Muốn làmđược điều đó, giáo viên phải có vốn kiến thức thực tế sâu rộng, có khả nănggắn các bài giảng với thực tế nhằm tạo ra những giờ học sinh động, nâng cao sựhiểu biết và kích thích s
Trang 1TÓM TẮT NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Với tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ và kĩ thuật,khối lượng tri thức cũng có tốc độ phát triển rất nhanh, trong đó có lĩnh vựcSinh học Trên đà phát triển đó, ngành Giáo dục và Đào tạo đang tập trung vàoviệc đổi mới phương pháp dạy học ở các cấp bậc học Phong trào đổi mớiphương pháp dạy học đã và đang trở thành một phong trào nổi trội mà tất cảnhững người làm công tác giáo dục đều hưởng ứng một cách tích cực
Sinh học là bộ môn khoa học mà tính thực nghiệm được gắn liền với cácbài giảng hàng ngày, do vậy việc định hướng, đổi mới phương pháp dạy họccũng phải có sự khác biệt nhiều so với các môn học khác Ngoài các phươngpháp dạy học tích cực được sử dụng thường xuyên như “Thảo luận nhóm”,
“Nêu vấn đề” nhằm nâng cao khả năng tiếp thu, tính chủ động, sáng tạo tronghọc tập bộ môn Sinh học của học sinh thì việc gắn các kiến thức, ứng dụngthực tế bộ môn vào các bài giảng hàng ngày là điều hết sức cần thiết Mặt kháccác khái niệm, quy luật, hiện tượng sinh học… nhiều khi rất trìu tượng, khóhiểu, khô cứng làm học sinh khó tiếp thu, dễ nhàm chán, không hứng thú vớimôn học, đối với các học sinh có tư duy không tốt có thể dẫn đến xu hướng sợ
bộ môn Sinh học
Xuất phát từ những thực tế nêu trên, tôi nhận thấy việc nâng cao hứngthú học tập môn Sinh học cho học sinh là điều hết sức cần thiết Muốn làmđược điều đó, giáo viên phải có vốn kiến thức thực tế sâu rộng, có khả nănggắn các bài giảng với thực tế nhằm tạo ra những giờ học sinh động, nâng cao sựhiểu biết và kích thích sự ham mê học tập của học sinh Từ thực tế đó nên tôi
chọn đề tài: “Một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh giáo dục thường
xuyên học môn Sinh học bằng cách liên hệ thực tế”.
2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến
* Điều kiện áp dụng: Các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị đồ dùng,
sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo sự giúp đỡ, đóng góp ý kiếncủa các bạn đồng nghiệp, sự ủng hộ tin tưởng của phụ huynh và học sinh
Trang 2* Thời gian áp dụng: Năm học 2014 – 2015 và năm học 2015 - 2016.
* Đối tượng áp dụng: Học sinh GDTX.
3 Nội dung sáng kiến
Trong đề tài, tôi tập trung nghiên cứu các mối liên hệ giữa kiến thức bộmôn với kiến thức trong thực tiễn cuộc sống hàng ngày Từ những mối liên hệ
đó giúp các em có thể tự mình giải thích, hiểu được vấn đề và nắm được kiếnthức một cách dễ dàng
Đề tài giúp học sinh có cách tiếp nhận kiến thức một cách mới mẻ, hìnhthành hứng thú, ham học hỏi tìm tòi, học sinh không còn bị động trong quátrình lĩnh hội kiến thức bộ môn Bên cạch đó đề tài còn giúp các em có cái nhìnmới mẻ về thế giới thực tiễn, kích thích trí tò mò sáng tạo, niềm say mê nghiêncứu khoa học, giúp các em tiếp cận nhanh với công nghệ kĩ thuật hiện đại
4 Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến
Sau khi áp dụng sáng kiến vào giảng dạy tại đơn vị của tôi, qua khảo sátchất lượng và ý kiến học sinh nhận thấy đã mang lại hiệu quả tốt
5 Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến.
Trên thực tế tôi thấy đề tài có thể áp dụng đối với nhiều bộ môn khácnhau, trong các bài khác nhau giúp các em học sinh không thấy nhàm chántrong quá trình lĩnh hội tri thức
Trang 3sự gia tăng khối lượng tri thức, sự đổi mới công nghệ Sinh học tất yếu phải dẫnđến sự đổi mới về phương pháp dạy học, đào tạo thế hệ trẻ.
Trên đà phát triển đó, hiện nay ngành Giáo dục và Đào tạo đang tậptrung vào việc đổi mới phương pháp dạy học ở các cấp bậc học Phong trào đổimới phương pháp dạy học đã và đang trở thành một phong trào nổi trội mà tất
cả những người làm công tác giáo dục đều hưởng ứng một cách tích cực
Sinh học là bộ môn khoa học mà tính thực nghiệm được gắn liền với cácbài giảng hàng ngày, do vậy việc định hướng, đổi mới phương pháp dạy họccũng phải có sự khác biệt nhiều so với các môn học khác Ngoài các phươngpháp dạy học tích cực được sử dụng thường xuyên như “Thảo luận nhóm”,
“Nêu vấn đề” nhằm nâng cao khả năng tiếp thu, tính chủ động, sáng tạo tronghọc tập bộ môn Sinh học của học sinh thì việc gắn các kiến thức, ứng dụngthực tế bộ môn vào các bài giảng hàng ngày là điều hết sức cần thiết Mặt kháccác khái niệm, quy luật, hiện tượng sinh học… nhiều khi rất trìu tượng, khóhiểu, khô cứng làm học sinh khó tiếp thu, dễ nhàm chán, không hứng thú vớimôn học, đối với các học sinh có tư duy không tốt có thể dẫn đến xu hướng sợ
bộ môn Sinh học
Xuất phát từ những thực tế nêu trên, là giáo viên dạy bộ môn sinh học,tôi nhận thấy để nâng cao chất lượng giảng dạy nói chung, chất lượng bộ mônsinh học nói riêng thì việc nâng cao hứng thú học tập môn Sinh học cho họcsinh là điều hết sức cần thiết Muốn làm được điều đó, ngoài việc phát huy tốtcác phương pháp dạy học tích cực, giáo viên phải có vốn kiến thức thực tế sâurộng, có khả năng gắn các bài giảng với thực tế nhằm tạo ra những giờ học sinh
Trang 4động, nâng cao sự hiểu biết và kích thích sự ham mê học tập của học sinh
Từ những thực tế đó nên tôi chọn đề tài:
“Một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh giáo dục thường xuyên học môn Sinh học bằng cách liên hệ thực tế”.
1.2 Phạm vi và đối tượng áp dụng đề tài
- Đề tài này có thể áp dụng với nhiều đối tượng học sinh với lực họckhác nhau Tuỳ theo đối tượng học sinh mà việc tổ chức, hướng dẫn, giao việctìm ra kiến thức mới cho phù hợp, giúp các em hứng thú hơn trong học tập
- Giáo viên dạy môn Sinh học
- Khả năng nhận thức, thái độ, khả năng ghi nhớ vận dụng kiến thức củahọc sinh khi học môn Sinh học
- Chương trình sinh học 10 và 11 giáo dục thường xuyên
1.3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm tâm lí của học sinh, khả năng tư duylogic, khả năng ghi nhớ, phương pháp học bài… để đưa ra các biện pháp tổchức dạy và học nhằm phát triển sự ghi nhớ, vận dụng kiến thức cho học sinh
- Giúp cho các em nắm vững kiến thức, vận dụng kiến thức để giải quyếtcác vấn đề trong thực tiễn đời sống từ đó nâng cao hứng thú học tập của họcsinh đối với bộ môn Sinh học
1.4 Các phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu
- Qua các tiết thực nghiệm trên lớp
- Điều tra hiệu quả của phương pháp qua phiếu điều tra, qua chất lượnghọc tập của học sinh
1.5 Điểm mới, tính sáng tạo của đề tài
- Đề tài áp dụng kinh nghiệm giảng dạy, ứng dụng công nghệ thông tintrong hoạt động dạy và học
- Kết hợp với các phương tiện dạy học truyền thống, phương tiện hiện đạicho hiệu quả rõ rệt Đây là một chủ đề rất mới trong những năm học gần đây
- Tạo hứng thú học tập cho học sinh
Trang 52 Cơ sở lý luận của vấn đề
2.1 Sinh học với thực tiễn cuộc sống
Sinh học là một môn khoa học về sự sống, là một nhánh của khoa học tựnhiên, tập trung nghiên cứu về các cá thể sống, mối quan hệ giữa chúng vớinhau và với môi trường Sinh học giúp học sinh hiểu rõ các sự vật, hiện tượng,các quy luật sống xung quanh mình Chính vì vậy khi giảng dạy bộ môn sinhhọc vấn đề liên hệ thực tiễn cuộc sống là việc làm không thể thiếu Mặt khácchính các kiến thức thực tiễn lại giúp học sinh hứng thú với môn học, tích cực,chủ động sáng tạo phát huy năng lực nhận thức và tư duy khoa học
Với sự bùng nổ của các thành tựu khoa học trong các lĩnh vực thì côngnghệ sinh học có những bước phát triển mạnh mẽ hơn cả Những ứng dụngcông nghệ sinh học trong cuộc sống thực tiễn ngày càng chiếm vị trí và vai tròquan trọng Do đó, việc lồng ghép các ứng dụng sinh học trong thực tiễn cuộcsống vào các bài giảng trên lớp là một việc làm hết sức cần thiết Việc làm nàykhông những giúp học sinh hứng thú học tập mà còn lồng ghép được các nộidung khác nhau như bảo vệ môi trường, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe conngười… Ngoài ra việc liên hệ và giải thích các kiến thức thực tiễn giáo viên cóthể hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức hóa học, lý học…để giải thíchnhững sự vật, hiện tượng, quy luật từ đó hình thành kiến thức liên môn cho họcsinh
2.2 Liên hệ thực tế là biện pháp gây hứng thú học tập cho học sinh
Cái mới luôn gây hứng thú tìm tòi cho mỗi chúng ta Hiểu và giải thíchđược các hiện tượng tự nhiên quanh mình là động cơ để thúc đẩy học sinh họctập Việc vận dụng các kiến thức toán học, hóa học, lý học để giải thích các sựvật, hiện tượng, quy luật giúp học sinh thấy được mối liên hệ giữa các môn họcvới nhau qua đó tạo sự say mê trong học tập
Mặt khác, hứng thú học tập là một trong những yếu tố quyết định đến kếtquả học tập, hiệu quả tiết dạy Do đó, để tạo hứng thú học tập thì giáo viên phải
có vốn kiến thức sâu rộng, có khả năng cung cấp lượng kiến thức đủ, đúng, mới
và thiết thực cho học sinh
Trang 62.3 Tác dụng của việc liên hệ thực tế trong giảng dạy
* Đối với giáo viên:
- Liên hệ thực tế trong giảng dạy giúp giáo viên phát huy khả năngtruyền thụ kiến thức, nâng cao hiệu quả giảng dạy, kích thích hứng thú học tậpcủa học sinh
- Thông qua liên hệ thực tế trong bài giảng giáo viên sẽ tạo được nhữnggiờ học bổ ích lý thú, tạo bầu không khí sôi nổi kích thích tính chủ động sángtạo của học sinh
- Phương pháp này giúp giáo viên rèn luyện một số kỹ năng dạy học như:
+ Kỹ năng diễn đạt+ Kỹ năng sử dụng phương tiện dạy học+ Kỹ năng tiến hành thí nghiệm
+ Kỹ năng giao tiếp+ Kỹ năng phân bố thời gian hợp lí
- Trong quá trình liên hệ thực tế giáo viên sẽ có nhiều cơ hội giao tiếpvới học sinh, gần gũi với học sinh hơn, do đó có thể tạo được ấn tượng tốt vớihọc sinh, đây là điều kiện tốt giúp giáo viên quản lý học sinh tốt hơn
* Đối với học sinh:
- Khi đã hiểu rõ bản chất của các sự vật, hiện tượng, quy luật…đối vớihọc sinh, sinh học không còn là một môn khoa học nhàm chán, khô khan nữa,
từ đó hình thành hứng thú và niềm yêu thích môn học Học sinh sẽ thấy đượctầm quan trọng của môn học trong cuộc sống
- Hình thành kỹ năng tư duy, kỹ năng nghiên cứu tài liệu…các kiến thứcmới luôn thúc đẩy học sinh tìm tòi, phát hiện kiến thức, từ đó phát huy tính tíchcực, chủ động của học sinh
3 Thực trạng dạy học môn Sinh học ở Trung tâm giáo dục thường xuyên nơi tôi công tác
3.1 Thuận lợi
- Đội ngũ giáo viên đã đạt chuẩn
- Để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy
Trang 7tính tích cực của học sinh, trong quá trình giảng dạy giáo viên đã tích hợp nhiềuphương pháp giảng dạy khác nhau như: phương pháp trực quan, phương phápgiải quyết vấn đề, phương pháp vấn đáp, phương pháp liên hệ thực tế trong bàigiảng …
- Tại Trung tâm cũng có những thiết bị, đồ dùng phục vụ cho việc dạy vàhọc môn sinh học như: Tranh, ảnh, mô hình, các dụng cụ thí nghiệm… Bêncạnh đó Trung tâm còn có hệ thống máy tính, máy chiếu giúp giáo viên ứngdụng công nghệ thông tin vào giảng dạy
3.2 Khó khăn
Bên cạnh những mặt thuận lợi nêu trên, việc giảng dạy môn Sinh học tạiTrung tâm GDTX - HN - DN nơi tôi công tác còn gặp những khó khăn nhưsau:
- Nội dung kiến thức trong phần lớn các bài học là quá nhiều, khôngthích ứng với thời gian quy định của mỗi tiết học Thực tế giảng dạy tôi thấyrằng với thời gian 45 phút của một tiết học, giáo viên mất ít nhất: 1 phút để ổnđịnh tổ chức lớp, 5 phút để kiểm tra bài cũ (chủ yếu là kiểm tra những kiếnthức rất cơ bản), 4 phút để củng cố bài (thực chất chỉ đủ để nhắc lại những kiếnthức chính vào cuối tiết học) thì thời gian còn lại chỉ là 35 phút dành cho thầy
và trò tiến hành các hoạt động nhận thức của bài học Trong khoảng thời giannày, với nội dung kiến thức tương đối nhiều, việc làm cho học sinh hiểu đượckiến thức bài học thôi cũng đã là khó khăn, giáo viên không còn đủ thời gian đểliên hệ kiến thức mà học sinh vừa lĩnh hội được với thực tế đời sống, hoặc nếu
có liên hệ được thì cũng chỉ dưới hình thức liệt kê tên gọi của các sự vật, hiệntượng mà thôi
- Việc giảng dạy kiến thức cho học sinh nói chung và kiến thức Sinh họcnói riêng vẫn còn tiến hành theo lối “thông báo - tái hiện” là chủ yếu Mặt khác,một số thiết bị dạy học và thí nghiệm tại Trung tâm đã không thể đáp ứng đượcnhu cầu của môn học gây khó khăn trong quá trình dạy và học
Trang 8- Đối tượng học sinh của Trung tâm có đầu vào thấp, do vậy khả năngvận dụng kiến thức để giải thích các sự vật, hiện tượng của học sinh còn khókhăn.
Trước khi nghiên cứu đề tài tôi đã tiến hành khảo sát mức độ hứng thú của học sinh đối với bộ môn Sinh học, kết quả cho thấy như sau:
Năm học
Tổng số học sinh tham gia khảo sát
Số học sinh hứng thú với môn học
Tỉ lệ (%)
Số học sinh không hứng thú với môn học
Tỉ lệ (%)
4 Các giải pháp, biện pháp thực hiện
4.1 Biện pháp 1: Liên hệ thực tế bằng cách đặt tình huống vào bài mới.
Để thu hút sự chú ý của học sinh vào bài giảng thì việc đặt tình huốngvào bài mới là việc làm hết sức quan trọng Sự khéo léo của giáo viên có thểtạo cho học sinh sự bất ngờ Giáo viên có thể đặt một câu hỏi dí dỏm mang tínhchất khôi hài, một mẩu chuyện khoa học hay một vấn đề rất bình thường màhàng ngày học sinh vẫn gặp, sau đó yêu cầu học sinh cùng tìm hiểu, giải thíchthông qua bài học nhằm tạo sự chú ý của học sinh
Ví dụ 1: Khi dạy “Bài 11: Vận chuyển các chất qua màng sinh chất” (Sinh học
10) giáo viên có thể mở bài như sau:
GV: Khi chẻ nhỏ một cọng rau muống và ngâm trong nước các em sẽ
thấy hiện tượng gì?
HS có thể sẽ trả lời là cọng rau muống sẽ cong lên.
GV: Tại sao cọng rau muống lại cong lên như vậy? Chúng có cong theo
chiều ngược lại hay không? Để giải thích hiện tượng trên chúng ta sẽ tìm hiểutrong bài học ngày hôm nay
Cách giới thiệu này sẽ giúp học sinh hứng thú tìm hiểu nguyên nhânthông qua nghiên cứu kiến thức trong bài mới Và trong quá trình học bài mớihọc sinh có thể vận dụng kiến thức để giải thích hiện tượng như sau: Khi ngâmrau muống vào nước (môi trường nhược trương), do nồng độ chất tan bên trong
Trang 9tế bào rau cao hơn bên ngoài nên nước sẽ thẩm thấu vào trong tế bào làm chocác tế bào trương lên.
Mặt khác, bao quanh bên ngoài cây rau muống (vỏ ngoài màu xanh) làlớp cutin chống thấm nước nên các tế bào "vỏ" phía bên ngoài không bị thấmnước, trong khi đó các tế bào bên trong ruột cây rau muống hút nước và trươnglên làm cho cây rau muống chẻ có hiện tượng cong từ trong ra ngoài
Ví dụ 2: Khi dạy “Bài 14: Enzim và vai trò của enzim trong quá trình chuyển
hóa vật chất” (SH 10), giáo viên có thể mở bài như sau:
GV: Khi các em nhai cơm thật kỹ chúng ta sẽ thấy có vị gì? Tại sao?
Từ câu trả lời của học sinh giáo viên dẫn dắt đến bài mới Thông quakiến thức về enzim học sinh có thể giải thích được hiện tượng trên như sau:Nước bọt trong miệng có chứa enzim Amilaza có khả năng chuyển hóa tinh bộttrong cơm thành đường
Ví dụ 3: Khi đặt vấn đề vào bài thực hành: Lên men Etilic và Lactic (SH 10)
giáo viên có thể đưa ra câu hỏi như sau:
Gv: Một số quả chín có vị ngọt để lâu vài ngày thường xảy ra hiện tượng
gì? Vì sao?
Hs: Quả chín để lâu thường có vị chua.
Gv: Để giải thích tại sao những quả chín ngọt để lâu sẽ có vị chua chúng
ta sẽ cùng tìm hiểu trong bài học ngày hôm nay
Theo chương trình giảm tải của Bộ giáo dục và Đào tạo, phần II - Quátrình phân giải (Bài 23: Quá trình tổng hợp và phân giải các chất ở vi sinh vật)
sẽ được lồng ghép giới thiệu trong Bài 24: Thực hành lên mem Etilic và Lactic.Cách giới thiệu này giúp kích thích sự tìm tòi khám phá của học sinh Thôngqua kiến thức của bài học các em có thể giải thích được hiện tượng như sau: Vìtrong dịch quả có nhiều đường, nấm men ở trên vỏ quả xâm nhập vào và quátrình lên men diễn ra Sau đó các vi khuẩn chuyển hóa đường thành rượu, từrượu thành axit khiến quả bị chua
Ví dụ 4: Khi dạy “Bài 27: Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vi sinh
vật” (SH 10) giáo viên có thể mở bài như sau:
Trang 10Gv: Chúng ta thường dùng cách gì để bảo quản thịt, cá được lâu?
Hs: Bảo quản bằng cách ướp muối hoặc để ngăn đá tủ lạnh.
Gv: Để giải thích tại sao hai phương pháp trên lại có thể giúp chúng ta
bảo quản thực phẩm được lâu chúng ta sẽ cùng tìm hiểu trong bài học ngàyhôm nay
Bảo quản thực phẩm là việc làm rất quen thuộc đối với mỗi học sinh,những để hiểu được nguyên lý của nó thì không phải học sinh nào cũng có thểgiải thích được Do đó cách nêu vấn đề như trên sẽ tạo sự hứng thú học hỏi củahọc sinh Qua kiến thức bài học các em có thể giải thích được như sau:
+ Nhiệt độ thấp sẽ ức chế quá trình sinh trưởng của vi sinh vật gây hưhỏng thịt cá, đặc biệt là với nhóm vi khuẩn ưa nhiệt
+ Khi ướp muối vào thịt cá, chúng ta đã đưa vi sinh vật gây hư hỏng thịt
cá vào môi trường có nhiều muối (môi trường ưu trương) Do vậy nước trong tếbào vi sinh vật sẽ bị rút ra ngoài, gây co nguyên sinh làm cho chúng khôngphân chia được
Ví dụ 5: Khi dạy “Bài 19: Tuần hoàn máu (tiếp theo)” (SH 11) giáo viên có thể
đặt câu hỏi gợi mở cho phần mở bài như sau: “Tại sao tim chúng ta lại hoạtđộng suốt đời mà không mệt mỏi?” Thông qua phần trả lời của học sinh giáoviên sẽ dẫn dắt đến bài học mới
Qua bài học các em có thể giải thích được tim hoạt động suốt đời màkhông mệt mỏi vì: Tim hoạt động theo chu kì, mỗi chu kì có thời gian là 0,8strong đó có 0,4s tim co còn 0,4s tim dãn, đó là thời gian tim phục hồi lại chứcnăng nên tim không bị mệt mỏi
Ví dụ 6: Khi mở “Bài 23: Hướng động” (SH 11) giáo viên có thể nêu câu hỏi
gợi mở như sau:
Gv: Nếu chúng ta đặt một chậu cây bên cửa sổ sau một thời gian sẽ có
hiện tượng gì xảy ra? Tại sao?
Hs: Cây sẽ hướng ra ngoài cửa sổ đón ánh sáng.
Gv: Nội dung bài học ngày hôm nay sẽ giúp các em giải thích được
nguyên nhân của hiện tượng trên
Trang 11Cách giới thiệu bài mới như vậy sẽ khơi gợi tính tò mò của học sinh, thôithúc các em tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng rất gần gũi với bản thânmình Qua bài học các em có thể giải thích được như sau: Khi đắt chậu cây bêncủa sổ sau một thời gian sẽ thấy cây hướng ra ngoài cửa sổ để đón ánh sáng, đó
là đặc tính hướng sáng của thực vật Nguyên nhân do sự sinh trưởng khôngđồng đều của các tế bào tại hai phía đối diện nhau của cơ quan (thân, rễ, lámầm…) Vì hoocmon Auxin di chuyển từ phía bị kích thích đến phía không bịkích thích dẫn đến tại phía không bị kích thích có nồng độ Auxin cao hơn nênkích thích tế bào sinh trưởng nhanh hơn.
4.2 Biện pháp 2: Liên hệ thực tế qua các nội dung cụ thể trong bài học
Trong quá trình học, nếu giáo viên luôn định hướng liên hệ giữa các kiếnthức của bài học với thực tiễn đời sống hàng ngày sẽ làm cho học sinh thấyhứng thú và khả năng ghi nhớ bài sẽ tốt hơn Do cấp độ bộ môn sinh học ở bậcTrung học phổ thông (THPT) đôi khi chưa đi sâu tìm hiểu quá trình diễn biếncủa sự vật hay hiện tượng, vì vậy khi giải thích vấn đề giáo viên cần phải khéoléo Nếu học sinh tỏ ra tìm tòi hơn, chúng ta có thể khích lệ mở ra hướng giáodục của bộ môn mà các em sẽ được tìm hiểu ở các cấp học cao hơn Cách nêuvấn đề này sẽ mang tính cập nhật, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩathực tiễn bài học ngay
Ví dụ 1: Trong phần thực hành lên men Lactic (SH 10) giáo viên có thể liên hệ
thực tiễn như sau:
Gv: Ở Thanh Hóa có đặc sản nem chua làm từ thịt sống hoàn toàn mà
không qua đun nấu Vậy ăn nem chua có đảm bảo an toàn thực phẩm haykhông?
Hs nghiên cứu trả lời.
Gv giải thích như sau: Nem chua được sản xuất dựa theo nguyên lí lên
men Lactic Vi khuẩn Lactic lên men khối thịt nạc xay Thịt trong nem chỉđược làm chín bằng sự lên men, axit làm cho khối thịt gắn kết với nhau, có mùithơm hơi chua đảm bảo an toàn Tuy nhiên quy trình làm nem phải yêu cầuđiều kiện vệ sinh thật tốt từ khâu nguyên liệu đến quy trình sản xuất, các dụng
Trang 12cụ phương tiện sản xuất phải trong điều kiện sạch sẽ khô ráo Nếu trong quátrình làm không vệ sinh đúng thì các vi khuẩn lên men thối sẽ hoạt động Quaứng dụng trên giúp học sinh thấy được vai trò của vi sinh vật trong đời sốngthực tiễn.
Ví dụ 2: Khi dạy phần II – Các yếu tố lí học, “Bài 27: Các yếu tố ảnh hưởng
đến sinh trưởng của vi sinh vật” (SH 10) giáo viên có thể nêu câu hỏi liên hệnhư sau:
Gv: Tại sao cá biển giữ trong tủ lạnh lại dễ bị hỏng hơn cá sông?
Hs suy nghĩ trả lời.
Gv: Vi khuẩn biển thuộc nhóm ưa lạnh nên trong tủ lạnh chúng vẫn có
thể hoạt động gây hư hỏng cá
Cách liên hệ này giúp học sinh hiểu được ảnh hưởng của các yếu tố vật
lý tới sự sinh trưởng của vi sinh vật từ đó có thể vận dụng trong cuộc sống hàngngày Hiểu rõ bản chất và biết cách vận dụng kiến thức vào cuộc sống hàngngày sẽ tạo cho học sinh hứng thú trong việc lĩnh hội tri thức
Ví dụ 3: Khi dạy phần HIV/AIDS trong “Bài 30: Sự nhân lên của virut trong tế
bào chủ” (SH 10) giáo viên có thể nêu câu hỏi như sau:
Gv: HIV có lây qua đường nước bọt không?
Qua phần trả lời của học sinh giáo viên có thể giải thích như sau: HIV cótrong hầu hết các loại dịch thể của người bệnh Các nhà khoa học đã tìm thấyHIV trong huyết tương, tinh dịch, nước não tủy, chất nhày cổ tử cung, âm đạo,sữa mẹ, nước bọt, nước mắt, nước tiểu (nhưng ở nồng độ thấp hơn) Các nghiêncứu nghiêm túc đã kết luận nước mắt, nước bọt, nước tiểu, mồ hôi là nhữngdịch thể của người nhiễm HIV không chứa nhiều HIV đủ để lây nhiễm chongười khác, ngay cả khi ôm hôn, tiếp xúc với nước mắt, nước tiểu và mồ hôicủa người bệnh Tuy nhiên, nếu các dịch thể này có lẫn máu, trên cơ thể có vếtxây xát thì khả năng lây nhiễm mới có thể xảy ra Thông tin trên sẽ giúp giáoviên giáo dục học sinh cách đối xử bình đẳng, không phân biệt, kì thị đối vớinhững người bị nhiễm HIV
Ví dụ 4: Khi dạy xong Phần IV-2 Quá trình cố định nitơ phân tử, “Bài 5-6:
Trang 13Dinh dưỡng nitơ ở thực vật” (SH 11) giáo viên có thể nêu vấn đề như sau:
Gv: Chúng ta thường nghe câu ca dao:
“Lúa chiêm lấp ló đầu bờ,
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.”
Theo em câu ca dao trên nói nên điều gì?
Hs: Câu ca dao có nghĩa là: Khi vụ lúa chiêm đang trổ đồng mà có trận
mưa rào kèm theo sấm chớp thì rất tốt và cho năng suất cao
Gv: Em hãy giải thích hiện tượng trên.
Hs có thể trả lời theo ý hiểu.
Gv giải thích như sau: Nitơ (N2) chiếm 79% thể tích khí quyển nhưng lại
là một khí trơ Mặt khác chúng ta biết thực vật chỉ hấp thụ nitơ dưới dạng muốiamôn (NH) và nitrat (NO) Quá trình cố định đạm không chỉ xảy ra theo conđường sinh học như chúng ta vừa nghiên cứu mà nó còn xảy ra bằng con đườnghóa học và lý học Khi có sấm chớp (tia lửa điện):
N2 + O2 2NO 2NO + O2 → 2NO2
Khí NO2 hòa tan trong nước mưa: 4NO2 + O2 + H2O → 4HNO3
HNO3 → H+ + NO3
-Các tia chớp và phản ứng quang hóa trong vũ trụ tổng hợp nên một lượng muốinitơ từ phân tử nitơ trong khí quyển (khoảng 6 - 7kg/mẫu đất một năm) Tuynhiên cố định nitơ bằng con đường sinh học có vai trò quan trọng hơn cả
Với cách nêu vấn đề như trên giáo viên một phần có thể giúp học sinhgiải thích được kinh nghiệm thực tế của ông cha trong câu ca dao, mặt khác lại
có thể mở rộng kiến thức cho các em Qua đó giáo viên còn hình thành kiếnthức liên môn cho học sinh, giúp các em thấy được mối liên hệ giữa các mônhọc với nhau, từ đó rèn luyện kĩ năng vận dụng các kiến thức khác nhau để giảithích sự vật, hiện tượng Khi hiểu rõ bản chất vấn đề học sinh sẽ thấy hứng thúhơn trong quá trình lĩnh hội tri thức
Ví dụ 5: Khi dạy Phần IV - Quan hệ giữa hô hấp với quang hợp và môi trường,
“Bài 12: HÔ HẤP Ở THỰC VẬT” (SH 11) giáo viên có thể nêu câu hỏi như
Trang 14Gv: Sau khi thu hoạch nông sản (lúa, lạc, đỗ…) người ta thường làm gì
để bảo quản được lâu? Tại sao?
Hs: Người nông dân thường phơi hoặc sấy khô nông sản để bảo quản
được lâu hơn
Gv: Bảo quản nông sản nhằm kéo dài thời gian và duy trì chất lượng của
nông sản sau thu hoạch Như vậy muốn bảo quản nông sản được tốt cần hạnchế tối đa quá trình hô hấp của chúng Độ ẩm tới hạn của đa số các loại hạt là
12 - 15%, khi độ ẩm lớn hơn độ ẩm tới hạn thì các hoạt động sống, đặc biệt là
sự hô hấp mạnh lên Hô hấp phân giải các chất hữu cơ trong nông sản làm chochất lượng nông sản giảm sút Ngoài ra qua trình hô hấp sẽ làm cho nhiệt độtăng lên, là điều kiện tốt để vi sinh vật hay côn trùng hoạt động gây hư hỏngnông sản Chính vì vậy nên người nông dân thường phơi hoặc sấy khô nông sảnđến độ ẩm tới hạn trước khi đưa vào bản quản
Phương pháp bảo quản nông sản trên là phương pháp rất gần gũi đối vớimỗi học sinh Với cách liên hệ này giáo viên sẽ giúp các em hiểu được nguyên
lý của phương pháp trên Qua đó còn giúp học sinh thấy được mối quan hệ giữanước (yếu tố môi trường) với quá trình hô hấp ở thực vật Ngoài ra, dưới sựhướng dẫn của giáo viên các em còn có thể biết và hiểu được nguyên lý củamột số hình thức bảo quản nông sản khác Điều này không những giúp các emhiểu rõ bản chất của nôi dung bài học mà còn gây hứng thú cho các em khi vậndụng kiến thức trong sách vở vào đời sống hàng ngày
4.3 Biện pháp 3: Liên hệ thực tế khi kết thúc bài học nhằm củng cố kiến thức
Cách liên hệ thực tế này giúp học sinh có thể tự mình hoặc dưới sựhướng dẫn của giáo viên để giải thích các hiện tượng thực tế xung quanh, mặtkhác lại có thế khắc sâu kiến thức vừa mới học, giúp học sinh nhớ bài nhanhhơn
Ví dụ 1: Sau khi học xong “Bài 16: HÔ HẤP TẾ BÀO” (SH 10) giáo viên có
thể đặt câu hỏi như sau:
Gv: Khi chúng ta tập luyện thể thao quá trình hô hấp tế bào diễn ra mạnh
Trang 15hay yếu? Nếu tập luyện quá sức thường có hiện tượng gì? Vì sao?
Hs trả lời.
Gv gợi ý để học sinh có thể trả lợi được câu hỏi và giải thích hiện tượng
như sau: Khi tập luyện thể thao, các tế bào cơ bắp cần nhiều năng lượng ATP
do đó quá trình hô hấp tế bào phải được tăng cường Biểu hiện của tăng hô hấp
tế bào là việc tăng hô hấp ngoài (thở mạnh hơn) để tăng cường hấp thụ O2 vàthải CO2 Nếu luyện tập quá sức, nhiều khi quá trình hô hấp ngoài không đủcung cấp O2 cho quá trình hô hấp tế bào do đó các tế bào cơ phải sử dụng quátrình lên men để tạo ra ATP Khi đó có sự tích lũy axit lactic trong tế bào dẫnđến hiện tượng đau mỏi cơ
Cách liên hệ trên giúp học sinh thấy được mối quan hệ giữa hô hấp ngoài
và hô hấp tế bào, nắm được vai trò của hô hấp tế bào đối với cơ thể Ngoài rahọc sinh còn giải thích được nguyên nhân gây đau mỏi cơ khi tập luyện quásức
Ví dụ 2: Trong chương trình giảm tải của Bộ giáo dục và Đào tạo phần II –
Quá trình phân giải, “Bài 23: Quá trình tổng hợp và phân giải các chất ở vi sinhvật” (SH 10), sẽ được lồng ghép giới thiệu trong “Bài 24: Thực hành lên menEtilic và Lactic” Khi học xong bài này giáo viên có thể hỏi như sau:
Gv: Dân gian ta có câu: “Chồng thối, vợ thiu, lại pha với nước Đông
Triều Chồng thối lại khỏi, vợ thiu lại lành” Em hiểu thế nào về câu nói trên?
Hs suy nghĩ trả lời Giáo viên có thể gợi ý để học sinh thấy đây là quytrình sản xuất tương Chồng thối là nước đậu ngâm, vợ thiu là mốc ngô haymốc gạo Nước Đông Triều là nước muối Quá trình này chúng ta sử dụng mốcngô hay mốc gạo là loại mốc có màu vàng hoa cau nhưng thực chất đây là một
loại nấm sợi (Aspergillus oryzae) Loại nấm này có thể tạo ra nhiều loại protêin
khác nhau trong đó có prôtêaza giúp phân giải protein của đậu tương đã đượcngâm, tạo ra các axit amin, dùng nước muối chiết chứa các axit amin này tađược nước tương (nước chấm)
Với cách nêu vấn đề này học sinh có thể nắm được quy trình sản xuấttương, hiểu được bản chất của quá trình phân giải protein và ứng dụng của nó
Trang 16trong đời sống Mặt khác khi hiểu rõ bản chất vấn đề học sinh sẽ càng thích thúhơn khi lĩnh hội được tri thức, đây là mấu chốt vấn đề giúp học sinh nâng caohứng thú học tập.
Ví dụ 3: Sau khi học xong “Bài 10: Ảnh hưởng của các nhân tố ngoại cảnh đến
quang hợp” (SH 11) giáo viên có thể nêu câu hỏi như sau:
Gv: Tại sao trong trồng trọt, ngoài yếu tố giống, phân bón thì cần phải
chú ý đến mùa vụ hợp lí cho mỗi loại cây trồng?
Hs trả lời Giáo viên có thể gợi ý để học sinh thấy được nguyên nhân như
sau: Mỗi mùa trong năm có cường độ ánh sáng, nhiệt độ, nước khác nhau Mỗicây trồng cũng có nhu cầu về nước, ánh sáng và nhiệt độ khác nhau vì vậyngoài yếu tố giống cần có mùa vụ thích hợp để đạt năng suất cao
Cách liên hệ này giúp học sinh thấy được mối liên hệ giữa các nhân tốngoại cảnh đến quang hợp của thực vật
Ví dụ 4: Sau khi học xong “Bài 17: HÔ HẤP Ở ĐỘNG VẬT” (SH 11) giáo
viên có thể nêu câu hỏi như sau:
Gv: Tại sao khi ở gần lò đốt than hoặc bếp than thì chúng ta thường cảm
thấy khó thở?
Hs có thể trả lời vì bếp than có nhiều khí CO.
Gv có thể gợi ý cho học sinh như sau: Hêmôglôbin (Hb) là yếu tố tham
gia vận chuyển ôxi trong quá trình hô hấp Ở gần lò đốt than hoặc bếp than cónhiều khí CO Khí CO dễ dàng kết hợp với Hb để tạo ra HbCO (hợp chất bềnvững và rất khó phân li) Sự kết hợp giữa Hb và CO mạnh gấp 250 lần so với
Hb kết hợp với O2 Chính vì vậy đã làm cho Hb mất khả năng hô hấp (khả năngkết hợp với O2) gây ngạt thở cho người và động vật
Việc giải thích được hiện tượng nêu trên không những giúp học sinh hiểu
rõ bản chất của hô hấp ở động vật mà còn lý giải được hiện tượng vẫn thườnggặp trong cuộc sống hàng ngày Ngoài ra hiện tượng trên còn giúp học sinh đúckết kinh nghiệm để bảo vệ sức khỏe cho bản thân và mọi người xung quanh
4.4 Biện pháp 4: Liên hệ thực tế qua những “Con số bất ngờ”
Cách nêu vấn đề này trong quá trình dạy giáo viên sẽ đưa ra những con