1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bài tập tiếp biến văn hóa trung quốc đến các nước đông nam á

16 172 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 81,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. Khái quát về văn học Trung Quốc II. Ảnh hưởng của văn học Trung Quốc đến văn học Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam III. Những điểm tương đồng trong việc tiếp biến văn học Trung Quốc đến văn học 3 nước Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản

Trang 1

I Khái quát về văn học Trung Quốc

Văn học Trung Quốc có bề dày lịch sử hàng ngàn năm, từ các tài liệu lưu trữ của các triều đại cho đến các tiểu thuyết hư cấu từ thời trung cổ để phục vụ cho các độc giả người Trung Quốc biết chữ, hai loại kỹ thuật in ấn thời nhà Đường và thời nhà Tống đã nhanh chóng truyền bá kiến thức bằng văn bản khắp Trung Hoa hơn bao giờ hết

Trong thời kỳ hiện đại, tác giả Lỗ Tấn (1881-1936) có thể được xem là người sáng lập văn học bạch thoại hiện đại ở Trung Quốc Văn học cổ đại Trung Quốc có ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn học các nước Hán hóa như: Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam

Văn học Trung Quốc nổi lên như một nền văn học lớn, có lịch sử lâu dài và ngày càng phát triển với nhiều thành tựu rực rỡ Văn học Trung Quốc phát triển với nhiều loại hình đa dạng và nội dung sâu sắc cùng với tên tuổi nhiều tác gia nổi tiếng thế giới Trung Quốc có kho tàng văn học cổ điển phong phú, bao gồm cả thơ

và văn xuôi, có niên đại từ thời nhà Đông Chu (770-256 TCN) và bao gồm các tác phẩm kinh điển được cho là của Khổng Tử Cho đến ngày nay, những thành tựu

mà văn học Trung Quốc đạt được đã có nhiều giá trị to lớn đóng góp vào nền văn học thế giới

 Văn học trung quốc ảnh hưởng đến văn học các nước qua các con đường:

- “Con đường khẩu ngữ” những thời kì đầu chưa có các phương tiện liên lạc qua lại giữa Trung Quốc và 3 nước là sự giao lưu qua lại giữa các vùng gần biên giới 2 nước qua con đường truyền miệng

Từ thế kỉ V đến thế kỉ X trở đi, cả 3 nước bắt đầu xây dựng nền tự chủ, trong công cuộc này 3 nước đã ít khi có dịp tiếp xúc trực tiếp với người Trung Quốc, cho nên "con đường khẩu ngữ" đã lùi dần vị thế gần như độc tôn trước đây để nhường chỗ cho "con đường sách vở"

- Đến thế kỉ X trở đi cả ba nước tiếp xúc mạnh mẽ với nền văn học Trung Quốc đặc biệt qua các con đường

+ Cử người tài đi sang Trung Quốc du học, đi sứ

+ Con đường truyền giáo

Như vậy văn học Trung Quốc du nhập vào 3 nước cho dù là bằng con đường khẩu ngữ, con đường sách vở thì từ thời xa xưa cho đến thời hiện đại cũng đều hết sức mạnh mẽ và bền bỉ Cùng với sự trôi đi của thời gian, khi mà tình trạng cộng

cư của người TQ ở các nước Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam không còn vị thế nổi bật trong sinh hoạt kinh tế thời hiện đại thì sự du nhập của văn học TQ vào 3 nước theo con đường khẩu ngữ hoặc con đường phiên âm Hán Việt sẽ không còn

Trang 2

đậm nét như trong quá khứ nữa Bù lại, xu hướng sử dụng các tác phẩm văn học ảnh hưởng từ văn học TQ trong giáo dục ngày càng được hưởng ứng và chắc chắn chúng sẽ vấp phải không ít khó khăn để được tiếp nhận, song triển vọng của chúng cũng khá rõ ràng, vì sự tiện lợi và cần thiết của chúng ở những tình cảnh nhất định

là không thể phủ nhận

II Ảnh hưởng của văn học Trung Quốc đến văn học Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam.

1 Ảnh hưởng của văn học Trung Quốc đến văn học Việt Nam.

1.1.Ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đến văn học Việt Nam qua các triều đại.

Khu vực tương ứng với miền Bắc Việt Nam ngày nay từng là quốc gia Nam Việt độc lập thời cổ đại cho đến năm 111 tr.CN, khi nó rơi vào vòng cai trị của Trung Quốc sau những cuộc chinh phục vũ trang của nhà Hán Kết quả là dù cho từng tồn tại một truyền thống trước khi có sự bức nhận của chế độ quân chủ Trung Hoa thì văn hoá Việt Nam trong quá trình phát triển suốt thiên niên kỉ đầu tiên đã không thể không liên hệ với Trung Quốc Người Việt Nam tiếp thu những phong tục của Trung Quốc, và chắc chắn đã sáng tác văn học bằng chữ Hán từ lúc đó cho đến khi Việt Nam giành độc lập từ Trung Quốc vào năm 939 Có một số người Việt Nam

đã sang Trung Quốc trong thời Đường (618 - 907) và đã thi đỗ trong các kì khoa

cử Trung Quốc Chữ Hán vẫn tiếp tục giữ vai trò văn tự chính thức của quốc gia sau khi Việt Nam giành độc lập từ tay Trung Quốc

Nhà Lí, triều đại cai trị Việt Nam từ 1009 đến 1225 Nhà Lí tổ chức một chế độ khoa cử tiêu chuẩn hoá dựa trên mô hình Trung Quốc Dù vậy, khoa cử Việt Nam đòi hỏi một sự hiểu biết sâu sắc về văn học Trung Quốc, và tuy đôi lúc bị gián đoạn nhưng chế độ khoa cử ấy vẫn được duy trì đến năm 1919, khi nhà cầm quyền thực dân Pháp nắm quyền quản lí giáo dục ở Việt Nam.Việt Nam đã có một số lượng ổn định những người tinh thông cổ Hán học Các vua nhà Trần (TK XIII –

TK XIV) nổi bật như những nhà thơ và chủ soái về thơ ca chữ Hán Gần như tất cả văn bản là sáng tác của người Việt hoặc du nhập từ Trung Quốc trong buổi sơ kì của dân tộc đều đã thất tán trong những năm sau đó Cuộc chiếm đóng của quân đội Trung Quốc thời nhà Minh (1368 - 1644) trên lãnh thổ Việt Nam từ 1407 đến

1428 đã dẫn đến việc phá huỷ một cách có hệ thống những tác phẩm thành văn trên đất nước này

1.2.Tiếp biến trên một số mặt

1.2.1 Văn học Trung Quốc đối với thơ ca dân gian người Việt

a Ảnh hưởng trực tiếp

Trang 3

Thơ ca dân gian người Việt (còn gọi là ca dao) được sáng tác từ rất sớm, song việc ghi chép lại mới chỉ được tiến hành từ cuối thế kỷ XVIII trở lại đây Căn cứ vào những tài liệu đã sưu tầm được, hiện có khoảng 13.000 bài ca dao Ca dao người Việt có khi chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc một cách trực tiếp Thí

dụ, đây là lời của một chàng trai ở Nam Bộ:

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Ai hỏi đón chi đó giống in tiếng con bạn hiền

Đây anh lo phản mại kiếm tiền nuôi thân(1)

Hai dòng đầu của bài ca dao là hai câu thơ trong bài Phong Kiều dạ bạc (Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều) của Trương Kế (đời Đường), có nghĩa là: Ngoài thành Cô

Tô có ngôi chùa Hàn Sơn, nửa đêm tiếng chuông vẳng đến thuyền khách Hai dòng này gợi lên tính chất khuya khoắt về mặt trời gian và chỉ liên hệ với hai dòng sau của bài ca dao về mặt vần (thuyền vần với hiền) Có thể nói đây là trường hợp vận dụng văn học chữ Hán không thật nhuần nhuyễn, bởi vì xét cho kĩ nội dung giữa hai dòng đầu với hai dòng sau không có mối liên hệ hữu cơ Nhiều nhà nghiên cứu

đã nhận xét rằng, trong các cuộc hát đối đáp ngày trước, nhiều câu mở đầu chỉ có tính chất bắt vần đưa đẩy để cho cuộc hát không bị gián đoạn

Một thí dụ khác, ở bài ca dao sau, tác giả dân gian đã sử dụng các điển tích Trung Hoa rất thành công trong việc thể hiện nội dung bài ca:

Chẳng thà em chịu đói chịu rách

Học theo cách bà Mạnh, bà Khương

Không thèm như chị Võ Hậu đời Đường

Làm cho bại hoại cang thường hư danh(2)

Bài ca dao đã nhắc đến nhiều điển tích văn học Trung Quốc:

+ Bà Mạnh: Mạnh mẫu, là thân mẫu Mạnh Tử (372-289 trước Công nguyên)

Bà Mạnh là người hiền đức

+ Bà Khương: Khương Hậu, vợ hiền của Chu Tuyên Vương Tuyên Vương thường ngủ muộn, Khương Hậu muốn can ngăn liền bỏ trâm cài đầu, ngọc đeo tai rồi tự giam mình trong cung để chịu tội (ý nói lỗi của Tuyên Vương là do mình) Tuyên Vương cảm động, từ bỏ thói xấu, chuyên cần công việc

+ Võ Hậu: Võ Tắc Thiên sinh năm 662, vợ Đường Cao Tông Khi Cao Tông chết, bà lập và phế hai vua rồi sau tự làm vua

b Ảnh hưởng gián tiếp

Trang 4

Ca dao người Việt còn chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc một cách gián tiếp Quá trình này diễn ra như sau: Lúc đầu những điển tích, tên đất, tên người của tác phẩm văn học Trung Quốc đi vào những tác phẩm lớn của văn học viết của người Việt, sau đó các tác giả thơ ca dân gian người Việt đã tiếp thu những điển tích này Thí dụ, Kim Vân Kiều truyện là tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân (đời Thanh, Trung Quốc) Tác phẩm này đã vào Việt Nam khoảng những năm 60, 70 của thế kỷ XVIII(3) Dựa theo nó, Nguyễn Du đã viết Truyện Kiều với 3.254 câu thơ lục bát Ca dao người Việt đã tiếp thu văn học Trung Quốc qua Truyện Kiều Đây là bài ca dao, là lời chàng trai dặn dò người yêu hãy gìn giữ mối tình chung thuỷ:

Chúng tôi vừa trình bày hai dạng thức ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng gián tiếp của văn học Trung Quốc đối với ca dao người Việt Trong thực tế có khi rất khó xác định đâu là ảnh hưởng trực tiếp, đâu là ảnh hưởng gián tiếp Thí dụ, ca dao

xứ Nghệ có bài:

Đồn đây là chốn Đào Nguyên

Trăng thanh gió mát cầm thuyền dạo chơi(6)

Đào Nguyên là tên ngọn núi ở phía tây nam huyện Đào Nguyên, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc Dưới núi có động Đào Nguyên Về động này, trong bài Đào hoa nguyên ký, Đào Tiềm (365-427) có kể rằng: “Một người đánh cá ở Vũ Lăng bơi thuyền ngược dòng suối, hai bên bờ suối trồng đầy hoa đào Đi mãi, người ấy đến một nơi có dân cư ăn mặc theo y phục đời Tần Người ấy hỏi thăm mới biết họ tránh chế độ hà khắc của Tần Thuỷ Hoàng đến đó ở đã nhiều đời rồi và sống ở đó rất sung sướng, hạnh phúc Người đánh cá về thuật chuyện lại với mọi người, về sau mấy lần muốn vào lại Đào Nguyên nhưng không tìm được lối vào cửa động” Văn học cổ dùng Đào Nguyên để chỉ nơi có cảnh đẹp, người đẹp ở, để chỉ cuộc sống hạnh phúc, sung sướng, hoặc cõi tiên(7)

Trong Truyện Kiều có điển tích này:

Chào mừng đón hỏi dò la

Đào Nguyên lạc lối đâu mà đến đây

Tuy vậy, khó mà nói rằng nhờ có Truyện Kiều của Nguyễn Du mà các tác giả dân gian mới biết được điển tích Đào Nguyên, bởi không ít nhà nho xứ Nghệ am hiểu văn học Trung Quốc Mặt khác, cũng không loại trừ khả năng người sáng tác lời ca dao vừa dẫn đã tiếp thu điển tích Đào Nguyên từ Truyện Kiều

1.2.2 Văn học Trung Quốc đối với Tiểu thuyết người Việt

Việc dùng chữ Hán ở Giao Châu (nay là Việt Nam) có thể đi ngược về tận đời Hán Đời Đường có những người Việt Nam sang học tại Trung Quốc và sau đó ở

Trang 5

lại làm quan, nổi tiếng nhất là Khương Công Phụ từng làm đến Gián nghị đại phu trong triều đình Trung Quốc Năm 939 Việt Nam lần đầu tiên tuyên bố là một quốc gia độc lập nhưng vẫn chưa làm thay đổi được địa vị của chữ Hán, nó vẫn là thứ ngôn ngữ quan phương cũng như Nho giáo vẫn là hệ tư tưởng chính thống Và tiếp

đó, qua các bản dịch chữ Hán, người Việt Nam được khai tâm về Phật giáo

Cũng như Trung Quốc trong thời kỳ này văn xuôi nói chung gắn với sử Những đoạn văn xuôi sớm nhất là chỉ dụ do chính nhà vua viết, là bản tấu của các quan đại thần và lời bàn của các sĩ đại phu chứ không phải là các tác phẩm hư cấu Có lẽ phải đến thế kỷ 13,14 mới xuất hiện các tác phẩm thuộc một thể loại mới: đó là những câu chuyện thuộc loại sử chịu ảnh hưởng của chí quái Lục triều và truyền kỳ đời Đường Trong số đó văn bản cổ nhất hiện còn là Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên có niên đại 1329 Tác phẩm này gồm 27 truyền thuyết theo lối truyện ký Một tác phẩm nữa cùng loại là Lĩnh nam chích quái (1493) của Trần Thế Pháp Bộ sưu tập những quan sát kỳ dị này nằm giữa sử và hư cấu Dường như chỉ với Truyền kỳ mạn lục chúng ta mới đặt chân thật sự vào địa hạt của hư cấu lịch

sử Tác giả của nó là Nguyễn Dữ, sống vào đầu thế kỷ 16, xuất thân từ một gia đình có học Bản thân ông đã đỗ kỳ thi Hội và từng làm tri huyện ở Thanh Toàn Nhưng chán nản vì chính sự rối ren, buồn phiền vì vận nước ông đã quyết định về

ở ẩn, lấy cớ là phải chăm sóc mẹ già Đó chính là thời kỳ ông viết tác phẩm của mình dựa theo Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu (1347-1433) Trung Quốc, chúng ta đều biết Tiễn đăng tân thoại rất phổ biến ở Trung Quốc, tác phẩm mô phỏng đầu tiên là Tiễn đăng dư thoại của Lý Xương Kỳ xuất hiện vào năm 1420 và ngay sau

đó còn có thêm nhiều tác phẩm khác mà Mịch đăng nhân thoại của Thiệu Cảnh Chiêm (1592) nằm trong số đó Chắc chắn loại tác phẩm “Tiễn đăng” này được đón chào không kém nồng nhiệt ở Việt Nam Việc mô phỏng của Nguyễn Dữ cho chúng ta thấy rõ tác phẩm này đã nổi tiếng ngay đầu thế kỉ 166 Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm sớm nhất hiện còn của tiểu thuyết phúng thích Việt Nam Nó được tái bản vài lần và đáng chú ý là có một bản in thú vị với lời tựa viết năm 1783 có chú giải bằng chữ Nôm và những lời bình khác nhau Tác phẩm này được đánh giá rất cao trong giới học thuật, những người này đã coi tác giả của nó là người phát ngôn cho tầng lớp trí thức thời đại mình, thể hiện sự bất bình của họ đối với những rối ren xã hội và dự cảm được sự trỗi dậy của một tầng lớp xã hội mới ở Việt Nam thế kỷ 16 Nhờ vào sự thần kỳ để cho hồn ma chồn cáo biến thành văn nhân khuyên răn tầng lớp thống trị, biến thành người đẹp dùng miệng lưỡi đưa ra những lời giáo huấn Nho giáo có thể giúp tác giả phê phán được mà không bị phiền toái Tác phẩm này có phần tục biên là Truyền kỳ tân phả do Đoàn Thị Điểm (1705-1748) viết Bà làm nghề dạy học và cũng nổi tiếng với bản dịch Nôm Chinh phụ ngâm do Đặng Trần Côn viết bằng chữ Hán (đầu thế kỷ 18)

Trang 6

Cũng theo lối mô phỏng Trung Quốc, một số học giả đã viết tiểu thuyết văn xuôi lịch sử lấy bối cảnh là xã hội Việt Nam Trong số đó có Hoàng việt xuân thu, đã được dịch ra quốc ngữ (Sài Gòn, 1971) Họ cũng viết loại văn xuôi ký sự Sản phẩm văn chương này bị xem thường khá lâu và chỉ gần đây mới được các học giả chú ý

Từ năm 1919, bằng sức mạnh của mình, thực dân Pháp đã kiểm soát được hệ thống trường lớp và khởi đầu một tiến trình dài nhằm xoá bỏ di sản văn hoá Việt Nam thời trung đại vốn chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc Ảnh hưởng sâu sắc mà văn học Trung Quốc có được ở Việt Nam trước Thế Chiến Thứ Hai đã gần như bị xoá

bỏ bởi những cách tiếp cận văn học mang đậm tinh thần dân tộc chủ nghĩa, nhấn mạnh tính nguồn gốc của truyền thống dân ca Việt Nam và quy toàn bộ văn học về nguồn gốc bản địa Nhiều tác giả qua cân nhắc thận trọng đã không còn viết bằng Hán văn nữa bởi chúng không còn giá trị gì Khối tư liệu văn bản chữ Hán đồ sộ còn lại ở Việt Nam được trông giữ bởi các thủ thư không biết đọc chữ Hán Chừng nào mà khối tư liệu ấy còn chưa được nghiên cứu một cách đúng đắn, thì hiểu biết của chúng ta về truyền thống Việt Nam sẽ vẫn còn chưa toàn diện Tuy nhiên, những truyện kiếm hiệp Trung Quốc và những tư tưởng Trung Quốc về tính hiện đại trong văn học đã tiếp tục thẩm thấu vào Việt Nam đến tận ngày nay, nhưng chúng đã hoàn toàn được trình bày bằng tiếng Việt qua chữ cái Latin

2 Sự ảnh hưởng của văn học Trung Quốc đến Triều Tiên.

Mặc dù người Triều Tiên có ngôn ngữ riêng từ hàng ngàn năm nay nhưng phải đến giữa thế kỉ XV họ mới sáng tạo được chữ viết của mình, đó là chữ Hangul Vì thế, cũng như ở Việt Nam, mới đầu các sáng tác văn học ở Triều Tiên cũng được viết bằng chữ Hán (Các học giả Triều Tiên bắt đầu làm thơ theo lối thơ cổ điển Trung Quốc ít nhất là vào khoảng thế kỉ thứ IV.) Và cũng như tất cả các nền văn học khác, văn học Triều Tiên bắt đầu bằng các truyền thống văn học dân gian truyền miệng, trong đó vai trò đặc biệt thuộc về các bài dân ca và cổ tích mà các vị tiền bối của các bộ lạc kể lại cho con cháu Chúng được trình bày ở các hội hè, các

lễ lạt tôn giáo, các lễ tế thần và các cuộc họp chính trị Những tác phẩm dân gian này chứa đựng những bài học đạo đức và cả những quy định và tập tục trong xã hội Như tấm gương phản ánh những ước mơ, khát vọng của nhân dân, trong văn học Triều Tiên cổ, cái tốt luôn chiến thắng, còn cái xấu thì bị trừng trị Văn học thời kì này còn ca ngợi những phẩm chất cao quí của con người theo tiêu chuẩn đạo đức đương thời như lòng trung thành với Vua, lòng nhân đạo, sự tôn kính người trên, tình bạn chân thành và sự trong trắng của phụ nữ

Khoảng thế kỉ thứ VII, một hệ thống chữ viết, có tên là Idu, được sáng tạo ra cho phép người Triều Tiên thực hiện những bản lược dịch các loại sách Trung Hoa Một số chữ Hán phù hợp về mặt ngữ âm được sử dụng để biểu hiện những thành tố

Trang 7

ngữ âm và các hậu tố biến đổi trong tiếng Triều Tiên Sau đó ít lâu, xuất hiện một

hệ thống ghi âm đầy đủ hơn, gọi là hyangchal, cho phép ghi lại trọn vẹn những câu văn Triều Tiên bằng chữ Hán Trong một hệ thống khác, kugyol, các chữ Hán giản lược được sử dụng để biểu thị các yếu tố ngữ pháp và được thêm vào các văn bản

Dù vậy, các tác phẩm văn học còn lại cho thấy phần lớn văn học Triều Tiên được viết bằng chữ Hán, chứ không phải bằng chữ Triều Tiên, ngay cả sau khi phát minh ra chữ Hangul

Những tác phẩm văn học viết đầu tiên của Triều Tiên xuất hiện ở Vương quốc Shilla vào thế kỉ thứ VIII, khi một hệ thống chữ viết được tạo ra một phần từ tiếng Trung Quốc, dựa theo cách phát âm, gọi là Idu Chỉ còn 25 tác phẩm thơ, gọi là hyangga, viết bằng thứ chữ này sót lại đến giờ

Sự phổ cập chữ viết Hangul là một thay đổi lớn trong đời sống văn học Triều Tiên, nó khiến cho ngay cả các tác giả thuộc giới bác học kinh điển cũng trở nên quần chúng hơn Văn học cổ điển Triều Tiên sau thời Ba Vương quốc vẫn tiếp tục chịu ảnh hưởng rất lớn của Lão giáo, Nho giáo và Phật giáo Trong ba tôn giáo này, Phật giáo có ảnh hưởng lớn nhất

2.1.Du nhập tiểu thuyết văn ngôn Trung Quốc: từ sơ khởi đến giữa thế kỷ XV

Trong việc khám phá ảnh hưởng của tiểu thuyết và chuyện kể Trung Quốc với tiểu thuyết Triều Tiên, những câu hỏi ban đầu sẽ có thể thay đổi tùy thuộc vào thời gian lựa chọn Mặc dù giữa Triều Tiên và Trung Hoa đã có quan hệ văn hóa qua lại

từ thời tiền sử, song nếu coi tiểu thuyết bắt đầu với những người kể chuyện của thời có sử thì có thể tiếp tục với câu hỏi về việc Triều Tiên tiếp nhận Sơn hải kinh

và Sưu thần ký Nếu bắt đầu từ những tiểu thuyết thời Tấn và Đường, tình hình có thay đổi đôi chút Và nếu bắt đầu từ tiểu thuyết Minh Thanh thế kỷ 16 và muộn hơn, cũng sẽ có những thay đổi khác về vấn đề du nhập các tác phẩm đó vào Triều Tiên Nếu phải tìm kiếm cội nguồn của tiểu thuyết trong huyền thoại, vì lịch sử Triều Tiên đã được biên soạn đến thế kỷ 4 hoặc 5 thì huyết mạch của tiểu thuyết Triều Tiên sẽ bắt đầu lưu chảy cùng truyền thống dân tộc Trong phạm vi những nguồn mạch Triều Tiên như vậy, văn chương Trung Quốc không ngừng tạo tác, định hình và cải biến văn học Triều Tiên

Ngay cả khi Triều Tiên đã có lối đọc được gọi là idu ("lại độc" lối đọc của thư lại), ghi âm tiếng Triều Tiên bằng chữ Hán vay mượn trước khi mẫu tự của chính mình được sáng tạo vào năm 1446, công cụ biểu đạt tiểu thuyết cơ bản vẫn

là chữ Hán cổ, và nội dung quán xuyến do đó vẫn là tư tưởng Nho giáo Trong tình hình như thế, vấn đề "ảnh hưởng" và "sáng tạo" khá phức tạp Điều này cũng không quá khó hiểu nếu chúng ta nhớ lại rằng ở tất cả các nước thuộc châu Âu thời Trung cổ đã có chung một thời kỳ văn học Latin

Trang 8

Tiểu thuyết chí quái thời Lục triều của Trung Quốc ảnh hưởng nhiều đến văn học Triều Tiên từ cuối thời Silla đến đầu và giữa thời Koryo (Tân La đến Cao

Ly, thế kỷ 9 đến 11) với quan niệm về cái "kỳ" Đồng thời với nó, tư tưởng ẩn dật cũng được người Triều Tiên tiếp nhận và có ảnh hưởng không nhỏ Điều này có nghĩa là các văn nhân sĩ phu, những người nhập thế sau khi đỗ đạt vào đầu thời Koryo (958), đã nảy sinh tâm lý tôn sùng bút mực khinh rẻ gươm đao, gây ra phản ứng trong giới võ quan Nhiều cuộc tranh giành quyền lực chính trị lặp đi lặp lại trong giới võ quan kể từ cuộc nổi dậy của Chong Chungbu (1178), dẫn đến kết cục

là cuộc chính biến của Ch'oe Ch'unghon (1196), sau đó quyền bính của gia tộc họ Ch'oe (Thôi) được xác lập rồi cáo chung Tiếp đó là cuộc xâm lăng của Mông Cổ, chuyển kinh đô đến đảo Kanghua (Giang Hoa), v.v khiến trong nước bất hòa, ngoại bang xâm lược suốt một thế kỷ

Thời kỳ này tương ứng với thời Lục triều ở Trung Quốc và cũng là một thời kỳ văn nhân sĩ phu ẩn mình nơi rừng núi hoặc chìm trong thất vọng, hoặc lâm vào tình cảnh của những kẻ bị giáng chức bởi là bề tôi của chính quyền họ Ch'oe Lúc này xuất hiện những quan văn lấy tên "Thất hiền quá hải" theo "Thất hiền trúc lâm" của thời Lục triều Vào thời gian này, Thái bình quảng ký do Lý Phương đời Tống biên soạn năm 978 cũng theo mạch ngầm nào đó du nhập vào Triều Tiên và được kẻ sĩ đón nhận hồ hởi

Thái bình quảng ký: thành tựu và ảnh hưởng

Như đã biết rõ, Thái bình quảng ký là một tập truyện thần thoại, chí quái, truyền kỳ của các tiểu thuyết gia Trung Quốc 12 thế kỷ trước đó Nó đã ảnh hưởng cực

kỳ to lớn đến việc sáng tác truyện ngắn Triều Tiên được gọi là p'aegwan sosol (tỳ quan tiểu thuyết) hay yadam (dã đàm) từ giữa thời Koryo cho đến đầu thời Choson (thế kỷ 12 đến thế kỷ15) Do phương thức ghi chép vào lúc này là chữ Hán cổ nên tác phẩm này trở thành mẫu mực Số lượng những ghi chép của các tác giả rất lớn song họ chủ yếu ghi lại thuật lại những gì họ trải nghiệm trong cuộc sống thường ngày của chính bản thân mình Trong tình hình ấy những cái có thể được xem là ảnh hưởng của Thái bình quảng ký là tác phẩm này đã góp phần mở rộng trí tưởng tượng thông qua việc giới thiệu những câu chuyện truyền kỳ, tạo hứng thú đối với truyện ký, v.v và nếu chúng ta giới hạn ở lịch sử tiểu thuyết thì đóng góp đó còn

ở việc giới thiệu tiểu thuyết nhân hóa

Tiểu thuyết nhân hóa đưa vào thể tài truyền kỳ những đối tượng miêu tả như rượu, giấy, bút những thứ gần gụi với kẻ sĩ Trong các chủng loại tiểu thuyết Triều Tiên, các tác phẩm này được gọi là tiểu thuyết phúng dụ Nhiều tác phẩm được sáng tác trong thời kỳ này cho đến giữa thời Choson (thế kỷ 16) Vì văn nhân sĩ phu là quan lại trước khi là văn sĩ nên việc khước từ lối viết tiểu thuyết dựa trên trí tưởng tượng thuần túy được định hình ngay từ đầu, thậm chí những tiểu thuyết

Trang 9

phúng dụ vừa nhắc đến, với họ, cũng không hơn gì những trò nhại lại nhằm mục đích giáo huấn

Điều cần thừa nhận là: do thể loại này thuộc những tác phẩm truyền thuyết của văn chương dân tộc Triều Tiên nên ảnh hưởng của văn học Trung Quốc ở đây chỉ

là vấn đề thể hiện và dù sao cũng hạn chế trong một số văn nhân Vì thế có thể hiểu được rằng quan điểm, đang được tranh luận, coi mọi thứ đều là ảnh hưởng của văn chương Trung Quốc do có cùng một phương tiện viết, thật là phiến diện Những xu hướng như vậy thường xuất hiện trong nghiên cứu về sự ảnh hưởng Đằng sau công cụ viết, chữ Hán cổ, dẫu vậy, cũng còn tồn tại một vùng cộng cảm khác: cộng đồng văn hóa Nho giáo Sự bình dị trong dùng từ đặt câu, một trong những đặc điểm của Thái bình quảng ký, cũng có mặt trong tác phẩm của các văn nhân Triều Tiên như "Thi thoại", "Dã sử" Nhưng đây là năng lực sáng tạo của người Triều Tiên chứ không giản đơn chỉ là vay mượn hay ảnh hưởng, tức là nó có thể tạo ra những hình thái đặc thù của nó trong vùng cộng cảm này

Trên thực tế, suốt các thời kỳ Koryo (918-1392) và Choson (1392-1910), do lối viết cho đến phong cách văn chương đều khác hoàn toàn với khẩu ngữ Trung Quốc, nên tầm ảnh hưởng có những giới hạn Tuy sự thật là văn chương theo lối bạch thoại đời Tống, hý khúc đời Nguyên, v.v được đọc trong nhóm những thông dịch viên, song đó chỉ là một tình huống đặc biệt Còn đối với văn nhân nói chung, những tác phẩm đó chỉ có thể thâm nhập một cách gián tiếp ở giữa thời Choson thông qua loại văn được gọi là orok (ngữ lục) do các thông dịch viên soạn ra Văn nhân nói chung chỉ cần hiểu những thứ như thơ ca Đường Tống và thư tịch đời Minh viết bằng văn ngôn

2.2.Từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX

Các tác phẩm kinh điển ảnh hưởng đến văn học Triều Tiên sâu sắc như

- Tam quốc chí diễn nghĩa: các bản dịch và cải tác

1/ Các bản dịch từng phần:

Chokpyok taejon (Xích Bích đại chiến)

Kang yu silgi (Khương Duy thực ký)

2/ Các bản dịch từng phần đôi chỗ có cải biên:

Hwayongdo silgi (Hoa Dung Đạo thực ký)

Samguk taejon (Tam quốc đại chiến)

3/ Hoàn toàn cải tác:

Sanyang taejon (Sơn Dương đại chiến)

Trang 10

Cho Charyong chon (Triệu Tử Long truyện)

4/ Cải tác từng phần:

Kwan unjang silgi (Quan Vân Trường thực ký)

Chokpyok ka (Xích Bích ca)

5/ Tác phẩm chịu ảnh hưởng:

Hwang puin chon (Hoàng phu nhân truyện)

Monggyol ch’han song (Mộng quyết Sở Hán tụng)

Oho taejang ki (Ngũ hổ đại tướng ký)

Monggyol chegal yang (Mộng quyết Gia Cát Lượng)

Sự du nhập của Tam quốc chí diễn nghĩa vào Triều Tiên thế kỷ 18 đã tạo nên dòng chảy thể loại truyện miêu tả chiến trận Những tác phẩm này trở thành loại sách đọc phổ biến trong đại chúng, bởi nỗi đau trước cuộc xâm lược của nhà Mãn Thanh thế kỷ 17 đã dấy lên sự phẫn nộ của lòng ái quốc và tâm lý khát khao sự xuất hiện của các đấng anh hùng Tất cả những gì hiện diện trong tác phẩm lối dàn quân, trang phục, vũ khí, chiến thuật, và tất nhiên cả nhân vật và bối cảnh hiển nhiên đều là Trung Quốc Chúng tôi có thể chắc chắn rằng nguyên nhân là ảnh hưởng của Tam quốc chí diễn nghĩa

Tam quốc chí diễn nghĩa là văn chương thể hiện sự thắng lợi tinh thần phát lộ mạnh mẽ trong một vở kịch lớn lấy vận mệnh lịch sử làm nội dung Có thể đó là thắng lợi tưởng tượng, cho thấy sự tự ý thức về số phận của người Triều Tiên Do

đó, đối với người Triều Tiên, việc đọc bộ tiểu thuyết này có thể là một niềm an ủi cho triết lý riêng của họ về sự hiến dâng cho nghiệp lớn

- Tây du ký

Như đã trình bày, Tây du ký từ rất sớm đã được Ho Kyun chú ý và có ảnh hưởng rất lớn ở Triều Tiên Có một số học giả cho rằng ảnh hưởng của Tây du ký đến Hong Kiltong chon lớn hơn ảnh hưởng của Thủy hử truyện, vì hình ảnh biến

ảo thần diệu trong Hong Kiltong chon gần gũi với Tây du ký Ngoài ra, linh đan diệu dược, chi tiết về lễ tấn phong của hoàng đế Jade là những thứ vốn có trong tiểu thuyết thời Choson; khả năng hóa thân, sự kết hợp tư tưởng Phật giáo và Lão giáo, và đoạn nói về việc tìm kiếm thuốc trường sinh bất lão có thể gặp trong truyền thuyết lưu truyền trong dân chúng Nhưng không thể quan niệm rằng chúng được đưa vào tiểu thuyết thời Choson là nhờ sự khải thị của Tây du ký

Tuy vậy, do những vấn đề liên quan đến sự ảnh hưởng như thế rất phức tạp, nên chúng ta cần tránh lối so sánh theo kiểu cho rằng vì trong Tây du ký có một đoạn tương ứng với một đoạn nào đó trong một tiểu thuyết Triều Tiên cho nên đó chính

Ngày đăng: 27/02/2020, 09:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w