1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Sinh trưởng và chất lượng thịt lợn LY (Landrance × Yorkshire) nuôi bằng thức ăn bổ sung thảo dược tại Phú Thọ

8 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 252,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thí nghiệm nuôi lợn thịt LY từ 30–150 ngày tuổi với 4 công thức so sánh khẩu phần có kháng sinh, không kháng sinh và 2 khẩu phần hỗn hợp thảo dược từ riềng, cỏ sữa, rẻ quạt và cỏ xước.

Trang 1

1 Đặt vấn đề

Trong khi ở các nước EU đã cấm tuyệt đối

sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi

từ năm 2006 thì ở nước ta hiện nay vẫn được

sử dụng 12 loại kháng sinh trong thức ăn của

lợn thịt như BMD (Bacitracin Methylene

Dis-alicylate), Bambercilin, Chlortetracycline,

Sinh trưởng và chất lượng thịt lợn LY (Landrance × Yorkshire)

NUÔI BẰNG THỨC ĂN BỔ SUNG

THẢO DƯỢC TẠI PHÚ THỌ

hoàng Thị hồng nhung 1 , Đỗ Thị Phương Thảo 1 , hoàng Thị Phương Thúy 1 , nguyễn Thị hà Phương 1 , nguyễn Tài năng 2

1 Khoa Nông–Lâm–Ngư, Đại học Hùng Vương;

2 Phòng Khoa học và Công nghệ, Đại học Hùng Vương

Colistin sulphate, Enramycin, Kitasamycin, Lincomycin, Narasin, Neomycin sulphate, Nosiheptide, Tylosin phosphate, Virginia-mycin (Thông tư 06/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016)� Việc sử dụng kháng sinh

bổ sung trong thức ăn chăn nuôi đã làm cho hiện tượng kháng thuốc ở người và động vật

TÓM TẮT

Thí nghiệm nuôi lợn thịt LY từ 30–150 ngày tuổi với 4 công thức so sánh khẩu phần

có kháng sinh, không kháng sinh và 2 khẩu phần hỗn hợp thảo dược từ riềng, cỏ sữa, rẻ quạt và cỏ xước Kết quả cho thấy: các chỉ tiêu năng suất sản phẩm khi sử dụng thảo dược và Colistin sulphate là tương đương và cao hơn không sử dụng kháng sinh, đồng thời các chỉ tiêu tồn dư trong sản phẩm, biến chất sản phẩm của lợn thịt nuôi bằng khẩu phần thảo dược thấp hơn khi sử dụng kháng sinh

Ở lợn sử dụng khẩu phần thảo dược: khối lượng tích lũy tương đương với lợn sử dụng khẩu phần Colistin sulphate và cao hơn không sử dụng kháng sinh 6–8%; chuyển hóa thức ăn tăng 5–12%; tăng từ 2–5% tỷ lệ thịt xẻ; giảm 5–9% lượng mỡ; tăng nhẹ dài thân nên tăng lượng thăn nạc; ít biến đổi pH nhưng giảm mất nước sau bảo quản; ít ảnh hưởng đến các chỉ số sinh hóa máu thuộc chức năng gan thận nên không tồn dư trong sản phẩm như khẩu phần có Colistin sulphate Trong 2 khẩu phần thảo dược sử dụng thì khẩu phần chứa rẻ quạt cho các chỉ tiêu sản xuất tốt hơn cỏ xước

Từ khóa: lợn thịt, sinh trưởng, chất lượng thịt, thảo dược.

Nhận bài ngày 16/11/2017, Phản biện xong ngày 16/12/2017, Duyệt đăng ngày 16/12/2017

Trang 2

diễn ra càng ngày càng trầm trọng, có nguy

cơ cảnh báo cao khi tồn dư trong sản phẩm

thịt, dẫn đến việc không xuất khẩu được

thịt lợn�

Một số doanh nghiệp sản xuất thức ăn

tại Việt Nam đã không sử dụng kháng sinh

trong thức ăn chăn nuôi nhưng vẫn đang tìm

kiếm giải pháp thay thế kháng sinh để đảm

bảo được năng suất sinh trưởng cũng như

khả năng phòng hộ một số bệnh, đặc biệt là

các bệnh đường ruột� Thí nghiệm các thảo

dược có nguồn gốc trong nước bổ sung vào

thức ăn lợn cai sữa nhằm để phòng ngừa tiêu

chảy và kích thích tăng trọng cho thấy có thể

cải thiện 13,41% tăng trọng; giảm 12,42% hệ

số chuyển hóa thức ăn, giảm 45,18% tỷ lệ tiêu

chảy so với đối chứng [7]� Bên cạnh đó, việc

bổ sung 0,5% cỏ sữa và riềng cho thấy hiệu

quả tốt nhất trong việc giảm thiểu tỷ lệ tiêu

chảy trên lợn lai 4 máu Landrace, Yorkshire,

Duroc, Pietrain; bổ sung 0,5% rẻ quạt trong

khẩu phần cho thấy hiệu quả rõ rệt trong

phòng bệnh hô hấp ở lợn và hiệu quả kinh tế

tương đương như bổ sung kháng sinh tổng

hợp [3]�

Hầu hết các nghiên cứu này đưa ra giải

pháp sử dụng là trộn trực tiếp vào thức ăn,

đây chính là hạn chế vì khó sử dụng rộng

rãi, việc trộn mất nhiều thời gian, công sức�

Do vậy nghiên cứu để sử dụng thảo dược

trong sản xuất thức ăn công nghiệp cho chăn

nuôi lợn thịt là rất cần thiết trong giai đoạn

hiện nay�

2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1 Nội dung – vật liệu

Nội dung: Đánh giá sinh trưởng, sử dụng

thức ăn, chất lượng thịt và hiệu quả kinh tế

trong chăn nuôi lợn thịt LY sử dụng thức ăn

Vật liệu: sử dụng 4 loại thảo dược có khả

năng kháng khuẩn tốt và phổ biến tại Phú Thọ, gồm riềng, cỏ sữa, cỏ xước, rẻ quạt (Nguyễn Tài Năng, 2015 [3]); 120 lợn thịt giống LY từ sau cai sữa đến xuất chuồng (30 đến 150 ngày tuổi)�

2.2 Phương pháp

Sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (TĂHH) ép viên có bổ sung thảo dược để nuôi 120 lợn LY 30 ngày tuổi, chia 4 lô với

3 lần nhắc lại�

• CT1 = TĂHH ép viên có 0,15% khẩu phần (0,075% riềng + 0,075% cỏ sữa) + 0,15% khẩu phần rẻ quạt�

• CT2 = TĂHH ép viên có 0,15% khẩu phần (0,075% riềng + 0,075% cỏ sữa) + 0,15% khẩu phần cỏ xước�

Bảng 1 Bố trí thí nghiệm

TĂHH ép viên

có 20mg Colistin sulphate/1kg KP

TĂHH ép viên không kháng sinh

Bảng 2 Thành phần công thức hỗn hợp và giá trị dinh dưỡng

Nguyên liệu Thành phần dinh dưỡng

Khô đậu tương 28,0% Protein thô 17,5%

Tấm gạo 5,4% Phốt pho tổng số 0,6%

Mỡ lợn 1,0% Methionin + Cystein 0,57%

-Bảng 3 Thành phần dinh dưỡng của công thức thảo dược

CT VCK (%) GE (MJ/ kg) (%VCK) Pro (%VCK) Fat (%VCK) CF (%VCK) Ash

Trang 3

Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

Khối lượng lợn được cân 30 ngày/lần

trước khi cho ăn vào buổi sáng để xác định

sinh trưởng tích lũy, tăng trọng hàng ngày

theo dõi và tính toán bằng phương pháp

thường quy� Thức ăn cho ăn và thức ăn thừa

được cân và thu hàng ngày�

Lấy máu lợn thịt nuôi ở 90 ngày tuổi, xác

định một số chỉ tiêu: GOT, GPT, Albumin,

Urê, Creatinin, phân tích bằng máy phân

tích huyết học Convergys X5 của Đức tại

Phòng Thí nghiệm động vật để dự doán

nguy cơ tồn dư các chất bổ sung từ thảo

dược và thức ăn�

Mổ khảo sát theo phương pháp thường

quy để xác định năng suất thân thịt, sử dụng

máy đo pH để xác định pH45, pH24, pH48;

tỷ lệ mất nước khi bảo quản ở điều kiện 4–80C sau 24h và 48h�

2.3 Xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng thống kê sinh vật học theo phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) qua mô hình tuyến tính (GLM) trên phần mềm Minitab version 16�2, chương trình Excel 13�0� So sánh sự sai khác bằng phương pháp Turkey với khoảng tin cậy 95%�

3 Kết quả

3.1 Tăng khối lượng tích lũy cơ thể của lợn thí nghiệm

Lợn thí nghiệm sử dụng các khẩu phần thức ăn khác nhau có ảnh hưởng đến các

Bảng 4 Khối lượng tích lũy của lợn khi sử dụng các loại thức ăn thí nghiệm (kg/con)

30 ngày tuổi

150 ngày tuổi

Ghi chú: Ở cùng ngày tuổi, các số trung bình theo cột mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Trang 4

mức sinh trưởng tích lũy ở các giai đoạn tính

theo tuổi thí nghiệm (P <0,05)�

Kết quả ở bảng 4 cho thấy lợn được đưa

vào thí nghiệm đảm bảo độ đồng đều tương

đối, sau 30 ngày thí nghiệm sử dụng thức ăn

(60 ngày tuổi) đã có sự khác biệt trong sinh

trưởng giữa việc bổ sung kháng sinh, không

bổ sung và sử dụng thảo dược�

Kháng sinh bổ sung trong thức ăn phát

huy tốt tác dụng kích thích sinh trưởng khi

điều kiện vệ sinh và chăn nuôi kém� Mặc

dù điều kiện chuồng trại thí nghiệm được

đảm bảo tốt, sai lệch khối lượng nhỏ (dưới

6%) nhưng thống kê cho thấy hầu hết các cá

thể được bổ sung kháng sinh vẫn ảnh hưởng

khác biệt ở khối lượng sau 30 ngày sử dụng

thức ăn (P <0,05) so với bổ sung thảo dược và

không kháng sinh� Tuy nhiên, sau 60 đến 120

ngày sử dụng thức ăn thì lợn có khối lượng

sinh trưởng tích lũy ở các lô có kháng sinh và

thảo dược tương đương nhau (P >0,05) và cao

hơn rõ rệt việc không sử dụng kháng sinh�

Sau 30 ngày thí nghiệm, việc sử dụng thảo

dược và không bổ sung kháng sinh có chênh

lệch 5,7% (TN1 và ĐC2) nhưng lại chưa cho

thấy sự khác biệt rõ (P >0,05), điều này chứng

tỏ thảo dược cũng có ảnh hưởng nhưng do

số lượng cá thể chưa đủ lớn hoặc thời gian sử

dụng ngắn� Theo tác giả Nguyễn Thị Quyên

và Đặng Hoàng Lâm (2014) [5] thì bổ sung

thảo dược vào giai đoạn cai sữa đến 60 ngày tuổi có ảnh hưởng đến sinh trưởng và tăng khối lượng của lợn ở giai đoạn sau� Vì vậy từ

90 đến 150 ngày tuổi lợn thí nghiệm sử dụng các thức ăn có kháng sinh và thảo dược cho thấy khối lượng tích lũy tương đương nhau

và tốt hơn không kháng sinh (P <0,05), trong

đó công thức bổ sung thảo dược rẻ quạt tốt hơn bổ sung cỏ xước� Kết quả này cũng tương đương với Nguyễn Tất Thắng (2014) [7] và Đỗ Thị Phương Thảo (2014) [6] khi bổ sung thảo dược, chế phẩm thảo dược vào khẩu phần của lợn cho khả năng tăng khối lượng tương đương sử dụng các loại kháng sinh và tốt hơn không bổ sung kháng sinh�

3.2 Tăng khối lượng hàng ngày của lợn thí nghiệm

Đánh giá mức tăng khối lượng hàng ngày của lợn cho thấy mức tăng bình quân khi sử dụng kháng sinh, không kháng sinh, thảo dược dao động từ 644,75 gam/con/ngày

đến 730 gam/con/ngày (bảng 5)� Trong đó,

tăng khối lượng hàng ngày thấp nhất khi không sử dụng kháng sinh và cao nhất khi dùng kháng sinh và thảo dược chứa rẻ quạt (P <0,05), khối lượng tăng của lợn sử dụng thảo dược chứa cỏ xước cũng cao hơn không

sử dụng kháng sinh nhưng thấp hơn thảo dược chứa rẻ quạt và kháng sinh (P <0,05)�

Bảng 5 Tăng khối lượng hàng ngày của lợn (g/con/ngày)

Ngày tuổi N Mean ĐC1 SE Mean ĐC2 SE Mean TN1 SE Mean TN2 SE

Ghi chú: Ở cùng giai đoạn ngày tuổi, các số trung bình theo hàng ngang mang

chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Trang 5

Bảng 5 cho thấy, mặc dù khối lượng tăng

hàng ngày trung bình của lợn khi sử dụng

các khẩu phần khác nhau có chênh lệch

không lớn, chỉ dao động từ 38 đến 85 gam/

con/ngày nhưng cho kết quả khác biệt rõ rệt

(P <0,05)�

3.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn

Trung bình cả giai đoạn 30–150 ngày tuổi

có sự khác biệt về tiêu tốn thức ăn giữa các lô

thí nghiệm (P <0,05)�

Lô ĐC2 có FCR cao nhất đạt 2,54 kg; sau

đó đến lô ĐC1 là 2,33 kg, lô TN1 là 2,21kg và

TN2 là 2,27kg (Bảng 6)�

Thí nghiệm cho thấy việc sử dụng thảo

dược có FCR thấp hơn so với lô sử dụng thức

ăn không có kháng sinh và tương đương với

bổ sung Colistin sulphate�

So sánh với Đỗ Thị Phương Thảo (2014) khi sử dụng chế phẩm chiết chất thảo dược

từ Maclayacordata thì FCR giai đoạn 60-150

ngày lô không sử dụng kháng sinh là 2,77 kg;

lô sử dụng kháng sinh là 2,75 kg, lô sử dụng thảo dược là 2,63 kg và 2,6 kg thì kết quả của chúng tôi thấp hơn do giai đoạn theo dõi dài hơn và giống lợn Pietrain kháng stress

sử dụng nhiều thức ăn hơn lợn Landrace

và Yorkshire�

3.4 Một số chỉ tiêu sinh hóa máu

GOT, GPT là hai enzyme chuyển amin trong trao đổi protein� Dựa vào hai enzyme này để đánh giá hoạt động trao đổi protein trong máu, thông qua đó đánh giá hoạt động của chức năng gan thận� GPT tăng biểu hiện các bệnh về gan� Khi các chỉ số này thấp thì

Bảng 7 Một số chỉ tiêu sinh hóa máu liên quan đến chuyển hóa thức ăn và chức năng gan thận

Ghi chú: Ở cùng chỉ tiêu, các số trung bình theo hàng ngang mang chữ cái

khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Bảng 6 Chuyển hóa thức ăn của lợn thí nghiệm (kgTĂ/kgTT)

Ghi chú: Ở cùng giai đoạn ngày tuổi, các số trung bình theo hàng ngang mang

chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Trang 6

hoạt tính của thảo dược được xem là an toàn

và ít tồn dư trong sản phẩm�

Phân tích GOT và GPT trong thành phần

máu lợn thịt cho thấy có sự chênh lệch khá

lớn và có sự sai khác rõ rệt giữa các lô thí

nghiệm (P <0,05): Lô TN1 GPT là 40,13

(Bảng 7) thấp nhất trong các lô, chứng tỏ

nguy cơ bị bệnh về gan sẽ thấp�

Trong số 5 chỉ tiêu sinh hóa máu là GOT,

GPT, Albumin, Ure, Creatinin thì đều có sự

chênh lệch� Có chỉ tiêu là Ure có sai khác có

ý nghĩa thống kê (P <0,05), chỉ tiêu này trong

máu giảm chứng tỏ hoạt động giải độc của

gan được giảm nhẹ, hay nói cách khác các

chất độc sinh ra trong quá trình trao đổi chất

giảm ở lô bổ sung thảo dược (nhất là lô TN1:

khẩu phần bổ sung riềng, cỏ sữa, rẻ quạt)�

Như vậy, việc bổ sung thảo dược đã bảo vệ

sức khỏe gan đồng thời giảm bớt tác động

trong quá trình lọc tạo nước tiểu của thận, qua đó tăng cường được sức khỏe chức năng gan thận�

Kết quả này khác với Đỗ Thị Phương Thảo (2014) [6] khi cho rằng sử dụng kháng sinh BMD và sử dụng chế phẩm thảo dược Sangrovit và Sangrovit farmpack có các chỉ

số sinh hóa máu như nhau�

3.5 Một số chỉ tiêu thân thịt

Kết quả Bảng 8 cho thấy tỷ lệ móc hàm,

tỷ lệ thịt xẻ, khối lượng thăn, dài thân lô thí nghiệm 1 (khẩu phần bổ sung riềng, cỏ sữa, rẻ quạt) cao nhất: 80,36%; 64,83%; 0,39 kg; 86,92 cm� Theo đó khối lượng mỡ, độ dày mỡ lưng cũng không cao ở hai lô TN1, TN2� Như vậy, việc bổ sung thảo dược có ảnh hưởng tốt đến năng suất và thân thịt của lợn thí nghiệm�

Bảng 9 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng thịt lợn

Ghi chú: TLMNBQ24h 3 ; TLMNBQ48h 4 : Tỷ lệ mất nước bảo quản của thịt ở 24, 48 giờ Ở cùng chỉ tiêu, các

số trung bình theo hàng ngang mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Bảng 8 Năng suất và thân thịt của lợn thí nghiệm

Chỉ tiêu N Mean ĐC1 SE Mean ĐC2 SE Mean TN1 SE Mean TN2 SE

Ghi chú: Ở cùng chỉ tiêu, các số trung bình theo hàng ngang mang chữ cái

khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Trang 7

Bảng 9 cho thấy tỷ lệ mất nước sau bảo

quản ở 24h và 48h ở lô ĐC đều cao; đạt 2,297

và 3,532; tỷ lệ này có giảm ở lô TN1: 1,660;

2,413� Chứng tỏ việc bổ sung thảo dược ở lô

TN1 có tỷ lệ mất nước sau bảo quản thấp,

nên chất lượng thịt lợn sẽ tốt hơn ở các lô

thí nghiệm khác� Độ pH24, pH45, pH48 ít

có sự sai khác thống kê (P >0,05) ở các lô

thí nghiệm�

4 KẾT LUẬN

• Lợn thịt LY thí nghiệm sử dụng các

thức ăn có kháng sinh và thảo dược

cho thấy khối lượng tích lũy tương

đương nhau và tốt hơn không kháng

sinh (P <0,05), trong đó công thức bổ

sung thảo dược có rẻ quạt tốt hơn bổ

sung có cỏ xước�

• Việc bổ sung thảo dược có 0,15%

khẩu phần (riềng + cỏ sữa) + 0,15%

khẩu phần rẻ quạt vào khẩu phần ăn

cho lợn LY thí nghiệm đã nâng cao

được hiệu quả sử dụng thức ăn: Tiêu

tốn thức ăn/kg tăng trọng của lợn

thịt là 2,21 kg, thấp hơn so với khẩu

phần không kháng sinh và sử dụng

cỏ xước�

• Bổ sung thảo dược làm tăng nhẹ một

số chỉ tiêu thân thịt và giảm nguy cơ

tồn dư các chất thảo dược bổ sung

trong thức ăn, giảm mất nước và biến

chất ở thịt lợn bảo quản�

Tài liệu tham khảo

[1] Lã Văn Kính, Phan Văn Kiệm, Trần Công

Luận, Nguyễn Thị Thu Hương, Dương Bích

Ngọc, Nguyễn Thị Lệ Hằng, Lã Thị Thanh

Huyền (2015)� Nghiên cứu bào chế chế

phẩm thảo dược dùng để thay thế kháng

sinh trong thức ăn nhằm kích thích sinh trưởng và phòng bệnh tiêu chảy cho lợn và

gà� Truy cập từ:

http://www.iasvn.vn/khoa- hoc-cong-nghe/de-tai—du-an/de-tai-du-an-cap-bo.html.

[2] Nguyễn Tài Năng (2013)� Phương pháp đánh giá khả năng kháng khuẩn của dịch chiết

thảo dược� Tạp chí KHCN ĐH Hùng Vương,

Số 3 (28), tr: 55-58�

[3] Nguyễn Tài Năng (2015)� Nghiên cứu chọn

và sử dụng một số loài thảo dược trên địa bàn tỉnh Phú Thọ thay thế kháng sinh bổ

sung thức ăn chăn nuôi lợn� Báo cáo kết quả

đề tài cấp tỉnh Phú Thọ�

[4] Nguyễn Văn Phú (2014)� Sản xuất thử 3 chế phẩm thảo dược ias1, ias2, ias3 dùng để thay thế một phần kháng sinh trong phòng và điều trị bệnh tiêu chảy cho lợn và gà� Báo cáo khoa học Phân viện chăn nuôi Nam Bộ� Truy

cập từ:

http://www.iasvn.vn/khoa-hoc-cong-nghe/de-tai—du-an/de-tai-du-an-cap-bo html.

[5] Nguyễn Thị Quyên, Đặng Hoàng Lâm (2014)� Sử dụng bột riềng cho lợn con sau cai

sữa đến 120 ngày tuổi� Tạp chí KHCN ĐH

Hùng Vương, Số 2 (31), tr: 57-61�

[6] Đỗ Thị Phương Thảo, Vũ Duy Giảng (2013)� Ảnh hưởng của Sangrovit đến tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và chất lượng thân thịt của lợn nuôi tại Đồng Hiệp Hải Phòng�

Tạp chí KHCN Đại học Hùng Vương, số 3 (28), tr�58-62�

[7] Nguyễn Tất Thắng (2014)� Nghiên cứu

sử dụng một số chế phẩm thảo dược bổ sung vào thức ăn để phòng bệnh tiêu chảy

và kích thích tăng trưởng heo con sau cai

sữa� Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi, ĐH Nông

Lâm TPHCM�

(Xem tiếp trang 63)

Trang 8

Growth and pork quanlity of ly (landrance × yorkshire) breeding

by addition herbals to feed in Phu Tho

hoang Thi hong nhung 1 , Do Thi Phuong Thao 1 , hoang Thi Phuong Thuy 1 , nguyen Thi ha Phuong 1 , nguyen Tai nang 2

1 Faculty of Agriculture–Forestry–Aquaculture, Hung Vuong University;

2 Science and Technology Department, Hung Vuong University

Experiment on raising LY pigs from 30 to 150 days of age with 4 formulas

compar-ing antibiotic, non-antibiotic diets and 2 rations of herbs from Alpinia officinarum,

Achyranthes aspera, Belamcanda chinensis and Euphorbia thymifolia Burm The results

showed that: the product yield index when using herbal and Colistin sulphate is equivalent and higher without using antibiotics, simultaneously the residue in the product using the herb is lower than antibiotics

In pigs using herbal diets: the cumulative volume was equivalent to that of pigs using colistin sulphate diets and higher without using 6–8% antibiotics; feed conversion ration increased 5–12%; the proportion of carcass increased from 2–5%, reduction 5–9% fat; slightly increase the length of the body to make increase lean on the back; less pH change but reduced dehydration after storage; low impact on the blood bio-chemical parameters of liver and kidney function so hasn’t residue in the product

In 2 herbal diets, the ration consisted of Belamcanda chinensis for better production indicators than Euphorbia thymifolia Burm.

Keyword: porker, growth, pork quanlity, herbals.

Ngày đăng: 27/02/2020, 11:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm