LÊ QUÝ BIÊNTHAY THẾ MỘT PHẦN PROTEIN KHÔ ĐỖ TƯƠNG BẰNG PROTEIN BỘT LÁ CHÙM NGÂY MORINGAOLEIFERA TRONG KHẨU PHẦN THỨC ĂN CỦA GÀ SINH SẢN LƯƠNG PHƯỢNG LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI Thái Nguyê
Trang 1LÊ QUÝ BIÊN
THAY THẾ MỘT PHẦN PROTEIN KHÔ ĐỖ TƯƠNG
BẰNG PROTEIN BỘT LÁ CHÙM NGÂY
(MORINGAOLEIFERA) TRONG KHẨU PHẦN THỨC
ĂN CỦA GÀ SINH SẢN LƯƠNG PHƯỢNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN
NUÔI
Thái Nguyên - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ QUÝ BIÊN
THAY THẾ MỘT PHẦN PROTEIN KHÔ ĐỖ TƯƠNG
BẰNG PROTEIN BỘT LÁ CHÙM NGÂY
(MORINGAOLEIFERA) TRONG KHẨU PHẦN THỨC
ĂN CỦA GÀ SINH SẢN LƯƠNG PHƯỢNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các kết quảnghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưatừng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn đã được cảm ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Học viên
Lê Quý Biên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đãnhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ,động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ long kính trọng
và biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn PGS.TS Từ Trung Kiên - Giảngviên khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tậntình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trongsuốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa Chănnuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ tôitrong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điềukiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoànthành luận văn./
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Học Viên
Lê Quý Biên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN i MỤC LỤC ii DANH MỤC VIẾT TẮT v DANH MỤC BẢNG vi DANH MỤC HÌNH vii TRÍCH YẾU LUẬN VĂN .viii Phần 1.MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Muc tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học 2
4 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1 Giới thiệu về câychùm ngây(Mringa oleifera) 3
1.1.1 Đặc điểm chung 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái 4
1.1.3 Giá trị dinh dưỡng của cây chùm ngây 5
1.2 Đặc điểm sinh học của trứng gia cầm 6
1.3 Giới thiệu về giống gà dùng trong thí nghiệm
10 1.4 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 11
1.4.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 11
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 14
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .
18 2.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
Trang 64 2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 18 2.2.2 Thời gian nghiên cứu 18
Trang 72.3 Nội dung nghiên cứu 18
2.4 Phương pháp nghiên cứu 18
2.4.1 Bố trí thí nghiệm 18
2.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 21
2.4.3 Phương pháp theo dõi 21
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 23
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm 24
3.2 Tăng khối lượng của gà thí nghiệm 25
3.3.Khả năng sinh sản của gà thí nghiệm 27
3.4 Năng suất trứng của gà thí nghiệm 31
3.5 Khả năng tiêu thụ thức ăn của gà thí nghiệm 35
3.6 Hiệu quả sử dụng và chuyển hóa thức ăn 36
3.7 Một số chỉ tiêu sinh lý và hóa học của trứng gà thí nghiệm 38
3.8 Chất lượng trứng gà thí nghiệm 41
3.9 Ảnh hưởng của thay thế protein khô đỗ tương bằng protein bột láchùm ngây đến độ đậm màu của lòng đỏ trứng 43
3.10 Hiệu quả kinh tế của việc thay thế 46
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48
1 Kết luận 49
2 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Sơ đồ thí nghiệm % 19
Bảng 2.2 Khẩu phần thức ăn thí nghiệm 20
Bảng 2.3 Giá trị dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 20
Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm (%) 24
Bảng 3.2 Khối lượng gà trước và sau khi kết thúc thí nghiệm (gam) 26
Bảng 3.3 Tỷ lệ đẻ qua các tuần của gà thí nghiệm (%), (n = 3) 28
Bảng 3.4 Năng suất trứng gà thí nghiệm qua các tuần đẻ, n=3 32
Bảng 3.5 Tiêu tốn thức ăn và chi phí thức ăn cho 10 quả trứng thường 36
Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu về thành phần hóa học của trứng gà thí nghiệm 38
Bảng 3.7 Một số chỉ tiêu chất lượng trứng gà thí nghiệm (n=40) 42
Bảng 3.8 Độ đậm màu lòng đỏ trứng ở các giai đoạn thí nghiệm (n=8) 44
Bảng 3.9 Hiệu quả kinh tế của việc thay thế protein khô đỗ tương bằng protein bột chùm ngây 46
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà trước và sau thí nghiệm 27 Hình 3.2: Biểu đồ tỷ lệ đẻ của gà ở các tuần thí nghiệm 30 Hình 3.3 Biểu đồ năng suất trứng gà thí nghiệm qua các tuần đẻ 34
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Lê Quý Biên
Tên Luận văn:THAY THẾ MỘT PHẦNPROTEIN KHÔ ĐỖ TƯƠNG BẰNG
PROTEIN BỘT LÁ CHÙM NGÂY(MORINGAOLEIFERA)TRONG KHẨU
PHẦN THỨC ĂN CỦA GÀ SINH SẢN LƯƠNG PHƯỢNG
Ngành: Chăn nuôi, Mã ngành:8.62.01.05
Tên cơ sở đào tạo: Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Đối tượng, nội dung nghiên cứu :
Cây thức ănchùm ngây (Moringa oleifera),gà sinh sản.
Thay thế một phần protein khô đỗ tương bằng protein bột lá chùm ngây
(Moringaoleifera) trong khẩu phần thức ăn gà sinh sản.
Phương pháp nghiên cứu:
Thí nghiệm gồm 378 gà sinh sản trong 08 tuần, từ 31-38 tuần tuổi, chialàm 3 lô, mỗi lô có 42 gà nhắc lại 3 lần (42 x 3 = 126 con)
Lô đối chứng ăn khẩu phần cơ sở (KP có KĐT, không có bột lá chùmngây (CN), lô TN1, TN 2, thay thế 20%, 30 % protein của khô đỗ tương trong
khẩu phần cơ sở (KPCS) bằng protein của bột lá chùm ngây.
Các chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ nuôi sống, tỷ lệ đẻ, năng suất trứng, thànhphần hóa học của trứng, các chỉ tiêu sinh lý học của trứng
Kết quả chính và kết luận :
* Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp khá hoàn chỉnh về kỹ thuật sửdụngprotein bột lá chùm ngây thay thế một phần protein khô đỗ tương (KĐT)trong chăn nuôi gà sinh sản Kết quả nghiên cứu này có thể sử dụng trong giảngdạy và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực thức ăn và dinh dưỡng vật nuôi
* Ý nghĩa thực tiễn
Thay thế một phần protein khô đỗ tương bằng bột lá chùm ngây trongkhẩu phần thức ăn gà sinh sản sẽ là một hướng mới để nâng cao chất lượng sảnphẩm chăn nuôi
Trang 12Phần 1
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Trong chăn nuôi gia súc, gia cầm hiện nay thức ăn chiếm từ 60- 70% giáthành sản phẩm, do vậy nghiên cứu về dinh dưỡng thức ăn chăn nuôi luôn đượccác nhà khoa học quan tâm, việc sử dụng các chất có nguồn gốc thực vật làmnguyên liệu bổ sung vào thức ăn chăn nuôi là một hướng đi đúng và cấp thiết
Lá chùm ngây là nguồn dinh dưỡng bổ sung các hợp chất hữu cơ tự nhiêntốt cho sức khoẻ con người, được sử dụng để điều trị bệnh theo nhiều cách khácnhau Tổ chức thế giới WHO và FAO khuyến cáo sử dụng cho các bà mẹ thiếusữa, trẻ em suy dinh dưỡng và là giải pháp lương thực cho thế giới thứ ba(DanMalam và cs, 2001; McBurney và cs, 2004; Fahey, 2005).Lá chùm ngâychứa nhiều chất dinh dưỡng, đặc biệt là các vitamin thiết yếu như vitamin A, C
và E So sánh hàm lượng một số dinh dưỡng chính trong lá Chùm ngây với một
số loại thực phẩm phổ biến cho thấy hàm lượng vitamin C nhiều hơn quả cam 7lần; vitamin A nhiều hơn cà rốt 4 lần; canxi nhiều hơn sữa 4 lần; chất sắt nhiềuhơn cải bó xôi 3 lần; chất đạm (protein) nhiều hơn 2 lần so với yaourt; kalinhiều hơn 3 lần so với quả chuối (Donovan, 2007) Ngoài ra, trong lá Chùmngây còn chứa hàm lượng cao carotenoid hoạt tính sinh học, tocopherols vàvitamin C có giá trị trong việc duy trì cân bằng chế độ ăn uống và ngăn ngừacác gốc tự do - là nguyên nhân gây nên nhiều bệnh hiểm nghèo (Smolin vàGrosvenor, 2007) Lá chùm ngây giàu provitamin, bao gồm cả axit ascorbic,carotennoids (Lako và cs, 2007)và tocopherols (Gomez- Conrado và cs, 2004;Sánchez-Machado và cs,
2006) Các nghiên cứu dịch tễ học đã chứng minh rằng các loại rau quả giàucarotenoid có liên quan đến giảm nguy cơ ung thư, bệnh tim mạch, sự thoái hoáđiểm vàng và sự hình thành đục thuỷ tinh thể (Lakshminarayan và cs, 2005;
Trang 13Ngoài các provitamins, lá chùm ngây cũng được coi là nguồn giàu khoángchất (Gupta và cs, 1989), polyphenol (Bennett và cs, 2003), flavonoid (Lako vàcs,
2007; Siddhuraju và cs, 2003), alkaloid và protein (Sarwatt và cs, 2002; Soliva
và cs, 2005) Những chất dinh dưỡng thiết yếu có thể giúp làm giảm sự thiếu hụtdinh dưỡng và chống lại nhiều căn bệnh mạn tính
Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về các ảnh hưởng của chùm
ngây(Moringa oleifera) đến năng suất, chất lượng sản phẩm của vật nuôi tại Việt Nam Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “Thay thế một phần
protein khô đỗ tương bằng protein bột lá chùm ngây (Moringa oleifera)trong khẩu phần thức ăn của gà sinh sản Lương Phượng”.
2 Muc tiêu của đề tài.
- Xác địnhảnh hưởng của thay thế một phần protein khô đỗ tương bằngprotein bột lá chùm ngâytrong khẩu phần thức ăn cho gà sinh sản LươngPhượngđến tỷ lệ nuôi sống, khối lượng cơ thể, nằng suất và chất lượng trứng
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc thay thế một phần protein khô đỗtương bằng protein bột lá chùm ngây trong khẩu phần thức ăn của gà sinh sảnLương Phượng
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1 Giới thiệu về câychùm ngây (Moringa oleifera).
1.1.1 Đặc điểm chung
Cây chùm ngây (Moringa oleifera Lam) thuộc ngành ngọc lan
Magnoliophyta, lớp ngọc lan Magnoliopsida, bộ Chùm ngây Moringales, họ
chùm ngây Moringaceae, chi chùm ngây Moringa (Foidl, 2001) Chùm ngây là
loài cây có sự phân bố địa lý rộng rãi nhất ở dãy núi Himalaya thuộc Ấn Độ,Pakistan, Bangladesh và Afghanistan Đây là loài cây sinh trưởng nhanh vàđược sử dụng bởi người La Mã cổ đại, người Hy Lạp và Ai Cập, là cây trồngquan trọng ở Ấn Độ, Ethiopia, Philippines, Sudan và đang phát triển tại miềnTây, Đông và Nam thuộc châu Phi, châu Á nhiệt đới, châu Mỹ Latinh, vùngCaribbean, Florida và quần đảo thuộc Thái Bình Dương (Fahey,2005)
Ở Việt Nam chùm ngây là loài duy nhất của chi Chùm ngây được pháthiện mọc hoang từ lâu đời tại nhiều nơi như Thanh Hóa, Ninh Thuận, BìnhThuận, vùng Bảy Núi ở An Giang, đảo Phú Quốc Tuy vậy trước đây cây ítđược chú ý, có nơi trồng chỉ để làm hàng rào và chỉ trong vài chục năm trở lạiđây khi hạt cây từ nước ngoài được mang về Việt Nam, được trồng có chủ định
và qua nghiên cứu người ta thấy cây có nhiều tác dụng đặc biệt nên tưởng là câymới du nhập
Cây chùm ngây rất dễ trồng, có thể trồng từ hạt, hom cành, hom củ vàtrồng được quanh năm Vùng thiếu nước nên trồng vào mùa mưa, tức khoảngtháng 4, tháng 5 Cây được trồng nhiều ở những vùng đất khô hạn khắcnghiệt nhiệt đới hoặc bán nhiệt đới Cây chuộng đất ráo nước, nhiều cát, dù làđất xấu cũng dễ mọc, chịu được hạn hán, ưa nắng, hầu như không bị sâu bệnhhại do đó chăm sóc cây không cần điều kiện gì đặc biệt về phân bón và nước
Trang 15nước tốt Hệ thống rễ phát triển mạnh nếu được trồng từ hạt, phình to như củmàu trắng với rễ bên thưa Nếu trồng bằng cách giâm cành, hệ thống rễ sẽkhông phát triển như trồng bằng hạt Cây bắt đầu cho quả từ thân, cành vànhánh sau 6 đến 8 tháng trồng (Brossa, 2008).
Gỗ chùm ngây khá mềm, giòn nên thân cành dễ bị gãy trong mưa bão
Do đó nếu trồng cây để khai thác sử dụng người trồng thường cắt ngọn cây khiđạt độ cao nhất định, vừa tiện thu hái; vừa kích thích cây đâm tược, nảy cànhtheo cấp số nhân như tán dù; vừa hạn chế thiệt hại do gãy đổ
Ở Việt Nam cây trổ hoa tập trung chủ yếu từ tháng 1 đến tháng 2 hàngnăm Cây ra hoa rất sớm, thường ra ngay trong năm đầu tiên, khoảng 6 thángsau khi trồng Quả chín, hạt giống phát tán khắp nơi theo gió và nước, hoặcđược mang đi bởi những loài động vật ăn hạt Khả năng nảy mầm của hạt mớithu hoạch là 60 - 90% Tuy nhiên, nếu lưu trữ hạt quá 2 tháng trong điều kiệnthông thường thì khả năng nảy mầm sẽ giảm một cách nghiêm trọng Tỉ lệ nảymầm giảm dần từ 60%, 48% và 7,5% tương ứng với thời gian lưu trữ hạt là 1, 2
và 3 tháng (Rubeena, 1995)
Cây trồng từ hạt, trong giai đoạn đầu cây con thường yếu nên cần đượcchăm sóc trong điều kiện bóng mát Biện pháp giâm cành cũng có thể thực hiện,tuy nhiên hiệu quả không cao do hệ số nhân giống thấp, thường tiến hành giâmcành vào mùa mưa, khi điều kiện không khí đạt được độ ẩm thích hợp
1.1.2 Đặc điểm hình thái
Chùm ngây (Moringa oleifera Lam.) thuộc nhóm cây thân gỗ, có thể mọc
cao từ 5 đến 10 m, phân nhánh nhiều, thân có thiết diện tròn Thân non màuxanh có lông, thân già màu xám có nốt sần Lá kép hình lông chim 3 lần lẻ, dài
30 - 60 cm, màu xanh mốc, mọc cách, có 5 - 7 cặp lá phụ bậc 1, 4 - 6 cặp láphụ bậc 2,
6 - 9 cặp lá chét Lá chét dài 12 - 20 mm hình trứng, mọc đối, mặt trên xanh hơnmặt dưới, gai nhỏ có lông ở chỗ phân nhánh, lá kép lông chim, gân lá hình lôngchim, nổi rõ mặt dưới, cuống lá dài 18 - 25 cm Cụm hoa dạng chùm sim mọc ở
Trang 16nách lá hay ngọn cành Hoa không đều lưỡng tính, màu trắng hơi vàng, mùithơm, hình dạng giống hoa đậu, có cuống dài 1 - 2 cm, có lông tơ Trục pháthoa màu xanh, có lông dài 10 - 15 cm Lá bắc hình vảy nhỏ, có lông Đài hoa
5, rời, đều, hơi cong hình lòng muỗng, màu trắng, dài 1 cm, rộng 0,4 cm Cánhhoa 5, rời, không đều, cánh hoa dạng thìa, màu trắng hơi vàng, phấn nằmngoài, dài hơn nhị bất thụ và đối diện với cánh hoa, nhị bất thụ nằm xen kẽcánh hoa Chỉ nhị có kích thước to ở dưới, màu vàng, dài 0,6 - 1 cm, có lông.Bao phấn 2 ô, hình bầu dục, màu vàng, hướng trong Bộ nhụy 3 lá noãn dính,tạo thành bầu trên 1 ô, mang nhiều noãn, đính noãn bên, có lông Vòi nhụymàu xanh, dài 1,8 cm, có nhiều lông Đầu nhụy hình trụ, màu vàng, có lông(Trần Việt Hưng và Võ Duy Huấn, 2007) Cây cho nhiều lá vào cuối mùa khô
và trổ hoa vào các tháng 1 - 2 Quả dạng nang treo, dài 25 - 30 cm, ngang 2
cm, có 3 cạnh, chỗ có hạt hơi gồ lên, dọc theo quả có khía rãnh, quả khô màuvàng xám Hạt màu đen, tròn có 3 cạnh, lớn cỡ hạt đậu Hà Lan (Võ Văn Chi,1999)
1.1.3 Giá trị dinh dưỡng của cây chùm ngây
Hạt Chùm ngây chứa hàm lượng dầu tương đối lớn, được sử dụng trongnấu ăn, chế biến các món salad Thành phần axit béo trong dung dịch vàenzyme chiết xuất từ dầu hạt Chùm ngây tương ứng là 67,9% và 70,0%(Abdulkarim và cs, 2005) Do tỷ lệ các axit béo không no cao nên dầu hạt chùmngây được sử dụng để thay thế một số loại dầu có giá trị cho sức khoẻ con ngườinhư dầu oliu (Tsaknis và cs, 2002) Toàn bộ hạt chùm ngây được sử dụng để ănxanh, rang thành bột, hấp trong trà và món cà ri (Fahey, 2005)
Lá Chùm ngây là nguồn dinh dưỡng bổ sung các hợp chất hữu cơ tựnhiên tốt cho sức khoẻ con người, được sử dụng để điều trị bệnh theo nhiềucách khác nhau, được hai tổ chức thế giới WHO và FAO khuyến cáo sử dụngcho các bà mẹ thiếu sữa, trẻ em suy dinh dưỡng và là giải pháp lương thực chothế giới thứ ba (DanMalam và cs, 2001;McBurney và cs, 2004;Fahey, 2005)
Trang 17như vitaminA, C
Trang 18và E So sánh hàm lượng một số dinh dưỡng chính trong lá chùm ngây với một
số loại thực phẩm phổ biến cho thấy hàm lượng vitamin C nhiều hơn quả cam 7lần; vitamin A nhiều hơn cà rốt 4 lần; canxi nhiều hơn sữa 4 lần; chất sắt nhiềuhơn cải bó xôi 3 lần; chất đạm (protein) nhiều hơn 2 lần so với yaourt; kalinhiều
3 lần so với quả chuối (Donovan, 2007) Ngoài ra, trong lá chùm ngây cònchứa hàm lượng cao carotenoid hoạt tính sinh học, tocopherols và vitamin C cógiá trị trong việc duy trì cân bằng chế độ ăn uống và ngăn ngừa các gốc tự do
- là nguyên nhân gây lên nhiều bệnh hiểm nghèo (Smolin và Grosvenor,2007) Lá giàu provitamins, bao gồm cả axit ascorbic, carotennoids (Lako
và cs,
2007) và tocopherols (Gomez- Conrado và cs, 2004; Sánchez-Machado và cs,2006) Các nghiên cứu dịch tễ học đã chứng minh rằng các loại rau quả giàucarotenoid có liên quan đến giảm nguy cơ ung thư, bệnh tim mạch, sự thoáihoá điểm vàng và sự hình thành đục thuỷ tinh thể (Lakshminarayan và cs,2005; Bowman và cs, 1995;Krichevsky và cs, 1999) Ngoài các pro vitamins,
lá chùm ngây cũng được coi là nguồn giàu khoáng chất (Gupta và cs, 1989),polyphenol (Bennett và cs, 2003), flavonoid (Lako và cs, 2007;Siddhuraju và
cs, 2003), alkaloid và protein (Sarwatt và cs, 2002;Soliva và cs, 2005) Nhữngchất dinh dưỡng thiết yếu có thể giúp làm giảm sự thiếu hụt dinh dưỡng vàchống lại nhiều căn bệnh mạn tính
1.2 Đặc điểm sinh học của trứng gia cầm
- Chất lượng trứng gia cầm:
Nhiều tác giả cho rằng chất lượng trứng gồm có 2 phần:
+ Chất lượng bên ngoài gồm: Khối lượng, hình dạng, màu sắc, độ dày và
Trang 19Trứng gia cầm thường có hình oval hoặc hình elip: một đầu lớn và mộtđầu nhỏ Hình dạng trứng thường mang đặc điểm của từng cá thể Chỉ số hình
Trang 20Theo Brandsch và Bilchel (1978) thì tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộngcủa quả trứng là một chỉ số ổn định 1/0,75 Hình dạng quả trứng tương đối ổnđịnh, sự biến động theo mùa cũng không có ảnh hưởng lớn Nói chung hìnhdạng quả trứng luôn có tính di truyền bền vững và có những biến dị không rõrệt.
- Chất lượng vỏ trứng
Vỏ trứng là lớp vỏ bọc ngoài cùng bảo vệ về mặt cơ học, lý học, hóa họccho các thành phần khác bên trong trứng Màu sắc của vỏ trứng phụ thuộc vàogiống, lá tai của từng loại gia cầm khác nhau Bên ngoài nó được bao phủ bởimột lớp keo dính do âm đạo tiết ra, có tác dụng làm giảm ma sát giữa thành âmđạo và trứng, tạo sự thuận lợi cho việc đẻ trứng, hạn chế sự bốc hơi nước củatrứng ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn
Vỏ trứng có hai lớp màng đàn hồi tách nhau tạo thành buồng khí có ýnghĩa trong quá trình trao đổi khí với môi trường bên ngoài Vỏ trứng được cấutạo gồm 94% canxi carbonat, 1% canxi phosphat, 1% magie phosphat, 4% hợpchất hữu cơ Một phần hợp chất hữu cơ này là đường polisacharide Hàm lượngcanxi trong vỏ trứng khoảng 2g Trên bề mặt vỏ trứng có nhiều lỗ khí, số lượng
lỗ khí phụ thuộc vào nhiều yếu tố Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998), trên
bề mặt vỏ trứng gà có khoảng 10.000 lỗ khí, tính trên 1 cm2 có khoảng 150 lỗ,đường kính các lỗ khí dao động 4 - 10µm Mật độ lỗ khí không đều, nhiều nhất
ở đầu to giảm dần ở 2 bên và ít nhất ở đầu nhỏ
Chất lượng vỏ trứng thể hiện ở độ dày và độ bền của vỏ trứng Nó có ýnghĩa trong vận chuyển và ấp trứng Độ dày vỏ tương quan dương đối với độ
Trang 21dày
Trang 221 1hoặc quá mỏng đều có tỷ lệ ấp nở kém Vỏ trứng quá dày hạn chế sự bốc hơinước, cản trở quá trình phát triển của phôi, gia cầm con khó đạp vỡ vỏ khi nở.Nếu vỏ trứng quá mỏng làm bay hơi nước nhanh, khối lượng trứng gia cầmgiảm nhanh, dễ chết phôi, sát vỏ, nở yếu và tỷ lệ chết cao Độ dày lý tưởng của
da trong quá trình phát triển cơ thể ở giai đoạn phôi Chất lượng lòng trắngđược xác định qua chỉ số lòng trắng và đơn vị Haugh Hệ số di truyền của tínhtrạng này khá cao
Theo Nguyễn Duy Hoan và Trần Thanh Vân (1998) cho biết: Khối lượngtrứng tương quan rõ rệt với khối lượng lòng trắng (r = 0,86), khối lượng lòng đỏ(r = 0,72) và khối lượng vỏ (r = 0,48)
Orlov (1974) (dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994) cho rằng: chỉ số lòngtrắng ở mùa Đông cao hơn mùa Xuân và mùa Hè Trứng gà mái tơ và gà máigià có chỉ số lòng trắng thấp hơn gà mái đang độ tuổi sinh sản Trứng bảo quảnlâu, chỉ số lòng trắng cũng bị thấp đi Chất lượng lòng trắng còn kém đi khicho gà ăn thiếu protein và vitamin nhóm B
- Chất lượng lòng đỏ
Lòng đỏ là tế bào trứng của gia cầm, có dạng hình cầu, đường kính vàokhoảng 35 - 40 mm, chiếm khoảng 32% khối lượng trứng, được bao bọc bởi
Trang 23màng lòng đỏ có tính đàn hồi, chất lượng của màng đàn hồi này phụ thuộc vàothời gian bảo quản, ở giữa các hốc lòng đỏ nối với đĩa phôi lấy dưỡng chất từnguyên sinh chất để cung cấp cho phôi phát triển Chất lượng lòng đỏ phụ thuộcvào nhiều yếu tố: Di truyền cá thể, lứa tuổi, giống, loài, điều kiện nuôi dưỡng Màu sắc của lòng đỏ phụ thuộc vào caroten trong thức ăn và sắc tố trong cơ thểgia cầm.
Chỉ số lòng đỏ thể hiện chất lượng của lòng đỏ và được tính bằng tỷ sốgiữa chiều cao và đường kính của lòng đỏ Theo Card và Nesheim thì chỉ sốlòng đỏ trứng tươi là 0,4 - 0,42; trứng có chỉ số lòng đỏ cao sẽ cho tỷ lệ ấp nởcao Theo Ngô Giản Luyện (1994): chỉ số lòng đỏ ít bị biến đổi hơn lòng trắng.Chỉ số lòng đỏ giảm từ 0,25 - 0,29 nếu bị tăng nhiệt độ và bảo quản lâu
- Chỉ số Haugh (Hu)
Là chỉ số đánh giá chất lượng trứng xác định thông qua khối lượng trứng
và chiều cao lòng trắng đặc Chỉ số Haugh càng cao, chất lượng trứng càng tốt,
từ 80 - 100% là trứng rất tốt, 65 - 79% là trứng tốt, 55 - 65% là trứng trung bình
và nhỏ hơn 54% là xấu Chỉ số này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động:Thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm, bệnh tật, nhiệt độ môi trường, sự thaylông, giống, dòng
* Thành phần hóa học của trứng
Trứng gia cầm nói chung là một loại thực phẩm rất giàu dinh dưỡng, đặcbiệt là lòng đỏ, nó cung cấp khoảng 50% protein và tất cả các chất béo củatrứng Thành phần dinh dưỡng của các loại trứng gia cầm khác nhau thì khácnhau Protein trong trứng thường là những protein dễ tiêu hóa Hàm lượng axitamin trong trứng thường rất cân đối Hàm lượng mỡ trong trứng ở dạng nhũhóa dễ tiêu hóa Trong trứng chứa hàm lượng axit béo không no cao, hàm lượngkhoáng cao đặc biệt là hàm lượng sắt và photpho Thành phần khoáng trongtrứng có thể thay đổi theo khẩu phần ăn của gia cầm đẻ
Theo Gilbert (1971), trong một lòng đỏ trứng khối lượng 19g có chứa:10,5mg Na; 17,9mg K; 25,7mg Ca; 2,6mg Mg; 1,5mg Fe; 29,8mg S; 24,7mgCl;
Trang 241 394,8mg P.
Trang 25Hàm lượng vitamin trong trứng rất cao: 200 - 800UI vitamin A; 20UIvitamin D; 49mg vitamin B1; 84mg vitamin B2; 30mg axit nicotic; 58mgvitamin B6; 580mg axit pantothenic; 10mg biotin; 4,5mg axit folic; 0,3mgvitamin B12;
150mg vitamin E và 25mg vitamin K1
+ Thành phần hóa học của lòng đỏ
Lòng đỏ trứng của tất cả các loại gia cầm (trừ thủy cầm) có chứa 49% lànước, 16% là protein, 33% là mỡ Hai phần ba mỡ trong lòng đỏ làtriglyxerit,
30% là photpholipit và 5% là cholesterol Lòng đỏ trứng thủy cầm chứa nhiều
mỡ (36%) và 18% protein Hàm lượng nước trong lòng đỏ có thể thay đổi (46 50%) tùy thuộc vào thời gian và điều kiện bảo quản Hàm lượng mỡ trong lòng
-đỏ cũng có thể biến đổi thông qua khẩu phần ăn, chỉ riêng hàm lượng axit béokhông no như palmitic và stearic là không thay đổi Hàm lượng các axit béonày duy trì ở mức 30 - 38% trong tổng số chất béo Nếu khẩu phần ăn chứanhiều axit béo không no mạch đa thì hàm lượng các axit béo này trong trứngcũng tăng lên Thông thường tỷ lệ axit béo không no và no là 2 : 1
+ Thành phần hóa học của lòng trắng
Lòng trắng là nơi dự trữ nước của trứng khoảng 88% Phần còn lại làprotein như globulin, ovomuxin và albumin Ovomuxin chiếm 75% tổng sốprotein trong lòng trắng trứng, globulin chiếm khoảng 20% Theo kết quả củacác nhà khoa học Nga, methionin có vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợplòng trắng, còn quá trình tổng hợp ovoxumin thì lysine lại chiếm vị trí quantrọng Thành phần hóa học của lòng trắng ở tất cả các loại trứng gia cầm đềugiống nhau Lòng trắng đặc có hàm lượng ovomuxin cao gấp 4 lần lòng trắngloãng đây chính là nguyên nhân tạo nên cấu trúc keo của lòng trắng Chất lượnglòng trắng thay đổi theo thời gian bảo quản Giá trị pH của lòng trắng trứng gàtươi là 7,6 sau 14 ngày bảo quản chúng có thể tăng lên pH = 9,2
1.3 Giới thiệu về giống gà dùng trong thí
nghiệm
Trang 2611Đặc điểm của gà Lương Phượng.
Trang 27Gà Lương Phượng có mào, tích, tai đều màu đỏ Gà có thân hình chắc,hình dáng bên ngoài giống với gà Ri.
Gà có màu lông đa dạng vàng đốm đen ở vai, lưng và lông đuôi Lông cổ
có màu vàng ánh kim, búp lông đuôi có màu xanh đen
Gà trống có mào cờ đứng, ngực rộng dài, lưng phẳng, chân cao trung
bình, lông đuôi vểnh lên Dòng trống chủ yếu có màu vàng nâu nhạt đốm đen.Chân màu vàng, mào đơn đỏ tươi
Gà mái đầu thanh tú, thể hình chắc, rắn, chân thẳng, nhỏ Dòng mái có
màuđốm đen, cánh sẻ là chủ yếu
Khả năng sinh sản của gà Lương Phượng rất tốt Tuổi vào đẻ là 24 tuần,khối lượng cơ thể gà mái đạt 2.100g, gà trống đạt 2.700g Tuổi đẻ đầu tiên 140 -
150 ngày, sản lượng trứng 150 - 170 Sản lượng trứng/66 tuần đẻ đạt khoảng
171 quả, tỷ lệ phôi đạt 92% Gà Lương Phượng có sức kháng bệnh tốt, thíchhợp với mọi điều kiện chăn nuôi
Với phẩm chất ưu việt như trên, gà Lương Phượng hiện nay đang làgiống chủ đạo được ưa chuộng và phát triển rộng rãi khắp mọi vùng ở nước ta
1.4 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
1.4.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, nghiên cứu về cây chùm ngây (Moringa oleifera) đã được
thực hiện trên một số khía cạnh sau: Nghiên cứu về đa dạng di truyền (Mai HảiChâu và cs, 2014); Nghiên cứu về nhân giống (Trần Văn Tiến, 2013, Mai HảiChâu, 2015); nghiên cứu về năng suất chất xanh (Lưu Hữu Mãnh và cs, 2003vàDương Đức Tiến, 2012); Nghiên cứu về kỹ thuật thu hoạch (2016) Tuy nhiên,những nghiên cứu nêu trên thực hiện với mục đích phục vụ sản xuất rau xanhcho người và dược liệu không phải là sản xuất thức ăn gia súc
Bên cạnh đó còn một số nghiên cứu khoa học về thay thế, bổ sungnguyên liệu thức ăn, mang ý nghĩa rất lớn với ngành chăn nuôi gia cầm như sau:
Nghiên cứu sự thay thế của protein bằng khô dầu dừa (Nguyễn Thị KimĐông 2016).Tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của sự thay thế protein ở khô
Trang 28dầu dừa cho protein của khẩu phần thức ăn hỗn hợp trên khối lượng, chất lượngthân thịt và hiệu quả kinh tế của gà Sao nuôi thịt Thí nghiệm được bố trí theothể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức và 3 lần lặp lại trên 150 gàSao
28 ngày tuổi 5 nghiệm thức là 5 mức độ protein khô dầu dừa tương ứng 0, 7,5,
15, 22,5 và 30% thay thế lượng protein của khẩu phần thức ăn hỗn hợp Mỗiđơn vị thí nghiệm có 10 gà và thí nghiệm được tiến hành trong 10 tuần Kếtquả lượng DM, chùm ngây và CP tiêu thụ không có sự biến động (P >0,05)giữa các nghiệm thức, trong khi lượng EE và ME tiêu thụ cao hơn có ý nghĩathống kê (P<0,05) ở nghiệm thức KDD22,5 và KDD30 Tăng trọng của gà thínghiệm cao nhất và FCR thấp nhất có ý nghĩa thống kê (P<0,05) ở các nghiệmthức KDD15, KDD22,5 và KDD30 Trọng lượng thân thịt, thịt ức và thịt đùicao nhất có ý nghĩa thống kê (P<0,05) ở nghiệm thức KDD22,5 Thí nghiệmđược kết luận rằng protein khô dầu dừa có thể thay thế protein của khẩu phầnthức ăn hỗn hợp Ở mức thay thế 22,5% protein, gà Sao thí nghiệm đạt tăngtrọng, khối lượng và năng suất thịt cao nhất và lợi nhuận tốt hơn
Hồ Trung Thông và cs(2012): Nghiên cứu được triển khai nhằm xác địnhgiá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ (MEN) trong một số phụ phẩm(khô dầu lạc, khô dầu dừa, bột đầu tôm và tấm gạo) khi được sử dụng làm thức
ăn nuôi gà Tổng số 150 con gà Lương Phượng 35 ngày tuổi được sử dụng trongthí nghiệm Khẩu phần cơ sở được thiết kế đảm bảo đáp ứng nhu cầu dinhdưỡng cho gà ở giai đoạn thí nghiệm
Tổng số 04 khẩu phần thí nghiệm được thiết lập bằng cách thay thế 20%hoặc 40% khẩu phần cơ sở bằng thức ăn thí nghiệm Giá trị MEN trong các loạithức ăn thí nghiệm được tính theo phương pháp sai khác Kết quả cho thấy giátrị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ trong khô dầu dừa, khô dầu lạc, bộtđầu tôm và tấm gạo lần lượt là 1444,87kcal/kg; 2542,51kcal/kg; 1737,68kcal/kg và
Trang 29cứu này thấp hơn nhiều so với giá trị MEN của khô dầu dừa trong cơ sở dữ liệu
Trang 30thức ăn Tuy vậy, giá trị MEN của tấm gạo từ nghiên cứu này cao hơn giá trị MEN
của tấm gạo từ một số cơ sở dữ liệu hiện nay
Theo Tạ An Bình (1973) đã sử dụng BLKG nuôi gà con và cho biết, ở tỷ
lệ 4% trong khẩu phần, keo giậu đã có tác dụng tốt tới sinh trưởng của gà.Dương Thanh Liêm (1981) thử nghiệm nuôi gà broiler với các khẩu phần chứa
tỷ lệ BLKG khác nhau; kết quả cho thấy, khẩu phần chứa 4% BLKG có tácdụng tốt tới sinh trưởng và hiệu suất sử dụng thức ăn của gà Khi tỷ lệ BLKGnâng lên tới mức 6% khẩu phần, tăng trọng của gà bắt đầu có xu hướng giảm
Ở tỷ lệ 10% BLKG trong khẩu phần, gà nuôi đến 9 tuần tuổi bắt đầu có biểuhiện rụng lông và sưng tuyến giáp trạng, nhưng nếu thêm 0,5 ppm muối KI haycasein vào khẩu phần ăn sẽ hạn chế hiện tượng rụng lông và sưng tuyến giápcủa gà do hạn chế độc tính của mimosin có trong keo giậu
Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm (1995) đã nghiên cứu chế biến bột
lá sắn để nuôi gà thịt, gà đẻ trứng, lợn thịt cho kết quả tốt Tác giả đã kết luận
có thể phối hợp 4 - 6% trong khẩu phần ăn gà thịt, 10 - 15% trong khẩu phầncủa lợn
Tác giả Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm (1995) đã nghiên cứu sửdụng bột lá keo giậu bổ sung premmix vitamin trong thức ăn nuôi gà thịt côngnghiệp và cho kết luận có thể dùng 3 - 5% bột lá keo giậu bổ sung premixvitamin trong thức ăn hỗn hợp nuôi gà thịt Với tỷ lệ bổ sung như trên, bột lákeo giậu đã có ảnh hưởng tốt tới tăng trọng lượng của lô thí nghiệm so với đốichứng đồng thời làm tăng hiệu suất sử dụng thức ăn, tiêu thụ thức ăn/kg tăngtrọng giảm 85 g so với đối chứng, chi phí thức ăn giảm 8 - 10%
Theo Đào Lệ Hằng (2007) cho rằng sắn là loại cây thức ăn gia súc có giátrị Không tính sản lượng củ - sản phẩm khai thác chính của nghề trồng sắn màphụ phẩm ngọn, lá cũng là nguồn dinh dưỡng cho gia súc, gia cầm Lá sắn cóhàm lượng protein và các axit amin cao hơn các bộ phận khác, hàm lượng lipit ở
lá cao gấp 6 lần so với củ sắn Lá sắn có chất dinh dưỡng tương đối cao cụ thể
Trang 31protein trung bình là 6,59 - 7,00% (Nguyễn Khắc Khôi, 1982) cho nên một sốnơi đã dùng BLS bổ sung vào thức ăn cho gia súc, gia cầm.
Theo Trần Thị Hoan (2012)bột lá sắn (BLS) giàu protein, các axit amintương đối cân đối nhưng năng lượng lại thấp, tỷ lệ xơ cao, ngoài ra còn chứađộc tố HCN với hàm lượng khá cao Vì vậy, phải chế biến để khử độc tố trong
lá sắn, bổ sung các thức ăn giàu năng lượng khi đưa bột lá sắn vào khẩu phầngia súc, gia cầm Tỷ lệ bột lá sắn thích hợp trong khẩu phần của gà là dưới
10%.Ở Việt Nam, nghiên cứu về cây chùm ngây (Moringa oleifera) đã được
thực hiện trên một số khía cạnh sau: Nghiên cứu về đa dạng di truyền (Mai HảiChâu và cs, 2014); Nghiên cứu về nhân giống (Trần Văn Tiến, 2013, Mai HảiChâu, 2015); nghiên cứu về năng suất chất xanh (Lưu Hữu Mãnh và cs, 2003vàDương Đức Tiến, 2012) Tuy nhiên, những nghiên cứu nêu trên thực hiện vớimục đích phục vụ sản xuất rau xanh cho người và dược liệu không phải là sảnxuất thức ăn gia súc
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Ở nước ngoài, nghiên cứu trên các khía cạnh sau đây về cây thức ăn chùmngây: Về di truyền (Abubaka và cs, 2011); về nhân giống, gieo ươm (Adebayo
và cs, 2011; Antwi và cs, 2011; Bennett và cs, 2003); về kỹ thuật trồng và thuhoạch (Amaglo và cs, 2006; Fadiyimu và cs, 2011) về ảnh hưởng của phân bónđến năng suất và thành phần hóa học (Dash và cs, 2009;Imoro và cs,2012;Isaiah và cs,
2013) Các nghiên cứu trên đều nhằm mục đích phục vụ sản xuất rau xanhcho
người, làm dược liệu hoặc cây lâm nghiệp (trồng
rừng)
Kỹ thuật trồng và thu hoạch cây thức ăn cho người và cho vật nuôi có sựkhác nhau Ví dụ: Nếu trồng làm rau xanh cho người thì cần thu hoạch lúc raucòn non dẫn tới khoảng cách thu hoạch (tuổi của rau) phải ngắn, còn cho vậtnuôi thì khoảng cách giữa các lứa phải dài hơn (thu hoạch ở thời điểm cây thức
Trang 32ăn đạt được tối đa về dinh dưỡng và năng suất) Với mục đích khác nhau nhưtrên dẫn đến khoảng cách trồng (mật độ trồng) cũng phải khác nhau Cụ thể:Mật độ trồng
Trang 33rau ăn cho người (khoảng cách thu hoạch ngắn) thì phải trồng dày hơn so vớimật độ trồng thu hoạch lá cho vật nuôi.
Cũng tương tự như vậy, tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong lá ở thời điểm cònnon (rau ăn cho người) khác với thời điểm thu lá làm thức ăn cho vật
nuôi
Mặc dù đã có một số nghiên cứu về cây chùm ngây (Moringa oleifera)
nhưng các nghiên cứu này chỉ nhằm mục đích phục vụ sản xuất rau ăn chongười và dược liệu, do đó, cần phải có các nghiên cứu tương tự với mục đíchphục vụ sản xuất thức ăn (chất xanh, bột lá) cho vật nuôi
Và một số nghiên cứu khoa học thay thê, bổ sung thức ăn khác cho giacầm được thực hiện như sau:
Montilla và cs (1976) cho biết khả năng tăng khối lượng tăng cao và khảnăng chuyển hóa thức ăn giảm mạnh khi thay thế bột bông hay bột ngô bằng bột
lá sắn (BLS) từ 0, 10, 20 và 30% trong khẩu phần gà broiler
Theo Wyllie và Chammanga (1979) khi sử dụng 5% bột lá và cuống lásắn, 10% bột ngọn lá sắn thay thế bột hạt bông cho gà broiler từ 0 - 8 tuần tuổithì khả năng tăng khối lượng của gà là tốt nhất
Ravindran và cs (1986) cho rằng bột lá sắn(BLS) là thức ăn thay thế chobột dừa trong khẩu phần của gà thịt Tác giả cho biết có thể sử dụng với tỷ lệ15% BLS vẫn cho kết quả tốt Tuy nhiên, nếu sử dụng với tỷ lệ cao hơn thì làmgiảm năng suất chăn nuôi
Theo Eruvbetine và cs (2003) thì bột lá sắn(BLS) có hàm lượng chất xơcao nên mức độ tối đa sử dụng trong khẩu phần ăn cho động vật dạ dày đơn làtừ
10 - 20% Tuy nhiên, mức độ tối đa này phụ thuộc vào thành phần hóa học củanguyên liệu sử dụng trong khẩu phần Bổ sung dầu đậu nành 3% hoặcmethionin thì hiệu suất gà được cải thiện khi khẩu phần chứa 20% BLS
Tác giả Iheukwumere và cs (2007) khi nghiên cứu ảnh hưởng của cácmức bột lá sắn 0%, 5%, 10% và 15% trong khẩu phần gà thịt cho biết tổng
Trang 34lượng huyết thanh, albumin và hemoglobin ở mức 0% và 5% bột lá sắn (BLS)
lớn hơn
Trang 35có ý nghĩa thống kê so với sử dụng ở mức 10% và 15% BLS Tuy nhiên, tỷ lệ
cholesterol, creatinin và ure thì không có sự sai khác nhau Tỷ lệ thịt xẻ ở lô đối
chứng lớn hơn và có ý nghĩa thống kê so với lô thí nghiệm và tác giả khuyếncáo chỉ sử dụng tối đa 5% bột lá sắn cho gà thịt broiler
Iheukwumere và cs (2008) nghiên cứu đánh giá năng suất, khả năng sửdụng thức ăn và biến đổi của một số tổ chức của cơ thể gà thịt Anak ở 5 tuầntuổi khi sử dụng khẩu phần có bột lá sắn ở các tỷ lệ 0%, 5%, 10% và 15% chokết quả như sau: Lượng thức ăn thu nhận, tăng khối lượng, chuyển hóa thức ăn
và tăng khối lượng của lô đối chứng và 5% bột lá sắn là khác nhau có ý nghĩa
so với lô sử dụng 10% và 15% bột lá sắn (BLS) Khối lượng tim, gan, lách ởmức
0% và 5% BLS cao hơn có ý nghĩa thống kê (P< 0,05) so với mức 10% và15% Tác giả cũng khuyến cáo chỉ nên dùng tối đa là 5% BLS cho gà broiler ởgiai đoạn kết thúc
Onibi và cs (2008) khi nghiên cứu thay thế bột đậu tương bằng bột lá săn(BLS) với các tỷ lệ thay thế là 0%, 30% và 60% cho gà broiler, đã thấy tăngkhối lượng của gà đến kết thúc thí nghiệm, tiêu tốn thức ăn/ kg tăng khối lượng
là sai khác có ý nghĩa thống kê với lô ĐC (chỉ dùng bột đỗ tương) Gà sử dụngthức ăn thay thế 30% bột đỗ tương bằng BLS cho khối lượng kết thúc thínghiệm, tăng khối lượng trung bình cao hơn còn tiêu tốn thức ăn thấp hơn sovới sử dụng ở mức thay thế 60% và cũng cao hơn so với gà được nuôi bằngthức ăn có sử dụng BLKG với các tỷ lệ trên
Theo Hussain và cs (1991) thì không có sự khác nhau có ý nghĩa về tăngtrọng, hiệu suất sử dụng thức ăn giữa các nhóm gà thịt được nuôi dưỡng với cáckhẩu phần chứa 0%, 5%, 10% và 15% bột lá keo giậu (BLKG) bằng cách sửdụng BLKG thay thế một phần khô dầu lạc trong khẩu phần ăn của gà Tuy
Trang 3621nhiên, khi khẩu phần ăn chứa tới 20% BLKG đã làm giảm một cách có ý nghĩatốc độ sinh trưởng và hiệu suất sử dụng thức ăn của gà.
Trang 37Theo Gulraiz và cs (1991) cho biết không có sự khác nhau có ý nghĩa vềtăng trọng giữa các nhóm gà thịt được nuôi dưỡng với khẩu phần chứa 12% bột
lá keo giậu (BLKG) và khẩu phần không chứa BLKG (trong điều kiện các khẩuphần ăn đảm bảo đồng đều về protein và năng lượng trao đổi)
Fraga và cs (1992) nhận thấy khi thay thế 5% khẩu phần cơ sở dựa trênngô và ngô dầu đậu tương bằng BLKG phơi khô dưới ánh nắng mặt trời để nuôi
540 gà thịt Cornish x Plymouth trong thời gian từ 0 - 6 tuần tuổi Kết quả chothấy, nhóm gà thịt được nuôi dưỡng với khẩu phần chứa BLKG có mức tăngtrọng lúc 6 tuần tuổi và hiệu suất sử dụng thức ăn cao hơn nhóm gà đối chứngđược nuôi dưỡng với khẩu phần cơ sở không có BLKG
Ở Ấn Độ, Murthy và cs (1994) đã nhận thấy, không có sự khác nhau có ýnghĩa nào về tăng khối lượng và chuyển hóa thức ăn giữa nhóm gà được nuôidưỡng với khẩu phần ăn chứa 20% bột lá Sababul được xử lý bằng cách ngâmnước trong 12 giờ và nhóm gà được nuôi dưỡng với khẩu phần đối chứngkhông có bột lá Sababul, trong giai đoạn từ 0 - 8 tuần tuổi
Trang 38Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bột lá cây thức ăn chùm ngây (Moringa oleifera).
- Gà sinh sản giống Lương Phượng
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành tại trại chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi Thú
y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Phân tích mẫu thức ăn, trứng tại Viện Khoa học Sự sống, Đại học Thái Nguyên
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 11/2018 đến tháng 3/2019
2.3 Nội dung nghiên cứu
Xác định ảnh hưởng của thay thế một phần protein khô đỗ tương tương
bằng protein bột lá chùm ngây (Moringaoleifera) trong khẩu phần thức ăn của
gà sinh sản Lương Phượng đến tỷ lệ nuôi sống, khối lượng cơ thể, năng suất vàchất lượng trứng
Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc thay thế một phần protein khô đỗ
tương bằng protein bột lá chùm ngây (Moringaoleifera) trong khẩu phần thức
ăn của gà sinh sản Lương Phượng
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành 8 tuần theo dõi trên 378 gà sinh sản LươngPhượng, giai đoạn đẻ từ 31 - 38 tuần tuổi, chia làm 3 lô, mỗi lô có 42 gà có khốilượng như nhau Mỗi lô được nhắc lại 3 lần (42 x 3 = 126 con)
Thức ăn thí nghiệm như sau:
Trang 39chùm ngây); lô TN1, TN2, thay thế 20%, 30 % protein khô đỗ tương trong
KPCS bằng protein bột lá chùm ngây.
Trang 40Bột lá được thay thế ngay từ khi trộn thức ăn ban đầu, toàn bộ khẩu phầncủa gà trong ngày sẽ được chia làm 2 bữa/ngày và cho ăn vào các thời điểm 7h
và 14h hằng ngày
Trước thí nghiệm gà được nuôi thích nghi với điều kiện chuồng trại, mật
độ, khẩu phần như thí nghiệm trong thời gian 7 ngày
Trong thời gian thí nghiệm trứng thu được lấy mẫu đem đi phân tích ởviện Khoa học Sự sống Thí nghiệm tiến hành cân khối lượng trứng, khối lượnglòng đỏ, khối lượng lòng trắng, khối lượng vỏ 8 lần (mỗi tuần một lần), mỗi lần
5 quả
Bảng 2.1 Sơ đồ thí nghiệm
Thay thế 20% Thay thếprotein KĐT 30% proteinbằng protein KĐT bằngbột lá CN protein bột lá
CN