1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đối chiếu ẩn dụ ý niệm trong quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh

267 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 267
Dung lượng 3,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quan điểm của NNH tri nhận, AD là mô hình kết nối hai miền ý niệm xảy ra trong quá trình tư duy của con người, do vậy việc nghiên cứu AD được chuyển từ AD trong ngôn ngữ sang AD tro

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ LAN PHƯƠNG

ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG QUẢNG CÁO TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

Ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu

Mã số: 9.22.20.24

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS Nguyễn Văn Hiệp

Hà Nội – 2020

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu thống kê là hoàn toàn trung thực do tôi thực hiện Đề tài nghiên cứu

và các kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Lan Phương

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

1.1.1 Dẫn đề 7

1.1.2 Tổng quan về ẩn dụ ý niệm 7

1.1.3 Tổng quan về ẩn dụ ý niệm trong quảng cáo 11

1.2 Cơ sở lý luận về đề tài nghiên cứu 16

1.2.1 Cơ sở lý luận về ẩn dụ ý niệm 16

1.2.2 Cơ sở lý luận về Ngôn ngữ học đối chiếu 30

1.2.3 Cơ sở lý luận về văn hóa Việt và Anh 32

1.2.4 Cơ sở lý luận về Quảng cáo 35

1.3 Tiểu kết 39

CHƯƠNG 2: ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ CẤU TRÚC TRONG QUẢNG CÁO TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH 40

2.1 Dẫn đề 40

2.2 Bức tranh tổng thể về ẩn dụ cấu trúc trong quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh 40

2.3 Đối chiếu ẩn dụ cấu trúc trong quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh 42

2.3.1 Ẩn dụ SẢN PHẨM LÀ CON NGƯỜI 42

2.3.2 Ẩn dụ SẢN PHẨM LÀ PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG 68

2.3.3 Ẩn dụ SẢN PHẨM LÀ MÓN QUÀ 72

2.3.4 Ẩn dụ SẢN PHẨM LÀ MÓN ĂN 77

2.3.5 Ẩn dụ SẢN PHẨM LÀ NGUỒN NĂNG LƯỢNG 81

2.3.6 Ẩn dụ SẢN PHẨM LÀ LIỀU THUỐC 85

2.3.7 Ẩn dụ SẢN PHẨM LÀ ĐIỀU KỲ DIỆU 88

2.3 Tiểu kết 92

CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ BẢN THỂ TRONG QUẢNG CÁO TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH 93

3.1 Dẫn đề 93

3.2 Bức tranh tổng thể về ẩn dụ bản thể trong quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh 93

3.3 Đối chiếu ẩn dụ bản thể trong quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh 95

3.3.1 Ẩn dụ bản thể trong quảng cáo tiếng Việt 95

3.3.2 Ẩn dụ bản thể trong quảng cáo tiếng Anh 104

3.3.3 Đối chiếu ẩn dụ bản thể giữa quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh 111

3.4 Tiểu kết 113

Trang 4

CHƯƠNG 4: ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ ĐỊNH HƯỚNG TRONG QUẢNG CÁO TIẾNG

VIỆT VÀ TIẾNG ANH 114

4.1 Dẫn đề 114

4.2 Bức tranh tổng thể về ẩn dụ định hướng trong quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh 114 4.2.1 Các cặp không gian trong ẩn dụ định hướng trong quảng cáo 114

4.2.2 Các ẩn dụ định hướng trong quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh 116

4.3 Đối chiếu ẩn dụ định hướng trong quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh 118

4.3.1 Ẩn dụ QUYỀN LỰC ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN, KHÔNG CÓ QUYỀN LỰC ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI 118

4.3.2 Ẩn dụ TRẠNG THÁI CÓ Ý THỨC ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN, TRẠNG THÁI VÔ THỨC ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI 121

4.3.3 Ẩn dụ CÁI TỐT ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN, CÁI XẤU ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI 125

4.3.4 Ẩn dụ HẠNH PHÚC ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN, NỖI BUỒN ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI 128

4.3.5 Ẩn dụ KHỎE MẠNH VÀ SỰ SỐNG ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN, BỆNH TẬT VÀ CÁI CHẾT ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI 131

4.3.6 Ẩn dụ NHIỀU HƠN ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN, ÍT HƠN ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI 136

4.3.7 Ẩn dụ TƯƠNG LAI Ở PHÍA TRƯỚC, QUÁ KHỨ Ở PHÍA SAU 139

4.3.8 Ẩn dụ PHÁT TRIỂN ĐỊNH HƯỚNG RA NGOÀI 141

4.3.9 Ẩn dụ LỰC TÁC ĐỘNG HƯỚNG VÀO SÂU 144

4.4 Tiểu kết 146

KẾT LUẬN 147

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤC 1:ĐỐI CHIẾU CÁC NÉT VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG VIỆT - ANH 1

PHỤ LỤC 2:THỐNG KÊ DỤ DẪN CỦA CÁC TIỂU LOẠI ẨN DỤ CẤU TRÚC 2 PHỤ LỤC 3:THỐNG KÊ DỤ DẪN CỦA CÁC TIỂU LOẠI ẨN DỤ BẢN THỂ 15

PHỤ LỤC 4:THỐNG KÊ DỤ DẪN CỦA CÁC TIỂU LOẠI ẨN DỤ ĐỊNH HƯỚNG 25

PHỤ LỤC 5:NGỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 29

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HCC: High – Context Culture (Văn hóa ngữ cảnh cao)

LCC: Low – Context Culture (Văn hóa ngữ cảnh thấp)

MAS: Masculinity and Femininity (Chỉ số đo mức độ tính nam)

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Thống kê các tiểu loại ẩn dụ SẢN PHẨM LÀ CON NGƯỜI 43 Bảng 2.2: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ SẢN PHẨM LÀ CON NGƯỜI 43 Bảng 2.3: Thống kê các tiểu loại ẩn dụ SẢN PHẨM LÀ BẠN BÈ 52 Bảng 2.4: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ SẢN PHẨM LÀ BẠN BÈ 53 Bảng 2.5: Thống kê các tiểu loại ẩn dụ SẢN PHẨM LÀ CHIẾN BINH 57 Bảng 2.6: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ SẢN PHẨM LÀ CHIẾN BINH 57 Bảng 2.7: Thống kê các tiểu loại ẩn dụ SẢN PHẨM LÀ VẬN ĐỘNG VIÊN 64 Bảng 2.8: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ SẢN PHẨM LÀ VẬN ĐỘNG VIÊN 64 Bảng 2.9: Thống kê tiểu loại ẩn dụ SẢN PHẨM LÀ PHƯƠNG TIỆN GIAO

LƯỢNG

81

Bảng 2.16: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ SẢN PHẨM LÀ NGUỒN NĂNG LƯỢNG 82 Bảng 2.17: Thống kê các tiểu loại ẩn dụ SẢN PHẨM LÀ LIỀU THUỐC 85 Bảng 2.18: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ SẢN PHẨM LÀ LIỀU THUỐC 85 Bảng 2.19: Thống kê các tiểu loại ẩn dụ SẢN PHẨM LÀ ĐIỀU KỲ DIỆU 89 Bảng 2.20: Sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ SẢN PHẨM LÀ ĐIỀU KỲ DIỆU 89 Bảng 3.1: Thống kê số lượng các tiểu loại ẩn dụ bản thể 94 Bảng 4.1: Dụ dẫn và tần suất sử dụng các cặp không gian trong ẩn dụ định

hướng

115

Trang 7

Bảng 4.2: Thống kê số lượng các tiểu loại ẩn dụ QUYỀN LỰC ĐỊNH

HƯỚNG LÊN TRÊN, KHÔNG CÓ QUYỀN LỰC ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG

DƯỚI

119

Bảng 4.3: Thống kê số lượng các ẩn dụ TRẠNG THÁI CÓ Ý THỨC ĐỊNH

HƯỚNG LÊN TRÊN, TRẠNG THÁI VÔ THỨC ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG

DƯỚI

122

Bảng 4.4: Thống kê số lượng các tiểu loại ẩn dụ CÁI TỐT ĐỊNH HƯỚNG

LÊN TRÊN, CÁI XẤU ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI

126

Bảng 4.5: Thống kê số lượng các tiểu loại ẩn dụ HẠNH PHÚC ĐỊNH

HƯỚNG LÊN TRÊN, NỖI BUỒN ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI

129

Bảng 4.6: Thống kê số lượng các ẩn dụ KHỎE MẠNH VÀ SỰ SỐNG ĐỊNH

HƯỚNG LÊN TRÊN, BỆNH TẬT VÀ CÁI CHẾT ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG

DƯỚI

132

Bảng 4.7: Thống kê số lượng các tiểu loại ẩn dụ NHIỀU HƠN ĐỊNH

HƯỚNG LÊN TRÊN, ÍT HƠN ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI và các biến

thể

136

Bảng 4.8: Thống kê số lượng các tiểu loại ẩn dụ TƯƠNG LAI Ở PHÍA

TRƯỚC, QUÁ KHỨ Ở PHÍA SAU

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Hình 2.1: Tần suất sử dụng của các tiểu loại ẩn dụ trong ẩn dụ cấu trúc 41 Hình 2.2: Các tầng bậc của ẩn dụ cấu trúc trong quảng cáo tiếng Việt và

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Theo quan điểm truyền thống tồn tại từ thời Aristotle, ẩn dụ (AD) được coi là

“phương tiện trang trí hoa mĩ cho ngôn từ”, là dấu ấn thể hiện ngôn năng của các học giả trong các lĩnh vực liên quan đến nghệ thuật như văn học, thơ ca, hùng biện và là vấn đề thuần tuý về ngôn ngữ Đến cuối thế kỷ XX, dưới sự soi rọi của ngôn ngữ học (NNH) tri nhận, AD bắt đầu được nghiên cứu trên các bình diện khác Theo quan điểm của NNH tri nhận, AD là mô hình kết nối hai miền ý niệm xảy ra trong quá trình tư duy của con người, do vậy việc nghiên cứu AD được chuyển từ AD trong ngôn ngữ sang AD trong trí não nhằm tìm hiểu các cơ sở tư duy và nhận thức của con người trong quá trình sử dụng công cụ ngôn ngữ này

Trong cuốn sách nổi tiếng Metaphors We Live by (Chúng ta đang sống trong ẩn dụ)

xuất bản năm 1980, Lakoff và Johnson đã đưa ra một nhận định thách thức các quan điểm truyền thống khi cho rằng AD không chỉ giới hạn trong phạm vi của văn học và thơ ca mà xuất hiện phổ biến trong cuộc sống hàng ngày của con người, thể hiện trong lời nói đời thường của con người bởi “ẩn dụ là vấn đề của tư duy và hành động Nó không chỉ được sử dụng bởi những người có năng lực sáng tác phi thường trong văn học mà còn bởi những người bình thường nhất trong cuộc sống hàng ngày” [120: tr.4]

AD cho phép người nói biểu đạt ngôn ngữ một cách ngắn gọn, súc tích, ấn tượng và sinh động, qua đó gia tăng hiệu quả giao tiếp Chính nhờ sự phổ biến trong đời sống và những tác động mà nó mang lại, AD đã trở thành chủ đề thu hút sự chú ý đặc biệt của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, không chỉ ở phương diện lí thuyết thuần túy mà còn ở các khía cạnh thực tiễn, chẳng hạn, nghiên cứu hiệu quả của AD ý niệm trong các loại hình diễn ngôn khác nhau, với những mục đích khác nhau

Trong khi đó, sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin trong bối cảnh của Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đã tạo ra một “thế giới phẳng” mà ở đó ranh giới địa lý giữa các quốc gia dần xoá nhoà, thị trường ngày càng trở nên toàn cầu hoá Điều này mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng tạo ra không ít thách thức cho doanh nghiệp Theo Kotler P và Amstrong G., trong thị trường cạnh tranh hiện nay, để tạo được chỗ đứng vững chắc trong tâm trí khách hàng (KH) mục tiêu, công ty không chỉ cần tạo ra

Trang 10

sản phẩm – dịch vụ (SP) tốt mà còn phải truyền thông về lợi ích của SP đó đến KH [112: tr.462] Vai trò của quảng cáo (QC) vì thế trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Làm thế nào để tạo ra những QC ấn tượng và dễ nhớ với KH là câu hỏi quan trọng mà các nhà sản xuất phải nỗ lực tìm câu trả lời Với lợi thế trong định hướng tư duy, trong việc gây tác động và tạo ấn tượng, AD ý niệm là một công cụ hữu ích với các chuyên gia QC, như Kövecses (2002) đã khẳng định “một AD được lựa chọn tốt có thể gia tăng đáng kể mong muốn của người mua đối với SP được QC” [108: tr.59]

Với vai trò quan trọng đó, đã có khá nhiều nghiên cứu về ngôn ngữ QC nói chung

và AD trong QC nói riêng ở nước ngoài, mang lại nhiều kết luận và hàm ý có giá trị cả

về lý thuyết lẫn thực tế Tuy nhiên, trong Việt ngữ học, số lượng các nghiên cứu về ngôn ngữ QC còn hạn chế, đặc biệt vẫn chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về AD ý

niệm trong QC Đây là lý do thôi thúc chúng tôi chọn đề tài “Đối chiếu ẩn dụ ý niệm

trong quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh” để thực hiện luận án tiến sỹ này nhằm làm

rõ cơ chế ánh xạ và mô hình tri nhận của AD ý niệm trong QC của hai ngôn ngữ

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án vận dụng Lý thuyết về AD ý niệm, đặc biệt là cơ chế ánh xạ và mô hình tri nhận của AD ý niệm, để xác định và đối chiếu việc sử dụng AD ý niệm trong các diễn ngôn QC tiếng Việt (TV) và tiếng Anh (TA) nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt và lý giải cho sự tương đồng và khác biệt đó trên cơ sở ngôn ngữ, văn hóa và

tư duy dân tộc

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để hoàn thành mục đích nghiên cứu, luận án cần thực hiện các nhiệm vụ sau: (1) hệ thống hoá lý luận về AD ý niệm và các khái niệm có liên quan;

(2) tìm hiểu về AD ý niệm trong QC TV và TA: các AD ý niệm nào được sử dụng trong QC, các AD ý niệm được xây dựng trên ánh xạ nào, các AD ý niệm được sử dụng với tần suất như thế nào trong các diễn ngôn QC;

(3) so sánh các AD tìm được trong 2 khối liệu QC TV và QC TA nhằm tìm ra sự tương đồng/khác biệt giữa hai ngôn ngữ và giải thích cho sự tương đồng / khác biệt đó dựa trên mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy dân tộc

Trang 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là AD ý niệm trong các diễn ngôn QC trong hai ngôn ngữ Việt và Anh

Chúng tôi cũng giới hạn phạm vi nghiên cứu ở các QC được trình chiếu trong phạm vi không gian của hai nền văn hóa được so sánh là Việt và Anh

4 Phương pháp nghiên cứu và ngữ liệu nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận án sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích diễn ngôn: được sử dụng để phân tích các diễn ngôn QC nhằm xác định các AD ý niệm trong QC

- Phương pháp miêu tả: được sử dụng để miêu tả các AD ý niệm trong khối liệu nghiên cứu Thủ pháp phân tích ý niệm cũng được sử dụng để hỗ trợ cho phương pháp miêu tả nhằm phân tích rõ hơn các AD ý niệm được tìm thấy

- Phương pháp so sánh đối chiếu: được sử dụng để so sánh các AD ý niệm trong 2 khối ngữ liệu TV và TA Với luận án này, chúng tôi sử dụng phương pháp đối chiếu 2 chiều giữa tiếng Việt và tiếng Anh dựa trên 3 tiêu chí: tần suất xuất hiện, ánh xạ của

AD ý niệm và đặc trưng văn hóa tư duy dân tộc tác động tới các AD này

- Thủ pháp thống kê phân loại: cho phép tập hợp, phân loại và thống kê các loại

AD ý niệm trong QC TV và TA

Ngoài ra chúng tôi cũng sử dụng kết hợp đường hướng diễn dịch và quy nạp để tìm

ra kết quả nghiên cứu trong các Chương 2, 3 và 4: lấy khung lý thuyết và các nghiên cứu trước làm tiền đề để xác định các nhóm AD, đồng thời dựa trên nguồn ngữ liệu để minh họa và bổ sung các kết quả nghiên cứu mới vào khung lý thuyết

Trang 12

4.2 Ngữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng ngữ liệu gồm 400 QC trong đó có 200 QC bằng TV và 200

QC bằng TA Để đảm bảo tính đại diện cho hai nền văn hóa, chúng tôi chỉ lựa chọn các QC được trình chiếu và truyền thông đến KH trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam và Anh Các QC được thu thập bằng phương pháp chọn mẫu hạn ngạch (quota sampling)

để đảm bảo số lượng QC tiếng Việt và tiếng Anh trong mỗi nhóm SP được nghiên cứu

là như nhau Nguồn thu thập gồm QC trên báo, tạp chí, QC ngoài trời, tờ rơi, video và audio để đảm bảo tính đa dạng của dữ liệu Thời gian thu thập dữ liệu kéo dài từ tháng

10 năm 2016 đến tháng 4 năm 2017, thời gian QC trình chiếu được lựa chọn là từ năm

2000 đến nay để đảm bảo tính cập nhật

Các QC sau khi được thu thập được đánh máy và phân thành hai nhóm: QC TV (được mã hóa từ V1 đến V200) và QC TA (được mã hóa từ A1 đến A200), được chia nhỏ thành 12 nhóm SP (Phụ lục 2) Các QC dạng tiếng được trình chiếu trên đài và tivi được chúng tôi phiên thành văn bản dạng chữ để thuận tiện cho việc phân tích Với ngữ liệu TA, chúng tôi sử dụng bản dịch thô (do nghiên cứu sinh dịch) cho các biểu thức (BT) ngôn ngữ và đặt bản dịch này trong ngoặc đơn sau BT nhằm làm sáng rõ ý niệm được sử dụng trong các AD ý niệm trong QC TA

Dữ liệu được xử lý theo 2 giai đoạn Trong giai đoạn thứ nhất, chúng tôi tiến hành nhận diện các AD được sử dụng trong các diễn ngôn QC thuộc ngữ liệu nghiên cứu, dựa trên cơ sở lý luận về AD được trình bày trong Chương 1 Dựa trên các đặc điểm của miền nguồn, các AD được tìm thấy được phân chia thành AD cấu trúc, AD bản thể

và AD định hướng, sau đó được phân nhỏ hơn thành các tiểu loại tùy theo miền nguồn được sử dụng để kích hoạt các AD này Trong giai đoạn thứ hai, chúng tôi tiến hành đối chiếu các AD tìm được trong mỗi tiểu loại giữa TV và TA nhằm xác định các nét tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, đồng thời tìm hiểu các nền tảng văn hóa, ngôn ngữ và xã hội để lý giải cho sự tương đồng và khác biệt này

5 Đóng góp mới của luận án

Luận án đã đưa ra các kết luận về AD ý niệm trong các diễn ngôn QC trong hai ngôn ngữ, cụ thể bao gồm các loại và tiểu loại AD đã được sử dụng, mô hình ánh xạ, tần suất xuất hiện của AD trong QC và sự so sánh giữa hai ngôn ngữ Với những kết luận như vậy, luận án có những đóng góp sau về lý luận và thực tiễn:

Trang 13

5.1 Đóng góp về mặt lý luận

Bằng việc hệ thống một cách có chọn lọc các khái niệm cốt yếu về NNH tri nhận

và AD ý niệm, kế thừa cơ sở lý luận đi trước, thông qua việc nghiên cứu chuyên sâu các AD được tìm thấy trong ngữ liệu và đi tìm lời giải đáp cho những tương đồng và khác biệt về AD ý niệm giữa hai ngôn ngữ, luận án góp phần bổ sung và làm sáng rõ các đặc trưng văn hóa dân tộc Việt và Anh trong lĩnh vực nghiên cứu về QC, đóng góp vào nền tảng lý luận của AD ý niệm nói chung và AD ý niệm trong QC nói riêng

5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Luận án đã xây dựng được các sơ đồ tầng bậc của AD cấu trúc, AD bản thể và AD định hướng; so sánh đối chiếu về tần suất, ánh xạ và đặc trưng văn hóa của các AD; luận giải sự tương đồng cũng như khác biệt trong hệ thống AD giữa hai ngôn ngữ dựa trên các đặc trưng văn hóa và tư duy dân tộc Điều này giúp những người học tập, giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ có thêm một cái nhìn về phương thức tư duy về thế giới khách quan của hai dân tộc Việt và Anh và những biểu hiện của tư duy này trong lĩnh vực nghiên cứu cụ thể là QC

Luận án cũng chỉ ra các loại AD ý niệm và tần suất sử dụng của các AD này trong

QC cùng một số bình luận về vai trò của AD trong các diễn ngôn QC Đây là cơ sở tham khảo giúp các nhà thiết kế QC tư duy và sáng tạo ra những diễn ngôn QC ấn tượng, dễ nhớ với KH nhằm đáp ứng mục tiêu xúc tiến SP

6 Ý nghĩa của luận án

Trang 14

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Với các số liệu về tần suất của AD và các thảo luận về vai trò của AD đối với diễn ngôn QC, kết quả nghiên cứu của luận án là nền tảng giúp các nhà thiết kế QC nói riêng và nhà quản trị marketing nói chung định hướng và thiết kế QC một cách sáng tạo, ấn tượng và hiệu quả nhằm tác động đến quyết định mua của KH

Đồng thời, thông qua phân tích và so sánh các mô hình ánh xạ của AD trong QC của hai ngôn ngữ, luận án được kỳ vọng sẽ có khả năng ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau trong giảng dạy ngôn ngữ ở Việt Nam, bao gồm dịch thuật, giảng dạy TA cho người Việt và TV cho người nói TA

7 Bố cục của luận án

Ngoài các phần chung như Phần mở đầu, Phần Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận án có kết cấu gồm 4 chương cụ thể như sau:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Trong chương

này, các nghiên cứu có liên quan đến ngôn ngữ QC và AD ý niệm trong QC được tổng hợp và phân tích Một số vấn đề lý luận chung về AD ý niệm, NNH đối chiếu, văn hóa

và QC cũng được trình bày trong chương này

Chương 2 Đối chiếu ẩn dụ cấu trúc trong quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh

Chương này xác định các miền nguồn được sử dụng để hình thành nên AD cấu trúc và ánh xạ của mỗi AD Dựa trên các đặc điểm miền nguồn, các AD thượng danh và hạ danh được xác định và sắp xếp theo tầng bậc, sau đó được so sánh dựa trên các đặc điểm văn hóa dân tộc

Chương 3 Đối chiếu ẩn dụ bản thể trong quảng cáo Việt và tiếng Anh

Chương này tìm hiểu hệ thống AD bản thể xuất hiện trong các diễn ngôn QC của hai ngôn ngữ, tìm hiểu động cơ hình thành AD, so sánh các điểm giống và khác nhau trong tư duy AD giữa hai ngôn ngữ dựa trên cơ sở văn hóa dân tộc

Chương 4 Đối chiếu ẩn dụ định hướng trong quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh Chương 4 tập trung làm rõ các AD định hướng được sử dụng trong QC TV và

TA cùng các tiểu loại của chúng Mỗi tiểu loại AD đều được so sánh đối chiếu để tìm

ra các điểm tương đồng và khác biệt; sự tương đồng và khác biệt này được lý giải dựa trên các đặc trưng văn hóa dân tộc

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.2 Tổng quan về ẩn dụ ý niệm

1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về ẩn dụ ý niệm

Trên thế giới, các vấn đề của NNH tri nhận bắt đầu được nghiên cứu từ những năm

1950 nhưng thuật ngữ ngôn ngữ học tri nhận (cognitive linguistics), ngữ nghĩa học tri nhận (cognitive semantics), ngữ pháp tri nhận (cognitive grammar) chỉ chính thức được sử dụng là trong cuốn Foundation of Cognitive Grammar (Cơ sở của ngữ pháp

tri nhận) của Langacker [121] Năm 1989, Hội ngôn ngữ học tri nhận quốc tế được thành lập tại Duisbury, Đức, khởi đầu cho sự phát triển mạnh mẽ của NNH tri nhận sau này (dẫn theo Triệu Diễm Phương, [46: tr.5])

NNH tri nhận bắt đầu phổ biến vào thập niên 80 của thế kỷ XX với sự khởi xướng của Lakoff và Johnson bằng cuốn sách được ví như “kinh thánh của NNH tri nhận”

Metaphor We Live by [120] Với tuyên bố “AD không đơn thuần là vấn đề về ngôn

ngữ mà còn là vấn đề của tư duy và hành động”, Lakoff và Johnson đã đi ngược lại các quan điểm truyền thống về AD và khẳng định AD không chỉ là thủ pháp tu từ mà là phương thức tư duy Điều này khiến phạm vi nghiên cứu về AD không chỉ dừng lại ở

AD trong ngôn ngữ mà chuyển sang AD trong trí não, từ đó mở ra cánh cửa để tìm hiểu quá trình tư duy của con người đối với các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Các nghiên cứu về AD từ đó cũng lan tỏa ra các bình diện khác như triết học, logic học, tâm lý học, thần kinh học…

Trang 16

Nằm trong số các nghiên cứu đầu tiên về AD tri nhận, Schon (1979) đã đưa ra các

ý tưởng mở đường cho lý thuyết tri nhận về AD bằng cách xem xét mối liên kết giữa

AD và tư duy, trong đó tác giả coi AD là đầu mối của suy nghĩ con người và sự ý niệm hoá [135] Sau đó, Reddy (1979) phân tích và bổ sung thêm vào ý thức – hệ hình (paradigm-consciousness) trong giao tiếp mà Schon đã phát triển trước đó Bằng việc tìm hiểu những ẩn dụ ngầm ẩn trong đường dẫn và xem giao tiếp như một sự chuyển dịch thông tin qua các đường dẫn đó, tác giả đề xuất có thể coi ẩn dụ là sự thay thế của giao tiếp, là biểu tượng công cụ hay dạng mẫu mà trong đó chúng ta hiểu được ý định người khác muốn nói thông qua ngữ cảnh của bản thân chúng ta [133]

Những năm sau đó, lý thuyết về AD ngày càng được mở rộng Ban đầu, các nghiên cứu thiên về xu hướng cho rằng AD ý niệm chủ yếu được hình thành dựa trên kinh nghiệm thân thể Trong các nghiên cứu vào thập niên 80, Lakoff (1987) [116] và Kövecses (1986) [106] khẳng định rằng các AD diễn tả cảm xúc đều xuất phát từ cơ sở sinh lý học của con người và chịu tác động từ các yếu tố văn hoá của ngôn ngữ

Sau đó, trong các tác phẩm viết chung với các học giả khác như Johnson ([114], [119]), Kövecses ([116]), Lakoff đã đề cập đến vai trò của AD trong việc hình thành

hệ thống ý niệm của con người và cấu trúc của ngôn ngữ tự nhiên Tư tưởng này sau

đó được tác giả nâng lên thành thuyết “Trí tuệ nghiệm thân”, nghiên cứu mối quan hệ giữa tư duy, quan niệm về thế giới và cấu tạo của cơ thể và bộ não con người

Năm 1987, ba nghiên cứu rất có giá trị về ngôn ngữ và tri nhận được xuất bản, gồm

The Body in the Mind: The Bodily Basis of Meaning, Imagination and Reason (Cơ thể

trong tâm trí: Cơ sở vật chất của ý nghĩa, tưởng tượng và lý giải) của Johnson [104],

Foundation of Cognitive Grammar (Cơ sở ngữ pháp tri nhận) của Langacker [121] và Women, Fire, and Dangerous Things What Categories Reveal about the Mind (Phụ

nữ, lửa và những điều nguy hiểm – Các phạm trù cho thấy gì về tâm trí) của Lakoff [115] Trong [104], Johnson trình bày hai cấu trúc tri nhận về lý giải và vận dụng ngôn ngữ gồm sơ đồ hình ảnh, cấu trúc AD và cơ sở vật chất của chúng Trong [121] và [115], Langacker và Lakoff phân tích những vấn đề này cụ thể hơn và chính thức sử

dụng các thuật ngữ ngôn ngữ học tri nhận, ngữ nghĩa học tri nhận và ngữ pháp tri nhận Hai nghiên cứu này được coi là những tác phẩm mang tính nền tảng của NNH tri

nhận với các lý thuyết cơ bản trong lĩnh vực này

Trang 17

Nửa cuối thập niên 90 ghi nhận một tiến bộ quan trọng trong lý thuyết AD với nghiên cứu của Joe Grady (1997) với khẳng định về sự gắn kết giữa AD ý niệm với các lý thuyết thần kinh và quan điểm cho rằng kinh nghiệm hàng ngày, kinh nghiệm cảm giác của con người là nền tảng của nhận thức ngôn ngữ [98]

Năm 2002, lý thuyết về không gian pha trộn giữa không gian tinh thần tưởng tượng với lý thuyết thần kinh của ngôn ngữ được giới thiệu bởi G Fauconnier và M Turner cùng khẳng định rằng ánh xạ AD được thực hiện trên cơ sở vật lý giống như một bản

đồ thần kinh, các suy luận AD bắt nguồn từ cơ chế thần kinh tự nhiên trong tâm trí của con người [93]

Năm 2006, vai trò của AD như một công cụ tư duy và nhận thức của con người về thế giới khách quan một lần nữa được nhấn mạnh với phát biểu của Evans V và Green M.: “khó tìm được lối nghĩ và cách nói phi AD về một số khái niệm nhất định, cách chúng ta ý niệm hóa và miêu tả các khái niệm đều mang tính AD rất cao” [89: tr.290] Các nghiên cứu về AD ý niệm trên thế giới ghi danh các tên tuổi G Lakoff, M Johnson, Z Kövecses, G Fauconnier, M Turner, C Fillmore, J.E Grady, M Green, R.W.Langacker… Các tác giả này đã phát triển những lí thuyết, khái niệm cốt lõi trong

AD ý niệm, tạo nên một nền tảng vững chắc cho các nghiên cứu chuyên sâu về AD ý niệm được thực hiện sau này

Bên cạnh việc phát triển lý thuyết AD, các nhà nghiên cứu còn đi sâu tìm hiểu các ứng dụng của AD ý niệm trong các lĩnh vực khác nhau như chính trị [72], [80], [136]; kinh tế [73], [91], [105]; môi trường [123]; giáo dục [81], [97]; về các đối tượng tri nhận như cảm xúc [106], [107]; không gian và thời gian [95]; tình dục [94]…; trong các ngôn ngữ khác nhau [78], [150]… đem lại nhiều nhận xét mới mẻ mà lịch sử nghiên cứu AD truyền thống hầu như không có

1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về ẩn dụ ý niệm

Ở Việt Nam, các vấn đề liên quan đến NNH tri nhận bắt đầu được nghiên cứu vào

đầu thế kỷ 21 nhưng có lẽ công trình mang màu sắc tri nhận đầu tiên là Từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt của Nguyễn Lai năm 1990, mặc dù tác giả không dùng thuật

ngữ “ngôn ngữ học tri nhận” Công trình này phân tích sự phát triển ngữ nghĩa của các

từ chỉ hướng ra-vào, lên-xuống, đến-tới, lại-qua, sang-về dựa trên trải nghiệm vật lí và

tâm lí [38] Năm 2002, Nguyễn Đức Tồn bắt đầu tìm hiểu AD theo hướng đặt AD

Trang 18

trong mối quan hệ giữa văn hóa - tư duy - ngôn ngữ và tìm hiểu bản chất của AD thông qua tư duy phạm trù [60] Tuy nhiên, một cách chính danh, NNH tri nhận bắt

đầu được đề cập tới là trong Ngôn ngữ học tri nhận - Từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt của Lý Toàn Thắng năm 2005 [52] và Ngôn ngữ học tri nhận – Ghi chép và suy nghĩ của Trần Văn Cơ năm 2007 [5] Đây có thể xem là hai công trình đặt

nền móng cho các nghiên cứu về NNH tri nhận ở Việt Nam

Các nghiên cứu sau đó đã cố gắng làm rõ bản chất của AD với nhiều quan điểm khác biệt so với truyền thống Chẳng hạn, Nguyễn Đức Tồn (2007) khẳng định rằng

AD không chỉ là phép dùng từ mà là phép chuyển nghĩa dựa trên sự loại suy đặc điểm, thuộc tính, hoạt động… giữa các sự vật, hiện tượng khác loại [61]; hay Phan Thế Hưng (2007 và 2009) phủ nhận quan điểm phổ biến trước đó vốn coi AD là phép so sánh và khẳng định AD được tạo ra từ sự xếp loại So sánh AD bao hàm sự so sánh tầng bậc của loại theo hệ thống tôn ti, AD không thể đảo ngược, vì vậy có thể nói mối quan hệ của hai sự vật trong AD là quan hệ bất đối xứng [35], [36]

Năm 2009, Trần Văn Cơ có chuyên khảo Khảo luận ẩn dụ tri nhận [7] tổng thuật

một cách hệ thống và toàn diện các vấn đề cốt lõi về AD ý niệm từ hai công trình kinh

điển của Lakoff và Johnson (Metaphors We Live by và Women, Fire and the Dangerous Things: What Categories Reveal about the Mind) Các khái niệm then chốt

trong AD ý niệm được phân tích cụ thể và diễn giải tỉ mỉ trong bối cảnh ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, đặt nền móng cho các nghiên cứu sau này về AD ý niệm

Các tác giả sau này đã nghiên cứu AD từ nhiều góc độ khác nhau Nằm trong số các nghiên cứu về AD không gian, Nguyễn Đức Dân [8] và Nguyễn Văn Hiệp ([21],

[23]) đã xem xét sự chuyển nghĩa và AD của các cặp từ chỉ không gian như trên - dưới, trước - sau, trong - ngoài và các từ vận động có hướng như ra - vào, lên - xuống

trên cơ sở nghiệm thân và khẳng định rằng các từ ngữ không gian có sự chuyển nghĩa rất mạnh và có thể xem như các ví dụ tiêu biểu của việc ý niệm hoá, phân loại và mô tả thế giới khách quan, tạo ra những AD không gian mang đậm dấu ấn văn hoá Việt Trong số các nghiên cứu về AD thời gian, các tác giả như Nguyễn Hòa (2007) [26]

và Nguyễn Đức Dân (2012) [9] đều có chung nhận định rằng sự tri nhận thời gian được hình thành dựa trên sự tri nhận không gian, do đó có thể nói rằng các khái niệm

và biểu hiện không gian xuất hiện trước các khái niệm về thời gian Nguyễn Văn Hán

Trang 19

(2012) bổ sung thêm rằng cách thức tri nhận thời gian luôn mang tính chất quy ước xã hội, văn hoá và mô típ của cộng đồng [15]

Bên cạnh đó, còn có nhiều nghiên cứu về ứng dụng của AD ý niệm trong các lĩnh vực khác nhau, như AD ý niệm cảm xúc và tình cảm của con người [10], [24], [40], [45], [58]; AD ý niệm trong tác phẩm của các nhà nghệ thuật nổi tiếng [4], [16], [17], [18], [29], [34], [49], [50], [66], [70]; cách tri nhận của các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người [13], [145] hay việc sử dụng AD ý niệm trên các diễn ngôn của nhiều lĩnh vực như kinh tế [14], văn hoá [68], thực vật [41], ẩm thực [31], [140], [25], hôn nhân [1], cuộc đời [17], [47], [48], tình yêu [30] Các nghiên cứu này góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý thuyết và ứng dụng của AD ý niệm

1.1.3 Tổng quan về ẩn dụ ý niệm trong quảng cáo

Kövecses đã khẳng định: “QC là minh họa rõ nét nhất cho việc sử dụng AD ý niệm Khả năng bán của một SP phụ thuộc một phần vào việc lựa chọn AD ý niệm sao cho hình ảnh/từ vựng được sử dụng trong QC có thể khơi dậy cảm hứng cho người xem Một AD được lựa chọn hợp lý có thể tạo ra điều kỳ diệu trong thúc đẩy doanh số bán của SP được QC” [108: tr.65] Bởi hiệu quả và sự phổ biến này, AD ý niệm trong

QC trở thành chủ đề nghiên cứu rất được quan tâm

1.1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về ẩn dụ ý niệm trong quảng cáo

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về AD ý niệm trong QC, tập trung vào 4 nhóm nội dung chính sau đây:

Thứ nhất, về hiệu quả của AD trong QC, các nghiên cứu đều có chung nhận định

rằng AD đóng vai trò tích cực đối với các diễn ngôn QC

Trong các công trình của mình, các nhà nghiên cứu xem xét hiệu ứng của các loại

AD khác nhau với nhiều nhóm SP khác nhau Cụ thể, phân chia theo loại SP, Baek Y (2008) cho rằng với nhóm SP hướng mục tiêu hưởng thụ, việc sử dụng AD mang lại hiệu quả truyền thông cao hơn vì nó khiến người đọc có thái độ tích cực hơn đối với QC; tuy nhiên với SP hướng mục tiêu sử dụng, tác động của các khẩu hiệu có sử dụng

AD và không sử dụng AD không có khác biệt mang ý nghĩa thống kê [76] Trong khi

đó, trong một nghiên cứu về tác động của AD với các QC đồ ăn, Yu C (2009) khẳng định việc sử dụng AD khiến các khẩu hiệu QC thức ăn trở nên hấp dẫn và thu hút hơn đối với người đọc [150] Các nhà nghiên cứu khác như Ruiz J.H (2006) xem xét AD

Trang 20

trong QC phòng chống ma túy [134] hay Svaziene L (2010) tìm hiểu về tác động của

AD trong QC chính trị [139] cũng đều khẳng định hiệu ứng thuyết phục của AD ý niệm trong việc dẫn dắt tư duy của người đọc

Phân theo loại hình, Janos M (2014) tìm hiểu hiệu quả của AD hình ảnh trong QC

và khẳng định AD hình ảnh có vai trò quan trọng bởi một hình ảnh có thể thay thế cho nhiều từ vựng, do đó rất hiệu quả với QC bởi QC có không gian và thời gian hữu hạn Thêm vào đó, một hình ảnh có thể được suy luận theo nhiều cách, do vậy có thể kích thích sự suy nghĩ của người đọc, khiến QC đọng lại trong tâm trí họ lâu hơn [103] Trong nghiên cứu của mình, Svaziene L (2010) đã dùng từ ‘vũ khí hạng nặng’ và ‘tẩy não’ để mô tả hiệu quả của AD hình ảnh trong việc thu hút và duy trì sự chú ý của người đọc đối với QC chính trị nói riêng và QC thương mại nói chung [139] Tiếp cận

từ cả góc độ AD hình ảnh và AD ngôn từ, Zhang X và Gao X (2009) khẳng định là phương thức bày tỏ của AD ý niệm, AD hình ảnh và AD ngôn từ được sử dụng trong

QC thúc giục người đọc tìm kiếm sự liên quan trong ngữ cảnh tri nhận và dự định giao tiếp của người QC, qua đó ghi nhớ thông tin QC hiệu quả hơn [153] Và một cách chi tiết nhất, Li D và Guo Q (2016) đã giải thích ảnh hưởng tích cực của AD tới hiệu ứng truyền thông của QC qua 4 tác động: (1) tạo ra sự mới mẻ nhằm kích thích trí tò mò và cộng hưởng của người xem; (2) diễn đạt ngắn gọn và súc tích nhằm tiết kiệm thời gian

và giúp QC trở nên dễ nhớ, dễ nhắc lại; (3) tạo ý hàm ngôn nhằm gây ấn tượng và buộc người xem phải phân tích để hiểu nghĩa bóng của AD và (4) tạo hiệu ứng văn hoá, theo đó AD không chỉ giúp người mua hiểu được SP mà còn là công cụ để phản ánh văn hoá của thương hiệu và công ty [124]

Tóm lại, các nghiên cứu về vai trò của AD ý niệm trong QC đều khẳng định rằng

AD có vai trò tích cực trong truyền tải thông điệp về SP vì AD giúp gây ấn tượng, kích thích trí tưởng tượng và khiến KH phải suy nghĩ về QC, từ đó ghi nhớ SP hơn

Thứ hai, về các AD ý niệm được dùng trong QC, các nghiên cứu cho thấy sự phong

phú trong các AD chia theo miền nguồn và ánh xạ được sử dụng

Cụ thể, phân theo ánh xạ, Ruiz J.H (2006) xác định được 6 AD được sử dụng để truyền thông về tác hại của ma túy và vai trò của gia đình trong các QC phòng chống

ma túy, gồm ĂN LÀ HUỶ DIỆT, BỘ NÃO LÀ MIẾNG BỌT BIỂN, BIẾT LÀ NHÌN THẤY, CON NGƯỜI LÀ ĐỘNG VẬT, KHÔNG ĐƯỢC BẢO VỆ LÀ KHÔNG

Trang 21

MẶC QUẦN ÁO, NHÀ LÀ KHU VỰC RÀO CHẮN ĐEM LẠI SỰ BẢO VỆ [134] Cũng căn cứ vào ánh xạ giữa MN và MĐ, Yu C (2009) đã xác định được 4 AD lớn trong khẩu hiệu QC thức ăn, gồm CUỘC SỐNG LÀ THỰC THỂ/VẬT CHẤT, CẢM GIÁC/MONG MUỐN LÀ VẬT CHẤT, TRẠNG THÁI/TÍNH CÁCH LÀ NƠI CHỐN và SP LÀ THỰC THỂ/VẬT CHẤT, trong mỗi AD lớn có một vài AD phái sinh [150] còn Svaziene L (2010) tìm được 3 AD trong các QC vận động bầu cử Mỹ gồm BẦU CỬ LÀ LỪA ĐẢO, TỔNG THỐNG LÀ MỘT VẤN ĐỀ và OBAMA LÀ

KỴ SỸ NGÂY THƠ CHIẾN ĐẤU VỚI CHIẾC CỐI XAY GIÓ MỸ [139] Phân theo miền nguồn, Ágnes A (2009) xác định được 7 miền nguồn của AD ý niệm bao gồm

SỰ GẦN GŨI VỀ THỂ CHẤT, BẠN BÈ, HÀNH TRÌNH, TRẢI NGHIỆM CẢM XÚC, SỨC NÓNG, HAM MUỐN THỂ XÁC, TỐT VÀ HẠNH PHÚC [71]

Thứ ba, về tần suất sử dụng của các loại AD trong QC, có nghiên cứu lựa chọn

phân chia AD theo loại hình gồm AD ngôn từ, AD hình ảnh hoặc AD ngôn ảnh [71], [134], [150]; hoặc theo 3 loại AD cấu trúc, định hướng và bản thể của Lakoff và Johnson [129], hoặc theo hình thức trình bày [74] Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiều kết luận khác nhau về tần suất của các loại AD được sử dụng trong QC

Cụ thể, so sánh giữa AD hình ảnh, ngôn từ và ngôn ảnh, Anderson E.M (1998) kết luận rằng cả ba loại AD đều được sử dụng phổ biến trên các website, trong đó các website bán hàng trực tuyến có xu hướng sử dụng nhiều AD hình ảnh hơn còn các website chỉ dùng để giới thiệu SP mà không bán hàng trực tiếp thường sử dụng nhiều

AD ngôn từ và ngôn ảnh [74] Trong khi đó, lựa chọn phân chia AD theo đề xuất của Lakoff và Johnson, Morris P.K và Waldman J.A (2011) kết luận rằng AD bản thể,

AD cấu trúc và AD vật chứa được sử dụng phổ biến trong QC hình ảnh và QC ngôn từ; AD định hướng được sử dụng ít nhất trong QC ngôn từ và không được sử dụng trong QC hình ảnh [129] Kết luận này tương đồng với kết quả nghiên cứu của một số tác giả Việt Nam như [27], [100], [127], [130], [143] (sẽ được đề cập ở phần sau)

Thứ tư là các nghiên cứu về tác động của văn hóa đối với AD ý niệm Ở khía cạnh

này, các nhà nghiên cứu có hai quan điểm đối ngược nhau

Một số cho rằng khác biệt văn hoá dẫn đến khác biệt trong tư duy hình thành AD Ủng hộ quan điểm này, Morris P.K và Waldman J.A (2011) đã so sánh AD trong QC của 5 quốc gia dựa trên các miền văn hoá theo mô hình của Hofstede Tác giả kết luận

Trang 22

rằng các đặc điểm văn hoá được phản ánh rõ nét trong QC nhằm đảm bảo rằng thông điệp QC phù hợp với KH mà QC hướng tới [129] Sử dụng tiêu chí văn hóa ngữ cảnh cao (HCC) và văn hóa ngữ cảnh thấp (LCC) để so sánh, Li J và Rodriguez L (2015) chỉ ra rằng tần suất và chủ đề của AD có sự khác biệt lớn giữa các nền văn hoá Về tần suất, số lượng QC có sử dụng AD chiếm tỉ lệ áp đảo ở châu Á so với các châu lục khác, cho thấy sự phức tạp trong định hướng không gian dựa trên hình ảnh, bắt nguồn

từ văn hoá đa dạng của châu lục này Về chủ đề, số lượng hình ảnh trong QC ở châu Á cũng vượt trội so với châu Âu và Bắc Mỹ, do châu Á có nền văn hoá HCC, trong văn hoá này, một thông điệp được hiểu không chỉ bằng nội dung mà còn dựa trên ngữ cảnh Ngược lại, Bắc Mỹ và châu Âu có văn hoá LCC, trong đó thông điệp thường được đưa ra trực tiếp thông qua các diễn đạt hiển ngôn [125]

Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng mặc dù có sự khác biệt về văn hoá nhưng về bản chất, AD ý niệm xuất phát từ tư duy của con người về sự vật, hiện tượng, do đó không có sự khác biệt đáng kể cho dù con người đang sống trong nền văn hoá nào Li D và Guo Q (2006) lập luận rằng con người có có trải nghiệm sống tương

tự nhau nên có hệ thống tri nhận như nhau, do đó AD trong các nền văn hoá khác nhau vẫn có cùng một cơ sở tri nhận Tác giả chứng minh quan điểm của mình bằng cách so sánh cơ sở tri nhận giữa TA và tiếng Trung Quốc và nhận định rằng không có sự khác biệt trong AD ý niệm giữa 2 nền văn hoá [124]

Như vậy đã có khá nhiều công trình trên thế giới nghiên cứu về AD ý niệm trong

QC Các nhà nghiên cứu đều khẳng định vai trò quan trọng và hiệu ứng của AD đối với QC và xác định được nhiều loại AD được sử dụng phổ biến trong QC Tuy nhiên,

về mối quan hệ giữa văn hoá và AD, có 2 quan điểm trái ngược nhau (văn hoá có / không ảnh hưởng tới cơ sở hình thành AD) nhưng quan điểm cho rằng sự khác biệt văn hoá dẫn đến khác biệt về cơ sở tri nhận của AD nhận được sự ủng hộ nhiều hơn

1.1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về ẩn dụ ý niệm trong quảng cáo

Nhìn chung, số lượng các nghiên cứu về ngôn ngữ QC và AD ý niệm trong QC ở Việt Nam còn khá hạn chế Về ngôn ngữ QC nói chung có chuyên khảo của Mai Xuân Huy (2001) xem xét các đặc điểm của diễn ngôn QC từ góc độ giao tiếp, trong đó tác giả tập trung vào phân tích ngữ nghĩa và ngữ dụng của ngôn ngữ QC [33], luận văn của Phạm Thị Cẩm Vân (2003) tìm hiểu về phong cách ngôn ngữ của QC, trong đó tác

Trang 23

giả chỉ rõ các công cụ tu từ hay được sử dụng trong QC [68] và luận án của Trần Thị Thu Hiền (2013) nghiên cứu các đặc trưng phong cách, đặc trưng ngữ nghĩa, chức

năng ngôn ngữ, các lớp từ vựng được sử dụng trong QC [19] Đặc biệt, luận án [19]

mặc dù không tiếp cận theo lý thuyết tri nhận nhưng trong các khảo sát liên quan đến đặc trưng ngữ nghĩa, tác giả khẳng định rằng AD có tỉ lệ sử dụng cao nhất trong số các biện pháp tu từ ngữ nghĩa điển hình trong QC và cho rằng việc nghiên cứu AD ý niệm trong ngôn ngữ QC là rất cần thiết vì nó xuất hiện nhiều trong QC ở cả hai thứ tiếng

Cụ thể hơn về AD trong QC có luận văn của Nguyễn Thị Chi Mai (2010) [127] so sánh việc sử dụng 3 loại AD (AD tri nhận, AD hỗn hợp và AD mới) trong các khẩu hiệu QC TA nhìn từ phương diện ngữ dụng học Tác giả kết luận rằng AD tri nhận là công cụ phổ biến nhất trong khẩu hiệu QC; bóc tách giữa 3 tiểu loại trong AD tri nhận, tác giả khẳng định AD bản thể được sử dụng nhiều nhất, AD cấu trúc và AD định hướng có tần suất sử dụng bằng nhau

Trực tiếp nghiên cứu về AD ý niệm trong QC có luận văn của Huỳnh Trung Ngữ (2010) [130] và Phạm Thị Hằng (2012) [100] Luận văn [130] đối chiếu AD ý niệm trong khẩu hiệu QC TA và TV Tác giả xác định được 17 miền nguồn được sử dụng trong AD, tiêu biểu như HÀNH TRÌNH, CHIẾN TRANH, BẠN BÈ, THỨC ĂN, SỨC KHOẺ… và chỉ ra sự khác biệt về tần suất của các loại AD: AD bản thể được sử dụng phổ biến nhất trong QC TA còn AD cấu trúc được sử dụng nhiều nhất trong QC

TV Trong khi đó, luận văn [100] tìm hiểu về AD ý niệm trong khẩu hiệu QC và kết luận rằng AD là công cụ phổ biến trong thiết kế khẩu hiệu QC; trong 3 tiểu loại, AD bản thể được sử dụng nhiều nhất, sau đó là AD cấu trúc, cuối cùng là AD định hướng Ngoài ra còn có một số bài báo về AD ý niệm trong QC Đáng chú ý là bài báo của Lưu Trọng Tuấn (2010) [143] nghiên cứu AD bản thể và AD cấu trúc trong khẩu hiệu

QC TV Tác giả khẳng định hiệu quả của AD ý niệm trong khẩu hiệu QC, so sánh tần suất và kết luận rằng AD bản thể được sử dụng phổ biến hơn Tác giả cũng xác định được 4 AD bản thể (THƯƠNG HIỆU LÀ NGUỒN LỰC GIÁ TRỊ, THƯƠNG HIỆU

LÀ VẬT CHỨA, THƯƠNG HIỆU LÀ BẠN ĐỒNG HÀNH, THƯƠNG HIỆU LÀ CHIẾN BINH) và 1 AD cấu trúc (THƯƠNG HIỆU LÀ CHUYỂN ĐỘNG) trong khẩu hiệu QC Ngoài ra còn có bài báo của Phan Văn Hoà và Huỳnh Trung Ngữ (2011) [27]

so sánh AD ý niệm trong khẩu hiệu QC giữa hai ngôn ngữ và của Trần Thị Thu Hiền

Trang 24

(2014) [20] so sánh 7 loại AD truyền thống trong khẩu hiệu QC TV và TA Hai bài báo này gắn với luận án [19] và luận văn [130] của cùng tác giả đã đề cập đến ở trên

Có thể nói các nghiên cứu về AD ý niệm trong Việt ngữ học thời gian qua đã khái quát hoá AD ý niệm qua chức năng ý niệm hoá, thể hiện cách tri nhận về sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Các nghiên cứu này đã xây dựng được nền tảng lý luận và thực tiễn tương đối phong phú Tuy nhiên, số lượng công trình chưa nhiều, đặc biệt chưa có nghiên cứu toàn diện về AD ý niệm trong QC đối chiếu giữa hai ngôn ngữ Đây chính là ‘khoảng trống’ nghiên cứu mà luận án hy vọng sẽ lấp đầy

1.2 Cơ sở lý luận về đề tài nghiên cứu

Để có nền tảng lý thuyết cho nghiên cứu thực tế ở Chương 2, 3 và 4 của luận án, chúng tôi hệ thống hóa các lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu chia thành 4 nhóm nội dung chính bao gồm: AD ý niệm, Ngôn ngữ học đối chiếu, Đặc trưng văn hóa Việt - Anh và Quảng cáo

1.2.1 Cơ sở lý luận về ẩn dụ ý niệm

1.2.1.1 Các quan điểm về ẩn dụ

Nghiên cứu về AD có vị trí quan trọng trong trào lưu tri nhận Cột mốc đánh dấu

cho lĩnh vực này là sự xuất hiện của cuốn sách Metaphors We Live by của Lakoff và

Johnson [120] vào năm 1980 với những thay đổi bước ngoặt trong quan điểm về AD

Vì vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn trình bày quan điểm về AD theo hai

giai đoạn: (1) AD theo quan điểm truyền thống hệ thống hoá các quan điểm tính đến thời điểm công bố tác phẩm trên và (2) AD theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận

gồm các quan điểm từ năm 1980 đến hiện tại

 Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống

Quan điểm cổ xưa nhất về AD đến từ Aristotle, một tên tuổi lớn trong triết học Hy Lạp cổ đại Theo Aristotle, AD là “hình thức trang trí trong ngôn ngữ nghệ thuật và hùng biện”, là cách lạ hóa ngôn ngữ nhằm tạo nên sự thu hút trong hùng biện và thi ca, làm giàu có hơn cho ngôn ngữ bởi nó giúp người nói biểu đạt ý kiến một cách hấp dẫn

và ấn tượng Đây chính là khởi nguyên cho các quan điểm về AD sau này (dẫn theo Nguyễn Thị Bích Hạnh, [16])

Theo quan điểm truyền thống, AD được coi là phép chuyển đổi tên gọi dựa trên sự

so sánh ngầm giữa hai sự vật có sự tương đồng Với cách tiếp cận này, AD đặc trưng

Trang 25

với dạng lược đồ: A là B, ví dụ như trong Achilles is a lion (Achilles là một con sư tử)

Như vậy, từ thời Aristotle, AD đã được xác định là cách thức so sánh dựa trên sự

tương đồng giữa hai phạm trù nhưng sự so sánh không được đánh dấu hiển ngôn Điều này khiến AD khác với tỉ dụ (simile): với tỉ dụ, sự so sánh được biểu thị rõ ràng qua

việc dùng các tiểu từ so sánh như as hay like (giống như): Achilles is as brave as a lion (Achilles dũng cảm như một con sư tử); Achilles is brave, like a lion (Achilles dũng cảm, giống như một con sư tử) (dẫn theo Evans và Green, 2006) [89: tr.293]

Trong Metaphor – A Practical Introduction [108: tr ix], Kövecses tóm tắt các đặc

điểm của AD theo quan điểm truyền thống như sau: (1) AD là đặc điểm của từ vựng, là hiện tượng ngôn ngữ; (2) AD được sử dụng cho mục đích nghệ thuật và tu từ; (3) AD được hình thành dựa trên sự tương đồng giữa hai thực thể được so sánh; (4) AD là việc dùng từ có mục đích và (5) AD là hình thái không thể thiếu của lời nói

Như vậy, theo quan điểm truyền thống, AD là phương thức chuyển nghĩa của từ vựng căn cứ vào mối quan hệ tương đồng giữa sự vật / đối tượng và là biện pháp tu từ

nhằm tạo nên những biểu tượng trong nhận thức của con người Do đó, có thể nói AD

là đặc tính riêng của ngôn ngữ, là vấn đề của lời nói hơn là vấn đề thuộc phạm trù tư tưởng và hành động

 Ẩn dụ theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận

Sự phát triển của NNH tri nhận trong những năm 80 của thế kỷ XX với sự khởi đầu của Lakoff và Johnson đã tạo ra sự thay đổi bước ngoặt trong quan niệm về AD NNH tri nhận nghiên cứu AD thông qua các lĩnh vực kinh nghiệm và cho rằng AD là hiện tượng tri nhận chứ không đơn thuần là hiện tượng ngôn ngữ Đó là quá trình con người dựa vào một sự vật, một hiện tượng nào đó để nhận thức, hiểu biết, suy nghĩ và diễn đạt một sự vật hay một hiện tượng khác AD có tính chất ý niệm hóa, do đó Lakoff và Johnson gọi nó bằng thuật ngữ “Ẩn dụ ý niệm” (conceptual metaphors) hay “Ẩn dụ tri nhận” (cognitive metaphors)

Lakoff và Johnson khẳng định “AD không đơn thuần là vấn đề về ngôn ngữ mà còn là vấn đề của tư duy và hành động” [120: tr.3] Khác với quan điểm truyền thống cho rằng AD là một dạng so sánh, Lakoff và Turner (1989) cho rằng cách mô hình hóa

AD bằng cấu trúc so sánh A như/giống B là sự phản ánh sai bản chất của AD So sánh

có thể được coi là AD ở thể yếu nhưng AD không hoàn toàn là so sánh [117] Bản chất

Trang 26

AD là nhận thức một ý niệm này thông qua một ý niệm khác, mặc dù các cấu trúc trên

cũng cho thấy sự kết nối giữa hai miền ý niệm nhưng như/giống mang hiệu lực yếu

hơn Căn cứ để xác lập AD không phải là cấu trúc ngôn ngữ biểu hiện AD mà là bản chất tri nhận của nó, tức là sự ý niệm hóa miền A thông qua miền B bằng hệ thống các ánh xạ nhất quán, đơn tuyến và trở thành mô hình tri nhận trong tinh thần con người Theo các nhà NNH tri nhận, AD là cơ chế nhận thức về sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, ở đó con người nhìn nhận và xây dựng lập luận cho các khái niệm trừu tượng, phức tạp thông qua logic của những khái niệm cụ thể, đơn giản hơn AD là quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới Nhờ phương thức AD, con người nhận biết được thế giới vật chất, tinh thần và cảm xúc

AD gắn liền với đặc trưng văn hoá tinh thần của con người [5]

Theo Lakoff và Johnson, AD theo quan điểm tri nhận gồm 5 đặc điểm: (1) AD là hình thức biểu hiện của tư duy, không phải là từ vựng; (2) AD giúp tìm hiểu các khái niệm rõ ràng hơn chứ không chỉ nhằm mục đích thẩm mỹ; (3) AD thường không được cấu thành trên sự tương đồng; (4) AD được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày bởi những người bình thường chứ không chỉ bởi những người có năng lực ngôn ngữ siêu phàm và (5) AD không phải là hình thức trang trí hoa mỹ của ngôn ngữ mà là quá trình

tư duy và tri thức của con người (dẫn theo Kövecses) [108: tr x]

Với ý nghĩa đó, theo đường hướng tri nhận, AD là phương thức biểu tượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ

1.2.1.2 Định nghĩa, cơ sở hình thành và đặc điểm của ẩn dụ ý niệm

 Định nghĩa ẩn dụ ý niệm

Lakoff và Johnson (1980) định nghĩa “AD ý niệm là sự ý niệm hóa một miền tinh thần qua một miền tinh thần khác, gọi là sự ánh xạ (mapping) có hệ thống từ một miền này sang một miền khác nhằm tạo nên một mô hình tri nhận giúp lĩnh hội miền đích một cách hiệu quả hơn” AD ý niệm được hình thành dựa trên kinh nghiệm của con người đối với thế giới, trong đó một miền (thường là miền cụ thể) được dùng để hiểu một miền khác (thường là miền trừu tượng hơn); miền thứ nhất được gọi là miền nguồn (source domain - MN), miền sau gọi là miền đích (target domain - MĐ) [120: tr.5]

NNH tri nhận phân biệt AD ý niệm và AD ngôn ngữ (linguistics metaphor) Kövecses chỉ rõ rằng AD ngôn ngữ chỉ là các BT AD, là dạng cụ thể của AD ý niệm,

Trang 27

trong khi AD ý niệm vốn trừu tượng và khái quát AD ý niệm (được biểu diễn bằng chữ in hoa) là cơ sở ý niệm cho tất cả những BT AD được liệt kê theo nó Các BT AD (được viết bằng chữ in nghiêng) có thể rất đa dạng nhưng nếu nó chỉ được ánh xạ từ một MN duy nhất tới một MĐ tương ứng thì đó chỉ là một AD ý niệm [108: tr.6] Ví

dụ (dẫn theo Lakoff và Johnson), AD ý niệm LOVE IS A JOURNEY (TÌNH YÊU LÀ

MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH) có các BT ngôn ngữ như: Look how far we’ve come (Hãy nhìn xem chúng ta đã đi được bao xa); We’re at a crossroad (Chúng ta đang ở ngã ba đường); We can’t turn back now (Chúng ta không thể quay trở lại)…

 Cơ sở hình thành ẩn dụ ý niệm

Trái với quan điểm truyền thống cho rằng cơ sở hình thành AD là sự tương đồng giữa hai thực thể được so sánh, NNH tri nhận cho rằng bên cạnh sự tương đồng khách quan vốn đã tồn tại trước, AD ý niệm được hình thành dựa trên một loạt kinh nghiệm của con người, bao gồm sự tương liên về kinh nghiệm, sự tương đồng không khách quan, nền tảng văn hóa và sinh học chung giữa hai miền ý niệm… Nhóm các cơ sở này lại, Kövecses cho rằng có hai nền tảng chính hình thành nên AD ý niệm [108: tr.81]

Thứ nhất là sự tương liên về kinh nghiệm Động lực lớn nhất thúc đẩy sự hình

thành AD là sự tương liên trong trải nghiệm của con người Khi một sự kiện xảy ra dẫn đến một sự kiện khác thì hai sự kiện này được cho là có tương liên về trải nghiệm Ví

dụ (dẫn theo Kövecses), nếu đổ thêm chất lỏng vào vật chứa thì mực chất lỏng trong vật chứa tăng lên, như vậy hai sự kiện này có quan hệ tỉ lệ thuận, mối quan hệ này là nền tảng tạo nên AD NHIỀU HƠN HƯỚNG LÊN TRÊN AD này hoạt động dựa trên hai ý niệm: số lượng và chiều thẳng đứng Số lượng được thể hiện bằng thang đo NHIỀU/ÍT, chiều thẳng đứng thể hiện bằng thang đo HƯỚNG LÊN TRÊN/HƯỚNG XUỐNG DƯỚI Xuất phát từ trải nghiệm hàng ngày, khi số lượng gia tăng thì chiều thẳng đứng gia tăng, tạo nên AD ý niệm NHIỀU HƠN HƯỚNG LÊN TRÊN, ÍT HƠN HƯỚNG XUỐNG DƯỚI Những ví dụ tương tự về sự tương liên giữa hai sự vật hình thành nên AD ý niệm được tìm thấy rất phổ biến trong các ngôn ngữ [108: tr.81]

Thứ hai là sự tương đồng cấu trúc được cảm nhận Bên cạnh sự tương liên, AD

còn được hình thành dựa trên sự tương đồng phi khách quan mà người nói cảm nhận

về hai đối tượng Ví dụ (dẫn theo Kövecses), trong AD LIFE IS A GAMBLING

GAME (cuộc đời là một canh bạc), các BT ngôn ngữ I’ll take my chances (Tôi sẽ nắm

Trang 28

lấy cơ hội của tôi), He won big (Anh ấy thắng lớn), It’s a toss-up (Đó là một trò chơi

sấp ngửa) cho thấy con người khắc họa cuộc sống như một canh bạc, có may rủi, thắng thua, sấp-ngửa; các hoạt động diễn ra trong cuộc sống và kết quả mà nó mang lại cũng giống như việc thắng/thua trong một ván bài Con người cảm nhận được sự tương đồng giữa cuộc sống và trò đánh bạc, mặc dù sự tương đồng này không mang tính khách quan và không tồn tại từ trước Sự tương đồng giữa cấu trúc của một miền ý niệm này với cấu trúc của một miền ý niệm khác là một cơ sở quan trọng để hình thành nên AD và thường được gọi là sự tương đồng cấu trúc cảm nhận [108: tr.82] Kövecses cũng đưa ra một lưu ý thú vị rằng một vài AD không dựa trên sự tương đồng mà tạo ra sự tương đồng giữa hai miền ý niệm Các BT ngôn ngữ trên khiến người đọc liên tưởng đến các thuộc tính của một canh bạc, từ đó tạo thành nền tảng hình thành nên AD LIFE IS A GAMBLING GAME [108: tr.84]

 Đặc điểm của ẩn dụ ý niệm

AD ý niệm có 7 đặc điểm nổi bật sau:

Thứ nhất, tính đơn hướng Các AD ý niệm đều mang tính một chiều, tức là AD ánh

xạ cấu trúc từ một miền nguồn sang một miền đích chứ không có ánh xạ tương ứng theo chiều ngược lại Chẳng hạn, TÌNH YÊU được ý niệm hóa theo HÀNH TRÌNH nhưng không thể cấu trúc qui ước hóa HÀNH TRÌNH theo TÌNH YÊU: “tình nhân” được miêu tả quy ước như các “lữ khách” chứ “lữ khách” không được miêu tả thành

“tình nhân”, “trái tim tan vỡ vì tình yêu” được miêu tả quy ước như các vụ đâm xe trong khi vụ đâm xe không thể miêu tả theo lối “trái tim tan vỡ” Do đó, các thuật ngữ

“đích” và “nguồn” mã hóa bản chất một chiều của ánh xạ

Thứ hai, tính che giấu và nhấn mạnh Một đặc điểm quan trọng của AD ý niệm là

tính che giấu và nhấn mạnh: khi ý niệm đích được cấu trúc hóa theo một MN cụ thể,

nó sẽ kích hoạt một khía cạnh nào đó của MĐ và đồng thời làm mờ những khía cạnh khác Ví dụ (dẫn theo Lakoff và Johnson), AD ARGUMENT IS WAR (Tranh luận là

chiến tranh) nhấn mạnh đến bản chất đối nghịch của tranh luận (Anh ta thắng cuộc tranh luận, Tôi đã không thể bảo vệ quan điểm đó ) nhưng lại làm mờ đi khía cạnh về

sự phát triển có trật tự và có tổ chức về một chủ đề cụ thể Ngược lại, AD ARGUMENT IS A JOURNEY (Tranh luận là một cuộc hành trình) lại nhấn mạnh đến

sự phát triển có trật tự và có tổ chức của cuộc tranh luận (Chúng ta sẽ nhích lên từng

Trang 29

bước một; Chúng ta đã có được nhiều lí lẽ), đồng thời che giấu các khía cạnh mang tính đối đầu [120] Đây là lí do các chính trị gia thường dùng nhiều AD ý niệm trong

các diễn ngôn chính trị để nhấn mạnh vào thông điệp họ muốn truyền tải

Thứ ba, tính hệ thống Các AD ý niệm tương tác với nhau và tạo thành những hệ

thống AD tương đối phức tạp Những hệ thống này là tập hợp của các ánh xạ AD hình ảnh, các ánh xạ này cấu trúc hóa những AD cụ thể hơn Lakoff (1993) nêu ra một ví dụ

về một hệ thống AD được gọi là AD cấu trúc sự kiện (event structure metaphor) Đây thực tế là một chuỗi các AD tương tác trong cách thuyết giải phát ngôn [118] Ví dụ (dẫn theo Lakoff và Johnson, [120]): AD CUỘC ĐỜI LÀ MỘT HÀNH TRÌNH bao

gồm hệ thống AD TÌNH TRẠNG LÀ VỊ TRÍ (Anh ấy đang ở ngã ba cuộc đời), THAY ĐỔI LÀ CHUYỂN ĐỘNG (Anh ấy đi từ tuổi 40 sang tuổi 50 mà không hề có dấu hiệu gì của khủng hoảng trung niên), MỤC ĐÍCH LÀ ĐIỂM ĐẾN (Tôi dường như chẳng bao giờ đến được nơi tôi muốn trong đời), PHƯƠNG TIỆN LÀ LỐI ĐI (Trong đời nó, nó đi theo một con đường trái với thói thường) Trong AD cấu trúc sự

kiện này, mỗi ví dụ nhỏ (trong ngoặc đơn) thừa hưởng cấu trúc từ một AD cụ thể (chữ

in hoa) trong khuôn khổ phức hợp cấu trúc sự kiện

Thứ tư, tính tầng bậc Các phép đồ họa AD không tồn tại riêng biệt mà được tổ

chức theo một cấu trúc tầng bậc, trong đó các AD ý niệm ở cấp độ thấp hơn (còn gọi là

AD hạ danh) thừa hưởng cấu trúc của AD có cấp độ cao hơn (còn gọi là AD thượng danh) Ví dụ (dẫn theo Lakoff [120: tr.209]): TÌNH YÊU LÀ MỘT HÀNH TRÌNH và NGHỀ NGHIỆP LÀ MỘT HÀNH TRÌNH là các AD bậc dưới của CUỘC SỐNG LÀ MỘT HÀNH TRÌNH Đến lượt mình, CUỘC SỐNG LÀ MỘT HÀNH TRÌNH lại là bậc dưới của AD HÀNH ĐỘNG LÀ CHUYỂN ĐỘNG ĐƯỢC ĐỊNH HƯỚNG Cùng cấp với AD này là các ý niệm TRẠNG THÁI LÀ NƠI CHỐN, THAY ĐỔI LÀ CHUYỂN ĐỘNG, NGUYÊN NHÂN LÀ LỰC TÁC ĐỘNG, HÀNH ĐỘNG LÀ CHUYỂN ĐỘNG TỰ ĐẨY, PHƯƠNG TIỆN LÀ ĐƯỜNG ĐẾN ĐÍCH

Thứ năm, tính phổ quát Lakoff và Johnson cho rằng AD ý niệm có tính phổ quát

bởi nó phản ánh quá trình tri nhận để thu nhận hình ảnh của con người nên mặc dù có

sự khác biệt văn hoá giữa các ngôn ngữ, AD ý niệm dường như không có sự khác biệt lớn AD ý niệm được phản ánh qua lăng kính ngôn ngữ và văn hóa dân tộc, nên cấu trúc AD của những ý niệm cơ bản tương hòa với những giá trị văn hóa nền tảng nhất

Trang 30

[120] Sau khảo sát được thực hiện với hàng loạt AD ý niệm bằng TA và kiểm chứng trên các ngôn ngữ khác, Kövecses kết luận rằng một số AD ý niệm mang tính phổ quát, ví dụ như HẠNH PHÚC LÀ HƯỚNG LÊN, HẠNH PHÚC LÀ ÁNH SÁNG, HẠNH PHÚC LÀ CHẤT LỎNG TRONG VẬT CHỨA, TỨC GIẬN LÀ CHẤT KHÍ HOẶC CHẤT LỎNG NÉN TRONG VẬT CHỨA đều được tìm thấy trong rất nhiều ngôn ngữ [108] Boers thì cho rằng các AD liên quan đến kinh nghiệm của cơ thể phần lớn mang tính phổ quát, bởi cấu tạo của con người giống nhau nên cách thức tư duy dựa trên cơ thể hẳn phải có những tương đồng nhất định [79]

Thứ sáu, tính biến thiên văn hoá Mặc dù thiên về quan điểm cho rằng AD ý niệm

có tính phổ quát, Lakoff và Johnson cũng thừa nhận rằng nghiên cứu của mình mới chủ yếu giới hạn ở các AD ý niệm và AD ngôn từ trong TA mà chưa đi sâu so sánh

AD ý niệm trên cơ sở văn hóa Trong nghiên cứu sau này, Deignan và cộng sự cho rằng một số AD ý niệm có thể mang tính phổ quát nhưng không thể có một hệ thống

AD ý niệm và AD ngôn ngữ hoàn toàn như nhau tồn tại ở hai nền ngôn ngữ – văn hóa [86] Ngay cả Boers và Kövecses cũng thừa nhận sự biến thiên văn hóa trong AD Cụ thể, Boers khẳng định sự biến thiên văn hóa thể hiện rõ ràng trong AD cấu trúc khi

MN cụ thể hoặc chi tiết hơn MĐ [79] còn theo Kövecses, sự biến thiên văn hóa có thể xảy ra theo 3 hướng: biến thiên trong phạm vi các AD ý niệm, biến thiên theo mức độ chi tiết hóa các AD ý niệm và biến thiên theo mức độ nhấn mạnh AD hoặc hoán dụ [108] Nhiều tác giả sau này đã so sánh AD trong TA và các ngôn ngữ khác như tiếng Tây Ban Nha [82], tiếng Đức [83], tiếng Trung [84] và kết luận rằng các yếu tố văn hóa có tác động tới việc lựa chọn AD của người nói

Thứ bảy, tính tương hòa văn hóa Trong Metaphors We Live by, Lakoff và Johnson

khẳng định rằng bởi AD ý niệm được hình thành dựa trên các trải nghiệm của con người với nền văn hóa nên các cấu trúc AD cơ bản đều tương hòa với những giá trị tiêu biểu nhất của nền văn hóa đó [120, tr.16] Nói cách khác, các cấu trúc AD luôn phù hợp với phong tục tập quán, hoạt động tinh thần hay phương thức tư duy của một cộng đồng văn hóa và phản ánh những đặc trưng đó Ví dụ NHIỀU HƠN LÀ TỐT HƠN, TO HƠN LÀ TỐT HƠN tương hòa với các AD NHIỀU HƠN HƯỚNG LÊN TRÊN, CÁI TỐT HƯỚNG LÊN TRÊN trong khi ÍT HƠN LÀ TỐT HƠN, BÉ HƠN

LÀ TỐT HƠN đối ngược với các AD này Các AD tương hòa tồn tại phổ biến trong

Trang 31

khi AD bất tương hòa chỉ chiếm số ít Lakoff cho rằng không thể khẳng định rằng tất

cả những giá trị văn hóa liên quan đến hệ thống AD thực sự tồn tại, nhưng những giá trị nào tồn tại và ăn sâu gốc rễ vào văn hóa thì tương hòa với hệ thống AD

Các đặc điểm này sẽ được vận dụng để kiến giải sự tương đồng và khác biệt của

AD ý niệm trong các diễn ngôn quảng cáo ở Chương 2, 3 và 4

1.2.1.3 Các khái niệm liên quan đến ẩn dụ ý niệm

Ý niệm (concept) và ý niệm hoá (conceptualization)

Ý niệm là đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất trong NNH tri nhận bởi các mô hình tri nhận đều được cấu thành từ ý niệm Trần Văn Cơ [5], Lý Toàn Thắng [52] và sau này là Nguyễn Thiện Giáp [12] đều chia sẻ quan điểm rằng ý niệm là một đơn vị của ý thức con người, là biểu tượng tinh thần phản ánh cách con người tri nhận và tương tác với thế giới xung quanh, là phương thức con người tiếp nhận bức tranh thế giới khách quan theo cảm nhận chủ quan của riêng mình

Theo Trần Văn Cơ, ý niệm được hình thành trong quá trình tư duy của con người

Ý niệm hình thành trong quá trình cấu trúc hóa thông tin về một sự việc khách quan trong thế giới, bao gồm nội dung thông tin được tiếp nhận về thế giới hiện thực và thế giới tưởng tượng được lọc qua lăng kính chủ quan của con người [5] Theo Lý Toàn Thắng, ý niệm không chỉ là kết quả của quá trình tư duy mà là SP của quá trình tri nhận, được đúc kết bằng kinh nghiệm của con người qua nhiều thế hệ [52] Cả hai tác giả đều cho rằng ý niệm vừa mang tính phổ quát bởi nó phản ánh thế giới khách quan, vừa có tính đặc thù bởi nó gắn liền với đặc trưng văn hóa và ngôn ngữ dân tộc

Ý niệm hóa là quá trình hình thành ý niệm Theo Nguyễn Thiện Giáp, ý niệm phản ánh các thuộc tính và bản chất của sự vật trong não bộ của con người, được hình thành

từ những khái quát trừu tượng Ý niệm hóa là quá trình phát triển của nhận thức từ cảm tính sang lý tính, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng Nó cấu trúc các phương diện trong kinh nghiệm của con người và truyền tải thành các nội dung ngôn ngữ [12]

Phạm trù (category), phạm trù hoá (categorization), điển dạng (prototype)

Theo quan điểm cổ điển có từ thời Aristotle, phạm trù là một tập hợp hữu hạn các điều kiện cần và đủ Các điều kiện này chính là các đặc trưng bản chất, thành viên của

một phạm trù được hình thành dựa trên đặc trưng có hoặc không Đến thập niên 1970,

E.Rosch đưa ra quan điểm có tính thách thức quan điểm truyền thống khi khẳng định

Trang 32

rằng việc xếp loại các thành viên vào phạm trù hoàn toàn dựa trên sự tương đồng (dẫn theo Evans và Greens, [89: tr.250]).Trong NNH tri nhận, phạm trù thể hiện tư duy con người, cho phép khái quát hóa kinh nghiệm để phân loại các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan, như vậy một phạm trù phải được dựa trên những gì mà con người tri giác và trải nghiệm về sự vật hiện tượng đó chứ không phải chính bản thân nó Phạm trù hóa là quá trình phân loại sự vật, hiện tượng, là hoạt động tri nhận bậc cao của con người dựa trên kinh nghiệm của bản thân nhằm tìm hiểu và tương tác với thế giới xung quanh Quá trình phân loại này diễn ra gần như vô thức và có liên quan đến các vấn đề tâm sinh lý, khả năng tri giác, ghi nhớ, sắp xếp thông tin… chứ không phải là một sản phẩm mang tính quy ước

Trong mỗi phạm trù đều có các thành viên đứng ở vị trí trung tâm, nổi bật hơn các thành viên khác – được gọi là điển dạng Nói cách khác, điển dạng là các thành viên điển hình của một phạm trù, là ví dụ tốt nhất cho phạm trù đó Khi nhắc tới một phạm trù, trước tiên người ta sẽ nghĩ tới điển dạng hơn là quan tâm tới toàn bộ danh sách hay các thuộc tính chung Ví dụ, khi nói về loài chim, người ta thường nghĩ đến chim sáo, chim sẻ thay vì chim cánh cụt hay đà điểu Do đó, chim sáo, chim sẻ là điển dạng của loài chim, trong khi chim cánh cụt và đà điểu nằm ở ngoại vi của phạm trù

Miền (domain), miền nguồn (source domain), miền đích (target domain)

Langacker (1987) định nghĩa: “Miền là những thực thể tri nhận như trải nghiệm tinh thần, không gian trình hiện, ý niệm, hoặc phức hợp ý niệm” [121] Để một cấu trúc tri thức được coi là một miền, cấu trúc tri thức đó phải cung cấp thông tin nền giúp hiểu và

sử dụng các nhóm từ vựng trong một ngôn ngữ Ví dụ, nhóm từ hot (nóng), cold (lạnh), lukewarm (âm ấm) nhằm trong miền TEMPERATURE (nhiệt độ); nếu không có kiến

thức nền về nhiệt độ, chúng ta sẽ không thể hiểu và sử dụng các từ vựng này

Như vậy, miền là tập hợp các ý niệm có liên quan đến một nội dung tinh thần như các thực thể tri nhận, thuộc tính, quan hệ Các thực thể tri nhận thường được thể hiện bằng danh từ, chúng tạo thành những nhóm riêng lẻ, mỗi nhóm gồm một số thành viên với các thuộc tính tương đồng Các thuộc tính và quan hệ tạo thành hệ thống các phương diện của miền ý niệm, được thể hiện trong ngôn ngữ bằng tính từ hoặc động từ

Miền nguồn và miền đích là thuật ngữ quy chiếu tới các miền ý niệm trong cấu trúc

AD ý niệm Kövecses (2002) định nghĩa “miền nguồn là miền ý niệm mà từ đó người

Trang 33

ta rút ra các biểu thức AD để từ đó có thể hiểu một miền ý niệm khác; miền đích là miền ý niệm được hiểu thông qua cách sử dụng của miền nguồn” [108: tr.4]

So sánh giữa hai miền ý niệm, MN thường cụ thể, có thể phác họa rõ ràng, dễ nhận biết hoặc đã được ý niệm hóa trong tâm trí con người trong khi MĐ thường trừu tượng, khó xác định hoặc còn mới mẻ đối với nhận thức và kinh nghiệm Bởi thế việc phóng chiếu qua MN giúp xây dựng các lược đồ hình ảnh đối ứng để làm công cụ tri nhận giúp việc nhận thức về MĐ trở nên khả thi và dễ dàng hơn Ví dụ LOVE (tình yêu), LIFE (cuộc sống) hay ARGUMENT (sự tranh luận) là các MĐ – chúng trừu tượng, vô hình và khó xác định Những MĐ này được phóng chiếu sang MN cụ thể và quen thuộc hơn như JOURNEY (hành trình), WAR (chiến tranh), PLANT (thực vật)… Theo cách đó, AD ý niệm giúp những khái niệm vô hình, khó hiểu trở nên có thể hiểu được

Kövecses đã liệt kê 13 MN phổ biến nhất trong AD ý niệm, bao gồm CƠ THỂ CON NGƯỜI, SỨC KHỎE VÀ BỆNH TẬT, MÁY MÓC VÀ THIẾT BỊ, TRÒ CHƠI VÀ THỂ THAO, NẤU NƯỚNG VÀ MÓN ĂN, CHUYỂN ĐỘNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG…

và 13 MĐ có xu hướng sử dụng AD ý niệm để quy chiếu, bao gồm TÌNH CẢM,

MONG MUỐN, ĐẠO ĐỨC, XÃ HỘI, CHÍNH TRỊ, KINH TẾ… ([108: tr.18-28])

Các khái niệm này là căn cứ để luận án tìm hiểu về miền ý niệm SP và các miền nguồn, miền đích có liên quan tới miền ý niệm này theo quan hệ AD

AD theo quan điểm của NNH tri nhận không chỉ là phương thức chuyển nghĩa dựa trên sự tương đồng giữa hai sự vật mà là ánh xạ giữa các cặp điểm tương ứng của hai miền ý niệm Tập hợp các điểm A ở MN sẽ có ánh xạ là tập hợp các điểm A’ ở MĐ

Ví dụ (dẫn theo Lakoff và Johnson) trong AD TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH:

người yêu tương ứng với lữ khách, mối quan hệ tương ứng với phương tiện, mục tiêu của hai người yêu nhau tương ứng với đích đến của cuộc hành trình, những khó khăn trong mối quan hệ tương ứng với các rào cản trên đường đi [120]

Trang 34

Ánh xạ trong AD ý niệm có một vài thuộc tính Thứ nhất, ánh xạ không mang tính

quy ước mà xuất phát từ vận động của con người trong không gian, từ các trải nghiệm

cá nhân và nhận thức trong cuộc sống hàng ngày Một ý niệm có thể chứa nhiều ánh xạ

khác nhau, tạo thành các tiểu hệ trong ý niệm đó Thứ hai, ánh xạ mang tính bộ phận,

nó không thể hiện toàn bộ thuộc tính của MN sang MĐ mà chỉ có một số phương diện của MN được làm nổi bật và ánh xạ sang MĐ, những khía cạnh còn lại bị che giấu đi Tính bộ phận của AD ý niệm là do không gian hai MN và MĐ không đồng nhất tuyệt

đối mà chỉ trùng lặp bộ phận Thứ ba, ánh xạ có tính đơn tuyến, nó chỉ được cấu trúc

từ MN sang MĐ chứ không đi theo chiều ngược lại

Lí thuyết ánh xạ là cơ sở căn bản để triển khai nội dung của Chương 2

Nghiệm thân (embodiment) và lược đồ hình ảnh (image schema)

Nghiệm thân là tư tưởng có vai trò then chốt trong NNH tri nhận như Lakoff và Johnson đã khẳng định: “Cơ sở tri nhận của con người phải được hiểu qua tính nghiệm thân” [120] Hai tác giả cho rằng nghiệm thân là quá trình con người sử dụng các bộ phận cơ thể và trải nghiệm của thân xác để hình thành nên hệ thống ý niệm và tư duy Nghiệm thân bao gồm hai yếu tố: nhận thức của con người về thế giới khách quan và trải nghiệm của con người trong cuộc sống; ngôn ngữ là công cụ để phản ánh cách thức mà con người tư duy về thế giới mà họ trải nghiệm

Tuy nhiên, nghiệm thân vẫn còn là một khái niệm chưa thống nhất Nhiều nhà nghiên cứu đã phê phán NNH tri nhận khi không đề cập tới yếu tố văn hóa trong quá trình hình thành nhận thức của con người Khắc phục thiếu sót này, T Rohrer đề xuất định nghĩa về nghiệm thân như “một sự trải nghiệm về thân thể, về nhận thức và về xã hội của con người là cơ sở cho hệ thống ý niệm và hệ thống ngôn ngữ của chúng ta” [142: tr.20] Với cách hiểu này, nghiệm thân không chỉ là các trải nghiệm sinh lí mà

còn bao hàm cả tác động của các yếu tố văn hóa và tư duy dân tộc

Một khía cạnh quan trọng trong cơ chế nghiệm thân là lược đồ hình ảnh Theo Lakoff, “lược đồ hình ảnh là các cấu trúc tương đối đơn giản xảy ra liên tục trong trải nghiệm cơ thể hàng ngày của chúng ta… Những cấu trúc này có ý nghĩa trực tiếp, trước nhất, vì chúng được trải nghiệm trực tiếp và lặp lại nhờ bản chất tự nhiên của cơ thể và cách thức hành chức của nó trong môi trường của chúng ta” [115: tr.267] Evan

và Green cho rằng lược đồ hình ảnh đến từ sự tương tác của con người với thế giới

Trang 35

khách quan, là cách con người khám phá các vật thể vật lý bằng cách tiếp xúc với chúng, do đó lược đồ hình ảnh có thể được dùng như MN cho các ánh xạ AD Qua tương tác với thế giới bên ngoài, các hoạt động thân thể với tư cách là chất kiến tạo sẽ tạo nên quá trình phạm trù hóa, từ đó hình thành lược đồ hình ảnh, giúp con người ý niệm về thế giới với giản đồ cụ thể [89: tr.300]

Lí thuyết nghiệm thân là cơ sở căn bản để triển khai các nội dung ở Chương 4

1.2.1.4 Phân loại ẩn dụ ý niệm

Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại AD ý niệm như phân loại theo tính thông dụng, phân loại theo tính khái quát, phân loại theo miền nguồn, trong đó chúng tôi nhận thấy cách phân loại của Lakoff và Johnson là hợp lý và được thừa nhận bởi nhiều tên tuổi khác trong NNH tri nhận như Reddy, Langacker, Kövecses, bởi vậy luận án lựa chọn tiếp cận AD ý niệm trong QC bằng cách phân loại này

Trong Metaphors We Live by [120], Lakoff và Johnson đã đề cập đến AD bản thể,

AD định hướng và AD cấu trúc, tuy nhiên hai tác giả chưa đưa ra các tiêu chí phân định cụ thể giữa 3 loại AD này Thiếu sót này đã được Kövecses khắc phục bằng cách

miêu tả chi tiết các loại AD theo chức năng tri nhận của chúng trong Metaphor: A Practical Introduction [108] Sau đây là trình bày ngắn gọn về các loại AD ý niệm,

phân biệt theo chức năng tri nhận của chúng

Ẩn dụ cấu trúc (structural metaphor)

AD cấu trúc là nhóm AD ý niệm lớn nhất AD cấu trúc là loại AD mà ở đó ý nghĩa của một từ/biểu thức (miền đích) được hiểu thông qua cấu trúc của một từ/biểu thức khác (miền nguồn) Loại AD này giúp chúng ta hiểu rõ MĐ (thường trừu tượng và mơ hồ) thông qua cấu trúc của MN (thường cụ thể và quen thuộc) Như thế, MN cung cấp một cấu trúc tri thức tương đối phong phú cho MĐ thông qua ánh xạ giữa các yếu tố của hai miền

Ví dụ AD ý niệm TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH là AD cấu trúc, ở đó MĐ TRANH LUẬN được hiểu qua cấu trúc của MN CUỘC CHIẾN TRANH Chúng ta sử dụng những hiểu biết về chiến tranh để hình dung ra một cuộc tranh luận với sự ‘hiếu chiến’ của những người tham gia và các hoạt động điển hình trong cuộc chiến tranh đó: mặc dù không có vũ khí nhưng cả hai bên đều rất mạnh mẽ với những lập luận của

mình AD này được phản ánh thông qua các BT AD như “Lập luận của anh ấy không

Trang 36

thể bảo vệ được”, “Anh ấy tấn công vào mọi điểm yếu trong lập luận của tôi”, “Tôi chưa bao giờ giành thắng lợi trong cuộc tranh luận với anh ấy”, “Tôi đầu hàng trước

những lời cáo buộc của anh ấy”…

Ẩn dụ bản thể (ontological metaphor)

AD bản thể quy những trải nghiệm vốn vô hình, trừu tượng, mơ hồ thành những thực thể hữu hình, tồn tại dưới dạng thức sự vật, chất liệu… Với cách đó, AD bản thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn các ý niệm trừu tượng

AD thực thể và chất liệu (entity and substance metaphor) là nhóm tiêu biểu trong

AD bản thể, ở đó những sự vật không tách biệt và không có đường bao ngoài rõ ràng được phân loại bằng cách tạo ra một ‘đường biên nhân tạo’ khiến chúng trở nên riêng

rẽ như những thực thể hoặc chất liệu nhằm các mục đích khác nhau như định danh,

định lượng, nhận diện khía cạnh Ví dụ trong các BT “Chúng ta cần kiềm chế lạm phát”, “Lạm phát khiến chất lượng cuộc sống của chúng ta suy giảm”, lạm phát được

quy thành một thực thể hữu hình Ngoài ra còn có AD vật chứa (container metaphor), trong AD này, các thực thể được coi là một vật chứa có giới hạn bởi đường bao ngoài, chúng ta định vị mình ở bên trong và phần còn lại của thế giới tồn tại ở bên ngoài Phương thức định vị trong-ngoài này được áp dụng lên các vật thể khác trong cuộc

sống, ví dụ ‘Chiếc tàu tiến vào trong tầm nhìn’, ‘Giữa đường đua tôi bị kiệt sức’…

AD bản thể cũng bao gồm nhân hóa (personification), trong đó các đặc điểm tiêu biểu của con người được gán cho các thực thể phi con người Nhân hóa cho phép chúng ta hiểu rõ nhiều trải nghiệm với các thực thể phi con người bằng cách quy chiếu sang

động cơ, đặc điểm và hoạt động của con người Ví dụ “Lạm phát đã tấn công vào nền móng của nền kinh tế”, “Kẻ thù lớn nhất của chúng ta là lạm phát”…

Các AD bản thể diễn ra một cách tự nhiên và thường xuyên trong tâm trí con người đến nỗi chúng ta thường không coi đó là AD Trong đối sánh với AD cấu trúc, AD bản thể ít cung cấp cấu trúc tri nhận hơn Nhiệm vụ tri nhận của AD bản thể dường như chỉ

là cung cấp trạng thái bản thể cho các phạm trù chung của những ý niệm đích trừu tượng Nhờ có AD bản thể mà các kinh nghiệm trừu tượng có thể được cấu trúc sâu hơn theo AD cấu trúc

Theo định nghĩa của Lakoff và Johnson, ranh giới giữa AD bản thể và AD cấu trúc tương đối mơ hồ Kövecses cụ thể hóa rằng sự khác biệt giữa AD bản thể và AD cấu

Trang 37

trúc nằm ở chỗ AD cấu trúc có một MN được xác định rõ ràng để cấu trúc hóa MĐ trừu tượng trong khi AD bản thể không có MĐ rõ ràng Khi lược đồ ánh xạ của AD bản thể mạnh hơn bản thân AD, AD đó được xếp vào AD cấu trúc [108: tr.34]

Ẩn dụ định hướng (orientational metaphor)

AD định hướng không cấu trúc ý niệm thông qua một ý niệm khác mà thay vào đó

tổ chức cả một hệ thống ý niệm trong mối tương quan với nhau Chúng ta gọi nó là

“AD định hướng” bởi hầu hết các AD này đều liên quan đến định vị không gian được

tổ chức thành các cặp đối lập như lên – xuống, trong – ngoài, trước – sau, nông – sâu, tâm – biên…

Ví dụ AD ý niệm NIỀM VUI ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN có các BT như “Tôi

thấy phấn chấn hẳn lên”, “Tinh thần đang lên cao”, “Tôi đang ở trên chín tầng mây”…, ngược lại AD NỖI BUỒN ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI được thể hiện qua các BT như “Tinh thần suy sụp”, “Tôi rơi xuống đáy vực sâu của sự chán nản”…

Điều đáng lưu ý là AD định hướng không mang tính võ đoán mà bắt nguồn từ kinh nghiệm vật lý và văn hóa của con người Bên cạnh đó, phương thức ý niệm hóa của một số ý niệm cũng có sự thống nhất: các giá trị tích cực (như sức khỏe, hạnh phúc, ý thức, toàn thể, trung tâm, liên kết, cân bằng…) thường hướng lên trên trong khi các giá trị tiêu cực (bệnh tật, nỗi buồn, vô thức, phi toàn thể, ngoại vi, không liên kết, mất cân bằng…) thường hướng xuống dưới

So với hai loại AD trên, AD định hướng có chức năng tri nhận thấp nhất Cấu trúc tri nhận mà nó tạo ra cho các ý niệm đích thậm chí còn sơ sài hơn cả AD bản thể; thay vào đó nó chủ yếu giúp hệ thống ý niệm trở nên gắn bó và mạch lạc hơn, thể hiện ở chỗ các ý niệm đích có xu hướng được ý niệm hóa một cách thống nhất và đồng dạng Tuy nhiên cần lưu ý rằng bản thân Lakoff và Johnson cũng khẳng định “sự phân chia AD thành 3 loại là sự phân chia mang tính nhân tạo Mọi loại AD đều có tính cấu trúc (thể hiện ở ánh xạ của cấu trúc này lên cấu trúc kia); mọi loại AD đều có tính bản thể (thể hiện ở chỗ chúng tạo ra thực thể nguồn-đích)” [120] Đó là chưa kể đến việc cùng một BT ngôn ngữ có thể phân tích theo nhiều góc độ AD ý niệm khác nhau Ví

dụ, BT “Tết đang đến” có thể phân tích theo AD cấu trúc (THỜI GIAN LÀ VẬT

CHUYỂN ĐỘNG), hoặc theo AD bản thể (THỜI GIAN LÀ THỰC THỂ) Đây chính

là hiện tượng trùng lặp trong AD Chính bởi lý do đó, trong luận án này chúng tôi coi

Trang 38

việc phân chia AD thành các tiểu loại chỉ nhằm giúp cho việc cơ cấu nội dung trở nên

rõ ràng hơn chứ không lấy thống kê và so sánh định lượng giữa ba tiểu loại AD làm trọng tâm nghiên cứu

1.2.1.5 Quy trình nhận dạng ẩn dụ

Để so sánh AD ý niệm trong các diễn ngôn QC giữa TV và TA, trước hết chúng tôi phải xác định được các AD ý niệm Kế thừa các nghiên cứu đi trước, trong luận án này, chúng tôi lựa chọn sử dụng quy trình nhận dạng ẩn dụ MIP (Metaphor Identification Procedure) do Pragglejaz đề xuất [132] bởi quy trình này có tính ứng dụng cao và được công nhận rộng rãi bởi nhiều nhà nghiên cứu khác

Quy trình MIP được thực hiện với 4 bước được chúng tôi lựa chọn diễn giải bằng ngữ liệu nghiên cứu cụ thể trong luận án này như sau: 1) đọc các diễn ngôn QC để tìm hiểu nghĩa tổng thể của QC; 2) xác định các các từ ngữ có tiềm năng sử dụng AD và các từ ngữ có liên quan trong ngữ cảnh (mỗi từ ngữ AD tiềm năng kết hợp với các từ ngữ khác trong QC sẽ hình thành nên một BT); 3) xác định dạng thức của BT có từ ngữ AD tiềm năng, đối chiếu các từ ngữ AD tiềm năng vào các MN để gọi tên MN và

MĐ, từ đó xác định liệu BT tìm được có phải là BT AD hay không; 4) gọi tên các BT AD: các từ ngữ AD tiềm năng lúc này trở thành từ biểu lộ AD (metaphorically-

expressed words) – trong luận án này chúng tôi chọn gọi là dụ dẫn, BT hình thành bởi

dụ dẫn và các từ ngữ kết hợp khác gọi là biểu thức ẩn dụ (metaphor expressions)

1.2.2 Cơ sở lý luận về Ngôn ngữ học đối chiếu

1.2.2.1 Khái niệm ngôn ngữ học đối chiếu

Theo Bùi Mạnh Hùng, NNH đối chiếu là một phân ngành của NNH so sánh nhằm

“so sánh hai hoặc nhiều hơn hai ngôn ngữ bất kỳ để xác định những điểm giống nhau

và khác nhau giữa các ngôn ngữ đó, không tính đến vấn đề các ngôn ngữ được so sánh

có quan hệ cội nguồn hay thuộc cùng một loại hình hay không” [32: tr.9]

Việc so sánh đối chiếu giữa hai ngôn ngữ có thể được phân thành các ngành cụ thể, căn cứ vào đối tượng, mục đích và cách thức so sánh Ví dụ, dựa vào tiêu chí có tính lịch đại là quan hệ cội nguồn để phân loại ngôn ngữ thành ngữ hệ thì TV thuộc ngữ hệ Nam Á còn TA thuộc ngữ hệ Ấn Âu; dựa vào đặc điểm hình thái học thì TV thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập còn TA thuộc ngôn ngữ biến hình; dựa vào đặc điểm cú pháp thì TV và TA đều thuộc ngôn ngữ S –V – O

Trang 39

Bởi mục tiêu là tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, NNH đối chiếu có thể giúp xác định những thuận lợi và khó khăn mà người học gặp phải khi học tiếng nước ngoài Đặc biệt, vì những tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ có liên quan chặt chẽ tới văn hóa và chỉ có thể được phát hiện qua lăng kính đối chiếu nên việc nghiên cứu NNH đối chiếu góp phần nghiên cứu các đặc trưng văn hóa dân tộc và

lý giải cho các vấn đề trong NNH tri nhận [32: tr.39]

1.2.2.2 Các bình diện và cấp độ so sánh đối chiếu

Theo Bùi Mạnh Hùng, việc so sánh đối chiếu có thể được thực hiện ở bất cứ cấp độ nào mà ngôn ngữ và lời nói có thể miêu tả nhưng nhìn chung được phân thành 4 bình

diện: thứ nhất là đối chiếu về ngữ âm, gồm đối chiếu ngữ âm đoạn tính (như âm tố, âm

vị, âm tiết) và ngữ âm siêu đoạn tính (như trọng âm, thanh điệu, ngữ điệu); thứ hai là

đối chiếu về từ vựng nhằm làm rõ những điểm giống và khác nhau của các thành phần

và quan hệ từ vựng Từ vựng là một phạm trù rất rộng nên tiêu chí để phân loại đối chiếu cũng rất phong phú, trong đó đối chiếu trường từ vựng đang là xu hướng phổ

biến của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ; thứ ba là đối chiếu về ngữ pháp, tập trung vào

hai phân ngành truyền thống là hình thái học và cú pháp học, được chia thành các cụm vấn đề cụ thể hơn như đối chiếu các đơn vị, các lớp ngữ pháp, cấu trúc ngữ pháp, quan

hệ và phạm trù ngữ pháp cũng như phương tiện biểu hiện các quan hệ và phạm trù này;

thứ tư là đối chiếu ngữ dụng học nhằm so sánh các phương tiện giao tiếp, hành chức

trong những ngữ cảnh cụ thể của văn hóa Hướng nghiên cứu này đang thu hút sự chú

ý của các nhà ngôn ngữ, bởi nó nghiên cứu ngôn ngữ theo ‘thẩm năng giao tiếp’ chứ không chỉ dừng lại ở ‘thẩm năng ngôn ngữ’ [32: tr.179]

Về cấp độ, việc so sánh đối chiếu có thể được thực hiện ở cấp độ vi mô (micro linguistics) và vĩ mô (macro linguistics) Ngôn ngữ học vi mô nghiên cứu các thay đổi

nhỏ trong quá trình phát triển của ngôn ngữ ảnh hưởng tới âm thanh và hình thức của ngôn ngữ đó còn ngôn ngữ học vĩ mô xem xét các tương tác giữa ngôn ngữ và xã hội,

sự ảnh hưởng của các nhân tố xã hội tới ngôn ngữ và so sánh ngôn ngữ giữa các quốc gia và nền văn hóa khác nhau

Trong luận án này, việc so sánh đối chiếu được thực hiện trên bình diện từ vựng (các dụ dẫn) ở cấp độ vĩ mô (so sánh các AD ý niệm trong QC TV và TA dựa trên nền tảng văn hóa – xã hội của hai quốc gia)

Trang 40

1.2.2.3 Các cách tiếp cận và các bước so sánh đối chiếu

Theo Bùi Mạnh Hùng, về cơ bản, có hai cách tiếp cận cơ bản trong một nghiên cứu

đối chiếu: đối chiếu hai chiều và đối chiếu một chiều [32: tr.160] Đối chiếu hai chiều

so sánh đối tượng nghiên cứu trong hai ngôn ngữ dựa trên một tiêu chí nhất định, được tiến hành qua các bước sau: (1) xác định tiêu chí đối chiếu; (2) mô tả phương tiện ngôn ngữ biểu thị phạm trù đối chiếu trong mỗi ngôn ngữ; và (3) so sánh đối chiếu các điểm giống nhau và khác nhau Trong đối chiếu hai chiều, không có ngôn ngữ nào được coi

là ngôn ngữ xuất phát và ngôn ngữ nào là ngôn ngữ đích Trong khi đó, đối chiếu một chiều nghiên cứu ý nghĩa của một phương tiện trong một ngôn ngữ, sau đó so sánh

phương tiện đó với các phương tiện có ý nghĩa tương ứng trong ngôn ngữ còn lại Với đối chiếu một chiều, người nghiên cứu cần (1) xác định một ngôn ngữ làm điểm xuất phát, sau đó (2) mô tả các hình thức trong ngôn ngữ này rồi (3) đối chiếu với những cái tương đương trong ngôn ngữ đích hoặc ngược lại

Trong luận án này, chúng tôi sử dụng phương pháp đối chiếu hai chiều Đối tượng đối chiếu là AD ý niệm trong QC Ngôn ngữ đối chiếu là TV và TA Tiêu chí đối chiếu gồm tần suất xuất hiện, ánh xạ của AD ý niệm và đặc trưng văn hóa tư duy dân tộc tác động tới các AD này Các bước đối chiếu gồm mô tả hệ thống AD ý niệm trong các diễn ngôn QC ở mỗi ngôn ngữ, sau đó tiến hành so sánh để tìm ra các điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ

1.2.3 Cơ sở lý luận về văn hóa Việt và Anh

Văn hóa vốn là một khái niệm rất rộng với nhiều bình diện khác nhau như phong tục, tập quán, lối sống, hành vi….; đây cũng là khái niệm ‘động’ bởi các giá trị văn hóa không ngừng biến đổi theo thời gian, đặc biệt là trong ngữ cảnh toàn cầu hóa như hiện nay Trong phạm vi của luận án này, chúng tôi lựa chọn trình bày ngắn gọn các đặc trưng văn hóa Việt và Anh theo mô hình 4 chiều văn hóa của Hofstede [101]

Mô hình văn hóa này được Hofstede thực hiện từ năm 1967 đến 1973 bằng một khảo sát được tiến hành với 117,000 người tại 90 quốc gia và 3 vùng lãnh thổ, trong đó

có Việt Nam và Anh Đây là quy mô mẫu đa quốc gia lớn nhất tại thời điểm khảo sát,

và nghiên cứu của Hofstede cũng là một trong những nghiên cứu định lượng đầu tiên

có thể được sử dụng để giải thích cho các khác biệt quan sát thấy giữa các nền văn hóa trên thế giới

Ngày đăng: 27/02/2020, 16:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đinh Kiều Châu (2013), Ngôn ngữ quảng cáo: Một sản phẩm truyền thông lưỡng diện, Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà nội, Khoa học xã hội và nhân văn, tập 29, số 3 (2013), trang 29-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà nội, Khoa học xã hội và nhân văn
Tác giả: Đinh Kiều Châu (2013), Ngôn ngữ quảng cáo: Một sản phẩm truyền thông lưỡng diện, Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà nội, Khoa học xã hội và nhân văn, tập 29, số 3
Năm: 2013
3. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng – ngữ nghĩa Tiếng Việt, NXB Giáo dục Hà nội 4. Vũ Thị Sao Chi, Phạm Thị Thu Thuỷ (2014), Hai ý niệm tương phản - nền tảngcho ẩn dụ tri nhận trong thơ Chế Lan Viên, website Đại học Sư phạm Hà nội:http://nguvan.hnue.edu.vn/Nghiencuu/Ngonngu.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng – ngữ nghĩa Tiếng Việt", NXB Giáo dục Hà nội 4. Vũ Thị Sao Chi, Phạm Thị Thu Thuỷ (2014), Hai ý niệm tương phản - nền tảng cho ẩn dụ tri nhận trong thơ Chế Lan Viên
Tác giả: Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng – ngữ nghĩa Tiếng Việt, NXB Giáo dục Hà nội 4. Vũ Thị Sao Chi, Phạm Thị Thu Thuỷ
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà nội 4. Vũ Thị Sao Chi
Năm: 2014
5. Trần Văn Cơ (2007), Ngôn ngữ học tri nhận – ghi chép và suy nghĩ, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận – ghi chép và suy nghĩ
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2007
6. Trần Văn Cơ (2007), Nhận thức, tri nhận – Hai hay một (Tìm hiểu thêm về ngôn ngữ học tri nhận), Tạp chí Ngôn ngữ số 7, trang 19 - 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Trần Văn Cơ
Năm: 2007
7. Trần Văn Cơ (2009), Khảo luận ẩn dụ tri nhận, NXB Lao động - Xã hội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận ẩn dụ tri nhận
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2009
10. Trần Xuân Diệp, Ẩn dụ về “xấu hổ” trong một số thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận,foe.hnue.edu.vn/Portals/1/Tran%20Xuan%20Diep.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: xấu hổ” trong một số thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận
11. Hữu Đạt (2011), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, NXB Giáo dục Hà nội 12. Nguyễn Thiện Giáp (2014), Nghĩa học Việt ngữ, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại", NXB Giáo dục Hà nội12. Nguyễn Thiện Giáp (2014), "Nghĩa học Việt ngữ
Tác giả: Hữu Đạt (2011), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, NXB Giáo dục Hà nội 12. Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà nội12. Nguyễn Thiện Giáp (2014)
Năm: 2014
13. Võ Kim Hà (2011), Ẩn dụ tiếng Việt nhìn từ lý thuyết nguyên mẫu (so với với tiếng Pháp và tiếng Anh), Luận án tiến sỹ Ngữ văn, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ tiếng Việt nhìn từ lý thuyết nguyên mẫu (so với với tiếng Pháp và tiếng Anh)
Tác giả: Võ Kim Hà
Năm: 2011
14. Hà Thanh Hải (2011), Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế Anh – Việt, Luận án tiến sỹ Ngữ văn, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế Anh – Việt
Tác giả: Hà Thanh Hải
Năm: 2011
15. Nguyễn Văn Hán (2012), Định vị thời gian trong tiếng Việt dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận (So sánh với tiếng Anh), Luận án tiến sỹ Ngữ văn, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định vị thời gian trong tiếng Việt dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận (So sánh với tiếng Anh)
Tác giả: Nguyễn Văn Hán
Năm: 2012
16. Nguyễn Thị Bích Hạnh (2014), Ẩn dụ tri nhận trong ca từ Trịnh Công Sơn, Sách chuyên khảo, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ tri nhận trong ca từ Trịnh Công Sơn
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hạnh
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2014
17. Nguyễn Thị Bích Hạnh (2012), Ẩn dụ ý niệm CUỘC ĐỜI LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH trong ca từ Trịnh Công Sơn, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số 1 - 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hạnh
Năm: 2012
18. Lê Thị Ánh Hiền (2009), Ẩn dụ trong thi pháp dưới góc nhìn của G.Lakoff và M.Turner, Luận văn thạc sỹ ngữ văn, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ trong thi pháp dưới góc nhìn của G.Lakoff và M.Turner
Tác giả: Lê Thị Ánh Hiền
Năm: 2009
1. Nguyễn Thị Kim Anh (2014), Ẩn dụ ý niệm HÔN NHÂN LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH trong kho tàng thành ngữ, tục ngữ, website Đại học Sư phạm Hà nội: http://nguvan.hnue.edu.vn/Nghiencuu/Ngonngu.aspx Link
9. Nguyễn Đức Dân (2012), Tri nhận thời gian trong tiếng Việt, http://www.ngonngu.org/tri_nhan_tri_thuc_trong_thoi_gian.html Link
47. Dương Xuân Quang, Tìm hiểu ẩn dụ trong khuynh hướng tri nhận luận qua ý niệm ‘cuộc sống’ của người Việt, https://www.academia.edu/ Link
65. Nguyễn Đức Tồn (2016), Một cái nhìn mới về bản chất của ẩn dụ, website Viện Ngôn ngữ học: http://vienngonnguhoc.gov.vn/bai-viet/mot-cai-nhin-moi-ve-ban-chat-cua-an-du-phan-ii_149.aspx Link
71. Agnes A. (2009), The Use of Metaphors in Advertising - A Case Study and Critical Discourse Analysis of Advertisements in Cosmopolitan, https://www.academia.edu/283469 Link
154. Wikipedia: https://en.wikipedia.org/wiki/Cognition155. Wikipedia: https://en.wikipedia.org/wiki/Advertising Link
159. Bản đồ cảm xúc của cơ thể: Mối quan hệ giữa cảm xúc, trạng thái sinh lý và hành vi, https://quantrimang.com/ban-do-cam-xuc-cua-co-the-moi-lien-he-giua-cam-xuc-trang-thai-sinh-ly-va-hanh-vi-124257 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w