Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam cũng chính là những mặt hàng mà thị trường này có nhu cầu nhập khẩu hàng năm với khối lượng lớn như: dệt may, giầy dép, thuỷ hải sản, cà phê…T
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HÀ VĂN HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các nội dung trong luận văn thạc sĩ này là công trình
nghiên cứu của tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hà Văn Hội – Trường ĐH
Kinh tế, ĐH Quốc gia Hà Nội Các số liệu, bảng biểu được sử dụng để nghiên cứu, phân tích, nhận xét, đánh giá trong luận văn đều được lấy từ các nguồn chính thống như đã ghi chú và liệu kê trong các tài liệu tham khảo Bên cạnh đó, đề tài có sử dụng các khái niệm, nhận xét, đánh giá của các tác giả, các cơ quan, tổ chức khác
và đều được ghi rõ trong nội dung cũng như ở phần tài liệu tham khảo của luận văn
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình
Tác giả luận văn
Trần Khánh Như
Trang 4Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế, trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHKT - ĐHQGHN), Phòng Đào tạo của trường ĐHKT - ĐHQGHN, các thầy cô trực tiếp tham gia giảng dạy chương trình cao học ngành Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế, khóa K23, năm học 2014-2016, các cán bộ của Khoa và của Phòng tham gia quản lý và
hỗ trợ khóa học
Xin được cảm ơn gia đình, các đồng nghiệp, các thành viên của lớp Cao học K23 - ĐHKT, ĐHQGHN và những người bạn của tôi, những người đã luôn sát cánh bên tôi, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian qua
Tác giả luận văn
Trần Khánh Như
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iii
DANH MỤC SƠ ĐỒ iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY SANG HOA KỲ 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.2 Cơ sở lý luận, thực tiễn về hoạt động xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ 9
1.2.1 Khái niệm xuất khẩu và các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa 9
1.2.2 Các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia 10
1.2.3 Kinh nghiệm của một số nước xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ26 CHƯƠNG 2: CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Quy trình nghiên cứu 31
2.2 Cách tiếp cận nghiên cứu 32
2.2.1 Cách tiếp cận hệ thống 32
2.2.2 Cách tiếp cận lịch sử 32
2.3 Các phương pháp nghiên cứu 33
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 33
2.3.2 Phương pháp kế thừa 34
2.3.3 Phương pháp phân tích – tổng hợp 35
2.3.4 Phương pháp so sánh 36
Trang 6CHƯƠNG 3: XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY SANG HOA KỲ VÀ CÁC
NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 37
3.1 Khái quát tình hình xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ 37
3.1.1 Đặc điểm của thị trường Hoa Kỳ 37
3.1.2 Tình hình xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang Hoa Kỳ 39
3.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Hoa Kỳ 51
3.2.1 Các nhân tố từ phía Việt Nam 51
3.2.2 Các nhân tố từ phía Hoa Kỳ 67
3.2.3 Các nhân tố quốc tế 78
CHƯƠNG 4: HÀM Ý CHO VIỆT NAM TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY SANG HOA KỲ 80
4.1 Cơ hội và thách thức của Việt Nam trong xuất khẩu hàng hóa sang Hoa Kỳ 80
4.1.1 Cơ hội 80
4.1.2 Thách thức 83
4.2 Định hướng và mục tiêu xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Hoa Kỳ 87
4.2.1 Quan điểm phát triển 87
4.2.2 Mục tiêu phát triển 87
4.3 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Hoa Kỳ 89
4.3.1 Giải pháp phía Nhà nước 89
4.3.2 Giải pháp của Hiệp hội Dê ̣t may (VITAS) 96
4.3.3 Giải pháp từ phía doanh nghiệp 97
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
6 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Preferences
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập
Hiệp định đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương
16 VINATEX The Vietnam National
Textile and Garment Group Tập đoàn Dệt may Việt Nam
17 WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 3.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
2 Bảng 3.2 Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và
tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ 2011- 2015 41
3 Bảng 3.3 So sánh tỷ trọng xuất khẩu hàng dệt may của
4 Bảng 3.4 Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
5 Bảng 3.5 Cơ cấu mặt hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu
6 Bảng 3.6 Cơ cấu các mặt hàng dệt may xuất khẩu chủ yếu
7 Bảng 3.7 So sánh tỷ giá Hối đoái giữa một số ngoại tệ so
với VND của năm 2005, 2014 và năm 2015 58
8 Bảng 3.8 Top 10 doanh nghiệp xuất khẩu dệt may lớn
9 Bảng 3.9 Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước GDP
theo giá so sánh 2010 (Năm trước = 100) 62
10 Bảng 4.1 Các mục tiêu cụ thể của ngành dệt may đến năm
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 3.1 Thị phần xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam năm 2015 41
2 Biểu đồ 3.2 Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang
3 Biểu đồ 3.3 Tỷ trọng các mặt hàng dệt may xuất khẩu chủ yếu sang
DANH MỤC SƠ ĐỒ
2 Sơ đồ 3.1 Kênh phân phối hàng dệt may của Việt Nam sang thị
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển với tốc độ vũ bão, đưa tới một
sự đột biến trong tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia và đưa xã hội loài người bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của nền văn minh trí tuệ Trong bối cảnh
ấy, quốc tế hoá và toàn cầu hóa đã và đang trở thành xu thế tất yếu của mỗi quốc gia trên thế giới Thương mại quốc tế là lĩnh vực hoạt động có vai trò hết sức to lớn, thúc đẩy nền kinh tế trong nước hội nhập với nền kinh tế thế giới, phát huy lợi thế
so sánh của đất nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết công ăn việc làm Hoạt động xuất khẩu có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp phát triển đất nước, đẩy mạnh xuất khẩu là chủ trương kinh tế lớn của mỗi quốc gia
Đối với Việt Nam, hiện nay hàng hóa nước ta đã có mặt trên gần 200 quốc gia trên thế giới Thị trường Hoa Kỳ đã và đang là đối tác quan trọng, một thị trường lớn có khả năng tiêu thụ nhiều hàng hoá, sản phẩm của Việt Nam Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam cũng chính là những mặt hàng mà thị trường này
có nhu cầu nhập khẩu hàng năm với khối lượng lớn như: dệt may, giầy dép, thuỷ hải sản, cà phê…Trong đó, mặt hàng dệt may là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực đem lại nguồn thu ngoại tệ to lớn cho nền kinh tế quốc dân và hội nhập kinh tế quốc tế, giúp cân bằng cán cân thanh toán thương mại, giải quyết công
ăn việc làm cho hàng triệu lao động, thúc đẩy các ngành sản xuất khác trong nước phát triển…góp phần quan trọng trong việc tạo sự phát triển và ổn định kinh tế - chính trị - xã hội Có thể nói, ngành dệt may là ngành công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn của nước ta, và Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu dệt may lớn nhất của Việt Nam Trong nhiều năm gần đây, đặc biệt là từ khi Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ ký ngày 13/7/2000 và chính thức có hiệu lực từ ngày 11/12/2001 đã mở
ra triển vọng thương mại mới giữa hai nước nói chung, và cho ngành dệt may nói riêng Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ tăng vọt, và thị trường Hoa Kỳ luôn dẫn đầu về nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam Xuất khẩu hàng dệt may vào Hoa Kỳ luôn chiếm trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu
Trang 11hàng dệt may của cả nước và khoảng 40% tổng kim ngạch các mặt hàng xuất khẩu của cả nước sang thị trường này Vì những lý do đó, việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ được xem là một trong những ưu tiên hàng đầu để phát triển sản xuất, tăng thu ngoại tệ cho đất nước, tạo công ăn việc làm cho người dân và ổn định xã hội Vì vậy để tìm hiểu rõ hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa kỳ, tôi quyết định chọn đề
tài: “Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Hoa Kỳ: nhân tố ảnh hưởng
và một số hàm ý chính sách” Từ đó tiếp tục phát huy lợi thế, rút ra những kinh
nghiệm, tìm ra giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Hoa Kỳ
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu: Thông qua việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến
hoạt động xuất khẩu dệt may sang thị trường Hoa Kỳ trong những năm qua, từ đó đánh giá và tìm ra giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu dệt may của Việt
Nam sang thị trường Hoa Kỳ trong thời gian tới
2.2 Câu hỏi nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, các vấn đề sau đây cần được giải quyết:
1) Tại sao cần đẩy mạnh xuất khẩu dệt may sang thị trường Hoa Kỳ?
2) Những nhân tố nào ảnh hưởng đến xuất khẩu dệt may sang thị trường này
và ảnh hưởng như thế nào?
3) Nhà nước và các doanh nghiệp Việt Nam cần có những biện pháp gì để đẩy mạnh xuất khẩu dệt may sang Hoa Kỳ trong thời gian tới?
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn thực
hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
Thứ nhất, phân tích cơ sở của hoạt động xuất khẩu hàng hoá và làm rõ các
nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia
Thứ hai, luận giải những tác động, ảnh hưởng của các nhân tố đó đến xuất
khẩu hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ của Việt Nam
Trang 12Thứ ba, đưa ra một số gợi ý về chính sách đối với Nhà nước và doanh nghiệp
Việt Nam nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ và đưa ra một số gợi ý chính sách
Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: Xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ
Thời gian: Giai đoạn từ năm 2011 đến 2016
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu: thu thập thông tin, so sánh, phân tích –tổng hợp, kế thừa, và một số phương pháp khác Từ đó phản ánh một cách xác thực nhất về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu dệt may sang thị
trường Hoa Kỳ trong thời gian qua và giải pháp phát triển trong thời gian tới (Nội dung cũng như cách thức sử dụng các phương pháp nghiên cứu sẽ được mô tả chi
tiết trong chương 2 của Luận văn)
5 Những đóng góp mới của luận văn
Luận giải cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia
Chỉ rõ các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ Những nhân tố này được phân tích và luận giải cả trên
hai khía cạnh: tác động tích cực và tác động tiêu cực, kìm hãm
Đưa ra một số hàm ý đối với Việt Nam nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt
may sang thị trường Hoa Kỳ
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về hoạt động xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ
Trang 13Chương 2: Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ và các nhân tố ảnh hưởng Chương 4: Hàm ý cho Việt Nam trong hoạt động xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY
SANG HOA KỲ
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hiện nay, dệt may là ngành có vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia vì nó phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người, đồng thời đây cũng là ngành giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội Bên cạnh đó, do tính thiết yếu và vai trò đặc biệt quan trọng của xuất khẩu hàng hóa đối với sự phát triển thương mại quốc tế, cho nên vấn đề xuất khẩu hàng dệt may đã thu hút được sự quan tâm chú ý của các cấp, các ngành, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước Đã có nhiều hội nghị chuyên đề, hội thảo được tổ chức ở các cấp khác nhau, luận văn và các bài nghiên cứu về vấn đề này
Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về tình hình thị trường dệt may Hoa Kỳ
Báo cáo của Textiles Intelligence có bài viết “Trends in US Textile and Clothing Imports, 2016” đưa ra các phân tích và cái nhìn sâu sắc 10 nhà cung cấp hàng dệt may hàng đầu của Mỹ vào năm 2015, cùng với thông tin cụ thể hơn các loại hình sản phẩm dệt may hiện có Trung Quốc vẫn là nhà cung cấp hàng dệt may lớn nhất đến nay của Mỹ Thị phần nhập khẩu dệt may và quần áo của Mỹ từ tất cả các nguồn của Trung Quốc đã tăng về khối lượng mặc dù nó đã giảm giá trị Bangladesh, Ấn Độ, Sri Lanka và Việt Nam tăng thị phần về giá trị và khối lượng nhưng Campuchia, Honduras, Indonesia, Mexico và Pakistan bị mất thị phần Báo cáo cũng bao gồm triển vọng xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ năm 2016
và xa hơn nữa
Bản nghiên cứu “U.S Textile And Fabric Finish Market - Analysis And Forecast to 2020” của IndexBox Marketing Ltd trình bày các dữ liệu mới nhất về quy mô thị trường và khối lượng sản xuất trong nước, giá trị xuất khẩu và nhập khẩu, chính sách giá cả và doanh thu trong ngành công nghiệp dệt may tại Mỹ
Trang 15Ngoài ra, báo cáo cũng cung cấp những thông tin sâu sắc về ngành công nghiệp dệt may, bao gồm cả chu kỳ sống của ngành, địa điểm kinh doanh, năng suất kinh doanh, vấn đề tạo việc làm và nhiều khía cạnh quan trọng khác Từ đó cho thấy một bức tranh toàn diện về thị trường sản xuất và tiêu thụ hàng dệt may tại Mỹ
Tác giả Ruth K Shelton và Kathy Wachter, (2005) có bài nghiên cứu
"Effects of global sourcing on textiles and apparel" đăng trênTạp chí Tiếp thị thời trang và quản lý, một tạp chí quốc tế nổi tiếng tại Mỹ Trong nghiên cứu này, các tác giá đã cho thấy sự thay đổi đáng kể trong nguồn cung ứng hàng dệt may cho thị trường Mỹ trước và sau NAFTA Như một kết quả của Hiệp định đa sợi (MFA) năm 1974, Hiệp định về hàng dệt may (ATC) năm 1994, NAFTA năm 1994, và các chương trình chuyển tiếp của WTO năm 1995 về tìm nguồn cung ứng toàn cầu đã tái định hướng quá trình dệt may Mỹ và thương mại thị trường đến các địa điểm khác Điều đó cho thấy các nhân tố tác động có vai trò cực kỳ quan trọng đến hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của các quốc gia vào thị trường Mỹ
Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng dệt may nói chung
Bản nghiên cứu của về hàng dệt may của Harvard Center có tựa đề “The Future of the Apparel and Textile Industries: Prospects and Choices”, Frederick H Abernathy, Anthony Volpe và David Weil Bản nghiên cứu đề cập đến hai nhân tố
có ảnh hưởng lớn đến vị trí của hàng may mặc và sản xuất dệt may Thứ nhất, sự lựa chọn chính sách công sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến vị trí tìm nguồn cung ứng; đặc biệt, có liên quan đến thuế và các chính sách thương mại khu vực cũng như các chính sách ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các quốc gia Thứ hai, mô hình bán lẻ chiếm ưu thế đòi hỏi các nhà cung cấp hàng may mặc phải đa dạng hóa các mẫu mã
và bổ sung các sản phẩm cơ bản cũng như sản phẩm thời trang thường xuyên Từ
đó, đề cấp đến triển vọng và lựa chọn thị trường cũng như mặt hàng dệt may xuất khẩu trong tương lai
Tác giả Dr Francisco Serra, John Pointon và Dr Hussein Abdou có bài nghiên cứu “Factors influencing the propensity to export: A study of UK and
Trang 16Portuguese textile firms” Mục đích của nghiên cứu này là xác định cụ thể các yếu
tố tổ chức quản lý góp phần vào xu hướng xuất khẩu của một quốc gia, ngành dệt may Bồ Đào Nha và Anh được chọn để điều tra Nghiên cứu đã phân tích các nhân
tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến xuất khẩu một mẫu hàng của 167 công ty
Bồ Đào Nha và 165 công ty Anh trong ngành công nghiệp dệt may Từ đó khái quát lên các nhân tố ảnh hưởng đến xu hướng xuất khẩu hàng dệt may nói riêng và xuất khẩu hàng hóa nói chung sẽ được lên kế hoạch, quảng cáo và khuyến mãi
Nguyễn Anh Dương và Đặng Phương Dung (2011), “Việt Nam tham gia WTO và các hiệp định thương mại tự do (FTA): Hàm ý đối với xuất khẩu hàng dệt may” Trong nghiên cứu này đã chỉ ra đc rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu dệt may Việt Nam và những vấn đề mà xuất khẩu dệt may Việt Nam đang gặp phải,
có thể kể ra như: Hàm lượng giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu nói chung còn hạn chế, doanh nghiệp khó tiếp cận vốn, chi phí sản xuất ở Việt Nam cũng chưa đạt mức cạnh tranh cần thiết Bên cạnh đó hầu hết các doanh nghiệp còn hiểu biết hạn chế về thị trường nước ngoài và các vấn đề thương mại và phi thương mại quốc tế, bản thân các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá nói chung và hàng dệt may nói riêng cũng chưa được thuận lợi hoá đáng kể Ngoài ra trong một chừng mực nhất định, chính sách thương mại, đặc biệt là thuế quan của Việt Nam còn hay thay đổi và khó tiên liệu trước Các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt nam còn gặp vấn đề từ quy chế kinh tế phi thị trường mà các thị trường xuất khẩu chính áp đặt đối với Việt nam… Cho đến nay, TPP có thể xem là một bước ngoặt đối với ngành dệt may Việt Nam thì
cơ hội rất lớn kèm theo là không ít khó khăn Nghiên cứu này có ý nghĩa tham khảo dành cho các doanh nghiệp trong ngành dệt may, cũng như cho các đối tượng thuộc Chính phủ, Hiệp hội Dệt May Việt Nam, và các cơ quan nghiên cứu khác
Thứ ba, nhóm các công trình nghiên cứu về xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Mỹ
Đề tài về hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ đã được đề cập khá nhiều trong các bài viết, công trình nghiên cứu hay các luận văn, luận án như “Làm thế nào để xuất khẩu thành công hàng dệt may vào thị trường
Trang 17Mỹ, Hiệp Hội dệt may Việt Nam, Hà Nội” - Lê Quốc Ân (8/2005); “Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ” – Nguyễn Hữu Khải (2006), Tạp chí Kinh tế đối ngoại, Hà Nội; “Thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ và thế giới: viễn cảnh và thử thách” – Đỗ Tuyết Khanh (2008), số 2 tháng 7/2008 Tạp chí nghiên cứu và thảo luận – Thời đại mới v.v… Các đề tài chủ yếu nghiên cứu về hệ thống thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ hay chỉ nghiên cứu các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng dệt may và giải pháp cho Việt Nam
Năm 2005, tác giả Lê Thanh Tùng bảo vệ luận án tiến sĩ kinh tế về vấn đề
“Vận dụng marketing quốc tế trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Hoa Kỳ” đề cập đến những khó khăn, thách thức cũng như thuận lợi của hoạt động xuất khẩu dệt may sang Hoa Kỳ, từ đó vận dụng marketing quốc tế để tận dụng tối đa điểm mạnh cũng như hạn chế điểm yếu trong chiến lược xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Hoa Kỳ
Nhìn chung các công trình nêu trên chủ yếu nghiên cứu về thị trường dệt may Hoa Kỳ, hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam hay tác động của các Hiệp định và Tổ chức thế giới tới xuất khẩu hàng dệt may nói chung chứ chưa có nghiên cứu chuyên sâu với phân tích thực sự thấu đáo và đầy đủ một cách có hệ thống cơ sở khoa học về các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ, xác định yêu cầu và tiềm năng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ Các công trình nghiên cứu chưa đáp ứng yêu cầu tìm hiểu cụ thể về thực trạng xuất khẩu, các nhân tố tác động đến xuất khẩu, các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ để các nhà hoạch định chính sách cũng như các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam có những chiến lược phù hợp có hiệu quả, lường trước được những nhân tố tác động tiêu cực để tránh những rủi ro khi xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
Chính vì vậy, trên cơ sở xem xét một cách khái quát tổng hợp hơn, đề tài
“Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Hoa Kỳ: các nhân tố ảnh hưởng và
Trang 18một số hàm ý chính sách” có ý nghĩa rất thiết thực cả về lý luận và thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu bức xúc hiện nay của ngành dệt may thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, từ đó góp phần đưa ra những chính sách kinh tế phù hợp đẩy nhanh tốc độ phát triển của ngành dệt may Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
1.2 Cơ sở lý luận, thực tiễn về hoạt động xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ
1.2.1 Khái niệm xuất khẩu và các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa
1.2.1.1 Khái niệm xuất khẩu hàng hóa
Khái niệm xuất khẩu được đề cập đến cùng với khái niệm nhập khẩu là thành hai nhánh của hoạt động thương mại quốc tế Thêm nữa, thương mại quốc tế lại được định nghĩa là việc mua, bán hàng hoá và dịch vụ qua biên giới quốc gia, từ đó, xuất khẩu là việc bán hàng hoá, dịch vụ cho nước ngoài, và nhập khẩu là việc mua hàng hoá, dịch vụ của nước ngoài
Như vậy xét về phạm vi thì khác với hoạt động mua bán diễn ra trên thị trường nội địa, hoạt động xuất khẩu vượt ra biên giới quốc gia và diễn ra phức tạp hơn nhiều bởi thị trường giờ đây vô cùng rộng lớn và khó kiểm soát, việc thanh toán phải tiến hành bằng ngoại tệ (đối với ít nhất một bên tham gia) và các hoạt động này phải tuân theo những tập quán và thông lệ quốc gia cũng như luật pháp của từng địa phương
Như vậy, xét đầy đủ hơn thì “hoạt động xuất khẩu nên được hiểu là việc bán hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài nhằm mục đích thu ngoại tệ, tăng tích lũy cho ngân sách nhà nước, phát triển sản xuất kinh doanh, khai thác ưu thế tiềm năng đất
nước và nâng cao đời sống nhân dân”
1.2.1.2 Khái niệm các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa
Hoạt động xuất khẩu được diễn ra trong nhiều lĩnh vực, từ xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng đến hàng hoá sản xuất, từ máy móc thiết bị cho đến các công nghệ kỹ thuật cao, từ hàng hoá hữu hình cho đến hàng hoá vô hình Hoạt động này diễn ra trong phạm vi rất rộng cả về không gian và thời gian Nếu xem xét dưới góc độ các hình thức kinh doanh quốc tế thì xuất khẩu là hình thức cơ bản đầu tiên mà các doanh nghiệp áp dụng khi bước vào lĩnh vực kinh doanh quốc tế Những hoạt động xuất khẩu này luôn bị chi phối bởi các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
Trang 19hội Đây là những nhân tố xuất phát từ khác biệt về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý,
về dân số, chính trị - tôn giáo, về thu nhập, về chính sách kinh tế của từng quốc gia Những nhân tố này có tác động, ảnh hưởng đến cầu và cung hàng hóa xuất khẩu Do
đó, việc xem xét những nhân tố tác động đến hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng là rất cần thiết, bởi vì những nhân tố này thường xuyên làm ảnh hưởng đến các kết quả cũng như tiến triển trong tương lai của hoạt động xuất khẩu của cả một quốc gia nói chung cũng như từng doanh nghiệp nói
riêng Vậy các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia chính là những nhân tố bên trong và bên ngoài (bao gồm các nhân tố về tự nhiên, xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, luật pháp có tác dụng thúc đẩy hoặc gây trở ngại đến hoạt động xuất khẩu của một quốc gia
1.2.2 Các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia
1.2.2.1 Các nhân tố từ phía nước xuất khẩu
a Mức độ mở cửa hội nhập của nước xuất khẩu và quan hệ kinh tế, chính trị, ngoại giao với nước nhập khẩu
Trong thời đại xu thế hội nhập quốc tế ngày nay, bất cứ quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển phải tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đây là xu hướng tất yếu khách quan, do đó mỗi quốc gia cần phải xác định thế mạnh của mình, tìm ra khâu đột phá, tận dụng thời cơ để phát huy lợi thế các nguồn lực do toàn cầu hóa mang lại; đồng thời nhận thức rõ điểm yếu để hạn chế những tác động tiêu cực do toàn cầu hóa tạo ra Như vậy, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế có tác động mạnh đến việc hình thành cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại
Trước hết, cần khẳng định rằng, hội nhập là một quá trình tất yếu, mà trọng tâm là phải mở cửa nền kinh tế để tạo điều kiện tốt nhất phát huy nguồn lực trong nước và cơ hội từ bên ngoài Hầu hết những nước đang phát triển thực hiện chính sách mở rộng cửa nền kinh tế với thế giới bên ngoài đều khai thác được tốt hơn những lợi thế của mình để phát triển nền kinh tế
Hội nhập kinh tế là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước với kinh
tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo
Trang 20những hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, tiểu khu vực/vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu Mức độ mở cửa hội nhập của nền kinh tế là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường cũng là động lực hàng đầu thúc đẩy mức độ mở cửa hội nhập của nền kinh tế Mức độ mở cửa hội nhập của nền kinh tế diễn ra dưới nhiều hình thức, cấp độ và trên nhiều lĩnh vực khác nhau, theo tiến trình từ thấp đến cao và đã trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia
Tiến trình hội nhập kinh tế được chia thành năm mô hình cơ bản từ thấp đến cao như sau:
- Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA): Các nước thành viên dành cho nhau các ưu đãi thương mại trên cơ sở cắt giảm thuế quan, nhưng còn hạn chế về phạm vi (số lượng các mặt hàng đưa vào diện cắt giảm thuế quan) và mức độ cắt giảm
- Khu vực mậu dịch tự do (FTA): Các thành viên phải thực hiện việc cắt giảm
và loại bỏ các hàng rào thuế quan và các hạn chế về định lượng (có thể bao gồm cả việc giảm và bỏ một số hàng rào phi thuế quan) trong thương mại hàng hóa nội khối, nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan độc lập đối với các nước ngoài khối
- Liên minh thuế quan (CU): Các thành viên ngoài việc cắt giảm và loại bỏ thuế quan trong thương mại nội khối còn thống nhất thực hiện chính sách thuế quan chung đối với các nước bên ngoài khối
- Thị trường chung (hay thị trường duy nhất): Ngoài việc loại bỏ thuế quan
và hàng rào phi quan thuế trong thương mại nội khối và có chính sách thuế quan chung đối với ngoài khối, các thành viên còn phải xóa bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển của các yếu tố sản xuất khác (vốn, lao động…) để tạo thành một nền sản xuất chung của cả khối
- Liên minh kinh tế-tiền tệ: Là mô hình hội nhập kinh tế ở giai đoạn cao nhất dựa trên cơ sở một thị trường chung/duy nhất cộng thêm với việc thực hiện chính sách kinh tế và tiền tệ chung (một đồng tiền chung, ngân hàng trung ương thống nhất của khối
Trang 21Bên cạnh đó, quan hệ chính trị ngoại giao giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu cũng là nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa, bởi nếu quan hệ kinh tế, chính trị ngoại giao tốt đẹp, sẽ là tiền đề thúc đẩy quan hệ thương mại giữa các bên với nhau
Tóm lại, trong bối cảnh toàn cầu hóa, chính sách mở cửa, và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế của một nước sẽ mở đường cho việc ký kết các FTA Và điều này sẽ có tác động tích cực đến việc mở rộng thị trường xuất khẩu Đồng thời, tác động lan tỏa của nó lại kích thích đầu tư mở rộng sản xuất, tăng lượng hàng cung cứng cho xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu của thị trường
b Chính sách kinh tế đối ngoại
Các chính sách kinh tế đối ngoại của nước xuất khẩu có vai trò quản lý và điều tiết các hoạt động kinh tế đối ngoại của nước xuất khẩu, có tác động khuyến khích hoặc kìm hãm hoạt động xuất khẩu của một quốc gia Những chính sách này
có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến xuất khẩu tùy thuộc vào công cụ
mà các nước sử dụng như: các chính sách liên quan đến điều chỉnh các rào cản thương mại, chính sách tỷ giá, và các chính sách khác Thông qua việc đề ra các chính sách và quy định về xuất khẩu, nhà nước thiết lập môi trường pháp lý các hoạt động của các doanh nghiệp nên nó có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu Đây là những vấn đề quan trọng mà các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu buộc phải nắm vững và tuân theo một cách vô điều kiện Vì nó thể hiện ý chí của Đảng lãnh đạo mỗi nước, sự thống nhất chung của quốc tế và bảo vệ lợi ích chung của các tầng lớp trong xã hội, lợi ích của các nước trên thương trường quốc tế Hoạt động xuất khẩu được tiến hành giữa các chủ thể các quốc gia khác nhau Bởi vậy, nó chịu
sự tác động của các chính sách, chế độ, luật pháp của các quốc gia đó Một số chính sách kinh tế đối ngoại của nhà nước có ảnh hưởng đến xuất khẩu gồm:
Thứ nhất, Chính sách thương mại quốc tế gồm các công cụ chính là: thuế quan, phi thuế quan và trợ cấp xuất khẩu
Về công thuế quan liên quan đến hoạt động xuất khẩu thì có thuế xuất khẩu,
là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất khẩu Thuế xuất khẩu là loại thế
Trang 22đánh vào những mặt hàng mà Nhà nước muốn hạn chế xuất khẩu Nhằm bình ổn giá một số mặt hàng trong nước, hoặc có thể nhằm bảo vệ nguồn cung trong nước của một số mặt hàng, hoặc có thể nhằm hạn chế xuất khẩu để giảm xung đột thương mại với nước khác, hoặc có thể nhằm nâng giá mặt hàng nào đó trên thị trường quốc tế (đối với nước chiếm tỷ trọng chi phối trong sản xuất mặt hàng đó) việc hạn chế xuất khẩu có thể được Nhà nước cân nhắc Trong các biện pháp hạn chế xuất khẩu, thuế xuất khẩu là biện pháp tương đối dễ áp dụng Thuế quan xuất khẩu làm cho giá cả hàng hoá quốc tế cao hơn giá cả trong nước Tuy nhiên tác động của xuất khẩu nhiều khi lại đưa đến bất lợi cho khả năng xuất khẩu Do quy mô xuất khẩu của một nước thường là nhỏ so với dung lượng của thị trường thế giới cho nên thuế quan xuất khẩu sẽ làm hạ thấp giá cả trong nước của hàng hoá có thể xuất khẩu xuống so với mức giá quốc tế, điều đó sẽ làm cho dung lượng hàng xuất khẩu giảm
đi và sản xuất trong nước sẽ thay đổi bất lợi cho mặt hàng này
Công cụ phi thuế quan bao gồm: một là hạn ngạch xuất khẩu là quy định của một nước về số lượng cao nhất của một mặt hàng hay một nhóm hàng được phép xuất sang một thị trường trong một thời gian nhất định thông qua hình thức cấp giấy phép Hạn ngạch xuất khẩu làm giảm nguồn cung hàng xuất khẩu, giảm thị trường xuất khẩu và có tác động tiêu cực đến xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia Hai là, những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật bao gồm quy định vệ sinh, đo lường, an toàn lao động, bao bì đóng gói, đặc biệt là quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh phòng dịch đối với thực vật tươi sống, tiêu chuẩn và bảo vệ môi trường sinh thái và các máy móc, dây truyền thiết bị công nghệ
Thứ hai, chính sách tỷ giá hối đoái
Chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng thực hiện chiến lược hướng ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh tỷ lệ giữa giá trị của hai đồng tiền của hai nước với nhau Tỷ giá hối đoái tăng hay giảm sẽ làm thay đổi giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu, ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Trong trường hợp tỷ giá hối đoái giảm xuống có nghĩa
là đồng tiền của nước xuất khẩu có giá trị thấp hơn so với đồng tiền ngoại tệ sử
Trang 23dụng trong hợp đồng xuất khẩu, nếu như không có các yếu tố khác ảnh hưởng thì sẽ
có lợi cho người xuất khẩu, điều này thúc đẩy xuất khẩu, làm tăng nguồn cung hàng xuất khẩu Ngược lại, trong trường hợp tỷ giá hối đoái tăng có nghĩa là đồng tiền của nước xuất khẩu tăng lên so với đồng tiền ngoại tệ được sử dụng trong hợp đồng xuất khẩu, nếu như không có các yếu tố khác ảnh hưởng thì sẽ bất lợi cho người xuất khẩu vì hàng xuất khẩu trở nên đắt, khó bán ra nước ngoài nên sẽ giảm nguồn cung hàng xuất khẩu, có lợi cho người nhập khẩu vì hàng nhập khẩu trở nên
rẻ hơn so với giá cả chung trong nước
Thứ ba, chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng trong chính sách kinh tế đối ngoại của một quốc gia Vốn FDI ngày càng đóng vai trò to lớn, trở thành động lực góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của kinh tế đất nước Việc củng cố, tăng cường và nâng cao hiệu quả của dòng vốn FDI là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế, nâng cao năng suất và chất lượng, đáp ứng nhu cầu trong nước và phục vụ cho xuất khẩu ra thị trường thế giới Thu hút vốn FDI giúp chuyển giao công nghệ, đầu tư công nghệ phục vụ cho xuất khẩu cũng góp phần tăng nguồn cung hàng xuất khẩu, mở rộng thị trường xuất khẩu ủa một quốc gia Thu hút vốn FDI có tác động tích cực đến xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia
c Trình độ phát triển kinh tế của nước xuất khẩu
Sự tăng trưởng sản xuất trong nước
Khi tổng giá trị hàng hóa sản xuất trong một nước tăng lên sẽ đồng nghĩa với lượng cung hàng của nước đó tăng lên và điều này sẽ làm tăng nguồn cung hàng xuất khẩu, cũng như sẽ làm GDP của nước xuất khẩu tăng trưởng Đối với những nền kinh tế lấy xuất khẩu là động lực thì xuất khẩu và GDP có mối liên hệ chặt chẽ (bởi các ngành sản xuất chính trong nền kinh tế phục vụ cho mục đích xuất khẩu nên khi giá trị sản xuất gia tăng sẽ đồng nghĩa với cung cho xuất khẩu tăng mạnh từ
đó thúc đẩy xuất khẩu tăng cao) Vì vậy, sự tăng trưởng sản xuất trong nước có tác động tích cực đến xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia
Nhân tố nguồn nhân lực
Trang 24Nguồn nhân lực là tổng thể các cá nhân, những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về vật chất và tinh thần được huy động vào quá trình sản xuất Nhân tố nguồn nhân lực của một quốc gia nói chung và của một doanh nghiệp nói riêng ngoài số lượng còn thể hiện ở chất lượng đội ngũ công nhân và trình độ quản lý của doanh nghiệp Một quốc gia có nguồn nhân lực dồi dào sẽ tăng khả năng sản xuất và tăng nguồn cung xuất khẩu, giá nhân công rẻ
là điều kiện thuận lợi để xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều lao động như hàng thủ công mỹ nghệ, may mặc, nông nghiệp, lắp ráp linh kiện điện tử, điện thoại di động Một quốc gia có nguồn nhân lực dồi dào là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới khả năng xuất khẩu của một quốc gia, là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp trong nước xúc tiến xuất khẩu các mặt hàng có sử dụng sức lao động và tăng nguồn cung hàng xuất khẩu
Trình độ khoa học công nghệ của nước xuất khẩu
Ngày nay, khoa học công nghệ tác động đến tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội và mang lại nhiều lợi ích, trong xuất khẩu cũng mang lại hiệu quả cao Việc thực hiện các chiến lược và chính sách mở cửa kinh tế và công nghiệp hóa không chỉ giúp cho nước xuất khẩu xây dựng được cơ sở công nghiệp của riêng họ, mà còn giúp họ tiếp thu được các công nghệ du nhập từ bên ngoài vào, nâng cấp chúng từ những ngành công nghiệp có hàm lượng lao động cao với trình độ công nghệ trung bình và thấp của thế giới trở thành những ngành có hàm lượng vốn lớn và công nghệ cao
Thứ nhất, sự phát triển khoa học công nghệ mà các doanh nghiệp ở nước xuất
khẩu nâng cao năng suất lao động, cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, tạo
ra các mặt hàng có chất lượng cao Điều này giúp các doanh nghiệp nước xuất khẩu sẽ tăng được năng suất lao động, từ đó tăng nguồn cung hàng xuất khẩu Đồng thời, tiến
bộ KHKT áp dụng vào sản xuất các sản phẩm xuất khẩu cũng góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng trên thị trường thế giới Điều này cũng là một nhân tố góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu
Thứ hai, nước xuất khẩu, đặc biệt là nước đang phát triển được tiếp xúc với
các thành tựu công nghệ tiên tiến trên thế giới, thay thế, đổi mới công nghệ trong
Trang 25doanh nghiệp sản xuất, thu hút vốn đầu từ trực tiếp từ nước ngoài để tận dụng được nguồn vốn, trình độ khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu, đặc biệt đối với các công nghệ sản phẩm điện tử, điện thoại di động, máy vi tính, dệt may, giầy dép công nghệ sản xuất của doanh nghiệp có ảnh hưởng quan trọng đến năng suất, chất lượng của sản phẩm và khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường Điều này cũng giúp tăng nguồn cung hàng xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu của một quốc gia
d Nhân tố vị trí địa lý và điều kiệu tự nhiên của nước xuất khẩu
Đối với nước xuất khẩu, nhân tố khí hậu và điều kiện tự nhiên sẽ tạo ra yếu
tố cung các sản phẩm xuất khẩu
Điều kiện tự nhiên là tổng thể đặc điểm tự nhiên của một quốc gia bao gồm:
vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, sông ngòi, tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản của một quốc gia
Vị trí địa lý ở đây là khoảng cách địa lý giữa quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu ảnh hướng tới cước phí vận chuyển, rủi ro trong qua trình vận chuyển… Khoảng cách càng gần thì cước phí càng nhỏ, rủi ro đối với hàng hóa trong vận chuyển càng giảm, như thế càng góp phần thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu Đó là lý do tại sao các nước hay chú trọng đến giao lưu thương mại đối với các nước có cùng đường biên giới hay các nước trong cùng khu vực Khoảng cách có ảnh hưởng trực tiếp tới thời gian cũng như phương thức vận chuyển hàng hóa Vị trí hàng hóa xa sẽ giảm nguồn cung hàng xuất khẩu, giảm khả năng mở rộng thị trường xuất khẩu Đối với phương thức xuất khẩu, do khoảng cách xa, để hạn chế rủi ro trong quá trình vận chuyển, nước xuất khẩu
sẽ xuất khẩu qua trung gian hoặc xuất khẩu tại cảng đến
Khí hậu là trạng thái khí quyển ở nơi nào đó, được đặc trưng bởi các trị số trung bình nhiều năm về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, lượng bốc thoát hơi nước, mây, gió Như vậy, khí hậu phản ánh giá trị trung bình nhiều năm của thời tiết và
nó thường có tính chất ổn định, ít thay đổi
Khí hậu là khía cạnh quan trọng trong môi trường bên ngoài vì so với các yếu tố khác nó giới hạn hơn việc con người làm gì về cả địa hình lẫn kinh tế Nơi
Trang 26thời tiết khắc nghiệt thì có ít người định cư nhưng nơi nào thời tiết ôn hòa hơn thì có nhiều cụm dân hơn Hàng thế kỷ nay, người ta thường dựa vào sự khác biệt khí hậu
để lý giải cho sự phát triển về con người và sự phát triển về kinh tế Những quốc gia
có điều kiện khí hậu ôn hòa thì có điều kiện phát triển nông nghiệp hơn so với những quốc gia có khí hậu khắc nghiệt Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới cho thấy nhiều yếu tố gây ra tình trạng kém phát triển của hầu hết các nước nhiệt đới là khí hậu nhiệt đới Chẳng hạn, thời tiết nóng quanh năm suốt tháng và thiếu nhiệt độ mùa đông để ngăn cản sự tái sinh và phát triển của hạt giống, côn trùng, vi khuẩn, chim chóc và ký sinh làm mùa màng bị phá hoại
Sự khác biệt về điều kiện khí hậu giữa các thị trường của một công ty có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến sản xuất hàng hóa Ví dụ như động cơ đốt trong dành cho những vùng khí hậu ôn hòa cần phải có thêm bộ phận làm nguội máy và
bộ phận châm nhớt đặc biệt để chịu đựng được nhiệt độ cao của vùng nhiệt đới Hàng hóa cần chống ẩm ần bao bì đóng gói đặc biệt đắt tiền hơn, máy móc hoạt động trong điều kiện bụi bặm cần bộ phận chống bụi đặc biệt Khi hai thái cực khí hậu tồn tại trong cùng một thị trường và sản phẩm lại nhạy cảm với nhiệt độ hoặc
độ ẩm, công ty có thể phải sản xuất và lưu kho hai thành phần khác nhau để thỏa mãn toàn thị trường
Điều kiện tự nhiên cũng tác động đến hoạt động xuất khẩu, đặc biệt với những hoạt động xuất khẩu sử dụng tài nguyên thiên nhiên làm nguyên liệu chính như hàng thủ công mỹ nghệ, ví dụ: xuất khẩu đồ gốm chịu ảnh hưởng của thời tiết, mưa ảnh hưởng đến nung gốm và vận chuyển gốm
Nếu một quốc gia điều kiệu tự nhiên thuận lợi sẽ có tác động tích cực đến việc tổ chức sản xuất các mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng nông sản, thủy hải sản
1.2.2.2 Các nhân tố từ phía nước nhập khẩu
a Nhân tố về chính trị - tôn giáo
Môi trường chính trị và pháp luật của một quốc gia là các luật lệ, cơ quan chính quyền và những nhóm áp lực đã gây ảnh hưởng và ràng buộc tới mọi tổ chức
Trang 27và cá nhân trong xã hội Các quyết định kinh doanh chịu tác động mạnh mẽ trong
mội trường chính trị và pháp luật
Sự ổn định chính trị là tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh, thay đổi
về chính trị có thể gây ảnh hưởng có lợi cho nhóm doanh nghiệp này hoặc kìm hãm
sự phát triển của doanh nghiệp khác Hệ thống pháp luật hoàn thiện và sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật sẽ tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp của nước xuất khẩu, tránh tình trạng gian lận,buôn lậu
Mức độ ổn định về chính trị và luật pháp của nước nhập khẩu cho phép doanh nghiệp của nước xuất khẩu có thể đánh giá được mức độ rủi ro, của môi trường kinh doanh và ảnh hưởng của của nó đến doanh nghiệp như thế nào, vì vậy nghiên cứu các yếu tố chính trị và luật pháp là yêu cầu không thể thiếu được khi doanh nghiệp của nước xuất khẩu tham gia vào thị trường, đây là nhân tố quan trọng giúp doanh nghiệp xuất khẩu tăng nguồn cung hàng hóa xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu
Tôn giáo là một thành tố quan trọng của nền văn hóa, ảnh hưởng đến nhiều thái độ và đức tin trong cách ứng xử của con người Nó phản ánh tín ngưỡng của con người vào một đấng siêu nhiên Tín ngưỡng có tác động mạnh mẽ đến các quan niệm sống của con người về các giá trị cá nhân và xã hội, qua đó ảnh hưởng đến thái độ đối với các nhà kinh doanh, tập quá tiêu dùng và thuần phong mỹ tục
b Chính sách thương mại quốc tế của nước nhập khẩu
Chính sách thương mại quốc tế của nước nhập khẩu là các quan điểm, nguyên tắc của nước nhập khẩu dùng để điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế của nước đó trong một thời gian nhất định nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - chính trị - xã hội của nước đó Chính sách thương mại quốc tế là một bộ phận trong chính sách đối ngoại của một quốc gia Để thực hiện mục tiêu của chính sách thương mại quốc tế, nước nhập khẩu sử dụng hai công cụ chủ yếu để hạn chế nhập khẩu là hàng rào thuế quan và phi thuế quan Điều này sẽ giảm nguồn cung hàng xuất khẩu, hạn chế khả năng mở rộng thị trường xuất khẩu của nước xuất khẩu
Đối với hàng rào thuế quan, nước nhập khẩu sử dụng thuế quan nhập khẩu
Trang 28Đây là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa nhập khẩu Thuế nhập khẩu có tác dụng tạo điều kiện cho các nhà sản xuất trong nước mở rộng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm do hàng nhập khẩu bị giảm bớt, tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp còn non trẻ và thuế quan nhập khẩu có thể điều chỉnh hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào thị trường trong nước Tuy nhiên, Thuế quan nhập khẩu sẽ làm giá cả hàng hóa nhập khẩu cao dẫn đến giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu đối với hàng hóa sản xuất trong nước Nếu nước nhập khẩu không có điều kiện sản xuất các hàng hóa thay thế nhập khẩu thì thuế nhập khẩu sẽ làm người tiêu dùng trong nước phải chịu gánh nặng từ mức thuế này Điều đó đưa đến tình trạng giảm mức cầu của người tiêu đùng đối với hàng hóa nhập khẩu và hạn chế mức nhập khẩu sẽ làm thiệt hại đến lợi ích của người tiêu dùng
Đối với hàng rào phi thuế quan, Các nước nhập khẩu sử dụng hàng rào này
để ngăn chặn hoặc gây trở ngại để làm giảm lượng hàng hóa nhập khẩu nhưng không phải là đánh thuế nhập khẩu Hàng rào phi thuế quan có 2 nhóm chính là: (i) Hàng rào hành chính; (ii) Rào cản kỹ thuật
Thứ nhất, hàng rào hành chính là các quy định có tính chất mệnh lệnh hành
chính nhà nước nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu Hàng rào hành chính bao gồm các quy định pháp luật về cấm nhập, cấm xuất, giấy phép, hạn ngạch (quota), hạn chế xuất khẩu tự nguyện, tỷ lệ nội địa hóa bắt buộc Cụ thể:
- Cấm nhập khẩu là những quy định pháp lý mà một quốc gia không cho phép nhập khẩu những hàng hóa nhất định đối với những hàng hóa có ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến sức khỏe con người, an ninh, tôn giáo và môi trường
- Giấy phép nhập khẩu là một trong những cách thức tạo ra rào cản đối với tự
do hóa thương mại bằng cách yêu cầu nhà nhập khẩu phải đệ đơn để được cấp giấy phép nhập khẩu cho những loại hàng hóa nhất định Trong thực tiễn, các thủ tục hành chính này đã tạo ra những rào cản không nhỏ đối với hàng hóa nhập khẩu
- Hạn ngạch (quota) là quy định lượng tối đa theo giá trị hoặc theo khối lượng đối với hàng hóa nhập khẩu trong một thời kỳ nhất định
- Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là thỏa thuận giữa nước xuất khẩu và nước
Trang 29nhập khẩu về giới hạn tối đa theo giá trị hoặc theo khối lượng của một mặt hàng nào
đó xuất khẩu từ một nước vào nước kia Cách thức này gần giống như hạn ngạch nhưng khác ở chỗ, trong khi hạn ngạch là quy định đơn phương của một quốc gia thì hạn chế xuất khẩu tự nguyện là sản phẩm của một hiệp định song phương
- Tỷ lệ nội địa hóa bắt buộc là một cách thức ngăn cản hàng hóa nhập khẩu, theo đó một quốc gia quy định một mặt hàng nào đó phải đạt một tỷ lệ nội địa hóa mới được tiêu thụ tại quốc gia đó
Thứ hai, rào cản kỹ thuật bản thân nó chỉ là những quy chuẩn kỹ thuật do
một quốc gia quy định đối với hàng hóa Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp nó lại được sử dụng như là một cách thức để cản trở hàng hóa nhập khẩu vào thị trường nội địa Bởi vậy, những quy chuẩn kỹ thuật này được gọi là rào cản kỹ thuật
c Nhân tố văn hóa xã hội
Văn hóa xã hội là tổng thể của đức tin, nguyên tắc, kỹ thuật, các truyền thống lâu đời của một quốc gia Nói cách khác, văn hóa bao gồm các mẫu cư xử rất phổ biến đối với các các thành viên của một xã hội nào đó – kiểu sống duy nhất của một nhóm người riêng biệt Hầu hết các nhà nhân chủng học cũng đồng ý rằng văn hóa là cái học được chứ không bẩm sinh Văn hóa được san sẻ và văn hóa quyết định ranh giới giữa các nhóm người khác nhau vì xã hội bao gồm con người và văn
hóa và kết hợp lại với nhau thành 1 từ: văn hóa xã hội
Phong tục tập quán ở nước nhập khẩu có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động kinh doanh của các nhà xuất khẩu Các nhà xuất khẩu không muốn xuất khẩu hàng hóa vào một nơi mà ở đó có quá nhiều tập tục khác lạ như ăn kiêng, nhiều lễ hội, tôn giáo và các cấm đoán trong giao tiếp với người nước ngoài Một trong những khó khăn nhất cho các nhà đầu tư khi kinh doanh ở nước ngoài là sự bất đồng về ngôn ngữ Sự khác biệt về ngôn ngữ không chỉ làm phát sinh thêm chi phí như phải học ngoại ngữ, phải thuê phiên dịch mà còn có thể gây ra những hiểu nhầm nhau trong kinh doanh va khó khăn trong sinh hoạt của các nhà đầu tư Trái lại, nếu nước nhập khẩu có nhiều phong tục tập quán gần với các nhà đầu tư và có cùng ngôn ngữ thì không chỉ thuận lợi cho họ trong công việc kinh doanh mà còn giúp họ dễ hòa nhập với cuộc sống của nước sở tại
Trang 30Đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán có ảnh hưởng rất lớn đến thị hiếu của người tiêu dùng như văn hóa mặc, văn hóa ẩm thực, văn hóa nghe nhìn Mỗi nền văn hóa có đặc trưng riêng về thị hiếu thẩm mỹ Nó có cách nhìn riêng về cái đẹp trong mầu sắc, hình khối, âm nhạc Các đặc điểm này ảnh hưởng dến thiết kế nhãn hiệu, quảng cáo và kiểu dáng của sản phẩm Người ta lớn lên trong một xã hội đặc thù nào đó Đó là môi trường hình thành các niềm tin cơ bản, các giá trị và những tiêu chuẩn của họ, là nơi xác định mối quan hệ giữa họ với người khác Những đặc tính văn hóa sau đây có thể ảnh hưởng đến quyết định tiếp thị hàng hóa Những văn hóa này sẽ chi phối thị hiếu của người tiêu dùng ở quốc gia nhập khẩu Các yếu tố này có thể là nhân tố cản trở, kìm hãm hoặc khuyến khích, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia
d Nhân tố điều kiệu tự nhiên – khí hậu của nước nhập khẩu
Nhân tố điều kiện tự nhiên - Khí hậu là yếu tố thời tiết tạo ra, là nhân tố khách quan mà con người không thể tạo ra được Nếu nước nhập khẩu có điều kiện
tự nhiên và khí hậu khắc nghiệt sẽ khó nuôi trồng các sản phẩm nông nghiệp và vật nuôi và có ít người định cư nhưng nơi nào thời tiết ôn hòa hơn thì thuận lợi cho nuôi trồng các sản phẩm nông nghiệp và có nhiều cụm dân cư hơn Ví dụ ở sa mạc rất ít người ở hoặc không có người ở do thời tiết khắc nghiệt Vì thế những nước nhập khẩu có khí hậu khắc nghiệt thì sẽ không phát triển sản xuất nông nghiệp và sẽ phải nhập khẩu lương thực từ nước ngoài Đây là nhân tố tác động đến cầu các sản phẩm nông nghiệp, lương thực ở các quốc gia nhập khẩu
e Nhân tố cạnh tranh
Cùng với quá trình tăng trưởng và phát triển của mỗi nền kinh tế thì quan hệ thương mại cũng phát triển, theo đó diễn ra sự mở rộng thị trường trao đổi hàng hóa Trên thị trường nước nhập khẩu sẽ có xu hướng mở cửa thị trường trong nước, kéo theo
đó là hàng loạt các nhà xuất khẩu cung ứng các sản phẩm cùng loại sẽ dẫn đến sự cạnh tranh của các nước xuất khẩu sang thị trường nước nhập khẩu, tạo cơ hội để người tiêu dùng trong nước có thể lựa chọn được nhiều sản phẩm với nhiều hình thức khác nhau từ nhiều nhà xuất khẩu khác nhau ở các nước khác nhau với chất lượng tốt và giá rẻ
Trang 31Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp của nước xuất khẩu tại thị trường nước nhập khẩu về một loại hàng hóa nào đó nhằm tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, khu vực thị trường
có lợi nhất Mục đích cuối cùng của các nhà xuất khẩu trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích, là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi Ngày nay khi thị trường hàng hóa càng phát triển thì sự cạnh tranh diễn ra càng gay gắt Nhà xuất khẩu khi tham gia vào thị trường nước ngoài bao giờ cũng phải chịu sức ép cạnh tranh từ các đối thủ cạnh tranh ở các quốc gia khác cùng phân phối sản phẩm cùng loại
Cạnh tranh là một hiện tượng tự nhiên, là quy luật phổ biến của nền kinh tế thị trường Bởi thế bất kỳ quốc gia nào, một doanh nghiệp nào khi tham gia vào thị trường quốc tế đều phải chấp nhận cạnh tranh và phải tuân thủ theo các quy luật của cạnh tranh Trong thương mại nói chung, thương mại quốc tế nói riêng, cạnh tranh giữ vai trò làm cho giá cả hàng hóa giảm xuống, chất lượng hàng hóa, dịch vụ ngày càng nâng cao Chính vì vậy, cạnh tranh là một cuộc chạy đua không có đích của các doanh nghiệp nước xuất khẩu để đưa ra các biện pháp kinh tế, tích cực, sáng tạo nhằm tồn tại và phát triển trên thương trường nếu họ thích nghi được các điều kiện của thị trường và đào thải các doanh nghiệp không có khả năng thích nghi những đòi hỏi của thị trường
Khi trên thị trường nước nhập khẩu có nhiều nhà xuất khẩu cung cấp các sản phẩm cùng loại thì sẽ gia tăng sức cạnh tranh đối với sản phẩm Khi đó doanh nghiệp xuất khẩu phải tăng thương hiệu, uy tín hàng hóa về chất lượng, mẫu
mã, dịch vụ của sản phẩm và niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm Lợi thế cạnh tranh của một quốc gia là ưu thế giữa các quốc gia về lao động, vốn và sự thiên phú tự nhiên về tài nguyên, đất đai Phải sử dụng các lợi thế này để tạo ra sản phẩm có chi phí thấp Một nước đông dân, ít vốn, lao động rẻ thì trước hết phải định hướng sản xuất các mặt hàng sử dụng nhiều lao động Vì vậy khai thác tài nguyên
Trang 32và phát triển các mặt hàng sử dụng nhiều lao động để xuất khẩu là sự lựa chọn của hầu hết các nước trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu chịu ảnh hưởng trực tiếp của thuế nhập khẩu
và quota Thuế nhập khẩu có xu thế làm giảm nhập khẩu và do đó làm tăng nguồn thu ngoại tệ của đất nước Còn quota là hình thức hạn chế về số lượng xuất nhập khẩu, có tác động một mặt làm giảm số đầu mối tham gia xuất nhập khẩu trực tiếp, mặt khác tạo cơ hội thuận lợi cho những người xin được quota xuất nhập khẩu Sự cạnh tranh gay gắt sẽ có tác động làm giảm cung nguồn hàng xuất khẩu và kìm hãm khả năng xâm nhập thị trường của quốc gia xuất khẩu
f Nhân tố thuộc về nhu cầu và khả năng thanh toán
Nhân tố này chính là sức mua của người tiêu dùng, khả năng mở rộng thị trường và khả năng thanh toán của nước nhập khẩu Quy mô về nhu cầu và khả năng thanh toán của người tiêu dùng nước nhập khẩu thể hiện thông qua quy mô dân số, tốc độ gia tăng dân số, nhu cầu hàng hóa và thu nhập bình quân đầu người của nước nhập khẩu
Nếu GDP bình quân đầu người của nước nhập khẩu lớn thì đi kèm với thu nhập của quốc gia đó cao, điều này đồng nghĩa với việc nước đó có khả năng chi trả nhiều hơn cho hàng hóa của các nước khác, điều này khiến cho cung nguồn hàng xuất khẩu vào nước đó tăng lên
Dân số nước nhập khẩu có ảnh hưởng đến khối lượng hàng hóa nhập khẩu khẩu của nước nhập khẩu Dân số đông ảnh hưởng đến lượng cầu, dân số đông thì lượng cầu hàng hóa nói chung sẽ lớn và do vậy lượng cầu hàng hóa nhập khẩu sẽ lớn Do vậy dân số của nước nhập khẩu ảnh hưởng cùng chiều với nguồn cung hàng hóa xuất khẩu của một quốc gia Dân số nước nhập khẩu lớn sẽ có tác động tích cực đến xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia
Thêm vào đó, sức mua của thị trường cũng chịu sự chi phối bởi sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế, sự phát triển của các doanh nghiệp kinh doanh thương mại quốc tế quyết định đến sự chu chuyển, lưu thông hàng hoá giữa các nền kinh tế Chính vì vậy, nó tạo thuận lợi cho công tác nhập khẩu, mở rộng thị trường
Trang 33tiêu dùng Mặt khác do chủ thể của hoạt động nhập khẩu chính là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, sự phát triển của doanh nghiệp này đồng nghĩa với việc thực hiện một cách có hiệu quả các hoạt động nhập khẩu Trong một nước mà các doanh nghiệp thương mại không được tự chủ phát triển, chịu sự can thiệp quá sâu của nhà nước thì hoạt động nhập khẩu cũng không thể phát huy thế chủ động, tinh thần sáng tạo không thể vươn mạnh ra nước ngoài từ đó tạo ra sự bí bách trong nền kinh tế Nếu quốc gia nhập khẩu có sức mua của người tiêu dùng lớn và ổn định, quy mô dân số lớn và có mức thu nhập cao, nhà nước tạo điều kiện thuận lợi trong môi trường thương mại quốc tế, khuyến khích nhập khẩu hàng hóa sẽ có tác động tích cực đến xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia
1.2.2.3 Các nhân tố quốc tế
a Xu hướng toàn cầu hóa
Toàn cầu hoá hiện nay đang diễn ra với một tốc độ cực kỳ nhanh chóng về mọi mặt, nó phản ánh xu thế khách quan, tiến lên của lịch sử nhân loại, xu thế hợp tác để cùng phát triển giữa các quốc gia dân tộc, nổi bật nhất là về mặt kinh tế và thương mại quốc tế Toàn cầu hoá bắt đầu từ toàn cầu hoá kinh tế, từ các hoạt động buôn bán, thương mại, trao đổi hàng hoá trên phạm vi toàn cầu, từ đó toàn cầu hóa quyết định xu thế phát triển của các lĩnh vực khác, như văn hoá, chính trị v.v Bất kỳ quốc gia nào tham gia vào kinh tế toàn cầu hoá này đều phải tuân theo những quy định chung, cụ thể là việc mở cửa đất nước, mở cửa thị trường, tự do cạnh tranh, loại bỏ những sự cấm đoán và can thiệp thị trường tự điều tiết theo đúng các quy luật kinh tế Ở những quốc gia nào, ở những khu vực nào có điều kiện thuận lợi, có nền kinh tế phát triển, khả năng ứng dụng cao khoa học công nghệ vào sản xuất, có luật pháp
rõ ràng, minh bạch và chính trị ổn định, có khả năng cạnh tranh bình đẳng và mang lại lợi nhuận cao thì hoạt động kinh tế quốc tế ở quốc gia đó sẽ đạt hiệu quả cao và mang lại lợi ích cho quốc gia đó nhiều hơn Điều này sẽ có tác động tích cực đến tăng nguồn hàng xuất khẩu và mở rộng thị trường hàng hóa xuất khẩu
b Tính ổn định – bất ổn định của kinh tế - chính trị thế giới
Trong xu thế toàn cầu hoá thì phụ thuộc giữa các nước ngày càng tăng, vì vậy
Trang 34mỗi sự biến động của tình hình kinh tế - chính ở nước ngoài đều có những ảnh hưởng nhất định đến hoạt động kinh tế trong nước Lĩnh vực hoạt động xuất nhập khẩu là lĩnh vực trực tiếp quan hệ với các chủ thể ở nước ngoài, chịu sự chi phối và tác động của các nhân tố ở nước ngoài nên càng bị ảnh hưởng Bất kỳ một sự thay đổi nào về chính sách xuất nhập khẩu, tình hình lạm phát, thất nghiệp hay tăng trưởng và suy thoái kinh
tế, sự ổn định hay bất ổn chính trị của các nước đều ảnh hưởng tới hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Khi thâm nhập vào thị trường nước ngoài, tính ổn định hay bất ổn về kinh tế - chính trị của mỗi quốc gia nói riêng, của các quốc gia trong khu vực và thế giới nói chung có tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp trên thị trường nước ngoài Nếu môi trường kinh tế - chính trị thế giới ổn định sẽ có tác động tích cực và tăng nguồn cung hàng và mở rộng thị trường xuất khẩu của một quốc gia và ngược lại
c Các vấn đề mang tính toàn cầu
Biến đổi khí hậu
Sự biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng Biểu hiện
rõ nhất là sự nóng lên của trái đất, là băng tan, nước biển dâng cao; là các hiện tượng thời tiết bất thường, bão lũ, sóng thần, động đất, hạn hán và giá rét kéo dài… dẫn đến thiếu lương thực, thực phẩm và xuất hiện hàng loạt dịch bệnh trên người, gia súc, gia cầm và quan trọng hơn là thay đổi hệ sinh vật và sinh thái
Các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt bất thường, hậu quả trực tiếp từ tình trạng biến đổi khí hậu, sẽ dẫn đến sụt giảm sản lượng lương thực, đe dọa an ninh lương thực toàn cầu, từ đó, gián tiếp ảnh hưởng đến những ngành công nghiệp và nông nghiệp khác
Gia tăng dân số:
Dân số thế giới tiếp tục gia tăng nhanh chóng với gần 4 tỷ người năm 1970 lên hơn 7,3 tỷ người năm 2015 Dự báo dân số sẽ tăng trên 9 tỷ người vào năm
2050, chủ yếu tăng ở khu vực cận Sahara châu Phi Để đáp ứng nhu cầu lương thực
dự tính sẽ phải chuyển đổi đất tự nhiên sang đất nông nghiệp, ước tính có khoảng 1.020% lượng đất cần chuyển đổi so với năm 2000 Ngoài ra, sử dụng hóa chất trừ
Trang 35sâu tiếp tục gia tăng Cùng với tác động của biến đổi khí hậu, gia tăng dân số cũng tạo áp lực lên tài nguyên nước, năng suất đất và cây trồng
1.2.3 Kinh nghiệm của một số nước xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ
1.2.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Với ưu thế tuyệt đối về nguồn cung cấp nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, công nghệ và lao động, Trung Quốc được đánh giá là nước sẽ khống chế thị trường dệt may thế giới trong vài năm tơí, kim ngạch xuất khẩu dệt may sang Mỹ năm
2015 đạt 44,826 tỷ USD Sự bành trướng của các ngành công nghiệp dệt may Trung Quốc không chỉ dấy lên làn sóng đòi bảo hộ mậu dịch ở phương Tây mà còn có nguy cơ “xóa sổ” ngành dệt may ở các nước nghèo
Trong thời gian qua, Trung Quốc đã tiến hành nhiều chính sách cải cách để phát triển ngành dệt may như mạnh dạn tư nhân hóa, cho phá sản các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thua lỗ… Công cuộc cải tổ và các chính sách mở cửa của Trung Quốc đã giúp các ngành công nghiệp nói chung và ngành công nghiệp dệt may nói riêng tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong hoạt động sản xuất, quản lý xuất nhập khẩu, thiết kế, marketing…
Ban đầu, Trung Quốc theo đuổi chính sách đa dạng hóa sản phẩm (từ sản phẩm cấp thấp giá rẻ tới các sản phẩm cấp cao giá cao) và đa dạng hóa thị trường Đây là biện pháp cạnh tranh bước đầu được Trung Quốc áp dụng khá hiệu quả trong để trở thành một quốc gia cung cấp hàng may mặc chủ yếu cho thị trường thế giới với những sản phẩm may mặc giả rẻ, mẫu mã thông dụng và chất lượng trung bình Tuy nhiên, thời gian gần đây, công nghiệp dệt may Trung Quốc đã chuyển từ cạnh tranh giá cả sang cạnh tranh về công nghệ bằng cách tích cực hiện đại hóa ngành công nghiệp dệt may để chuyển hướng sang thị trường các mặt hàng cao cấp và để tăng sức cạnh tranh trực tiếp với ngành công nghiệp dệt may của nước phát triển như Mỹ… Như vậy, mục tiêu của Trung Quốc là thay đổi hướng để chuyển từ một quốc gia có ngành công nghiệp may mặc “lớn” thành “mạnh”, sức cạnh tranh của hàng may mặc được cải thiện không chỉ về mặt giá cả mà cả chất lượng với một số biện pháp như điều chỉnh quy mô sản xuất, hiện đại hoá thiết bị, nâng cao giá trị gia tăng
Trang 36của sản phẩm dựa trên lợi thế về tính thông dụng của sản phẩm, thực hiện tốt công tác quản lý và dịch vụ sau bán hàng, xúc tiến sử dụng hệ thống chứng chỉ ISO 9000
và các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường ISO 1400…
Ngoài sự hỗ trợ của các tham tán thương mại ở Mỹ cũng như việc thiết lập các công ty xúc tiến thương mại, Trung Quốc còn lập chi nhánh ở Mỹ, hợp tác chặt chẽ với những công ty danh tiếng để phát triển được hệ thống kênh tiêu thụ rất lớn ở Mỹ cũng như hình thành mạng lưới marketing xuyên lục địa Thông qua đó, hàng dệt may Trung Quốc không những đã đến tận tay người tiêu dùng mà còn giữ mối liên
hệ chặt chẽ với các nhà phân phối tại Mỹ để thu nhận thông tin phản hồi, giúp các doanh nghiệp thích ứng được với sự biến đổi của thị trường Tạo lập tên tuổi và khẳng định uy tín trên thị trường quốc tế cũng như chú trọng xây dựng và phát triển thương hiệu cho sản phẩm cuả mình là con đường mà những nhà sản xuất Trung Quốc đã thực hiện thành công trong xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ
1.2.3.2 Kinh nghiệm của Ấn Độ
Theo số liệu của Ngân hàng thế giới năm 2013, Ấn Độ là quốc gia đứng thứ
6 thế giới về xuất khẩu quần áo, chiếm 3,7% thị trường xuất khẩu toàn cầu
Chính phủ Ấn Độ đã tiến hành nhiều nghiên cứu và đưa ra các biện pháp nhằm tăng cường xuất khẩu, nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp dệt may, đồng thời tìm kiếm những thị trường mới cho những sản phẩm của mình Những biện pháp chủ yếu có thể kể đến là:
i) Chính phủ Ấn Độ đã thực hiện một số biện pháp khuyến khích xuất khẩu như Chương trình tập trung vào thị trường, Chương trình tập trung vào sản phẩm và kết hợp cả hai chương trình này nhằm mở rộng thị phần hàng dệt may Ấn Độ tại nhiều quốc gia Chương trình tập trung vào thị trường không chú trọng vào chi phí vận chuyển và các chí phi khác mà tập trung vào việc lựa chọn thị trường với mục đích tăng cường khả năng cạnh tranh xuất khẩu của Ấn Độ tại các thị trường này
Bên cạnh đó, để khuyến khích xuất khẩu các sản phẩm có tiềm năng cao, bù đắp lại những hạn chế về cơ sở hạ tầng va các chi phí khác liên quan đến việc tiếp thị sản phẩm, Chính phủ Ấn Độ tiến hành thực hiện Chương trình tập trung vào sản phẩm
Trang 37ii) Chính phủ Ấn Độ thực hiện hỗ trợ về tài chính cho các hoạt động xúc tiến xuất khẩu theo Chương trình Chủ động tiếp cận thị trường (MAI)
iii) Ngân sách hỗ trợ cho các hoạt động xúc tiến xuất khẩu theo Chương trình Hỗ trợ phát triển thị trường (MDA) giao cho Hội đồng Xúc tiến Xuất khẩu Dệt may Ấn
Độ thực hiện trên cơ sở kế hoạch hành động hàng năm
iv) Chương trình hoàn thuế được áp dụng với các nguyên liệu nhập khẩu hoặc các nguyên liệu được sử dụng trong việc sản xuất hàng hóa xuất khẩu bị đánh thuế tiêu thụ Các nhà xuất khẩu Ấn Độ có quyền yêu cầu hạn chế hoặc hoàn thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế hải quan đã được nhà cung cấp của mình thanh toán
v) Chương trình xúc tiến xuất khẩu tư liệu sản xuất là một trong những sáng kiến được Chính phủ Ấn Độ đưa ra từ đầu những năm 1990 Mục đích cơ bản của chương trình này là cho phép các doanh nghiệp xuất nhập khẩu máy móc thiết bị với giá cả phải chăng, đồng thời tạo điều kiện cho họ làm ra các sản phẩm có chất lượng cao phục vụ xuất khẩu
vi) Chương trình xúc tiến xuất khẩu tư liệu sản xuất (ECGC) cũng đưa ra gói tín dụng nhằm bảo đảm với các ngân hàng của nhà xuất khẩu rằng trong trường hợp nhà xuất khẩu không thể hoàn trả khoản nợ của mình, ECGC sẽ bồi thường một phần lớn thiệt hại cho ngân hàng Điều này giúp các nhà xuất khẩu Ấn Độ sớm nhận được các khoản hỗ trợ đầy đủ từ phía ngân hàng của mình
v) Giảm thuế nhập khẩu các mặt hàng nguyên phụ liệu dệt may, nhằm khuyến khích xuất khẩu quần áo may sẵn
Vừa qua, ông Narenda Modi, Thủ tướng Ấn Độ, đã công bố chương trình
“Sản xuất tại Ấn Độ” nhằm giảm thiểu những rào cản, đơn giản hóa các thủ tục đầu
tư vào Ấn Độ… với mong muốn đưa nước này trở thành trung tâm sản xuất của thế giới Trong đó, ngành dệt may của Ấn Độ là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn được Chính phủ quan tâm và chú trọng, đặc biệt là các biện pháp nhằm tăng cường sản xuất và xuất khẩu mặt hàng quần áo may sẵn
Ngoài ra, về chiến lược xuất khẩu, thế mạnh của dệt may Ấn Độ là thiết kế, may trang phục nữ hướng vào hai mặt hàng được ưa chuộng là lụa cao cấp và quần Jeans
Trang 38Để tăng kim ngạch xuất khẩu, Chính phủ chủ trương đẩy mạnh hoạt động marketing tới hệ thống phân phối của Mỹ, cụ thể là mạng lưới bán buôn và mạng lưới bán lẻ, đồng thời xây dựng thương hiệu Đồng thời, trong chiến lược phát triển của mình, Ấn
Độ nhằm chủ lực vào thị trường dệt và quần âu may sẵn tại Mỹ nhằm cạnh tranh với hàng dệt may Trung Quốc tại thị trường Mỹ để vươn lên vị trí hàng đầu
1.2.3.3 Kinh nghiệm của Indonesia
Mặc dù mới phát triển trong ba thập kỷ gần đây nhưng đến nay dệt may đã trở thành ngành kinh tế quan trọng của Indonesia chỉ đứng sau ngành sản xuất và chế biến dầu khí Với hệ thống khoảng 1400 nhà máy thu hút trên 6 triệu lao động, Indonesia vươn lên vị trí thứ 10 về xuất khẩu dệt may trên thị trường thế giới Để khẳng định vị trí đó, Indonesia xây dựng chiến lược phát triển công nghệ dệt may, với trọng tâm hướng về xuất khẩu dệt may sang thị trường Hoa Kỳ
Chính phủ Indonesia đã phối hợp chặt chẽ với các lãnh đạo, chuyên gia trong lĩnh vực dệt may triển khai hàng loạt biện pháp: nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm, sẵn sàng đối mặt với áp lực cạnh tranh tự do trong quá trình toàn cầu hóa, trong đó, chú trọng nghiên cứu chính sách vĩ mô về nhập khẩu của Mỹ để tìm ra hướng đi riêng cho xuất khẩu hàng dệt may Indonesia Cụ thể, Chính phủ Indonesia đã sử dụng một trong năm mục đích nổi bật trong chính sách nhập khẩu của Mỹ làm mục đích của mình là: “Kết hợp chặt chẽ giữa chính sách quân sự và ngoại giao tạo thành công cụ gây sức ép trong quan hệ đối ngoại, giành cho mình những nguồn lợi to lớn về kinh tế cũng như chính trị” Như vậy, Chính phủ Indonesia dùng công cụ ngoại giao khôn khéo mở cửa thị trường
Mỹ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may
Đồng thời, ở trong nước trước sức ép cạnh tranh hàng dệt may giá rẻ từ Trung Quốc, cộng với máy móc thiết bị, công nghệ lạc hâu, Chính phủ và Hiệp hội dệt may đã tìm ra biện pháp chuyển một số công ty sang Việt Nam, Trung Quốc để tận dụng lợi thế lao động rẻ và hòa chung sản phẩm xuất khẩu của các nước này Đồng thời, thu hút đầu tư vào ngành dệt may từ các nước có công nghệ tiên tiến như Nhật Bản, Hàn Quốc nhằm mục đích hiện đại hóa và nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm hướng tới thị trường Mỹ
Trang 39Thêm vào đó, Chính phủ và Hiệp hội dệt may Indonesia cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia của các nhà sản xuất sản phẩm dệt may lớn trên thế giới
để kết hợp tăng vốn, quảng bá thương hiệu, nâng cao năng suất, mở rộng thị trường
Tóm lại, với những quyết tâm, nỗ lực từ nhiều phía, đặc biệt sử dụng quan hệ kinh tế đối ngoại để tăng cường nội lực trong nước, ngành dệt may Indonesia đã vượt qua khó khăn, vươn lên từng bước khẳng định được vị trí, đặc biệt là xuất khẩu vào thị trường Mỹ
Như vậy, các bài học kinh nghiệm của một số nước xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ đó là:
Tiến hành nhiều chính sách cải cách để phát triển ngành dệt may như mạnh dạn
tư nhân hóa, cho phá sản các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thua lỗ… chính sách đa dạng hóa sản phẩm (từ sản phẩm cấp thấp giá rẻ tới các sản phẩm cấp cao giá cao) và đa dạng hóa thị trường, chuyển từ cạnh tranh giá cả sang cạnh tranh về công nghệ, lập các chi nhánh ở Mỹ
Thực hiện một số biện pháp khuyến khích xuất khẩu như hỗ trợ tài chính, xúc tiến thương mại…
Chính sách thuế ưu đãi đối với ngành dệt may
Thiết kế, may trang phục nữ hướng vào những dạng mặt hàng được ưa chuộng
Công cụ ngoại giao khôn khéo mở cửa thị trường Mỹ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may
Chuyển một số công ty sang các nước xuất khẩu dệt may sang Mỹ lớn để tận dụng lợi thế lao động rẻ và hòa chung sản phẩm xuất khẩu của các nước này
Tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia của các nhà sản xuất sản phẩm dệt may lớn trên thế giới để kết hợp tăng vốn, quảng bá thương hiệu, nâng cao năng suất, mở rộng thị trường
Trang 40CHƯƠNG 2: CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu đề tài: Xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ: các nhân tố ảnh hưởng và hàm ý cho Việt Nam được thể hiện trong sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 2.1: Quy trình nghiên cứu của luận văn
Nguồn: Đề xuất của tác giả
Các nhân tố từ nước nhập khẩu (Hoa Kỳ)
Tác động tích cực (Thúc đẩy)
Tác động tiêu cực (Cản trở)
Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Hoa Kỳ