một hệ thống cơ quan đặc biệt quan trọng trong thực hiện quyền lực nhà nước
Trang 7Sang thế kỷ XXI, thời kỳ đổi mới toàn diện, đồng bộ về kinh tế, chính trị, thời kỳ xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế Và trước yêu cầu của đổi mới đất nước, của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, cải cách tư pháp diễn ra, Đảng ta đã chủ trương đổi mới tổ chức hoạt động của các cơ quan tư pháp, bên cạnh xác định Tòa án là trung tâm của cải cách tư pháp, thì việc nhận thức về vị trí, vai trò và các vấn đề khác về VKSND luôn là một vấn đề được Đảng
và Nhà nước ta hết sức quan tâm, và vấn đề này đã được ghị nhận tại các văn bản pháp lý quan trọng của Đảng và Nhà nước ta đó là Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và các văn bản pháp lý có hiệu lực cao khác
Cũng trong giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam, để phù hợp với những
thay đổi của tình hình kinh tế xã hội, Hiến pháp 2013 đã ra đời ―với các nội dung
minh định, rõ ràng về nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”
[6,tr.4] Sự ra đời của Hiến pháp này trong thời kỳ mới với các quy định về VKSND
cho thấy những nhận thức về VKSND tiếp tục có sự thay đổi Qua những quy định trong Hiến pháp, qua thực tiễn hoạt động của VKSND, cho thấy mặc dù về cơ bản, các quy định của pháp luật đã đi sâu vào đời sống xã hội, nhưng các quy định cũng như thực tiễn về vị trí, vai trò, chức năng… của VKSND ở nhiều phương diện vẫn còn những tồn tại, bất cập, do đó còn ảnh hưởng đến yêu cầu để VKSND thực hiện tốt hơn chức năng của mình Bên cạnh đó, với những biến động của mình: vẫn là Nhà nước Việt Nam, vẫn bản chất nhà nước ta như vậy, nhưng trong bộ máy nhà nước ta đó là sự tồn tại của Viện Công tố, rồi được thay thế bằng VKSND, và hiện nay tiếp tục là những quan điểm về việc có nên duy trì sự tồn tại của hệ thống này hay không; là quan điểm chuyển VKSND thành Viện Công tố; đồng thời, cùng là VKSND nhưng vị trí, vai trò, và đặc biệt là chức năng của hệ thống này cũng luôn
có sự thay đổi qua các bản Hiến pháp…Do đó, chế định VKSND vẫn phải cần được tiếp tục làm rõ và hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý để VKSND thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, đáp ứng với yêu cầu của cải cách tư pháp
Trang 8Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, xuất phát từ tầm quan trọng trong nhận thức về VKSND, nhận thức về chế định VKSND trong Hiến pháp Việt Nam mà đặc biệt là trong Hiến pháp 2013, có thể khẳng định đây là những vấn đề quan trọng cần
có sự quan tâm, đổi mới hơn nữa cả về phương diện lý luận và thực tiễn, do đó cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ, hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
của Việt Nam Vì vậy, tác giả nhận thấy việc chọn đề tài "Chế định Viện kiểm sát
nhân dân qua các bản Hiến pháp Việt Nam" để nghiên cứu, xây dựng luận án tiến
sĩ luật học là cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Đồng thời, qua quá trình nghiên cứu, tác giả có điều kiện nâng cao trình độ, năng lực nghiệp vụ và kinh nghiệm công tác của bản thân
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là xác lập luận cứ khoa học đối với chế định VKSND, qua đó luận giải về sự tồn tại và thay đổi của chế định này trong Hiến pháp Việt Nam, góp phần xây dựng, phát triển chế định VKSND trong Hiến pháp Việt Nam Luận án đưa ra các giải pháp phù hợp với tình hình hiện nay ở nước ta nhằm bảo đảm thực hiện và hoàn thiện các quy phạm trong chế định VKSND của Hiến pháp
2013 và các quy định trong Luật Tổ chức VKSND 2014
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận án có những nhiệm vụ sau:
Một là: Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, trong
đó tập trung tìm hiểu, đánh giá tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước cũng như những vấn đề đặt ra tiếp tục nghiên cứu, những nội dung mới luận án cần giải quyết
Hai là: Phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận về chế định Viện công
tố/VKSND như khái niệm, đặc điểm; cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định cũng như các yếu tố tác động đến chế định này; vị trí, vai trò và mối quan hệ giữa VKSND với một số thiết chế trong Hiến pháp Việt Nam; nội dung của chế định VKSND về cơ cấu tổ chức, nguyên tắc tổ chức và hoạt động, chức năng nhiệm vụ
và chế độ báo cáo công tác, trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu
Ba là: Nghiên cứu các quy định và thực trạng th ực hiện pháp luật về Viện
công tố theo Hiến pháp 1946, các quy định và thực trạng thực hiện chế định VKSND trong Hiến pháp 1959, 1980, 1992/2001 và đặc biệt là trong Hiến pháp
Trang 92013, từ đó đánh giá thực trạng chế định này đồng thời chỉ ra sự vận động của VKSND qua các bản Hiến pháp Trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện và bảo đảm thực hiện chế định VKSND trong Hiến pháp hiện hành Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận, nội dung và các vấn đề liên quan của chế định VKSND trong Hiến pháp Việt Nam; thực trạng pháp luật và quá trình thực hiện chế định VKSND trong Hiến pháp… qua đó làm sáng tỏ chế định VKSND trong Hiến pháp Việt Nam, đặc biệt trong Hiến pháp 2013
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chế định VKSND trong các bản Hiến pháp Việt Nam có nội dung rộng, chứa đựng nhiều vấn đề liên quan đến lý luận và thực tiễn, đòi hỏi phải nghiên cứu một cách khách quan khoa học Vì vậy để làm rõ nội dung của luận án trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, luận án sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích về một
số nội dung cơ bản của chế định Viện công tố/VKSND trong các bản Hiến pháp Việt Nam, trong đó chú trọng đến các quy định của chế định VKSND trong Hiến pháp 2013
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Phương pháp luận của Luận án là Chủ nghĩa Mác-Lênin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề nhà nước và pháp luật; đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; về cải cách tư pháp; về Viện công tố/VKSND trong đó chú trọng về đổi mới tổ chức hoạt động của VKSND trong cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 2/1/2002; Nghị quyết 48/NQ-TƯ và Nghị quyết số 49/NQ- TƯ ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai và đạt được mục tiêu, luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp luật học so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử Trong từng phần của luận án tác giả vận dụng kết hợp giữa các phương pháp, cụ thể là:
Tại chương 1: Luận án sử dụng chủ yếu phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp các công trình nghiên cứu về Viện công tố/VKS trong và ngoài nước, qua
Trang 10đó xác định theo lát cắt các nghiên cứu về lý luận, các nghiên cứu về nội dung, các nghiên cứu về thực hiện chế định Viện công tố/VKS trên cơ sở đó xác định các giá trị mà luận án sẽ kế thừa, các vấn đề tiếp tục nghiên cứu, các vấn đề mới luận án cần giải quyết
Tại chương 2: Luận án sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh Phương pháp lịch sử là phương pháp chủ đạo trong tìm hiểu về khái niệm, đặc điểm, cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định VKSND, trong đó khái niệm chế định VKSND trong Hiến pháp Việt Nam tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, tiếp cận đa ngành và liên ngành Luật học; Phương pháp hệ thống, so sánh, tổng hợp
là phương pháp chủ đạo trong nghiên cứu về nội dung của chế định VKSND; về mối quan hệ giữa VKSND với các thiết chế khác trong Hiến pháp Việt Nam
Tại chương 3: Để làm rõ bức tranh quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành chế định VKSND, tác giả tiếp cận nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp hệ thống hoá, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp lịch sử…nhằm tìm hiểu các quy định về Viện công tố/VKSND trong Hiến pháp Việt Nam và thực tiễn thi hành chế định này, đồng thời sử dụng số liệu thống kê, tổng hợp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm tìm hiểu, đánh giá về thực tiễn thi hành chế định VKSND Qua đó, ở mức độ khái quát nhất nhìn nhận về sự vận động của chế định này trong Hiến pháp Việt Nam
Tại chương 4: Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích – dự báo khoa học, phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn để dự báo về xu hướng phát triển của VKSND, từ đó chủ yếu sử dụng biện pháp tổng hợp để đưa ra các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện và hoàn thiện chế định VKSND trong Hiến pháp hiện hành của Việt Nam
Phải nhấn mạnh rằng, khi sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể trên, luận án luôn tuân thủ cách tiếp cận đa ngành, liên ngành và xuyên ngành luật học Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong luận án
5 Những đóng góp mới của luận án
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên có hệ thống và tương đối toàn diện về chế định VKSND qua các bản Hiến pháp Việt Nam, kết quả nghiên cứu góp phần:
- Luận giải các đặc điểm và xây dựng khái niệm chế định VKSND trong Hiến pháp Việt Nam
Trang 11- Làm rõ một cách có hệ thống tương quan và mối quan hệ giữa VKSND với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa VKSND với một số thiết chế trong Hiến pháp như thiết chế Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân (TAND) và Chính quyền địa phương/Hội đồng nhân dân (HĐND) và Uỷ ban nhân dân (UBND)
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định VKS Góp phần bổ sung cơ
sở lý luận và cơ sở thực tiễn của chế định VKSND trong Hiến pháp hiện hành của nước ta
- Hệ thống hoá và so sánh các nội dung của chế định VKSND qua các bản Hiến pháp Việt Nam
- Đánh giá thực trạng chế định VKSND trong các bản Hiến pháp Việt Nam, đặc biệt trong Hiến pháp 2013, từ đó đề xuất phương hướng và kiến nghị nội dung
để bảo đảm thực hiện và hoàn thiện chế định này trong Hiến pháp hiên hành của nước ta
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung và làm rõ cơ sở lý luận,
cơ sở thực tiễn của chế định VKSND trong Hiến pháp Việt Nam
- Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ tạo ra nhận thức đúng đắn và toàn diện
về chế định VKSND, về cơ quan VKSND, qua đó tạo cơ sở vững chắc cho việc VKSND thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình
- Các nghiên cứu sẽ là nguồn tư liệu mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc để cơ quan có thẩm quyền và trách nhiệm tham khảo trong hoàn thiện và bảo đảm thực hiện chế định VKSND/cơ quan VKSND, là tài liệu hữu ích cho nghiên cứu và giảng dạy tại các cơ sở đào tạo Luật và các cơ sở đào tạo các chức danh pháp lý ở nước ta
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận về chế định Viện kiểm sát nhân dân
Chương 3: Thực trạng chế định Viện kiểm sát nhân dân trong các bản Hiến pháp Việt Nam
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện chế định Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến
pháp Việt Nam
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.1 Các nghiên cứu về những vấn đề lý luận của chế định Viện kiểm sát nhân dân
Quan niệm về cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp là bài viết của
PGS.TS Phạm Hồng Hải, Phần kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ: Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt đông tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, năm 2003 Bài viết luận giải về khái niệm
cơ quan tư pháp theo quan điểm của một số học giả trên thế giới, đồng thời tìm hiểu vấn đề này theo quan điểm ở Việt Nam, trong đó có sự liên quan đến cơ quan công tố/VKS ở Việt Nam và chức năng của cơ quan này Bên cạnh đó bài viết cũng tìm
hiểu lý luận về hoạt động tư pháp ở Việt Nam; Bàn về quyền công tố, bài viết của
PGS.TS Phạm Hồng Hải, Phần kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, năm 1999 Bài viết tìm hiểu về khái niệm công tố, khái niệm quyền công tố trên thế giới và ở Việt Nam Trên cơ sở đó gắn vấn đề quyền công tốt với chức năng của VKS trong tố tụng hình sự ở nước ta;
Một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố, bài viết của TSKH Lê Cảm, Phần
kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, năm 1999 Bài viết nói tìm hiểu về lịch sử của quyền công tố trên thế giới và vấn đề này ở nước ta, trong đó đặt vấn đề này trong mối quan hệ với VKSND Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, bài viết đưa ra các kết luận về khái niệm quyền công tố; chức năng của quyền công tố; phạm vi của quyền công tố; chủ thể
thực hiện quyền công tố…; Một số vấn đề về quyền công tố của Viện kiểm sát, bài
viết của PTS Nguyễn Thái Phúc – Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm TP.Hồ Chí Minh, Phần kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố
và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, năm 1999 Bài viết nghiên cứu về khái niệm quyền công
tố theo các quan điểm ở nước ta từ năm 1980 đến năm 1999, đồng thời tác giả đưa
ra quan điểm của ình về cách hiểu quyền công tố và đặt vấn đề này trong mối quan
hệ với chức năng của VKSND Trên cơ sở đó luận giải về vấn đề thực hành quyền
công tố ở Việt Nam; Một số ý kiến nghiên cứu chuyển đổi Viện kiểm sát thành Viện
Trang 13Công tố trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta, bài viết của tác giả Nguyễn
Thái Phúc, Phần kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, 2008 Bài viết tìm hiểu mô hình Viện công tố; mô hình Viện Kiểm sát ở trên thế giới và ở Việt Nam; nêu ra các quan điểm về chuyển đổi và các quan điểm không chuyển đổi Viện kiểm sát nhân dân thành Viện công tố ở Việt Nam, phân
tích ưu nhược điểm các quan điểm và đưa ra quan điểm của tác giả; Một số vấn đề
về hoạt động tư pháp và kiểm sát hoạt động tư pháp ở nước ta hiện nay, bài viết của
PGS.TS Trần Văn Độ - Toà án Quân sự Trung ương , Phần kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ: Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hàh quyền công tố và kiểm sát các hoạt đông tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, năm 2003 Bài viết luận giải về quyền lực nhà nước và nhu cầu kiểm soát quyền lực nhà nước Tìm hiểu về quan niệm hoạt động tư pháp, kiểm sát hoạt động tư pháp ở nước ta, trên cơ
sở đó đưa ra các kiến nghị về vấn đề này; Viện Công tố thay thế Viện kiểm sát nhân
dân sẽ được tổ chức và hoạt động như thế nào, bài viết của GS.TS Thái Vĩnh
Thắng, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ: Nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của Viện công tố ở Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, năm 2007 Bài viết nói về vị trí,, chức năng, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam;
bàn về quan điểm của sự chuyển đổi mô hình VKS sang Viện Công tố; Hoạt động tư
pháp và kiểm sát các hoạt động tư pháp là bài viết của TS Nguyễn Tất Viễn, Phần kỷ
yếu đề tài khoa học cấp Bộ: Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hàh quyền công tố và kiểm sát các hoạt đông tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, năm 2003 Bài viết luận giải về các quan điểm, cách hiểu về hoạt động tư pháp trong khoa học pháp lý ở nước ta Đồng thời gắn với vấn đề này là tìm hiểu và phân tích về kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND ở nước ta trong các lĩnh vực, trên cơ sở đó bình luận về phạm vi kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND
Đề tài khoa học cấp Bộ: “Bàn về chức năng giám sát việc thực hiện quyền
lực nhà nước và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát ở nước ta” do Tiến sĩ Lê Hữu Thể làm chủ nhiệm đề tài, Hà Nội năm 2010 Đề tài đã
nghiên cứu những vấn đề lý luận về chức năng giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS; nghiên cứu thực trạng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS ở nước ta và nêu ra các kiến nghị nhằm tăng cường chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các cơ chế giám
Trang 14sát việc thực hiện quyền lực nhà nước Đề tài Khoa học cấp Bộ mã số MS.DT
000374 của TS Lê Hữu Thể chủ nhiệm, Hà Nội 2008; Nghiên cứu những cơ sở lý
luận và thực tiễn cho việc xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát
ở Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp Nội dung của đề tài nói về lịch sử hình
thành và phát triển của cơ quan công tố, cơ quan kiểm sát ở Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến năm 2008; nói về lịch sử hình thành và phát triển của cơ quan VKS trong các văn bản khác như Hiến pháp và LTC VKSND; Nói về cơ quan công tố, cơ quan kiểm sát ở một số quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, cơ quan công tố ở một
số nước theo truyền thống Luật Án lệ, Luật Châu Âu lục địa, một số nước châu Á…
Luận án Phó Tiến sĩ luật học ―Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân
dân trong bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam‖ của TS Khuất Văn
Nga, Viện Nhà nước và pháp luật, năm 1993 Đây là luận án nghiên cứu về các nội dung: vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân; cung cấp tri thức về
cơ sở thành lập VKSND ở Việt Nam; quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân
Sửa đổi, bổ sung chế định Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp 1992
của TS Lê Hữu Thể - Phó Viện trưởng VKSND tối cao, Tạp chí Kiểm sát số 5, tháng 3 năm 2012 Bài viết bàn về các quan điểm hình thành trong nghiên cứu sửa Hiến pháp 1992; luận giải lý do không nên chuyển Viện kiểm sts thành Viện Công
tố; Bàn về chế độ “song trùng” trực thuộc và pháp chế, Tạp chí Kiểm sát số 4,
tháng 2 năm 2016 Bài viết là bức thư của đồng chí Lênin gửi đồng chí Stalin vào ngày 20/5/1922 Nội dung bức thư nêu lên nguyên tắc hoạt động và chức năng của
ngành kiểm sát, sự khác nhau giữa công tác kiểm sát và công tác thanh tra; Các khía
cạnh xung quanh hoạt động kiểm soát quyền lực tư pháp ở Việt Nam hiện nay, bài
viết của tác giả Trịnh Phương Thảo, Tạp chí Kiểm sát số 17, năm 2017 Bài viết nghiên cứu cơ sở việc kiểm soát quyền lực tư pháp; đối tượng và các phương diện của kiểm soát quyền lực tư pháp; nghiên cứu về hệ thống kiểm soát quyền lực tư pháp ở Việt Nam và vai trò của VKSND đối với công tác kiểm soát quyền lực tư
pháp ở Việt Nam; Quyền tư pháp và quyền kiểm sát của tác giả Trần Thái Dương,
Tập san Công tác kiểm sát, số tháng 2 năm 1994 Bài viết bàn về quyền tư pháp,
quyền kiểm sát; mối quan hệ giữa quyền kiểm sát và quyền tư pháp; Cơ sở lý luận
về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên ở các địa phương của
tác giả Ngô Thái Hoà, Tạp chí Kiểm sát, số 20, tháng 10 năm 2015 Bài viết tìm hiểu về vị trí, vai trò của VKSND ở các địa phương và mối quan hệ với các cơ quan
Trang 15nhà nước khác cùng cấp; nghiên cứu về vị trí, vai trò của đội ngũ KSV VKSND các
địa phương trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành kiểm sát nhân dân; Bàn
về mô hình Viện kiểm sát và chế định kiểm sát viên trong luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi) của tác giả Lại Hợp Việt, Tạp chí Kiểm sát, số 10, tháng 4 năm
2014 Bài viết tìm hiểu về mô hình VKSND cấp huyện; vị trí, vai trò và cơ chế hoạt
động của UBKS; nghiên cứu về các quy định đối với KSV VKSND; Mối quan hệ
giữa nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành với nguyên tắc độc lập trong tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân của tác giả Lê Ngọc Duy ,
Tạp chí Kiểm sát, số 11, tháng 6 năm 2015 Bài viết tìm hiểu về nguyên tắc độc lập
và nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành kiểm sát nhân dân, mối
quan hệ giữa 2 nguyên tắc này trong hệ thống cơ quan VKSND; Về chế định Viện
kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp Việt Nam của tác giả Ngô Hùng Thái, Tạp chí
Khoa học Kiểm sát, số 05, năm 2017 Bài viết tìm hiểu các vấn đề mang tính bản
chất, cốt lõi, các đặc trưng của chế định VKSND trong Hiến pháp Việt Nam; Bàn về
chế định Viện kiểm sát nhân dân quy định trong Hiến pháp năm 1992 của tác giả
Nguyễn Long Vân – Viện Khoa học VKSND tối cao, Tạp chí Kiểm sát số 7, tháng
4 năm 2012 Bài viết nói về hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước, thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong đó liên quan đến Viện kiểm sát nhân dân
Quyền tư pháp độc lập và một số nguyên tắc cơ bản của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam – bài viết của tác giả Phí Thành Chung, Tạp chí Toà án
nhân dân số 7, năm 2017 Bài viết nghiên cứu về vấn đề độc lập tư pháp trong nhà nước pháp quyền Việt Nam; mối quan hệ giữa nguyên tắc quyền tư pháp độc lập và nguyên tắc Đảng lãnh đạo; mối quan hệ giữa nguyên tắc quyền tư pháp độc lập với nguyên tắc kiểm soát quyền lực tư pháp, với nguyên tắc giám sát quyền lực của
nhân dân; Quyền tư pháp và thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam hiện nay của
PGS.TS Nguyễn Đức Bình, Tạp chí Toà án nhân dân, số 5, tháng 3 năm 2014 Bài viết nghiên cứu về vấn đề nhận thức về tư pháp và quyền tư pháp; về cơ quan thực hiện quyền tư pháp; về vấn đề thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nạm hiện nay trong
đó có vấn đề thực hiện quyền tư pháp trong việc hoàn thiện chức năng kiểm sát hoạt
động tư pháp của VKSND; Vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan
tư pháp ở nước ta của tác giả Nguyễn Đình Lộc, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (6),
năm 1995 Bài viết tìm hiểu về các cơ quan tư pháp ở nước ta, vai trò của các cơ quan tư pháp và nhu cầu đổi mới trong tổ chức và hoạt động các cơ quan này trong bối cảnh kinh tế xã hội thay đổi của đất nước
Trang 161.1.2 Các nghiên cứu về nội dung của chế định Viện kiểm sát nhân dân
Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân và những vấn đề đặt ra đối với việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 của PGS.TS Nguyễn Thái Phúc,
Tạp chí Kiểm sát số 13, tháng 7 năm 2012 Bài viết nói về việc lựa chọn mô hình Viện kiểm sát hay là Viện Công tố gắn với chức năng của VKS; ưu nhược điểm của
các mô hình này; Sửa đổi Hiến pháp và vấn đề sửa đổi, bổ sung quy định về Viện
kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp của GS.TSKH Đào Trí Úc, Tạp chí Kiểm sát số
6, tháng 3 năm 2012 Bài viết nói về vị trí hiến định, tính chất, chức năng của
VKSND và những kiến nghị sửa đổi quy định về Viện kiểm sát nhân dân; Nguyên
tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành kiểm sát – lý luận và thực tiễn ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Thuỷ, Tạp chí Kiểm sát, số 21, tháng 11 năm 2013
Bài viết tìm hiểu về nội dung nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành kiểm sát nhân dân; vấn đề hoàn thiện nguyên tắc này; kinh nghiệm về nguyên tắc này ở một số nước có nền kinh tế chuyển đổi và đưa ra những đề xuất, kiến nghị
bước đầu; Quá trình hình thành và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong
những năm từ 1960 đến 1965 của tác giả Vũ Việt Hùng – Viện Khoa học VKSND
tối cao, Tạp chí Kiểm sát số 7 tháng 4.2005 Bài viết nói về sự hình thành Viện Kiểm sát, chức năng của VKS Việt Nam gắn với Hiến pháp 1959 và LTC VKSND
1960; Hoàn thiện các quy định về phạm vi điều chỉnh, chức năng, nhiệm vụ, thẩm
quyền của Viện kiểm sát nhân dân trong Dự thảo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi) của tác giả Nguyễn Sơn Hà, Tạp chí Kiểm sát, số 11, tháng 6 năm
2014 Bài viết tìm hiểu và tham gia ý kiến về dự thảo Luật Tổ chức VKSND sau khi Hiến pháp 2013 được ban hành về các vấn đề: Phạm vi điều chỉnh, chức năng nhiệm vụ, các lĩnh vực công tác, thẩm quyền, nguyên tắc tổ chức và hoạt động,
trách nhiệm phối hợp trong công tác…của Viện kiểm sát nhân dân; Quan điểm và
những định hướng sửa đổi cơ bản trong Dự thảo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi) của PGS.TS Nguyễn Hoà Bình, Tạp chí Kiểm sát, số 4, tháng 02 năm
2014 Bài viết nêu, phân tích, bình luận các quan điểm chỉ đạo cần quán triệt khi
xây dựng LTC VKSND sau khi Hiến pháp 2013 được ban hành; Sự phát triển và
hoàn thiện của chế định Viện kiểm sát nhân dân theo Hiến pháp 2013 của Th.s Ngô
Hùng Thái, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, Số 2/2015 Bài viết này trình bày, phân tích
những điểm mới cơ bản, điểm phát triển và hoàn thiện về VKSND ở Hiến pháp
2013 so với Hiến pháp 1992 (Sửa đổi 2001) về các nội dung: vị trí và hình thức của
Trang 17chế định VKSND trong Hiến pháp 2013; nguyên tắc tổ chức và hoạt động của VKSND; nguyên tắc hoạt động của KSV VKSND; tổ chức, chức năng, nhiệm vụ
của Viện kiểm sát nhân dân; Một vài nét về Viện kiểm sát Hunggari và việc đào tạo
kiểm sát viên ở Hunggari của tác giả Trần Trung – Viện Khoa học VKSND tối cao,
Tạp chí Kiểm sát số 10.2002 Bài viết nói về vị trí, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, thẩm
quyền Viện trưởng và công tác đào tạo, bồi dưỡng KSV của VKS Hunggari; Vị trí,
chức năng, nhiệm vụ và các lĩnh vực công tác của Viện kiểm sát nhân dân của tác
giả Hoàng Thị Quỳnh Chi, Tạp chí Kiểm sát, số 04, tháng 02 năm 2014 Bài viết tìm hiểu về vị trí, chức năng, nhiệm vụ và các lĩnh vực công tác của VKSND trong
dự thảo Luật tổ chức VKSND (sửa đổi); Tổng quan quy định về Viện kiểm sát nhân
dân trong Hiến pháp Trung Quốc của Th.s Lại Thị Thu Hà – Viện Khoa học
VKSND tối cao, Tạp chí Kiểm sát số 9, tháng 5 năm 2012 Bài viết nói về kết cấu của Hiến pháp Trung Quốc; những quy định về VKS Trung Quốc trong Hiến pháp
ở các phương diện: Tổ chức, mối quan hệ với cơ quan đại biểu nhân dân, chức
năng, cơ chế thành lập, nguyên tắc hoạt động… ; Hệ thống tổ chức của Viện kiểm
sát nhân dân của tác giả Phạm Hoàng Diệu Linh, Tạp chí Kiểm sát, số 04, tháng 02
năm 2014 Bài viết đi sâu tìm hiểu về hệ thống VKSND, về phạm vi thẩm quyền từng cấp kiểm sát, về cơ cấu tổ chức, cán bộ của VKSND các cấp, về UBKS, về
thẩm quyền thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể của VKSND; Chế định Viện
kiểm sát nhân dân cấp cao trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
của tác giả Công Vinh, Tạp chí Kiểm sát, số 17, tháng 9 năm 2015 Bài viết tìm hiểu về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, cán bộ của VKSND cấp cao trong
LTC VKSND năm 2014; Mối quan hệ giữa chế đinh Quốc hội và chế định Viện
kiểm sát nhân dân trong các bản Hiến pháp Việt Nam của tác giả Ngô Hùng Thái,
Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 04, năm 2017 Bài viết tìm hiểu về mối quan hệ, những nội dung liên quan giữa Quốc hội với Viện kiểm sát nhân dân qua các bản Hiến pháp Việt Nam, trên cơ sở đó rút ra mối quan hệ giữa 2 cơ quan này trong tổ
chức bộ máy nhà nước Việt Nam; Nắm vững những quy định về Viện kiểm sát trong
Hiến pháp mới của tác giả Hà Mạnh Trí – Phó Viện trưởng VKSND Tối cao, Tạp
chí Kiểm sát, số tháng 3 năm 1992 Bài viết nói về những yêu cầu cần nắm vững, những quy định mới của VKSND trong Hiến pháp 1992 ở các phương diện về chức
năng, nhiệm vụ, tổ chức, nguyên tắc hoạt động; Quá trình hình thành, phát triển chế
định Viện kiểm sát nhân dân qua các bản Hiến pháp nước ta và sự cần thiết kế thừa
Trang 18trong sự nghiệp đổi mới của tác giả Lê Dân Khiết – Viện trưởng VKSND tỉnh An
Giang, Tạp chí Kiểm sát số 13, tháng 7 năm 2012 Bài viết nói về chức năng của
VKSND qua các Hiến pháp từ năm 1946 đến 1992; Giới thiệu sơ lược về Hiến pháp
của một số nước đang duy trì mô hình Viện kiểm sát của Th.s Lại Thị Thu Hà, Tạp
chí Kiểm sát số 13, tháng 7 năm 2012 Bài viết nói về kết cấu, các quy định về VKS trong Hiến pháp các nước Trung Quốc, Triều Tiên, Lào, Cu Ba, BêLaruts…, đồng thời đưa ra những nhận xét về kết cấu và nội dung những quy định về VKS trong
Hiến pháp một số nước; Hoàn thiện các quy phạm hiến định về tổ chức và hoạt
động của Viện kiểm sát nhân dân theo yêu cầu đẩy mạnh cải cách tư pháp của Th.s
Hồ Đức Anh – VKSND tối cao, Tạp chí Kiểm sát số 13, tháng 7/2012 Bài viết nói
về nguyên tắc tổ chức và hoạt động, chức năng VKS; chức danh KSV và những
kiến nghị sửa đổi Hiến pháp về tổ chức và hoạt động VKSND; Tìm hiểu hoạt động
của Viện kiểm sát Liên Xô trong công cuộc cải tổ của tác giả Nguyễn Trường An
Tập san công tác kiểm sát số 6/1987 Bài viết phân tích về những cải tổ của VKS Liên Xô trong đấu tranh phòng chống một số loại tội phạm: tội giết người; tội trộm
cắp tài sản; tội hối lộ; tội đầu cơ… giai đoạn thập niên 80 thế kỷ XX; Về chế định
Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992
của tác giả Nguyễn Tiến Sơn, Vũ Duy Hoà, Nguyễn Hữu Hậu, Bùi Quang Dương, Tạp chí Kiểm sát số 6 năm 2013 Bài viết bình luận về những nội dung chế định VKSND và TAND với những dự thảo sửa đổi liên quan đề vị trí, chức năng, nguyên tắc hoạt động, cơ cấu tổ chức của chế định này trong dự thảo Hiến pháp
1992 sửa đổi…
Đề tài khoa học cấp bộ: “Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực
tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay” do Tiến sĩ Lê Hữu Thể
chủ nhiệm, Hà Nội,1999 Nội dung đề tài nghiên cứu về vấn đề lý luận của quyền công tố; thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1999, trên
cơ sở đó đề tài có đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện về quyền công tố và các biện pháp nhằm tăng cường chất lượng hoạt động công tố của VKSND ở Việt Nam;
Đề tài khoa học cấp bộ: “Vai trò của Viện kiểm sát trong việc thực hành quyền công
tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị” do Tiến sĩ Lê Hữu Thể chủ
nhiệm, Hà Nội-2004 Nội dung đề tài nghiên cứu về những vấn đề chung của thực
Trang 19hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra; Thực trạng và giải pháp của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra
Sách Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác của Viện kiểm
sát nhân dân qua 55 năm tổ chức và hoạt động của VKSND tối cao, NXB Chính trị
Quốc gia – Sự thật 2015 Cuốn sách viết về quá trình hình thành và phát triển của VKSND ở Việt Nam; Tìm hiểu kết quả thực hiện một số công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND; nghiên cứu về công tác xây dựng ngành kiểm sát nhân dân và đưa ra những bài học kinh nghiệp cho ngành kiểm sát nhân dân; Sách
chuyên khảo Lịch sử Viện kiểm sát Việt Nam của tác giả Trịnh Nhu, NXB Chính trị
Quốc gia, 2010 Cuốn sách nói về lịch sử ra đời và hoạt động của VKS từ cách mạng tháng 8.1945 đến năm 2010
Bước chuyển từ Viện công tố tới Viện kiểm sát của tác giả Khuất Văn Nga,
Tập san công tác Kiểm sát số 01.1992 Bài viết nói về quá trình phát triển Viện kiểm sát nước ta từ năm 1945 với những thay đổi trong các quy định tại các bản Hiến pháp, các Luật tổ chức VKSND, các Nghị quyết của Quốc hội…; nói về
những yêu cầu của sự thay đổi đối với cơ quan VKSND; Lịch sử lập hiến Việt Nam
với việc hình thành và hoàn thiện vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước của tác giả Nguyễn Văn Thìn – Phó Vụ trưởng thường trực VKSND
Tối cao, Tạp chí Kiểm sát, số tháng 3 năm 1992 Bài viết nói về sự phát triển của cơ quan VKSND gắn với cách mạng Việt Nam trong các bản Hiến pháp và các Luật tổ
chức VKSND giai đoạn từ 1945 đến 1992; Một số đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy
định về Viện kiểm sát trong Hiến pháp 1992 của TS Lê Hữu Thể - Phó Viện trưởng
VKSND tối cao, Tạp chí Kiểm sát số Xuân năm 2012 Bài viết nói về chức năng, nhiệm vụ của VKSND; Vị trí VKSND trong bộ máy Nhà nước Việt Nam trong
Hiến pháp qua các giai đoạn cách mạng Việt Nam; Xác định vị trí pháp lý của Viện
kiểm sát nhân dân trong một số văn bản pháp luật và dự án luật là bài viết của tác
giả Khuất Văn Nga, Tập san công tác kiểm sát, số 1-4 năm 1993 Bài viết luận giải
về vị trí pháp lý của VKSND trong Luật tổ chức VKS 1992 và một số văn bản pháp
lý khác như Pháp lệnh Thi hành án dân sự 1993; Hiến pháp 1992…; Cơ sở lý luận,
thực tiễn của việc sửa đổi, bổ sung chế định Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp năm 1992 của PGS.TS Nguyễn Hoà Bình - Viện trưởng VKSND tối cao, Tạp
chí Kiểm sát số 13, tháng 7 năm 2012 Bài viết đánh giá về việc thi hành và nhu cầu
Trang 20sửa đổi Hiến pháp 1992; thực tiễn thi hành Hiến pháp 1992 trong ngành Kiểm sát và những vấn đề đặt ra đối với việc sửa đổi, bổ sung chế định VKS trong Hiến pháp
1992; Hiến pháp sửa đổi và trách nhiệm tổ chức thực hiện của ngành kiểm sát nhân
dân của PGS.TS Nguyễn Hoà Bình, Tạp chí Kiểm sát, số 7, tháng 4 năm 2014 Bài
viết nói về những trọng tâm công tác của ngành kiểm sát nhân dân để triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 Số chuyên đề về Viện kiểm sát/Viện công tố Việt nam
và một số nước trên thế giới của tạp chí Thông tin Khoa học Kiểm sát, số 1+2 năm
2008, với các nội dung cơ bản: Hoạt động công tố ở Việt nam thời kỳ pháp thuộc (1858 – 1945); Cơ quan công tố - tiền thân của VKSND (giai đoạn 1945 – 1960);
Tổ chức và hoạt động của VKSND từ năm 1960 đến năm 2008 và nghiên cứu về cơ
quan công tố/kiểm sát của một số nước trên thế giới; Một số ý kiến về công tác kiểm
sát chung trong tình hình mới của tác giả Nguyễn Lư Tập san công tác kiểm sát, số
6 năm 1986 Bài viết bàn về tình hình pháp chế và công tác kiểm sát cung trong giai đoạn trước năm 1986, và những đổi mới trong công tác kiểm sát chung giai đoạn
1987 đến năm 1990; Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngành kiểm sát nhân dân của tác giả
Bùi Mạnh Cường, Tạp chí Kiểm sát, số 14, tháng 7/ 2013 Bài viết nói về tư tưởng của Bác về vị trí, chức năng của VKSND; về cán bộ công chức của ngành kiểm sát nhân dân và những vấn đề về thực hiện tư tưởng của Người đối với ngành kiểm sát
nhân dân; Vai trò của cơ quan công tố các nước trên thế giới trong việc kiểm sát
điều tra các vụ án hình sự của tác giả Lê Đức Xuân – Phạm Lan Phương, Tạp chí
Kiểm sát, số 13, tháng 7/2013 Bài viết nghiên cứu về hoạt động kiểm sát điều tra
các vụ án hình sự của các cơ quan công tố ở một số quốc gia trên thế giới; Ngành
kiểm sát nhân dân triển khai thi hành Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Kiểm sát số 5, tháng 3/2014 Bài viết nói
về việc triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 của ngành kiểm sát nhân dân theo
Kế hoạch số 03/KH-VKSTC-V8 ngày 15/1/2014 của VKSND tối cao; Một số vấn
đề về thực tiễn trong tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao của
tác giả Nguyễn Nông, Tạp chí Kiểm sát, số 11, tháng 6/2014 Bài viết nói về việc tổ chức các đơn vị chuyên trách khi thực hiện nhiệm vụ của VKSND cấp cao; đặc điểm của VKSND cấp cao và bàn về vấn đề cần giải quyết trên phương diện quy
định của pháp luật cũng như tổ chức thực hiện của VKSND cấp cao; Cần giáo dục
và tổ chức thực hiện Hiến pháp 2013 thật sự hiệu quả của tác giả Hoàng Thị Kim
Quế, Tạp chí Kiểm sát, số 15, tháng 8/2014 Bài viết nói về tầm quan trọng của giáo
Trang 21dục Hiến pháp trong xã hội pháp quyền, dân chủ; về giáo dục Hiến pháp đối với đội
ngũ cán bộ công chức nhà nước, đối với các tầng lớp nhân dân; Nâng cao hiệu quả
công tác kiểm sát dưới ánh sáng các Nghị quyết Đại hội lần thứ 26 của Đảng Cộng sản Liên Xô của đồng chí BA SƠ CỐP – GS.TS Luật học, Hiệu trưởng trường nâng
cao nghiệp vụ cán bộ lãnh đạo VKS Liên Xô, Tập san công tác kiểm sát số tháng 2
năm 1983 Bài viết về sự hoàn thiện việc tỏ chức công tác trong cơ quan VKS; công
tác giáo dục và nâng cao trình độ cho cán bộ kiểm sát và vấn đề dân chủ hoá trong công tác kiểm sát…
Hội thảo khoa học Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp
do VKSND tối cao phối hợp với UNDP – Dự án VIE/02/05 tổ chức ngày 4,5 tháng
9 năm 2008 Đa số các tham luận tại hội thảo có nội dung phản đối việc chuyển VKS thành VCT ở Việt Nam; các tham luận bày tỏ quan điểm khôi phục lại chức năng kiểm sát chung với cơ sở lập luận là VKS là cần thiết để bảo đảm pháp chế XHCN, tập trung thống nhất quyền lực Nhà nước
Luận văn tốt nghiệp trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội Tìm hiểu quá trình
hình thành và các giai đoạn phát triển của Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta của
tác giả Võ Văn Thành – Khoá 3 – trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội, năm 1987, mã
số MS.DT 000005 Nội dung luận văn nói về sự hình thành của cơ quan VKSND trong bộ máy nhà nước Việt Nam và phân tích các giai đoạn phát triển của cơ quan này theo Luật tổ chức VKSND năm 1981 so với Luật tổ chức VKSND năm 1960
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Những thách thức và các giải pháp trong việc chuyển đổi mô hình tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam hiện nay, bài viết của GS.TSKH Đào Trí Úc,
Phần kỷ yếu Hội thảo: Mô hình tổ chức các cơ quan tư pháp – kinh nghiệm quốc tế
và những đề xuất cho Việt Nam, Hà Nội, năm 2012 Bài viết về sự hình thành và phát triển các mô hình tổ chức VKSND ở Việt Nam; phân tích bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền và những thách thức của quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức của cơ quan này trong đó chú trọng giải pháp về mặt tổ chức của VKSND
trong bối cảnh đó; Viện kiểm sát nhân dân trong việc xây dựng nhà nước pháp
quyền, bài viết của tác giả Nguyễn Đăng Dung, Phần kỷ yếu đề tài khoa học cấp
Bộ: Nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng mô hình và tổ chức của Viện công tố ở Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp, VKSND tối cao,
Trang 22Hà Nội, năm 2007 Bài viết tìm hiểu về cơ sở lý luận của mô hình Viện công tố, trên cơ sở đó gắn với đổi mới Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam trong bối cảnh
xây dựng nhà nước pháp quyền; Cải cách tư pháp và sự phát triển về mặt mô hình
tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan Viện kiểm sát nhân dân, bài viết của
TS Nguyễn Đình Lộc – Nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Kỷ yếu Hội thảo: Vai trò của hoạt động tư pháp trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, Cửa Lò, năm 2008 Bài viết tổng kết khái quát lại nền tư pháp nước ta sau 25 năm đổi mới Bài viết nghiên cứu sâu về tranh tụng dân chủ và chức năng công tố của VKS ở Việt Nam; tranh tụng dân chủ từ góc nhìn công tố; đặc biệt bài viết phân tích, bình luận
về chức năng, vị trí của VKSND trong bộ máy nhà nước ta; Viện kiểm sát hay Viện
công tố, bài viết của tác giả Nguyễn Thái Phúc, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ:
Nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của Viện công tố ở Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, năm 2007 Bài viết nói về mô hình Viện kiểm sát, Viện Công tố và ưu, nhược điểm của các mô hình này, vai trò của các mô hình này trong tổng thể quyền lực nhà nước Nói về sự vận động của mô hình VKS ở Việt Nam và bình luận về vấn đề có nên chuyển VKS thành Viện công tố hay không
Đề tài khoa học cấp Bộ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát đáp ứng yêu
cầu của cải cách tư pháp” do Tiến sĩ Phạm Mạnh Hùng làm chủ nhiệm, Hà Nội
năm 2010 Đề tài nêu ra những yêu cầu đối với cán bộ ngành kiểm sát, khái quát quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ ngành kiểm sát từ khi thành lập ngành đến năm 2002; Nghiên cứu thực trạng về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ của ngành kiểm sát nhân dân từ năm 2002 đến năm 2010; Đưa ra giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền; Đề tài
khoa học cấp Bộ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sửa đổi Luật Tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” do Tiến sĩ Đỗ Văn Đương
làm chủ nhiệm đề tài, Hà Nội năm 2011 Đề tài đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về chế định VKS/VCT trong cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước; nghiên cứu thực trạng tổ chức và hoạt động của VKSND từ năm 1960 đến năm 2011; trên cơ sở
đó đã đưa ra đề xuất sửa đổi LTC VKSND đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
Sách chuyên khảo Viện kiểm sát nhân dân trong Nhà nước pháp quyền của
tác giả Nguyễn Đăng Dung chủ biên, Hà Nội, NXB Tư pháp, 2014 Cuốn sách nói
về cơ quan VKSND trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, các đặc trưng
Trang 23của Viện kiểm sát nhân dân, vị trí, vai trò của VKSND trong tổ chức quyền lực nhà nước, những yêu cầu về hoàn thiện và phương hướng xây dựng cơ quan VKSND
trong Nhà nước pháp quyền…’ Sách chuyên khảo Viện kiểm sát nhân dân trong
quá trình hình thành, phát triển và đổi mới theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam của tác giả Trần Văn Nam, Hà Nội, Nhà xuất bản Trẻ, 2017 Cuốn sách nói về
những vấn đề lý luận về Viện công tố/VKS; phân tích, bình luận về quá trình hình thành, phát triển và thực trạng của VKSND ở nước ta, trên cơ sở đó đưa ra một số nội dung kiến nghị đổi mới VKSND theo yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền
Các quy phạm Hiến định về hệ thống Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền của GS.TSKH Lê Văn Cảm, Tạp chí Kiểm
sát số Xuân, tháng 2 năm 2012 Bài nói về thực trạng các quy định có liên quan đề
tổ chức quyền tư pháp trong Hiến pháp 1992 trong đó có thực trạng về VKSND, bình luận thực trạng quyền tư pháp; nói về các quy định liên quan đến VKSND trong Hiến pháp của giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam với những
đề xuất sửa đổi Hiến pháp, kiến giải lập hiến đối với các quy định quyền tư pháp;
Nhà nước pháp quyền với vấn đề cải cách bộ máy nhà nước và việc xác định vị trí Viện kiểm sát của tác giả Khuất Văn Nga, Tập san công tác kiểm sát, số 1-4 năm
1993 Bài viết nói về vấn đề cải cách bộ máy nhà nước trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền có những biến động về tình hình kinh tế xã hội; những quan điểm cải cách bộ máy nhà nước; những vấn đề được đặt ra trong cải cách bộ máy nhà nước trong đó VKS là khâu xung yếu phải tiến hành cải cách
Đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng thực hành quyền công tố đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, bài viết của
PGS.TS Phạm Hồng Hải, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (3), Hà Nội, năm 2006 Bài viết bàn về thực trạng của Viện kiểm sát nhân dân về mô hình, về chức năng và vai trò của cơ quan này Trên cơ sở đó gắn với vấn đề cải cách tư pháp và đưa ra
phương án đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của VKSND Viễn cảnh Viện
kiểm sát ở Việt Nam của Th.s Bùi Ngọc Sơn – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội,
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 20 tháng 10 năm 2009 Bài viết nói về bản chất kiểm sát chung; vị trí VKS trong Nhà nước pháp quyền, trong bộ máy Nhà nước Việt Nam ở các Hiến pháp; ―hậu‖ của việc bỏ kiểm sát chung và mô hình việc chuyển VKS thành VCT
Trang 24Thông qua các công trình nghiên cứu trong nước về VKSND sẽ giúp tác giả hiểu được vị trí nghiên cứu của mình, có cái nhìn tổng thể về những nội dung của vấn đề đã được nghiên cứu, những nội dung cần được tiếp tục nghiên cứu, cần được tiếp tục kế thừa và cần thiết làm rõ, sâu sắc hơn, đồng thời qua đó thấy được những nhược điểm cần khắc phục trong nghiên cứu về chế định VKSND, từ đó xác định hướng nghiên cứu đúng đắn
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2.1.Nhóm các công trình nghiên cứu về những vấn đề lý luận chung đối với Viện kiểm sát/Viện công tố
Sách chuyên khảo“Курс прокурорского надзора” (Hoạt động kiểm
tra giám sát của Viện kiểm sát) - Б.В Коробейников, В.И Басков, М.:
Зерцало, 2000 - 512 с.), của tác giả Boris Vasilievich Korobeynikov và Vladimir Ivanovich Baskov, Nxb Zertsalo, Moskva, năm 2000 Cuốn sách nói bao quát và chuyên sâu về Hoạt động kiểm tra giám sát của VKS nói chung
và ở từng giai đoạn trong trình tự tố tụng hình sự, nghiên cứu làm rõ về bản
chất, nhiệm vụ của hoạt động kiểm tra giám sát của VKS; Hoạt động kiểm tra giám sát việc thi hành pháp chế của VKS Nội dung cuốn sách có liên quan
khá nhiều đến phần lý luận của luận án, đồng thời một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật có những điểm tương đồng với điều kiện hiện nay của nước ta
Sách chuyên khảo ―Закон Российской Федеральной прокуратуры‖ (Luật
Tổ chức Viện kiểm sát Liên bang Nga) do tác giả Bùi Quang Thạch dịch, Hà Nội,
NXB Tư pháp, 2007 Nội dung cuốn sách nói về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức… của VKS Liên bang Nga và mối quan hệ của cơ quan này với một số cơ quan khác trong bộ máy nhà nước trong thực hiện chức năng của mình…
“Положение о прокуратуре в системе государственных
равоохранительных органов Российской Федерации‖ (Vị trí Viện kiểm sát trong
hệ thống cơ quan pháp luật Nhà nước Liên bang Nga) của tác giả Nguyễn Xuân Hy
dịch, Tạp chí Kiểm sát, số 12.1996 Bài viết nói về sự tồn tại của VKS trong bộ máy nhà nước nước Nga là cần thiết; vai trò VKS đối với sự phát triển nước Nga; đặc thù của VKS Nga; cơ chế phối hợp VKS với quyền lập pháp…
Trang 25Das Recht auf Strafverfolgung in der verwaltungspolitischen Struktur, Legal Verlag – Hessische 1990 (Quyền công tố trong cơ cấu Hành chính – chính trị, Nxb pháp lý Bang Hessische, năm 1990) Công trình viết về quyền lực nhà nước trong đó có quyền công tố và mối quan hệ giữa quyền công tố với các quyền lực khác của nhà nước; mối tương quan giữa quyền công tố với cơ cấu hành chính – chính trị nhà nước
Die Entwicklung von Justizbehörden in Bang Bac Fluss und Fluss, Eistaat
Hennann und das Kollektiv des Autors, Herausgeber Benhard 1990 (Sự phát triển
của các cơ quan tư pháp ở Bang Bắc sông Ranh, của Eistaat Hennann và tập thể tác
giả, Nxb Benhard, 1990) Công trình nói về nền tư pháp và cơ quan tư pháp trong
đó đề cập đến cơ quan công tố, sự phát triển, vai trò quyền công tố Mối quan hệ giữa công tố với vấn đề dân chủ, quyền con người
Sách ―中国司法改革― (Cải cách tư pháp tại Trung Quốc) do Văn phòng
thông tin Hội đồng Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa xuất bản tháng 10 năm
2012 tại Bắc Kinh Nội dung cuốn sách gồm 5 phần: Phần I – Quy trình cải cách hệ thống tư pháp; Phần II – Tư pháp và duy trì sự công bằng xã hội; Phần III – Tăng cường bảo vệ quyền con người; Phần IV – Tăng cường khả năng tư pháp và phần V – Quyền tư pháp phục vụ nhân dân Đặc biệt tại phần II của cuốn sách, các tác giả
đề cập đến việc tăng cường giám sát pháp lý đối với hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân
Giáo trình ―监督第一集‖ (Công tác kiểm sát tập I), do Giáo sư, tiến sỹ Long Tông Trí biên soạn, Nxb Pháp luật, Bác Kinh năm 2002 Giáo trình nói khái quát về công tác kiểm sát; sự phát triển và các loại hình của Viện kiểm sát; Sự hình thành và phát triển của Viện kiểm sát Trung Quốc; Quyền kiểm sát và các tính chất của nó; Chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát; Cơ cấu tỏ chức và thể chế kiểm sát; Địa vị pháp luật và quan
hệ với bên ngoài của Viện kiểm sát Trung Quốc
Hội thảo khoa học Hệ thống cơ quan công tố và hoạt động tố tụng hình sự
của Cộng hoà liên bang Đức do Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức ngày
16.11.1998 Hội thảo giới thiệu về hệ thống tư pháp CHLB Đức; hệ thống cơ quan công tố Đức; Vấn đề và mối quan hệ Tố tụng điều tra, xét xử; thủ tục thi hành án…
Hội thảo khoa học Quyền công tố và thực tiễn hoạt động, thực hiện quyền công tố
Trang 26do Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức 12.1999 Hội thảo nói về các vấn đề: Khái niệm, phạm vi, nội dung, lĩnh vực pháp lý tác động quyền công tố; cơ quan thực hiện quyền công tố…
“Role of independent judiciary‖ (Vai trò của tư pháp độc lập) của tác giả
Philippa Strum – Giáo sự chính trị học đồng thời là giáo sư về Luật Hiến pháp, Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến – Một số tiểu luận của các học giả nước ngoài, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Nxb Lao động xã hôi, Hà Nội 2012 Bài viết nói về ngành tư pháp Hoa Kỳ, việc thành lập ngành tư pháp Hoa Kỳ; thể thức bổ nhiệm và
tư thế độc lập của ngành tư pháp; ngành tư pháp liên bang và nhân quyền ở Hoa Kỳ
―The importance of judicial independence‖ (Tầm quan trọng của độc lập tư
pháp) của tác giả Sandra Day O’Connor – Phó Chánh án Toà án tối cao Hoa kỳ, Về
pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến – Một số tiểu luận của các học giả nước ngoài, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Nxb Lao động xã hôi, Hà Nội 2012 Bài viết nói về tư pháp, vai trò của tư pháp và ý nghĩa đặc biệt quan trọng của tư pháp độc lập trong vấn đề quyền lực nhà nước ở Mỹ cũng như cơ chế bảo đảm và thực hiện vấn đề này
1.2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về nội dung của chế định Viện kiểm sát/Viện Công tố
―Overview of the United States prosecution system‖ (Tổng quan về hệ
thống công tố Hoà Kỳ), bài viết của Giáo sư Theodore Parnall – Cố vấn Luật cao
cấp, Dự án VIE/95/016-017-018, Phần kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ: Những vấn
đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, VKSND tối cao, Hà Nội, năm 1999 Bài viết nói khái quát về hệ thống công tố Mỹ và cơ sở, yêu cầu sự ra đời của hệ thống công tố Mỹ Giới thiệu về tổ chức công tố cấp Bang và cấp liên bang; hệ thống tranh tụng trong pháp luật Mỹ và thẩm quyền của Công tố viên
судебная власть в Российской Федерации (Tổ chức quyền tư pháp ở Liên bang Nga), của tác giả Xavitxki V.M, Matxcowva 1996 Công trình nói về tổ chức quyền lực nhà nước ở Liên bang Nga trong đó chú trọng đi vào quyền tư pháp và thực hiện quyền tư pháp; nói về Viện kiểm sát Liên bang Nga về mặt tổ chức, chức năng và vai trò của cơ quan này trong bộ máy nhà nước
Bài dịch Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Trung Hoa Tập san công tác
kiểm sát, số 1- 4 năm 1993 Bài dịch nói về các vấn đề: cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, vai trò của VKSND nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa…
Trang 27Giáo trình ―监督第二集‖(Công tác kiểm sát tập II, do Giáo sư, tiến sỹ Long Tông Trí biên soạn, Nxb Pháp luật, Bác Kinh năm 2002 Giáo trình nói về Nguyên tắc cơ bản của hoạt động kiểm sát Trung Quốc; Chế độ điều tra, bắt giữ, truy tố của Viện kiểm sát Trung Quốc; Chế độ giám sát tư pháp, chế độ chức năng, chế độ KSV của Viện kiểm sát Trung Quốc; Cơ chế trách nhiệm giải quyết vụ án của VKS Trung Quốc; đồng thời giáo trình còn giới thiệu sơ lược VKS Hồng Kông,
Ma Cao và Đài Loan
“日本における監視体制の特徴‖ (Đặc trưng của chế độ kiểm sát ở Nhật
Bản của tác giả KAZUNO – SAKAKIBARA , Kiểm sát viên Viện nghiên cứu đào tạo
pháp vụ - Bộ Tư pháp Nhật Bản, Tạp chí Kiểm sát số Xuân năm 2000 Bài nói về quyền kiểm sát ở khía cạnh hành chính và tư pháp; đặc trưng quyền kiểm sát ở KSV và VKS; đặc trưng chế độ kiểm sát Nhận Bản mà ở các quốc gia khác không có
Luận văn Thạc sỹ luật học Hoàn thiện pháp luật về bổ nhiệm, quản lý và sử
dụng kiểm sát viên ở nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào của tác giả Nouanthong
SengnouThong, năm 2016 tại trường Đại học Luật Hà Nội Nội dung luận văn đã khái quát về cơ cấu tổ chức bộ máy, nguyên tắc tổ chức và hoạt động, chức năng, nhiệm vụ…của VKSND Lào, đặc biệt luận văn đã đi sâu về tìm hiểu các quy định pháp luật và thực trạng trong việc bổ nhiệm, quản lý, sử dụng Kiểm sát viên trong
hệ thống cơ quan VKSND ở Lào, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này
Luận án Tiến sĩ ―Формирование правовых основ контроля и
надзора за местами лишения свободы Кыргызской Республики” (Hình thành cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm tra và giám sát tại những nơi thi hành hình phạt tù của nước Cộng hòa Kưrgưstan), của tác giả Shagivaliev
Amir Kaiumovich, năm 2002, mã ngành: 12.00.08 Công trình gồm 4 chương, với các nội dung chính: Sự hình thành và phát triển hệ thống giáo dục, cải tạo phạm nhân của nước Cộng hòa Kưrgưstan thời kỳ thuộc Liên bang Xô Viêt;
Vị trí của các cơ quan, đơn vị giáo dục cải tạo phạm nhân của nước Cộng hòa Kưrgưstan trong hệ thống quản lý nhà nước; Cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm tra và giám sát tại những nơi thi hành án phạt tù; Hoạt động kiểm tra, giám sát trong quá trình thức hiện các quyền sinh nở và tình dục tại những nơi thi hành án phạt tù Với những nội dung đó, công trình đã làm rõ lịch sử hình
Trang 28thành, phát triển, thực trạng và phương hướng tiếp tục hoàn thiện hoạt động kiểm tra, giám sát tại những nơi thi hành án phạt tù của nước Cộng hòa Kưrgưstan
“Прокурорский надзор за исполнением законов в местах лишения
свободы” (Hoạt động kiểm tra, giám sát của Viện Kiểm sát đối với việc thực
thi pháp luật tại những nơi thi hành án phạt tù) đăng trên trang
http://text-books.ru/pravo/prosecutor/269.html Trong bài viết, tác giả đã phân tích về mục
đích của hoạt động kiểm tra, giám sát của Viện kiểm sát đối với việc thực thi
pháp luật tại nơi thi hành án phạt tù; phân tích đối tượng kiểm sát của Viện kiểm sát và các quyền của Kiểm sát viên khi kiểm sát thi hành án phạt tù
Tổng quan cho thấy tình hình nghiên cứu trên thế giới về chế định VKSND/Viện công tố; về cơ quan VKSND/ Viện công tố khá đa dạng, phong phú, tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể và xuyên suốt cả về lý luận và thực tiễn về chế định VKSND trong Hiến pháp và qua các bản Hiến pháp Do đó, thật cần thiết nghiên cứu bổ sung về vấn đề này.
1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu
1.3.1 Những ưu điểm, các giá trị, kết quả nghiên cứu mà Luận án sẽ kế thừa, phát triển
Thứ nhất, các công trình đã đề cập, phân tích, luận giải về sự ra đời, cơ sở
lý luận của VCT/Viện kiểm sát trong tổ chức bộ máy nhà nước; về các phương diện
vị trí, tính chất, chức năng, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn, nguyên tắc tổ chức và hoạt động, cơ cấu tổ chức, mối quan hệ của VKS/Viện công tố với các cơ quan nhà nước khác; đề cấp đến cơ chế, mô hình cơ quan VKS/ Viện công tố trong đấu tranh phòng chống tội phạm, trong kiểm soát quyền lực nhà nước; đề cập nghiên cứu các quan điểm của các quốc gia về VKS/ Viện công tố Đây chính là xuất phát điểm quan trọng, mang tính tiền đề để tác giả tiếp tục đi sâu phân tích ở chương 1 (Những vấn đề lý luận về chế định Viện kiểm sát nhân dân), từ đó làm cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn của chế định VKSND trong Hiến pháp Việt Nam, qua đó làm rõ sự thay đổi của chế định này trong các bản Hiến pháp, đồng thời hướng đến các đề xuất để hoàn thiện các quy định ở Hiến pháp 2013
Thứ hai, đối với mỗi quốc gia, khu vực có truyền thống pháp lý khác nhau, xuất phát điểm khác nhau; hình thức chính thể khác nhau; cách thức tổ chức quyền
Trang 29lực nhà nước là khác nhau; điều kiện kinh tế xã hội khác nhau… thì sẽ có các quy định khác nhau về VKS/ Viện công tố, nên tác giả tiếp cận nghiên cứu về cơ sở lý luận; về pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện các quy định này của Hiến pháp các nước dưới các giác độ khác nhau Các công trình đã nêu cho phép tác giả đánh giá một cách đa chiều và có tính chất so sánh, đối chiếu các quan niệm, các quy định về VKS/Viện công tố cũng như các ưu điểm, hạn chế mô hình của từng quốc gia về cơ quan VKS/Viện công tố - đây là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng đối với tác giả khi hình thành ý tưởng, xem xét, đánh giá, nhận định về vấn đề chế định Viện công tố/VKSND trong các bản Hiến pháp Việt Nam
Thứ ba, các công trình ở trong nước đã làm rõ ở mức độ nhất định nhiều các vấn đề về VKSND ở Việt Nam liên quan đến đề tài như: cơ sở của sự ra đời, đặc trưng, vị trí, tính chất, vai trò, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, cơ cấu tổ chức
và hoạt động, mô hình cơ quan VCT/Viện kiểm sát… cũng như thực trạng thực hiện các quy định về VKSND trong các bản Hiến pháp Việt Nam, từ đó, hình thành cơ
sở để đánh giá và ý tưởng để đề xuất việc hoàn thiện và bảo đảm việc thi hành chế định VKSND trong Hiến pháp hiện hành trên những phương diện nhất định
Thứ tư, do các công trình nghiên cứu trực tiếp về chế định VKSND qua các bản Hiến pháp Việt Nam chưa nhiều, và chủ yếu đó là các nghiên cứu bóc tách về các phương diện của VKSND, từ đó cho thấy chế định VKSND trong các bản Hiến pháp Việt Nam mà đặc biệt từ khi Hiến pháp 2013 ra đời vẫn còn những vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu và làm rõ; cần nghiên cứu những nguyên nhân dẫn đến những sự thay đổi từ mô hình VCT chuyển sang mô hình VKS; từ mô hình VKS có chức năng kiểm sát chung chuyển sang việc bỏ chức năng này (chỉ còn kiểm sát hoạt động tư pháp); cần tiếp tục nghiên cứu thực tiễn vướng mắc, bất cập trong các quy định của chế định VKSND ở Hiến pháp hiện hành Các kết quả nghiên cứu trên
là một trong những cơ sở quan trọng và sẽ được tác giả đánh giá, bình luận, đưa ra những quan điểm riêng trong Luận án của mình
1.3.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Thứ nhất, các công trình mới dừng ở việc nghiên cứu lý luận cơ sở hoặc một số phương diện của lý luận cơ sở cũng như cơ sở thực tiễn về chế định VKSND Do vậy, trách nhiệm của Luận án cần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn một cách có hệ thống của chế định VKSND trong Hiến pháp Việt Nam Bên cạnh
đó, khái niệm, đặc điểm của chế định VKSND trong Hiến pháp Việt Nam chưa
Trang 30được các công trình nghiên cứu một cách toàn diện để chỉ những đặc tính căn bản của chế định này
Thứ hai, đã có nhiều quan điểm, phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động và vai trò của VKSND mà nhiều công trình nghiên cứu đã nêu ra Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận một cách toàn diện hơn, đặt trong điều kiện, hoàn cảnh thực tế; đồng thời phải quán triệt đầy đủ các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng trong Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và một số chủ trương lớn khác đang triển khai; phải gắn với vấn đề chính thể nhà nước ta, bản chất nhà nước ta, cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước Việt Nam
Thứ ba, từ thực tiễn công tác, thực tiễn thực hiện chức năng nhiệm vụ, thực tiễn trong mối quan hệ với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước Việt Nam, đặc biệt trong mối quan hệ với cơ quan điều tra và cơ quan xét xử… cho thấy những quy định trong chế định VKSND còn cần tiếp tục được hoàn thiện và bảo đảm thực hiện, do đó hoàn thiện và bảo đảm thực hiện chế định VKSND trong Hiến pháp Việt Nam phải được quan tâm và cần thể hiện tính cập nhật cao
Thứ tư, có không ít mô hình cơ quan VKS/ Viện công tố, song vẫn tồn tại những hạn chế của từng mô hình qua thực tiễn Vì vậy, tính hiệu quả từ từng mô hình, cơ cấu tổ chức và hoạt động, chức năng của từng mô hình đang là vấn đề phải tiếp tục nghiên cứu, qua đó tìm ra hướng phù hợp nhất để áp dụng vào Việt Nam
Kết quả nghiên cứu nhằm làm rõ nội dung, yêu cầu nêu trên sẽ là công trình khoa học không chỉ có giá trị về mặt lý luận mà sẽ đáp ứng nhu cầu của thực tiễn đang đòi hỏi, nhất là về hoàn thiện chế định VKSND trong Hiến pháp hiện hành Việt Nam
1.3.3 Những nội dung mới luận án phải giải quyết
Trên cơ sở nghiên cứu các công trình trong và ngoài nước; trên cơ sở những giá trị tham khảo, kế thừa ở các công trình nghiên cứu; trên cơ sở những nội dung cần tiếp tục nghiên cứu… những nội dung mới của luận án cần phải giải quyết được xác định như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu chuyên sâu một cách hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản của VKS; về những phương diện cơ bản của chế định VKSND qua các bản Hiến pháp Việt Nam, từ đó có cách nhìn và đánh giá tổng thể về chế định này - đặc biệt từ khi Hiến pháp 2013 ra đời, trên cơ sở đó tạo tiền đề để đưa ra đề xuất hoàn thiện và bảo đảm thực hiện chế định VKSND trong Hiến pháp Việt Nam Thứ hai,
Trang 31nghiên cứu, xây dựng một cách có hệ thống, hoàn chỉnh các vấn đề lý luận cơ bản của chế định VKSND trong Hiến pháp Việt Nam đó là khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của chế định VKSND; mối quan hệ giữa VKSND với một số thiết chế trong Hiến pháp; cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định VKSND trong Hiến pháp Việt Nam Thứ ba, nghiên cứu, đánh giá pháp luật và thực trạng thực hiện chế định VKSND trong các bản Hiến pháp Việt Nam Trên cơ sở những nội dung này, luận
án sẽ đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện chế định VKSND trong Hiến pháp hiện hành của nước ta và trong Luật tổ chức VKSND năm 2014
1.4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
* Các câu hỏi nghiên cứu đặt ra
1 Chế định Viện công tố/VKS được hiểu và quan niệm như thế nào? Chế định này trong Hiến pháp Việt Nam là gì, có vai trò gì trong Hiến pháp/trong bộ máy nhà nước ta và có gì khác với các chế định khác?
2 Các đặc trưng của chế định VKSND? Các đặc trưng này có ý nghĩa gì đối với việc tổ chức và triển khai thực hiện quyền lực nhà nước Việt Nam?
3 Cơ sở sự ra đời và tồn tại của chế định VKSND trong Hiến pháp Việt Nam như thế nào? Mối quan hệ giữa VKSND với các thiết chế biểu hiện ra sao?
4 Nội dung cơ bản của chế định VKSND: cơ cấu tổ chức; nguyên tắc tổ chức và hoạt động; chức năng; nhiệm vụ; chế độ báo cáo công tác và trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu trong Hiến pháp Việt Nam như thế nào? Sự thay đổi của những vấn đề này qua các bản Hiến pháp Việt Nam ra sao?
5 Những ưu điểm và bất cập ở các quy định về VKSND trong Hiến pháp cũng như thực trạng thực hiện chế định này trong thực tiễn? Nguyên nhân của tồn tại đó là gì?
6 Định hướng, quan điểm và giải pháp hoàn thiện chế định VKSND trong Hiến pháp hiện hành của Việt Nam?
* Giả thuyết nghiên cứu
Viện công tố/VKSND là một chế định trong Hiến pháp Việt Nam, là một thiết chế quan trọng trong bộ máy nhà nước, gắn với việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước ta Từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đến nay, Viện công tố/VKSND là chế định, là cơ quan có rất nhiều sự biến động thể hiện ở việc thay đổi về tên gọi; sự thay đổi về vị trí trong bộ máy nhà nước; sự thay đổi về mối quan hệ với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước ta; sự thay đổi về
Trang 32chức năng, nhiệm vụ Và trong giai đoạn hiện nay, khi mà chúng ta đang thực hiện cải cách bộ máy nhà nước, cải cách tư pháp thì đã có nhiều quan điểm khác nhau đặt ra đối với hệ thống này, đó là các quan điểm về chức năng; về tên gọi, thậm chí
về sự tồn tại của nó trong bộ máy nhà nước Vậy nguyên nhân của những sự biến động, thay đổi đó là gì và tương lai nào cho Viện kiểm sát nhân dân?
Kết luận chương 1
Nghiên cứu Chương 1 “Tổng quan về tình hình nghiên cứu” giúp đưa ra
được những kết luận sau:
Thứ nhất, VKS/Viện công tố là thể chế mà ở rất nhiều quốc gia ghi nhận
trong văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất là Hiến pháp; là thiết chế tồn tại trong
mô hình bộ máy nhà nước dân chủ, nhà nước lập hiến và tồn tại ở các quốc gia trong giai đoạn hiện nay Với các nội dung, các phương diện mà các công trình được các tác giả nghiên cứu, có thể thấy VKS/Viện công tố là công cụ, là phương tiện hữu hiệu không thể thiếu để triển khai thực hiện quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà nước và là thể chế để bảo vệ quyền, lợi íh hợp pháp của các chủ thể trong xã hội trước hành vi phạm tội
Thứ hai, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đều chỉ ra rằng trong
một nhà nước mà đặc biệt ở nhà nước lập hiến thì luôn cần có sự tồn tại của VKS/Viện công tố, và sự tồn tại của cơ quan này phải bảo đảm tính độc lập trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, trong việc thực hiện mục tiêu, chức năng của nhà nước VKS/Viện công tố là công cụ, phương tiện hết sức quan trọng để nhà nước đảm bảo được quyền con người, quyền công dân, phát huy dân chủ, công bằng trong xã hội
Thứ ba, việc nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước về chế
định VKS/Viện công tố, về cơ quan VKS/Viện công tố rất phong phú, tuy nhiên các công trình đều tiếp cận ở từng vấn đề, từng phương diện khác nhau, chưa có công trình nghiên cứu nào toàn diện về chế định VKSND qua các bản Hiến pháp Việt Nam nên rất cần thiết phải tiếp tục được bổ sung nghiên cứu
Trang 33Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
2.1 Khái niệm, đặc điểm của chế định Viện kiểm sát nhân dân
2.1.1 Khái niệm chế định Viện kiểm sát nhân dân
Quyền lực ra đời và tồn tại cùng với sự tồn tại của con người, bởi trong
hoạt động mang tính cộng đồng của con người luôn cần tới sự phối hợp, do đó cần
tới người tổ chức, người phục tùng… Khi xã hội loài người phân chia giai cấp, có
mâu thuẫn, đối kháng giai cấp, và cùng với điều đó là tư hữu ra đời, loài người đã
biết đến Nhà nước và quyền lực nhà nước - đây là một loại quyền lực đặc biệt bởi
đó là loại quyền lực xuất phát từ nhân dân, do nhân dân ủy quyền trao cho nhà
nước, là loại quyền lực mạnh nhất để nhà nước kiểm soát, buộc các chủ thể khác
phải phục tùng, đó là quyền lực công, thống nhất, bao trùm toàn xã hội Với xu
hướng vận động của quyền lực nói chung và quyền lực nhà nước nói riêng - xu
hướng ―sử dụng trái phép quyền lực được giao để phục vụ cho lợi ích cá nhân, gia
đình, dòng họ (lợi dụng quyền hạn)”; xu hướng ―lạm dụng quyền lực (lộng quyền,
lạm quyền)” [93,tr.9], điều đó tất yếu dẫn đến sự cần thiết phải giám sát thực hiện
quyền lực nhà nước, bên cạnh đó, với vai trò điều tiết và bảo vệ các quan hệ xã hội,
tất yếu dẫn đến yêu cầu nhà nước xử lý những hành vi vi phạm pháp luật - điều này
gắn với sự ra đời của chức năng buộc tội (công tố), đây là những vấn đề vấn đề gắn
với xã hội loài người có giai cấp, có nhà nước, là vấn đề mà ở các quốc gia, các kiểu
nhà nước luôn đặt ra và đi tìm các giải pháp để đạt được mục đích này Trong các
phương thức, biện pháp mà con người đã tìm ra, đã thực hiện, có thể khẳng định
Hiến pháp là một biện pháp, một phương thức, là thể chế, là công cụ phương tiện
hữu hiệu để thực hiện mục tiêu này bởi đây là đạo luật cơ bản, luật gốc làm cơ sở để
thực hiện những mục tiêu đó, gắn với Hiến pháp đó là vấn đề quyền lực nhà nước
Nhìn khái quát lại lịch sử các kiểu nhà nước cho thấy, trên thế giới có
nhiều cách thức tổ chức quyền lực nhà nước khác nhau (chính thể): Ở chế độ chiếm
hữu nô lệ và phong kiến, trong các nhà nước thì quyền lực được tổ chức theo mô
hình chính thể tập quyền - quyền lực nhà nước tập trung trong tay một người (Vua),
nên các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp do người này thực hiện cả mặc dù “để
thực hiện quyền lực của mình, Vua vẫn phải tổ chức bộ máy từ trung ương đến địa
Trang 34phương” [74,tr.10], trong tổ chức bộ máy tồn tại hệ thống kiểm tra, giám sát (Gọi
chung là Ngự sử đài) - “một hình thức phôi thai của Viện kiểm sát ngày nay”
[74,tr.23], còn chức năng công tố chỉ tồn tại trong phạm vi hẹp để bảo vệ lợi ích nhà nước và cộng đồng, dù vậy nhưng sự phân công không rõ, từ đó không phân định được chức năng của các cơ quan Đến cuối thời kỳ phong kiến, giai cấp tư sản muốn xóa bỏ nhà nước phong kiến, qua đó xây dựng dựng nhà nước tư sản được tổ chức theo mô hình chính thể phân quyền (Áp dụng học thuyết Tam quyền phân lập mà hạt nhân là Montesquieu), do đó, khi ra đời thì ở các nước tư sản, việc phân chia quyền lực nhà nước làm ba nhánh là rõ nét và giữa ba nhánh quyền lực này có cơ chế kiểm tra, giám sát, kìm chế, đối trọng nhau rất mạnh, bên cạnh đó ở các nước tư sản thì cơ bản họ theo chế độ đa nguyên, đa đảng nên giữa các đảng phái chính trị cũng có cơ chế giám sát nhau mạnh, vì thế ở chính thể phân quyền, nhu cầu thành lập cơ quan riêng có chức năng giám sát tuân theo pháp luật không nhiều nên họ không thành lập VKS, mà chủ yếu họ chỉ có nhu cầu có cơ quan có chức năng công
tố, do đó trong tổ chức bộ máy nhà nước của họ có VCT là như vậy, và vì công tố bản chất là áp dụng pháp luật, nên cơ quan này thường nằm trong nhánh hành pháp; Đến nhà nước XHCN và ở Việt Nam, tổ chức bộ máy nhà nước dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin, mô hình là tập quyền XHCN với đặc trưng cơ bản quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan nhà nước, quyền lực nhà nước tập trung vào nhân dân, nhân dân trao quyền lực nhà nước cho Quốc hội và Quốc hội thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực đó, với chức năng của mình mà trong đó có chức năng giám sát tối cao, thì đây là việc giám sát quyền lực nhà nước trực tiếp và ở tầm vĩ mô của Quốc hội, còn lại thì Quốc hội giao cho VKSND và một số cơ quan khác Như vậy ở nước ta và các nước XHCN, bên cạnh nhu cầu bảo vệ pháp chế, nhu cầu kiểm sát việc tuân theo pháp luật luôn được đặt ra và đó chính là một trong những căn nguyên ra đời của Viện kiểm sát nhân dân
Tóm lại, dù là theo chính thể nào, dù là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước như thế nào thì việc nhà nước tổ chức ra cơ quan có chức năng kiểm tra, giám sát và công tố là tất yếu, và việc thành lập cơ quan này phải đảm bảo tính độc lập vì
có thế nó mới thực hiện được chức năng được giao một cách hiệu quả Tuy nhiên dù giống nhau về nhu cầu những chức năng đó, nhưng ở mỗi nước việc tổ chức thực hiện khác nhau (Có nước VKS có chức năng chính là giám sát; có nước VKS có
Trang 35chức năng chính là công tố; có nước thì cả hai chức năng có vai trò như nhau), từ điều này dẫn đến vị trí, vai trò và đặc biệt là chức năng của cơ quan này trong bộ máy nhà nước ở mỗi quốc gia là khác nhau, cho nên dẫn đến có những mô hình khác nhau Như vậy, nhìn khái quát nhất thì từ sự khác nhau về chính thể, về cách thức tổ chức quyền lực nhà nước, về điều kiện kinh tế xã hội…dẫn đến sự khác nhau về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn, và đặc biệt là chức năng của Viện công tố/VKS, do đó trên thế giới tên gọi của chủ thể này là khác nhau: VKS; Viện công tố; cơ quan công tố; Văn phòng công tố; Ngự sử đài; Đô sát viện; Bộ công quyền…
và từ khi VKS ra đời trên thế giới, nó là chủ thể thực hiện hai chức năng này Còn ở Việt Nam, cũng tồn tại những tên gọi khác nhau để chỉ cơ quan thực hiện hai chức
năng này tương tự như VKS ngày nay, đó là “Công tố, công tố viên, công tố uỷ
viên, thẩm phán buộc tội, biện lý, chưởng lý, Viện công tố (từ 1945 đến 1960), VKSND (từ 1960 đến nay)” [37,tr.4]
Trên thế giới, khi đời sống nhà nước biết đến Hiến pháp, thì cơ sở cho sự
tồn tại của chủ thể này chính là Hiến pháp Hiến pháp Mỹ là “bản Hiến pháp đầu
tiên của nhân loại ra đời vào năm 1787‖ [29,tr.20], mặc dù về mặt lịch sử, “hiến pháp đã ra đời từ rất lâu, nhưng sau đó bị chết yểu cùng với nền dân chủ cổ đại Hy Lạp, mãi đến thời kỳ cách mạng tư sản Hiến pháp mới được sử dụng lại” [23,tr.16]
Như vậy, có thể nói, bản hiến pháp thành văn chính thức đầu tiên của loài người là Hiến pháp Mỹ năm 1787, và từ đó cho đến nay Hiến pháp được sử dụng với nghĩa
là đạo luật tối cao của nhà nước trong đó quy định cách thức tổ chức quyền lực nhà nước ở mỗi quốc gia trên thế giới Trong lịch sử nhân loại, có rất nhiều quan điểm, các học thuyết khoa học về Hiến pháp, và gần như tất cả các quan điểm, học thuyết khoa học đó đều xuất hiện trong thời kỳ cách mạng tư sản, cận hiện đại và hiện đại
Các quan điểm đó với các nội dung chính: ―Hiến pháp như văn bản giới hạn quyền
lực nhà nước”; ―Hiến pháp như là văn bản quy định tổ chức quyền lực nhà nước”;
“Hiến pháp là văn bản bảo vệ quyền con người”[23, tr.16-28]; Quan niệm “Hiến
pháp là một văn bản thể hiện tinh thần và đường lối chính trị” [124]; Quan
niệm “Hiến pháp là tài sản tinh thần, là “khế ước” xã hội, nơi xác định chủ
quyền nhân dân, các quyền tự do cơ bản của cá nhân, công dân và trách nhiệm của nhà nước” [87,tr.2]; Quan niệm “Hiến pháp là sự phản ánh mối tương
quan lực lượng thực tế tồn tại trong xã hội” [136,tr.35]; Quan niệm “Hiến pháp là tổng thể các quy định và phân định sự phân chia quyền lực trong hệ thống chính trị
Trang 36[125]; Quan niệm ―Hiến pháp là tổng thể những quy định về quy chế xã hội, chính
trị của nhà nước” [133,tr.73]; Quan niệm Hiến pháp ―là người bằng vai trò trọng tài của mình đảm bảo sự điều hoà hoạt động của các hệ thống cơ quan nhà nước”
[134,tr.280]… Dù nội dung các quan điểm, các học thuyết có khác nhau, và vấn đề
chức năng của Hiến pháp ở các quốc gia có sự biến đổi theo thời gian, theo điều kiện tình hình kinh tế xã hội, nhưng có thể thấy rằng ở các quan điểm, học thuyết đó
đều có tiêu chí căn bản của Hiến pháp - đó là văn bản ―giới hạn quyền lực nhà nước
để bảo vệ nhân quyền” [23,tr.30] Bên cạnh đó, nhìn một cách tổng thể, trong Hiến
pháp các quốc gia trên thế giới đều có các chế định liên quan đến vấn đề tổ chức bộ máy, triển khai thực hiện quyền lực nhà nước mà trong đó có vấn đề kiểm soát quyền lực và xử lý hành vi vi phạm pháp luật (công tố), và tuỳ theo sự lựa chọn ở mỗi quốc gia mà có thể có chế định VCT hoặc chế định VKS hoặc các thiết chế
sự bảo đảm của các nguyên tắc pháp quyền, tôn trọng và bảo đảm nhân quyền”
[70] Khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời, ngay phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Hồ Chủ tịch đã đề ra một nhiệm vụ cấp bách là xây dựng Hiến pháp,
Người viết “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ cai trị, rồi đến chế độ thực dân
không kém phần chuyên chế nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ”
[69,tr.356], với tinh thần đó, ngày 09/11/1946, Hiến pháp đầu tiên được Quốc hội thông qua, và theo sự phát triển của cách mạng, từ đó đến nay nhà nước ta tiếp tục ban hành ra các Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992/2001 và Hiến
pháp 2013 Thuật ngữ Hiến pháp ở Việt Nam có những cách hiểu, cách tiếp cận
khác nhau, đó là: Là một ngành luật trong hệ thống pháp luật; Là Luật cơ bản (đạo luật cơ bản); Là môn học trong chương trình đào tạo giáo dục; là một ngành khoa
học Trong luận án, chế định VKSND trong Hiến pháp được nghiên cứu tiếp cận
dưới góc độ là một chế định trong đạo luật cơ bản của hệ thống pháp luật Với sự ra đời, tồn tại và phát triển, Hiến pháp Việt Nam đã thể hiện vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống pháp luật và đời sống nhà nước, là hình thức pháp luật cao nhất bởi
Trang 37“vì nó có đối tượng điều chỉnh đặc biệt và là cơ sở liên kết các ngành luật khác Luật Hiến pháp xác lập những nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng các ngành luật khác” [29,tr.19]; Các văn bản pháp luật khác khi ban hành đều dựa vào và không
được trái Luật Hiến pháp; Việc xây dựng Hiến pháp phải theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ… Do đó, có thể khẳng định Hiến pháp Việt Nam không chỉ là hình thức pháp lý cao nhất mà còn là văn kiện chính trị quan trọng, phản ánh thành quả phát triển của dân tộc ta, tác động đến những quan hệ xã hội cơ bản và quan trọng trong các lĩnh vực của xã hội và nhà nước, những quan hệ xã hội tạo thành nền tảng của chế độ xã hội và nhà nước, gắn trực tiếp với việc thực hiện quyền lực nhà nước Với đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh, Luật Hiến pháp được định nghĩa:
―Là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản và
quan trọng gắn với việc xác định chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chính sách văn hóa – xã hội, quốc phòng và an ninh, đối ngoại, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước” [28,tr.11] Thành phần cơ bản
của Hiến pháp gồm các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật và các chế định Các
nguyên tắc là nhân tố cơ bản bởi “nguyên tắc là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo,
quy tắc chủ yếu để nhận thức và hành động… đối với một thiết chế (bộ máy) quyền lực” [37,tr.35], dựa trên các nguyên tắc này mà hệ thống các quy phạm Luật Hiến
pháp được xây dựng hoàn chỉnh, đồng thời thông qua hệ thống các quy phạm pháp luật thì việc điều chỉnh các quan hệ pháp luật Luật Hiến pháp được thực hiện Các nguyên tắc này là nòng cốt của ngành Luật Hiến pháp và tạo sự thống nhất cho hệ thống này Các quy phạm pháp luật Luật Hiến pháp là những quy tắc xử sự chung
do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận để điều chỉnh các quan hệ xã hội thông qua việc các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ và được đảm bảo bằng sức mạnh của nhà nước Về các chế định trong Hiến pháp Việt Nam, ta thấy tồn tại: Chế định chế độ chính trị; chế định về chế độ kinh tế; chế định về chính sách văn hóa - xã hội; chế định về chính sách quốc phòng, an ninh quốc gia; chế định về chế độ bầu cử; chế định về Quốc hội; chế định về Chính phủ; chế định về Chủ tịch nước; chế định về Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; chế định về Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân… Mỗi chế định là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội có cùng tính chất, liên quan mật thiết với nhau Mỗi chế định có thể
là tập hợp của các chế định nhỏ hơn như chế định Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát
nhân dân là sự tập hợp của chế định TAND và chế định Viện kiểm sát nhân dân
Trang 38Với tư cách là một chế định trong Hiến pháp, chế định VKSND có quá trình hình thành và phát triển theo lịch sử lập hiến - điều này thể hiện thông qua các quy định và là cơ sở cho sự hình thành, tồn tại, phát triển của VKSND mà tiền thân
là Viện công tố theo Hiến pháp 1946 Ở Hiến pháp 1946, dù ta không thấy chế định Viện công tố, tuy nhiên trong nhiều Sắc lệnh của Chính phủ, cho thấy cơ quan công
tố nằm trong hệ thống tổ chức tòa án và do Bộ tư pháp quản lý, nhưng có chức năng độc lập trong bộ máy nhà nước Đến năm 1959, Thủ tướng ban hành Nghị định 256-TTg ngày 01/7/1959 quy định về tổ chức và nhiệm vụ của Viện công tố thì hệ thống cơ quan công tố được tách ra khỏi Bộ Tư pháp, trở thành một hệ thống độc lập với tổ chức từ trung ương đến địa phương Khi Hiến pháp 1959 ra đời, trên cơ
sở đó Luật tổ chức VKSND 1960 được ban hành, cơ quan công tố được chuyển thành VKSND và được quy định tại chương VIII từ Điều 105 đến Điều 108 Trong Hiến pháp 1980, chế định VKSND được quy định từ Điều 138 đến Điều 141 tại chương X Trong Hiến pháp 1992/2001, chế định VKSND được quy định tại chương X từ Điều 137 đến Điều 140; và ở Hiến pháp 2013, chế định VKSND được quy định tại Chương VIII với 3 điều từ Điều 107 đến Điều 109 Như vậy, theo Hiến pháp 1946, cơ quan công tố không được quy định riêng thành một chế định mà sự
tồn tại của nó thể hiện qua chế định “Cơ quan tư pháp“; Đến Hiến pháp 1959; 1980; 1992/2001 và Hiến pháp 2013, chế định “Toà án nhân dân và Viện kiểm sát
nhân dân“ đã được quy định, đã thể hiện rõ nét và luôn tồn tại là một chế định trong
Hiến pháp
Từ phân tích trên, ở mức độ khái quát nhất trên thế giới có thể hiểu chế
định Viện kiểm sát là thể chế được quy định để nhà nước thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hiện truy tố tội phạm nhằm bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội Đối với nước ta thì chế định Viện kiểm
sát nhân dân theo Hiến pháp Việt Nam là hệ thống các quy phạm pháp luật được quy định để điều chỉnh các quan hệ xã hội về Viện kiểm sát nhân dân, là thể chế
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội.
2.1.2 Đặc điểm của chế định Viện kiểm sát nhân dân
Từ những luận giải trên, cho thấy việc xây dựng chế định này trong Hiến pháp mỗi quốc gia là khác nhau, và tuỳ thuộc và chính thể; vào cách tổ chức quyền lực nhà nước; điều kiện kinh tế xã hội mà chế định/cơ quan VKS ở mỗi nước có
Trang 39những đặc điểm khác nhau, tuy nhiên ở mức độ khái quát nhất có thể thấy chủ thể này có đặc điểm chung đó là: Là phương tiện để nhà nước thực hiện chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật và là phương tiện để nhà nước thực hiện truy tố tội phạm nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội Ở nước ta, trên cơ sở đặc điểm của hệ thống chính trị; điều kiện kinh tế xã hội; truyền thống văn hoá pháp lý; cách thức tổ chức quyền lực nhà nước chế định này có đặc điểm như sau:
Một là, chế định VKSND là sự thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; là sự hiến định hoá ý chí của nhân dân Việt Nam về vấn đề kiểm soát, giám sát quyền lực nhà nước
Theo sự phát triển,“từ đơn giản sơ khai cho đến phức tạp, nhà nước càng
ngày càng tham gia vào việc quản lý xã hội phức tạp khác nhau, buộc trong cơ cấu
tổ chức phải có sự phân công, phân nhiệm Dần dần hình thành ra 3 bộ phận đảm nhiệm 3 quyền khác nhau của nhà nước: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp“ [24,tr.236,237] Và theo lý thuyết thì mọi quyền lực nhà nước đều
phải được giám sát để không đi lệch khỏi bản chất, định hướng của nhà nước, để hạn chế cửa quyền, lạm quyền, sử dụng không đúng mục đích như Montesqieu đã
nói: ―Bất cứ ai có quyền đều có xu hướng lạm quyền, họ cứ sử dụng quyền đến khi
nào gặp phải giới hạn” [129]
Ở hệ thống chính trị nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội Tư tưởng, đường lối, chính sách của Đảng về VKSND luôn được thể hiện rõ trong các văn kiện Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị đã khẳng
định và đặt ra yêu cầu: ―Hoàn thiện pháp luật quyền giám sát của các cơ quan dân
cử, quyền trực tiếp giám sát, kiểm tra của công dân đối với hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức; mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia vào các công việc nhà nước Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát của các cơ quan dân cử và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với các cơ quan tư pháp“, như vậy có thể thấy rõ quan điểm của Đảng ta về vấn đề kiểm soát quyền
lực nhà nước trong đó có quyền tư pháp bởi “quyền tư pháp là một dạng quyền lực
nhà nước“[6,tr.1], và chế định VKSND chính là sự thể hiện quan điểm đó bởi đây
là sự thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng vào hệ thống pháp luật Bên cạnh
đó, ở nước ta, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, nhưng nhân dân không trực tiếp thực hiện quyền này nên đã ủy quyền cho các nhánh quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, và để biết quyền lực
Trang 40của mình được thực hiện như thế nào thì phải kiểm soát, giám sát, do đó “việc thực
hiện quyền tư pháp cũng cần được giám sát” [36,tr.24], từ đó đã hình thành các cơ
chế giám sát, kiểm soát, đánh giá hiệu quả việc thực hiện quyền lực nhà nước ta Ở nước ta, Quốc hội là chủ thể do dân trực tiếp bầu ra, đại diện cho nhân dân, được nhân dân trao quyền và thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước, trong đó
có quyền giám sát tối cao đối với hoạt động nhà nước Với phát triển trong nhận thức của Đảng là tiếp thu hạt nhân hợp lý của thuyết phân quyền, trong điều kiện không có đối trọng và kiềm chế lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực nhà nước như ở các nhà nước tư sản, thì quyền giám sát tối cao của Quốc hội là cách thức kiểm soát quyền lực chủ yếu, tuy nhiên, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, gắn với điều kiện cụ thể, từ đặc điểm cấu trúc quyền lực nhà nước Việt Nam, cho thấy cần có một thiết chế giám sát quyền lực độc lập, chuyên nghiệp để giúp Quốc hội thực hiện giám sát ở tầng thấp hơn - đó chính là VKSND Vì thế sự tồn tại
của “VKS không đơn thuần chỉ là cơ quan tiến hành tố tụng, mà hơn thế, đây chính
là thiết chế thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước đối với quyền tư pháp Nhà nước sử dụng VKS để giám sát, kiểm tra và kiềm chế các cơ quan tư pháp còn lại trong hệ thống tư pháp” [92,tr.12,13] – đây cũng là sự khác biệt cơ bản giữa
VKSND với các cơ quan nhà nước khác
Như vậy, với việc hiến định hóa chế định VKSND, với chức năng được giao,
đó là sự kế thừa truyền thống, kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của cơ quan công tố/VKSND hơn 70 năm qua, đồng thời đó là sự tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của VCT/Viện kiểm sát các nước trên thế giới Với thực tiễn hoạt động cho thấy, trong số các cơ chế kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước thì VKSND có vai trò và
vị trí không thể thay thế; là bảo đảm hữu hiệu kiểm soát quyền lực nhà nước; là thiết chế tin cậy với chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động đối với thiết chế khác,
là một hình thức hoạt động giám sát nhà nước mà hoạt động này thực chất là sử dụng tổ chức nhà nước để hạn chế lạm quyền từ phía nhà nước Ở góc độ khác, phải thấy rằng VKSND còn có vai trò trong phản biện quyền lực của Quốc hội thông qua phản hồi về những hạn chế của pháp luật - đây là quan hệ biện chứng về kiểm soát quyền lực trong điều kiện cụ thể của nước ta Vì vậy, trong phương thức giám sát quyền lực nhà nước thông qua giám sát tối cao của Quốc hội thì một trong những giải pháp đúng đắn đó chính là Viện kiểm sát nhân dân