1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tương thông Thiên – Địa – Nhân trong thơ Lý Quý Lan

7 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 222,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống văn học cổ điển Trung Hoa nói chung, kho tàng Đường thi nói riêng không đứng ngoài truyền thống của một nền văn hóa nông nghiệp với kinh nghiệm thuận hòa, nương tựa vào thiên nhiên. Trong hơn 200 nữ sĩ đời Đường, Lý Quý Lan là nhà thơ duy nhất được tôn xưng “Nữ trung thi hào”.

Trang 1

Đất nước Trung Hoa rộng lớn với chiều

sâu văn hóa hàng nghìn năm đã trở

thành một trong những cái nôi của văn hóa,

văn minh nhân loại� Đặc trưng quan trọng

của cái nôi ấy là tính chất nông nghiệp,

nông thôn, nơi con người tồn tại hài hòa

cùng thế giới tự nhiên� Cũng vì thế, văn

học cổ điển Trung Hoa nói chung, kho tàng

Đường thi nói riêng xuất hiện không ít bài

thơ bộc lộ tình yêu thiên nhiên� Trong hơn

200 nữ sĩ đời Đường, Lý Quý Lan là nhà thơ

duy nhất được tôn xưng “Nữ trung thi hào”�

Cũng như sáng tác của nhiều thi nhân thời

ấy, thơ Lý Quý Lan phản ánh mối quan hệ

hài hòa giữa con người với tạo vật thiên

nhiên� Con đường sáng tạo của nữ thi nhân

là hành trình sử dụng ngôn ngữ để mở ra

Đ ặng T hị B íCh h ồng 1 , D ương T uấn a nh 2

1 Đại học Hùng Vương, 2 Đại học Sư phạm Hà Nội

Nhận bài ngày 14/11/2017, Phản biện xong ngày 27/11/2017, Duyệt đăng ngày 28/11/2017

TÓM TẮT

Hệ thống văn học cổ điển Trung Hoa nói chung, kho tàng Đường thi nói riêng

không đứng ngoài truyền thống của một nền văn hóa nông nghiệp với kinh nghiệm thuận hòa, nương tựa vào thiên nhiên Trong hơn 200 nữ sĩ đời Đường, Lý Quý Lan là nhà thơ duy nhất được tôn xưng “Nữ trung thi hào” Đọc thơ Lý Quý Lan từ mối quan hệ tương thông Thiên – Địa – Nhân, chúng tôi nhận diện con đường sáng tạo của nữ thi nhân như là hành trình sử dụng ngôn ngữ để mở ra mối tương cảm đặc biệt giữa con người và thế giới tự nhiên

Từ khóa: Lý Quý Lan, con người, thiên nhiên.

mối tương cảm đặc biệt giữa con người và thế giới tự nhiên� Tìm hiểu mối quan hệ tương thông Thiên – Địa – Nhân trong thơ

Lý Quý Lan, bài viết này hướng đến nhận diện tâm thế con người trong môi trường

tự nhiên với những núi non, cỏ cây, sông nước, bầu trời… Cũng từ đó, thơ xác định một thái độ ứng xử, một nguyên tắc chung sống cùng tự nhiên của con người cổ điển Đông phương�

1 Mô hình Thiên – Địa – Nhân trong truyền thống tư tưởng phương Đông

Con người Á Đông trong sâu thẳm truyền thống vốn gần gũi với thiên nhiên và nương tựa vào thiên nhiên mà sống� Nhìn lại truyền thống tư tưởng phương Đông, có thể nói, sự

Trang 2

coi trọng thiên nhiên trở thành điểm gặp

nhau giữa các trường phái tôn giáo, triết học

cổ điển� Quan niệm về sự tương thông Thiên

– Địa – Nhân trong tư tưởng Nho, Đạo, Phật

như một minh chứng của thái độ tôn sùng

thiên nhiên, đồng nhất bản thể con người

với bản thể tự nhiên�

“Thiên nhân hợp nhất” của Nho gia được

đánh giá là khái niệm cổ điển nhất trong

truyền thống văn hóa Trung Hoa� Vạn vật

trong trời đất và con người hợp thành nhất

thể, con người là một bộ phận của thế giới

tự nhiên� Do vậy, con người phải tuân theo

quy luật tự nhiên, nhân tính phải thống nhất

với thiên đạo� “Khi ‘trung’ – một trạng thái

của ‘tâm’ (tuyệt đối bình lặng trước những

tác động bên ngoài) – đi vào mỗi con người

và tạo nên được sự thống nhất thiên – địa –

nhân, thì đó là lúc ‘hòa’ xuất hiện Nói cách

khác, triết lý Nho giáo khuyến dụ, giữa con

người và thiên – địa có một khoảng cách hiện

hữu, nhưng bất kể trường hợp nào con người

cũng không nên tách mình ra khỏi tự nhiên

và không nên tìm hiểu nó một cách lãnh đạm

mà cần ‘hòa trộn hài hòa nội tâm vào ngoại

cảnh’ – một tiền đề cho việc con người, cả xưa

và nay, tham gia vào sự cộng hưởng nội tại

của các sinh lực trong tự nhiên là chuyển hóa

nội tại của chính mình” [5, tr�454-455]� Tuy

nhiên, là một học thuyết đạo đức, Nho giáo

khi khẳng định trạng thái tương thông giữa

con người và vũ trụ vẫn đặt con người vào vị

trí trung tâm� “Để tìm căn cứ lý luận từ thế

giới khách quan, người ta đem luân thường

đạo lý của con người gán cho vạn vật trong

trời đất, biến trời thành hóa thân của đạo đức

rồi lại lấy thiên đạo chứng minh cho nhân

thế” [1, tr�76]� Giữa con người và vũ trụ tồn

tại mối liên hệ tương cảm; và dựa vào khả

năng điều chỉnh hành vi của con người, mối

liên hệ ấy có thể đạt tới trạng thái cân bằng, thống nhất�

Nếu Nho giáo nói tới “Thiên, Nhân hợp nhất” để nhấn mạnh ý thức đạo đức thì Đạo giáo khẳng định “Thiên, Nhân hòa hợp” để theo đuổi sự hài hòa giữa tâm tính con người với thế giới tự nhiên� “Tự nhiên” là cái đích cao nhất mà triết thuyết Đạo gia hướng tới�

Đạo đức kinh nhấn mạnh: “Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp

tự nhiên”� Quan điểm này bắt nguồn từ tư

tưởng Thiên – Địa – Nhân nhất thể có chung bản nguyên là Khí� Như vậy, trạng thái nhất thể này là thuộc tính của tự nhiên, sự cân bằng là trật tự của tự nhiên� Nguyên tắc xử thế được đề xuất ở đây là “vô vi nhi vô bất vi”, kêu gọi con người trở về với tự nhiên, cảm nhận đạo vô vi của vũ trụ� Và trong thế giới tự nhiên ấy, con người bình đẳng với tất

cả các sinh loài khác�

Quan niệm về “vô” của Đạo gia “hầu

như song hành với quan niệm “tính không” (sunyata) – tầm quan trọng của việc đạt tới trạng thái vô niệm, hư không, giải thoát tâm thức khỏi mọi tri kiến được nhấn mạnh trong nhiều kinh sách Phật giáo”[4, tr�215]� Phật giáo Thiền tông chủ trương tu thân xuất thế� Muốn tham thiền đạt ngộ, điều kiện khách quan là con người phải có một không gian thanh tĩnh� Trời, đất tĩnh lặng, thiên nhiên

êm ả là không gian lý tưởng để con người đạt tới trạng thái “tĩnh lự”, “minh tưởng”— trạng thái thống nhất hài hòa giữa con người

và khách thể tự nhiên�

Như vậy, tam giáo phương Đông có thể

đề xuất những quan niệm khác nhau về vị thế của con người trong mối quan hệ với

tự nhiên nhưng xét cho cùng, cả Nho, Đạo, Phật đều khẳng định sự tương liên giữa con người và đất trời như là trạng thái sinh tồn lý

Trang 3

tưởng� Tư tưởng coi trọng thiên nhiên trong

truyền thống Á Đông này chi phối cách con

người thiết lập một thái độ, một nguyên tắc

ứng xử với thế giới tự nhiên� Văn học Á

Đông, vì thế, nổi tiếng với những sáng tác

ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên, khắc họa mối

quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự

quấn quýt, giao hòa�

Nhìn vào lịch sử gần 300 năm thời đại

Đường thi, không thể không kể đến một

dòng thơ nổi tiếng lấy cảnh vật nước non làm

đề tài ngâm vịnh chủ đạo: dòng thơ sơn thủy

điền viên với những tên tuổi lừng danh như

Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Lưu Trường

Khanh, Vi Ứng Vật, Liễu Tông Nguyên��� Xét

riêng trong trong bậc nữ thi nhân, Lý Quý

Lan “đã vượt khỏi thói tục, tu dưỡng thứ giáo

dục thanh tịnh, tâm sự những xúc cảm sâu

kín, lưu luyến những cảnh sắc tươi đẹp, tiêu

dao với công việc nhàn hạ, luôn nghĩ về những

điều trong trẻo như mây trắng nước xanh” [6,

tr�111]� Thơ Lý Quý Lan nhìn từ truyền thống

tư tưởng phương Đông là một thể nghiệm

về sự tương thông Thiên – Địa – Nhân, sự

gắn kết hài hòa giữa con người và thế giới

tự nhiên�

2 Thiên – Địa hữu linh: bức tranh

sinh loài đa diện trong thơ Lý Quý Lan

Truyền thống thơ ca cổ điển nhìn vạn

vật trong trạng thái tĩnh tại muôn thuở,

miêu tả vạn vật với những thuộc tính tự

nhiên của bản nguyên thế giới� Những

trang thơ điền viên của Vương Duy, Mạnh

Hạo Nhiên, Liễu Tông Nguyên tái hiện vẻ

đẹp nguyên sơ, khách quan của thế giới tự

nhiên, của những ruộng vườn, đồng bãi,

sông núi, suối khe… Con người hiện lên

trong tâm thế soi ngắm và cảm khái� Cùng

chung nguồn mạch tái hiện thế giới tạo

vật muôn vẻ ấy, thơ Lý Quý Lan khắc họa diện mạo thiên nhiên với những sinh loài, những cảnh tượng cụ thể: một cảnh trời, một ngọn núi, một cành hoa… Tuy nhiên, trong thơ Lý Quý Lan, những cảnh tượng

ấy không chỉ là điểm gợi hứng, là nền tảng cho một cảm xúc ký gửi� Thiên nhiên hiện lên trước hết mang những đặc tính

tự nhiên vốn có của nó� Đó là một cảnh tượng đăng sơn:

Úc úc sơn mộc vinh Miên miên dã hoa phát

(Cây trên núi tươi tốt Hoa dại nở miên man)

Là một khung cảnh ngày xuân trước khuê phòng:

Bách xích tinh lan thượng

Sổ chu đào dĩ hồng

(Trên thành giếng thẳm sâu Đào rực sắc muôn hoa)

Là một không gian phủ ngập bức màn hoa tường vi:

Đương không xảo kết linh lung trướng Trứ địa năng phô cẩm tú nhân

(Màn hoa khéo kết không trung thắm Đệm gấm trải phơi mặt đất xanh)

Miêu tả diện mạo sinh loài, Lý Quý Lan không sử dụng những tính từ gợi sắc màu trung tính, những động từ thể hiện sự tĩnh tại, hoàn kết� Nữ thi nhân đưa vào thơ những

từ ngữ cá thể hóa sắc thái của sự vật, cụ thể hóa cảnh tượng� “Mộc” phải “vinh”, “dã hoa” phải “phát”, “đào” phải “hồng”, “tường vi” phải dệt thành “linh lung trướng”… Hình ảnh thơ trở thành minh chứng giản dị cho tinh thần “dĩ thiên hợp thiên”, “điêu trác phục phác” của Đạo gia� Vạn vật không đẹp

ở sự đẽo gọt, chỉnh sửa, ngay cả khi đó là sự đẽo gọt, chỉnh sửa khéo léo� Vạn vật đẹp ở chính sự chân thực vô vi của nó�

Trang 4

Tuy nhiên, điều chúng tôi muốn nói

nhiều hơn về bức tranh sinh loài trong thơ

Lý Quý Lan là những câu thơ phóng chiếu

cảm giác của chủ thể lên vạn vật� Nó thiết

lập một “luật lệ” riêng của thơ Lý Quý Lan

trong tương quan truyền thống thơ cổ điển�

Nếu như vịnh cảnh trong thơ cổ tạo ấn

tượng về bức tranh thiên nhiên với trạng

thái tự nhiên cố hữu của nó thì thiên nhiên

trong thơ Lý Quý Lan lại phảng phất đời

sống tinh thần con người� Tái hiện khung

cảnh và tâm thế chia tay đêm trăng sáng,

nhà thơ viết:

Ly nhân vô ngữ nguyệt vô thanh

Minh nguyệt hữu quang nhân hữu tình.

Biệt hậu tương tư nhân tự nguyệt

Vân gian thủy thượng đáo tằng thành.

(Người đi không nói trăng lặng thinh

Trăng có ánh vàng người có tình

Xa cách người trăng chung nỗi nhớ

Chân mây mặt nước đến tầng thành)

“Vô thanh” là thuộc tính cố hữu của

“nguyệt”, nhưng khi “nguyệt vô thanh” đặt

trong thế đối xứng với “ly nhân vô ngữ”

thì cái lặng thinh của trăng ấy trở thành

một sự đồng vọng hữu thức với tâm trạng

con người trong khung cảnh biệt ly� Cũng

như thế, “minh nguyệt hữu quang” đối

với “nhân hữu tình”� Ánh sáng của trăng

không còn thuần túy là một thuộc tính tự

nhiên nữa mà nó chuyên chở “tình” trăng,

chuyên chở xúc cảm phút chia tay� Cho

nên câu thơ đồng nhất “nhân tự nguyệt”,

con người và vầng trăng cùng chung nỗi

tương tư� Xét cho cùng, đây chính là cách

thi nhân thiết lập mối quan hệ giữa con

người và vũ trụ� Nhà thơ phóng chiếu cái

nhìn chủ quan của mình lên vạn vật� Vạn

vật từ đó phát lộ đời sống tinh thần của

nó như một sự tương thông, tương hợp với tinh thần con người�

Từ cách thức phổ cảm giác chủ thể vào vạn vật như vậy, nữ sĩ nhận ra cây dương liễu cũng thẫn thờ ly biệt, con thuyền cũng cô độc lẻ loi:

Tương khán chỉ dương liễu Biệt hận chuyển y y.

Vạn lý Giang Tây thủy

Cô chu hà xử quy.

(Nhìn nhau chỉ liễu rủ Thẫn thờ chia tay nhau Dòng Giang Tây muôn dặm Thuyền lẻ loi về đâu)

Lấy con người làm tâm điểm để nhìn ra thế giới, nhà thơ mô tả âm thanh tiếng suối theo chuẩn mực âm thanh tiếng đàn:

Thiếp gia bổn trụ Vu Sơn vân

Vu Sơn lưu tuyền thường tự văn.

Ngọc cầm đàn xuất chuyển liêu huyến Trực thị đương thì mộng lý thính.

(Nhà thiếp trong mây Vu Sơn

Vẫn nghe tiếng suối chảy dồn nơi đây Mênh mang đàn ngọc tiếng bay Khác chi tiếng nhạc đong đầy miên man)

Rõ ràng, thiên nhiên trong thơ Lý Quý Lan không phải là một trạng thái hóa sinh

đã hoàn tất mà là một quá trình hóa sinh đang diễn tiến� Nó không tĩnh tại, không bất biến mà ngược lại, ẩn tàng sinh khí, mang chứa niềm giao cảm của thế giới con người�

3 Nhân tâm đối cảnh: nhận diện thế giới quan trong thơ Lý Quý Lan

Trong thơ ca cổ điển Trung Hoa nói chung và thơ Đường nói riêng, mô hình thơ không đơn thuần là mô hình thi luật mà còn

là mô hình thế giới quan� Và điểm nổi bật

Trang 5

nhất của mô hình thế giới quan đó là mô

hình tâm – vật: kết cấu bài thơ thường đi

theo trình tự từ vật đến tâm hoặc từ tâm đến

vật� Thơ “không theo đuổi mô phỏng cảnh

vật khách quan như thật, mà ra sức sáng tạo

và biểu hiện cái ý cảnh có đặc điểm cá tính,

tức là cảm xúc chủ quan của tác giả giao hòa

với cảnh vật khách quan mà hình thành nên

cảnh giới nghệ thuật – tức cảnh sinh tình, gửi

tình vào cảnh và miêu tả cái tình của vạn

vật” [2, tr�706]�

Thơ Lý Quý Lan nhìn chung đứng ngoài

quy định ngặt nghèo của những luật lệ thơ

ca cứng nhắc� Trong toàn bộ sự nghiệp thơ

của mình, Lý Quý Lan hầu như không sáng

tác theo thể luật Đường� Tuy nhiên, những

vần thơ tự do phóng khoáng của nữ sĩ về cơ

bản không phá vỡ mô hình thế giới quan

tâm – vật� Bài thơ có thể mở đầu là một

không gian ngoại cảnh, kết lại bằng không

gian tâm trạng:

Lưu thủy Xương Môn ngoại

Cô chu nhật phục tê (tây).

Ly tình biến phương thảo

Vô xứ bất thê thê.

Thiếp mộng kinh Ngô uyển

Quân hành đáo Diệm khê.

Quy lai trọng tương phóng

Mạc học Nguyễn lang mê.

(Ngoài Xương Môn nước chảy

Thuyền theo ráng về tây

Phương thảo nhuốm ly biệt

Đâu đâu cũng hương đầy

Vườn Ngô thiếp mơ tới

Sông Diệm chàng vui vầy

Về lại cùng dò xét

Chớ học Nguyễn lang say)

Cũng có khi bài thơ được cấu trúc theo

chiều ngược lại, mở đầu bằng tâm trạng, kết

lại bằng cái nhìn ra ngoại cảnh:

Tâm viễn phù vân tri bất hoàn Tâm vân tịnh tại hữu vô gian.

Cuồng phong hà sự tương diêu đãng Xuy hướng nam san phục bắc san.

(Lòng theo mây nổi mãi biệt ly Giữa khoảng có – không đến lại đi

Hà cớ cuồng phong xoay chuyển thổi Nam sơn bay tới, Bắc sơn về)

Ở đây, điểm nổi bật trong cái nhìn của nhà thơ là sự thống nhất giữa tâm và vật, giữa tiểu ngã và đại ngã� Kết cấu thơ dù đi

từ vật đến tâm hay từ tâm đến vật thì giữa tâm và vật đều tồn tại sự hô ứng lẫn nhau, rặng cỏ xanh nhuốm sắc màu ly biệt, tâm tư trôi theo mây trời� Bản thân sự hô ứng tâm – vật ấy tạo ra cho thơ Lý Quý Lan vẻ đẹp của trạng thái điềm tĩnh, của sự giao hòa�

Để miêu tả mối quan hệ thân thiết, hòa hợp giữa con người và thiên nhiên, để gợi thái độ của con người trước thế giới tự nhiên,

Lý Quý Lan vận dụng linh hoạt kho ngôn ngữ Đường thi với những con chữ vừa biểu

ý, vừa biểu cảm, khi “vọng thủy”, lúc “đăng sơn”, khi “ngưỡng khan minh nguyệt”, lúc

“phủ miện lưu ba”… Trong thơ Đường nói chung, trạng thái đối cảnh gần như đi liền với sự tương thông, tương cảm giữa nhân tâm và thiên cảnh� Cho nên nhắc tới “đăng cao”, “viễn vọng” cũng tức là nhắc tới “hoài cổ”, “tư hương”, đối diện “minh nguyệt” là gợi nhắc “cố hương”… Thơ Lý Quý Lan tái hiện cảnh huống đăng cao như một bối cảnh

để giãi bày xúc cảm:

Vọng thủy thí đăng sơn Sơn cao hồ hựu khoát.

Tương tư vô hiểu tịch Tương vọng kinh niên nguyệt.

(Lên núi ngắm nước non

Hồ rộng, núi chon von

Trang 6

Nhớ nhau quên sớm tối

Năm tháng vẫn sắt son)

Bài thơ được viết sau buổi Lý Quý Lan chia

tay danh sĩ Chu Phóng để Chu Phóng phụng

chỉ đi làm quan ở tỉnh Giang Tây� Nỗi “tương

tư”, “tương vọng” giữa hai người bạn tâm giao

cần đến chiều kích của “sơn cao”, “hồ khoát”�

Cũng như thế, trong tình yêu, nữ thi nhân

bày tỏ nỗi sầu oán tương tư gắn với không

gian của “cao lâu”, của “nguyệt hoa mãn”:

Huề cầm thượng cao lâu

Lâu hư nguyệt hoa mãn.

Đàn trứ tương tư khúc

Huyền tràng nhất thì đoạn.

(Lầu cao ôm đàn gảy

Hoa trăng ngập lầu không

Tương tư đàn một khúc

Đứt dây lẫn cõi lòng)

Trong thời đại Đường thi, các danh sĩ

đăng cao để phóng cái nhìn ra xa, để thâu

cảm cái mênh mông của không gian, cái

vô tận của thời gian� Nữ sĩ họ Lý tái hiện

những cảnh huống đăng cao, song tâm thế

con người đăng cao lại hướng về những xúc

cảm đặc trưng phái tính� Nó làm nên cá tính

sáng tạo của thi nhân trong bức tranh nghệ

thuật thời Đường� Trước đó mấy trăm năm,

Đào Uyên Minh đã đưa thơ về với ruộng

vườn quen thuộc như là không gian nương

náu bình yên, lánh xa thế thái� Đến phong

khí Thịnh Đường, Vương Duy, Mạnh Hạo

Nhiên khắc họa thiên nhiên trong vẻ đẹp

thanh tân, bình dị, quyện hòa đời sống con

người để truy tầm trạng thái an nhiên, tự

tại, thanh nhàn… Thơ Lý Quý Lan trở về

với tự nhiên nhưng không phải để ảnh xạ

tâm tư nhàn nhã� Thiên nhiên hòa điệu với

chiều sâu nội tâm con người song đó là chiều

sâu nội tâm của một cái tôi nữ giới – cái tôi

phóng khoáng mà đa cảm trong tình bạn, tình đời và trong cả tình yêu�

Có thể nói, Thiên – Địa – Nhân hợp

nhất là tư tưởng bao trùm trong triết lý phương Đông� Nó quy tụ mọi tư tưởng tôn giáo và tạo nên bản sắc văn học nghệ thuật phương Đông là tình yêu thiên nhiên� Nhìn

từ trường hợp thơ Lý Quý Lan, quan điểm tương thông Thiên – Địa – Nhân đã làm nên diện mạo bức tranh sinh loài đa sắc và căng đầy sự sống, đã kiến tạo sự hài hòa nhân tâm thiên cảnh như một nguyên tắc thế giới quan� Thơ Lý Quý Lan, vì thế, góp thêm một tiếng nói khẳng định nguyên tắc ứng xử hài hòa giữa con người với thế giới tự nhiên của thơ Đường nói riêng và thơ ca cổ điển phương Đông nói chung�

Tài liệu tham khảo

[1] Ngô Vinh Chính, Vương Miện Quý chủ

biên (2004), Đại cương lịch sử văn hóa Trung

Quốc� (Lương Duy Thứ dịch)� Nxb VHTT�

[2] Đường Đắc Dương chủ biên (2003), Cội

nguồn văn hóa Trung Hoa (Nguyễn Thị Thu

Hiền dịch)� Nxb Hội Nhà văn�

[3] Đỗ Văn Hiểu, Văn học sinh thái và lý luận

phê bình sinh thái� http://www�dovanhieu�

net/2015/08/van-hoc-sinh-thai-va-li-luan-phe-binh�html

[4] Michael Jordan (2004), Minh triết Đông

phương (Phan Quang Định dịch)� Nxb

Mỹ thuật�

[5] Trần Hải Yến (2016), “Nghiên cứu, phê bình hiện đại và di sản văn hóa: Nhìn từ cách

sinh thái học tìm về Tam giáo”, Văn học

Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế, Tập 1� Nxb Khoa học Xã hội�

[6] Nhiều tác giả (1995), Đường tài tử truyện

toàn thích� NXB Nhân dân Quý Châu�

Trang 7

The correspondence among Heaven, Earth, and Human

in ly quy lan’s poetry

D ang T hi B iCh h ong 1 , D uong T uan a nh 2

1 Hung Vuong University, 2 Hanoi National University of Education

The classical Chinese literature system in general, Tang treasures in particular, did

not stand outside of the tradition of an agricultural culture, with a harmonious experience, relying on nature Among more than 200 Tang dynasty artists, Ly Quy Lan was the only poet honored as the “Female Poet” Reading Ly Quy Lan’s poetry from the correspondence among Heaven, Human and Earth, we identify her path of cre-ation as the journey of using language to open up the special relcre-ationship between human and the natural world

Keywords: Ly Quy Lan, human, nature.

SUMMARY

Ho Chi Minh’s heritage on the solution of women in the future

of the twenty-year of the 20th century

T ran V an h ung , C hu T hi T hanh h ien

Faculty of Social Sciences & Humanities – Hung Vuong University

In the twenties of the 20th century, the struggle for women’s rights was a critical issue

in the world, besides the struggle for national liberation, against imperialism To absorb the progressive ideas of Marxism–Leninism and the movement of women’s rights in the world, Nguyen Ai Quoc–Ho Chi Minh made important contributions to the movement The thought of Nguyen Ai Quoc on women’s liberation during this period is reflected in his writings and actions with the basic contents: Awareness of the situation of women and the world in Vietnam; The role of women; The goal is to fight for women’s liberation and implement “gender equality”

Keywords: women; women’s liberation; gender equality

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ (tiếp theo trang 20)

Ngày đăng: 27/02/2020, 12:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm