Với mục đích tìm hiểu nhận thức của gia đình về bệnh RLLA, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Nhận thức của gia đình trong hỗ trợ điều trị ban đầu cho bệnh nhân tại Bệnh viện Tâm thần Hải P
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ NHUNG
NHẬN THỨC CỦA GIA ĐÌNH TRONG HỖ TRỢ
ĐIỀU TRỊ BAN ĐẦU CHO BỆNH NHÂN RỐI LOẠN LO ÂU
TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ NHUNG
NHẬN THỨC CỦA GIA ĐÌNH TRONG HỖ TRỢ
ĐIỀU TRỊ BAN ĐẦU CHO BỆNH NHÂN RỐI LOẠN LO ÂU
TẠI BỆNH VIỆNTÂM THẦN HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN
Mã số: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Cán bộ hướng dẫn: PGS TS Đỗ Ngọc Khanh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo, các cán bộ quản lý thuộc Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã quan tâm, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin gửi sự kính trọng và lời biết ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khoa học PGS.TS.Đỗ Ngọc Khanh về những giúp đỡ, định hướng quan trọng, đặc biệt là về tinh thần nghiêm túc trong nghiên cứu khoa học để tôi có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ này
Xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới gia đình những bệnh nhân đã dành thời gian tham gia trả lời phiếu hỏi và nhiệt tình đóng góp, chia sẻ với chúng tôi những thắc mắc để chúng tôi hoàn thiện hơn trong nghiên cứu của mình
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp vì đã luôn động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn
Hà Nội, 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Nhung
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Đặc điểm về giới tính ……… 37
Bảng 2.2 Đặc điểm về trình độ học vấn……… 37
Bảng 2.3 Đặc điểm về nghề nghiệp……… 38
Bảng 2.4 Đặc điểm về mối quan hệ với bệnh nhân……… 38
Bảng 2.5 Đặc điểm về điều kiện kinh tế gia đình……… 39
Bảng 3.1 Các biểu hiện với tỉ lệ lựa chọn đúng nhiều nhất……… 46
Bảng 3.2 Biểu hiện có tỉ lệ lựa chọn sai nhiều nhất……… 47
Bảng 3.3 Biểu hiện có lựa chọn không biết nhiều nhất……… 48
Bảng 3.4 Sự khác biệt trong mức độ biết về RLLA theo lứa tuổi……… 50
Bảng 3.5 Sự khác biệt trong mức độ biết về RLLA theo trình độ học vấn…… 51
Bảng 3.6 Sự khác biệt trong mức độ biết về RLLA theo nhóm nghề nghiệp… 52 Bảng 3.7 Sự khác biệt trong mức độ biết về RLLA theo mối quan hệ… 52 Bảng 3.8 Sự khác biệt trong mức độ biết về RLLA theo điều kiện kinh tế…… 53
Bảng 3.9 Tỉ lệ gia đình lựa chọn hiểu đúng, sai trong từng nguyên nhân…… 55
Bảng 3.10 Mức độ hiểu của gia đình về biểu hiện RLLA qua từng phương án cụ thể……… 57
Bảng 3.11 Mối tương quan giữa mức độ biết và hiểu của gia đình về RLLA 58
Bảng 3.12 Nhận thức về những vấn đề có thể gây khó khăn cho người RLLA 59 Bảng 3.13.Tỉ lệ lựa chọn hiểu về điều trị RLLA của gia đình………… 60
Bảng 3.14 Sự khác biệt giữa hành vi tiếp cận với những người có chuyên môn và một số đặc điểm của gia đình……… 64
Bảng 3.15 Nhóm hành vi hỗ trợ……… 65
Bảng 3.16 Sự khác biệt trong mối quan hệ về hành vi hỗ trợ………… 65
Bảng 3.17 Sự khác biệt trong trình độ học vấn với hành vi hỗ trợ …… 66
Bảng 3.18 Khác biệt trong nghề nghiệp với hành vi hỗ trợ……… 67
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ biết của gia đình về RLLA 43
Biểu đồ 3.2 Số câu trả lời đúng của gia đình dành cho câu hỏi tình huống 1 44
Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ lựa chọn đúng hoặc sai trong từng phương án cụ thể của tình huống 1 45
Biểu đồ 3.4 Các hình thức gia đình biết về RLLA 49
Biểu đồ 3.5 Mức độ hiểu của gia đình về biểu hiện RLLA qua câu hỏi tình huống 2 57
Biểu đồ 3.6 Hành vi hỗ trợ ban đầu của gia đình đối với bệnh nhân RLLA 62
Biểu đồ 3.7 Thái độ của gia đình về RLLA……… 68
Biểu đồ 3.8 Niềm tin của gia đình về RLLA 69
Biểu đồ 3.9.Sự khác biệt giữa đặc điểm trình độ học vấn và thái độ về RLLA 70
Biểu đồ 3.10 Mối liên quan giữa đặc điểm kinh tế gia đình với quan điểm về việc đầu tư chăm sóc SKTT tại cộng đồng……… 71
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ iv
MỤC LỤC v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Câu hỏi nghiên cứu 4
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4.1 Nghiên cứu lý luận 4
5 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 5
5.1 Đối tượng nghiên cứu 5
5.2 Khách thể nghiên cứu 5
6 Giả thuyết nghiên cứu 5
7 Giới hạn đề tài 5
7.1 Giới hạn nội dung 5
7.2 Giới hạn địa bàn và khách thể nghiên cứu 5
8 Phương pháp nghiên cứu 5
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 5
8.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 6
8.3 Phương pháp phỏng vấn lâm sàng 6
8.4 Phương pháp thống kê toán học 6
9 Đóng góp mới của đề tài 6
10 Đạo đức nghiên cứu 6
11 Cấu trúc luận văn 7
CHƯƠNG 1 8
CƠ SỞ LÝ LUẬN NHẬN THỨC CỦA GIA ĐÌNH TRONG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ BAN ĐẦU CHO BỆNH NHÂN RỐI LOẠN LO ÂU 8
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
Trang 81.1.2 Các nghiên cứu về RLLA 12
1.1.3 Các nghiên cứu về hỗ trợ điều trị RLLA 18
1.2 Một số vấn đề lý luận 21
1.2.1 Nhận thức 21
1.2.2 RLLA 26
1.2.3 Nhận thức về RLLA 30
1.3 Các khái niệm liên quan 31
1.3.1 Gia đình 31
1.3.2 Bệnh nhân 32
1.3.3 Hỗ trợ ban đầu 33
CHƯƠNG 2 36
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Tiến trình nghiên cứu 36
2.1.1 Giai đoạn nghiên cứu lý luận 36
2.1.2 Giai đoạn khảo sát thực trạng, xử lý số liệu 36
2.2 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu 36
2.3 Đặc điểm về khách thể nghiên cứu 37
2.4 Phương pháp nghiên cứu 39
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 39
2.4.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 39
2.4.3 Phương pháp phỏng vấn 41
2.4.4 Phương pháp thống kê toán học 41
CHƯƠNG 3 43
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
3.1 Thực trạng nhận thức của gia đình ở mức độ biết về RLLA 43
3.1.1 Tỉ lệ biết về RLLA của gia đình 43
3.1.2 Tỉ lệ gia đình biết về biểu hiện của RLLA 46
3.1.3 Các hình thức gia đình tìm hiểu về RLLA 49
3.1.4 Sự khác biệt trong mức độ biết về RLLA giữa các gia đình có đặc điểm khác nhau 50
3.2.Thực trạng nhận thức của gia đình ở mức độ hiểu về RLLA 54
Trang 93.2.2 Mức độ hiểu của gia đình qua câu hỏi tình huống 56
3.2.4 Mối tương quan giữa mức độ biết và hiểu của gia đình về RLLA 58
3.2.5 Nhận thức về những vấn đề có thể gây khó khăn cho người RLLA 59
3.2.6 Nhận thức của gia đình về việc điều trị RLLA 60
3.3.Thực trạng hành vi hỗ trợ của gia đình 62
3.3.2 Đặc điểm của gia đình với hành vi hỗ trợ bệnh nhân RLLA 63
3.4 Một vài thái độ và niềm tin của gia đình về RLLA 68
3.4.1 Thái độ của gia đình về RLLA 68
3.4.2 Niềm tin của gia đình về RLLA 69
3.4.3 So sánh sự khác biệt giữa các đặc điểm của gia đình với thái độ và niềm tin về RLLA 70
3.4.4 Mối liên quan giữa đặc điểm kinh tế gia đình với quan điểm về việc đầu tư chăm sóc SKTT tại cộng đồng 71
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 76
1 Kết luận 76
1.1 Về mặt lý luận 76
1.2 Về mặc thực tiễn 76
1.3 Nghiên cứu trong tương lai 78
2 Khuyến nghị 78
2.1 Đối với gia đình 78
2.2 Đối với bệnh viện, các cơ sở chuyên khoa điều trị 78
2.3 Đối với xã hội 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 85
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, con người ngày càng phải đối mặt với rất nhiều căng thẳng, lo lắng và dễ gặp phải các vấn đề về sức khỏe tâm thần Thông cáo báo chí của WHO năm 2001 cho thấy, trên thế giới, cứ bốn người thì có một người sẽ mắc chứng rối loạn tâm thần hoặc rối loạn thần kinh vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời (28) Và một trong số những nguy cơ mọi người hay gặp phải về sức khỏe tâm thần là RLLA Đây là một trong hai vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến nhất (22), cùng với trầm cảm, nó ảnh hưởng nghiêm trọng, lâu dài đến các mặt kinh tế, làm việc, học tập, giao tiếp… và khả năng thực hiện các chức năng sống hàng ngày của con người (58)
Hiện nay, RLLA là bệnh có tỉ lệ mắc ngày càng tăng trên thế giới Theo một kết quả nghiên cứu thì có đến ½ số người lao động cảm thấy bị stress, lo lắng và gần ¼ số người trên thế giới phải dùng thuốc để chống lại chứng mất ngủ, cáu bẳn, stress (20) Trong đó RLLA lan tỏa có tỉ lệ mắc phổ biến nhất, lứa tuổi từ 18 trở lên là 10- 18% Tại Mỹ, mỗi năm khoảng 40 triệu người lớn mắc RLLA, tương đương 18% dân số trưởng thành (81) và tới 75% phát bệnh trước 47 tuổi (2) Trong khi đó, tỉ lệ mắc lần lượt ở Úc là 3%, Canada 3- 5%,
Ý 2,9% ở nhóm người trưởng thành (55) Tỉ lệ mắc trong cả đời người là 5,7%, nữ cao gấp đôi so với nam và hàng năm khoảng 15-17% dân số (23 triệu người) bị các chứng RLLA (22)
Ở Việt Nam, so với các mặt bệnh tâm thần khác thì RLLA có tỉ lệ cao vượt trội (56) Có khoảng 30% trên tổng số bệnh nhân đến khám tại các cơ sở chuyên khoa tâm thần được chẩn đoán mắc RLLA (35) Kết quả nghiên cứu cho thấy ở các vùng khác nhau sẽ có tỉ lệ RLLA khác nhau, như tại thành phố
Hồ Chí Minh có khoảng 10% dân số mắc RLLA (23), trong khi ở Thái Nguyên thì tỉ lệ này là 2,83% (21)
Trang 11Tổn thất do lo âu gây ra là rất lớn về kinh tế, sức khỏe, chức năng sống v.v… Bệnh nhân bị giảm sức lao động, tăng nguy cơ mất việc làm, những hoạt động sống, sinh hoạt hàng ngày đều trở thành khó khăn, áp lực đối với
họ Bên cạnh đó, chi phí điều trị RLLA nói chung khá tốn kém cả về thuốc và trị liệu tâm lý Ở Mỹ chi phí cho điều trị các RLLA chiếm khoảng 1/3 toàn bộ chi phí của ngành tâm thần (49)
Trên thực tế, RLLA có thể xẩy ra với bất cứ ai (13) và thường không do một nguyên nhân chủ yếu nào Theo kết quả một số nghiên cứu thì RLLA thường liên quan đến các yếu tố: gen di truyền (có thể chiếm từ 30- 50%), sinh học, đặc điểm nhân cách hoặc các trải nghiệm gây đau khổ, mất mát, tổn thương… quá lớn trong cuộc sống (62) Bên cạnh đó, những trải nghiệm từ tuổi thơ bất hạnh, bệnh tật, áp lực học tập, căng thẳng trong công việc, sự kỳ vọng quá lớn vào bản thân, các xung đột trong gia đình và trong các mối quan
hệ hoặc thiếu các kỹ năng đối phó với tình huống, các sang chấn tâm lý đi kèm với nhân cách có xu hướng lo âu… cũng là những nguyên nhân dẫn tới RLLA Tuy nhiên, dù được liệt kê rất nhiều nhưng cho đến nay nguyên nhân của RLLA chưa được biết rõ và không có yếu tố nào được coi là nguyên nhân chính gây ra bệnh (22), (42), (55), (67), (61)
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), phần đông bệnh nhân RLLA chưa nhận được sự quan tâm từ phía gia đình, các cơ sở thăm khám y tế và cộng đồng Trên thực tế, rất nhiều bệnh nhân RLLA hoặc trầm cảm đến khám tại các cơ sở y tế ở Việt Nam phàn nàn, lo lắng khi gia đình không nhận thức đúng về bệnh họ đang mắc phải Mọi người thường có xu hướng nghĩ vấn đề
đó thuộc về bản thân bệnh nhân, nên họ phải tự đối diện, tự giải quyết Đa phần gia đình mới chỉ dừng lại ở việc đưa đi khám, mua thuốc và chăm sóc về mặt thể chất, chứ chưa hoặc ít chú trọng chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân
Họ cũng không hoặc ít có thông tin về bệnh RLLA nên không biết xử trí như thế nào khi có người trong gia đình mắc bệnh này Vì vậy, không những không thể hỗ trợ kịp thời mà còn vô tình tạo thêm áp lực cho bệnh nhân khi
Trang 12họ đang phải đối mặt với các biểu hiện của bệnh như: thường xuyên lo lắng, bất an, bồn chồn… mà việc phải chịu thêm áp lực từ chính gia đình của mình, làm cho vấn đề của bệnh nhân càng nghiêm trọng hơn Qua thực tế phỏng vấn lâm sàng bệnh nhân đến khám tại BVTT Hải Phòng thấy rằng, một trong những nguyện vọng thiết thực của bệnh nhân là mong muốn được gia đình hiểu, nhận thức đúng về vấn đề họ đang gặp phải để từ đó hỗ trợ họ tốt hơn trong quá trình điều trị, tiến triển bệnh
Một số nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy, vai trò của gia đình trong việc chăm sóc, hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân đặc biệt quan trọng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ chăm sóc, hỗ trợ tinh thần từ phía gia đình có ảnh hưởng trực tiếp tới sự tiến triển bệnh cũng như kéo dài sự sống cho bệnh nhân ung thư (31) Kết quả của nghiên cứu khác chứng minh rằng nhận thức của gia đình về bệnh là một yếu tố quan trọng trong việc phục hồi chức năng cho người bị bệnh mãn tính Với những gia đình thiếu hiểu biết, hiểu sai về bệnh dẫn tới không hỗ trợ được thì bệnh nhân có xu hướng thể hiện nhiều biểu hiện đau đớn về thể chất, tinh thần hơn nhóm bệnh nhân có được sự hỗ trợ từ phía gia đình (35)
Có thể thấy rằng mức độ nhận thức của gia đình như thế nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát hiện và điều trị, tiến triển tích cực của bệnh nhân Bản thân việc nhận thức còn hạn chế cũng khiến gia đình gặp rất nhiều lúng túng, hoang mang trong điều trị, chăm sóc sức khỏe cho người bệnh Như vậy, mặc dù hiện nay RLLA là bệnh có tỉ lệ mắc cao và xu hướng ngày càng gia tăng nhưng gia đình chưa hỗ trợ hợp lý cho bệnh nhân vì còn hạn chế trong nhận thức Tại Việt Nam, các nghiên cứu mới chỉ tập trung thống kê tỉ lệ mắc, phân tích nguyên nhân, biểu hiện, các đặc điểm của bệnh RLLA Còn lại, vấn đề nhận thức của gia đình về bệnh và sự ảnh hưởng của
nó tới người bệnh nhân thế nào thì chưa được đề cập tới Chúng tôi chưa tìm thấy một nghiên cứu cụ thể nào cho thấy vai trò nhận thức của gia đình về
Trang 13bệnh RLLA cũng như ảnh hưởng của nó đến quá trình điều trị, tiến triển của bệnh nhân
Với mục đích tìm hiểu nhận thức của gia đình về bệnh RLLA, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Nhận thức của gia đình trong hỗ trợ điều trị ban đầu cho bệnh nhân tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng”, nhằm đưa ra những con
số cụ thể về thực trạng nhận thức, hỗ trợ của gia đình đối với bệnh nhân RLLA, phần nào lý giải cho những băn khoăn, thắc mắc của chúng tôi về vấn
đề này
2 Câu hỏi nghiên cứu
- Gia đình của bệnh nhân RLLA nhận thức về bệnh RLLA như thế nào?
- Những hành vi hỗ trợ ban đầu của các thành viên trong gia đình khi phát hiện người nhà mắc RLLA là gì?
- Mức độ nhận thức của gia đình có ảnh hưởng tới quá trình hỗ trợ điều trị ban đầu của bệnh nhân RLLA hay không?
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu lý luận
Hệ thống hóa cơ sở lý luận, các tài liệu liên quan đến nhận thức, hỗ trợ ban đầu về bệnh RLLA và các biện pháp chữa trị Phân tích các khái niệm có liên quan làm cơ sở lý luận và thiết lập công cụ nghiên cứu cho đề tài
4.1 Nghiên cứu thực tiễn
Thiết lập hệ thống bảng hỏi để thu thập dữ liệu nhằm đo lường, làm rõ thực trạng mức độ nhận thức của gia đình về nguyên nhân, biểu hiện bệnh và
Trang 14các hành vi hỗ trợ ban đầu khi có người nhà mắc RLLA tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng
5 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nhận thức của gia đình bệnh nhân RLLA đến khám, điều trị tại BVTT Hải Phòng về nguyên nhân, biểu hiện của bệnh RLLA và hành vi hỗ trợ
7.1 Giới hạn nội dung
- Nhận thức trong quá trình hỗ trợ bệnh nhân có RLLA bao gồm:
- Thực trạng nhận thức của gia đình về nguyên nhân, biểu hiện RLLA nói chung chứ không đi sâu nghiên cứu nhận thức về từng loại RLLA riêng biệt
- Hành vi gia đình thực hiện để hỗ trợ ban đầu cho bệnh nhân
7.2 Giới hạn địa bàn và khách thể nghiên cứu
- Khảo sát 120 người trong gia đình- tương đương 120 bệnh nhân mắc RLLA đến khám, điều trị tại BVTT Hải Phòng
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Dựa trên những nghiên cứu đã có về nhận thức về RLLA cũng như cách thức tìm kiếm nguồn lực hỗ trợ của gia đình đối với bệnh nhân trên các tài
Trang 15liệu, sách báo, tạp chí và các công trình nghiên cứu đã được công bố trước đó,
sử dụng để hệ thống lại cơ sở lý thuyết cho đề tài
8.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Từ cơ sở lý luận, thiết kế bảng hỏi sử dụng các mức độ định lượng khác nhau để đo đạc mức độ nhận thức và cách tìm kiếm nguồn lực hỗ trợ sau đó phát phiếu cho gia đình bệnh nhân Với kết quả từ bảng hỏi sẽ đo hiện trạng nhận thức và cách thức tìm kiếm nguồn lực hỗ trợ ban đầu của gia đình cho bệnh nhân mắc RLLA
8.3 Phương pháp phỏng vấn lâm sàng
Đây là phương pháp nhằm thu thập thêm các thông tin hữu ích, liên quan tới nghiên cứu mà không được trình bày trong bảng hỏi
8.4 Phương pháp thống kê toán học
Dùng để xử lý số liệu khoa học và khách quan Các thông tin về số liệu
sẽ được định lượng cụ thể và mã hóa bằng phần mềm EpiData và SPSS
9 Đóng góp mới của đề tài
- Tổng quan một số nghiên cứu về nhận thức và RLLA
- Đưa ra các con số thống kê cụ thể, trung thực, đáng tin cậy về mức độ nhận thức của gia đình về nguyên nhân, biểu hiện RLLA và hành vi hỗ trợ người nhà mắc RLLA tại BVTT Hải Phòng
- Giúp đề xuất các chương trình: giáo dục tâm lý, tuyên truyền… nâng cao nhận thức của gia đình tại BVTT Hải Phòng, cộng đồng về nguyên nhân, biểu hiện cũng như các thông tin khác liên quan tới RLLA Qua đó, nắm được một số cách thức tìm kiếm nguồn lực hỗ trợ khi có người nhà mắc bệnh này, giúp bệnh nhân có cơ hội được phát hiện bệnh kịp thời và có môi trường điều
trị thuận lợi ngay từ giai đoạn ban đầu
10 Đạo đức nghiên cứu
- Những người tham gia nghiên cứu được biết đầy đủ thông tin về đề tài nghiên cứu Họ được quyền quyết định, tự nguyện tham gia vào quá trình nghiên cứu mà không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ yếu tố nào
Trang 16- Mọi thông tin thu được từ phía gia đình bệnh nhân chỉ sử dụng vì mục đích nghiên cứu và sẽ được bảo mật
- Các số liệu thống kê là số liệu thu lại được từ bảng hỏi được thiết kế cho nghiên cứu này Việc phân tích, diễn giải, báo cáo nghiên cứu hoàn toàn dựa trên những số liệu trung thực, chính xác thu thập được trong thực tế
11 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương: Chương 1 Cơ sở lý luận nhận thức của gia đình trong hỗ trợ điều trị ban
đầu cho bệnh nhân RLLA
Chương 2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Phân tích kết quả nghiên cứu
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN NHẬN THỨC CỦA GIA ĐÌNH TRONG
HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ BAN ĐẦU CHO BỆNH NHÂN RỐI LOẠN LO ÂU 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu về nhận thức
1.1.1.1 Các nghiên cứu về nhận thức trên thế giới
Nghiên cứu về nhận thức được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ rất lâu
và nghiên cứu ở nhiều khía cạnh Có các hướng nghiên cứu chính về nhận thức đó là: khái niệm, bản chất, mức độ nhận thức hoặc nhận thức về sức khỏe tâm thần
Trong hướng nghiên cứu về khái niệm nhận thức, theo Ulric Neisser (1967) thì tất cả những gì xẩy ra trong quá trình con người tham gia vào hoạt động, giao tiếp cũng như các cảm giác, tri giác mà họ có được trong cuộc sống đều liên quan tới nhận thức Nhận thức chi phối mọi hoạt động sống cũng như ảnh hưởng tới cảm xúc, hành vi của con người (39) L.Festinger cũng chỉ ra rằng những gì mà cá nhân biết về bản thân và thể hiện qua hành vi rồi tác động vào môi trường xung quanh chính là các thành tố làm nên nhận thức của cá nhân ấy (37) Bên cạnh đó, quan điểm của các nhà tâm lý học Mỹ cũng xem xét nhận thức dưới góc độ là một quá trình mà ở đó cá nhân thể hiện qua việc vận dụng sự ghi nhớ, phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo về thế giới khách quan vào bộ óc con người, dựa trên cơ sở thực tiễn và tất cả những gì họ được trải nghiệm trước đó bao gồm cảm giác, tri giác Từ đó biến chúng trở thành kinh nghiệm của bản thân, thành tri thức về thế giới khách quan để vận dụng, giải quyết vấn đề của họ (6), (29)
Trong hướng nghiên cứu về bản chất, nguồn gốc nhận thức, theo Xocrat (469-399 TCN) thì nguồn gốc của nhận thức là tự nhận thức Đây là một định hướng có giá trị to lớn cho ngành khoa học tâm lý, vì lần đầu tiên trong lịch
sử tâm lý học đã đặt vấn đề tự nhận thức của con người lên một vị trí cao Đó
là con người có thể và cần phải tự hiểu biết, tự nhận thức, ý thức về bản thân
Trang 18mình (10), (26) Theo quan điểm này thì bản chất của nhận thức chính là việc các nhân tự nhận thức về mình, về thế giới khách quan Chính trong quá trình hoạt động của cá nhân giúp họ tự tích lũy kinh nghiệm, hiểu biết cho bản thân mình và đây chính là bản chất xã hội và lịch sử của nhận thức Qua mỗi hoạt động thực tiễn lại giúp con người tích lũy thêm kinh nghiệm và nâng cao hiểu biết, nhận thức của bản thân và tác động ngược lại vào thế giới khách quan để
có thêm những nhận thức, tri thức mới cho riêng mình
Ở hướng nghiên cứu về động lực nhận thức của con người trong mối quan hệ thực với môi trường, với cơ thể và bộ não theo quan điểm của J Piaget thì chính sự cân bằng, thống nhất và điều hòa giữa ba yếu tố: thành thục cơ thể, kinh nghiệm với môi trường vật lý và ảnh hưởng của môi trường
xã hội chính là động lực quyết định nhận thức của cá nhân đó Theo quan điểm này đồng nghĩa là khi đánh giá nhận thức của một cá nhân nào đó là đúng đắn, đáng tin cậy hay không thì phải xem xét dựa trên những yếu tố như
cá nhân đó phải là người trưởng thành, có được những kinh nghiệm sống từ thực tiễn thông qua mức độ họ tham gia hoạt động, tác động và giao lưu với người khác, với thế giới khách quan (4) U.Neisser cũng cho rằng, nhận thức tham gia vào tất cả các hoạt động của con người tất và cả các hiện tượng, biểu
hiện tâm lý đều có liên quan đến nhận thức (39)
Đối với hướng nghiên cứu mức độ nhận thức, thì trong nghiên cứu của một số nhà tâm lý học ở Mỹ cũng cho thấy, họ nhìn nhận nhận thức dưới hai khía cạnh Một là những gì mà cá nhân người đó quan sát được bằng mắt thông qua việc mã hóa của hệ thần kinh và truyền tới các giác quan khác, cho
cá nhân một hình ảnh, biểu tượng về sự vật, hiện tượng cụ thể nào đó Hai là
cá nhân đó sử dụng chính việc hiểu biết của mình để nhớ lại, phân loại thông tin thành các biểu tượng, các quy tắc, các khái niệm và lý giải, vận dụng chúng vào trong thực tiễn Nói cách khác nhận thức ở đây bao gồm hai giai đoạn cảm tính và lý tính Còn các nhà tâm lý học Mác- xít lại dựa trên nền tảng lý luận nhận thức của tư tưởng triết học Mac-Lenin, coi nhận thức là quá
Trang 19trình phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ não người và đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng Ở giai đoạn trực quan sinh động (quá trình nhận thức cảm tính) thì nhận thức của con người chỉ dừng lại ở cảm giác, tri giác và biểu tượng Đây cũng chính là quá trình đem lại nguồn gốc duy nhất cho việc nhận thức về thế giới xung quanh Tuy nhiên, nhận thức trong giai đoạn này mới chỉ ở mức độ cho biết cái bề ngoài về sự vật, hiện tượng Đến giai đoạn tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính) mới cho chúng ta gọi tên, phán đoán, suy luận… về đối tượng, đi sâu vào cái bản chất, thuộc tính bên trong cũng như tìm ra mối liên hệ, quy luật của đối tượng ấy (6)
Hướng nghiên cứu về nhận thức trong chăm sóc ban đầu cũng được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Hidalgo và cộng sự (2001) khi tổng quan các nghiên cứu khác nhau về RLLA xã hội đã cho biết, RLLA xã hội cũng như nhiều rối loạn khác, thường không được nhận biết trong các cơ sở chăm sóc ban đầu Thậm chí ngay cả khi các bệnh nhân có RLLA được chẩn đoán thì người cung cấp dịch vụ chăm sóc ban đầu có thể đánh giá không đúng về mức độ trầm trọng của bệnh và tác động của nó đến cuộc sống của bệnh nhân
Vì vậy họ không đưa ra được những kế hoạch chữa trị kịp thời, khiến cho bệnh nhân bị suy giảm sức khỏe (31)
Như vậy, có rất nhiều các hướng nghiên cứu về nhận thức được đưa ra nhưng nhìn chung đều cho rằng nhận thức là quá trình mà con người được biết, lĩnh hội hiểu biết về thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn
và biến chúng thành kinh nghiệm, nhận thức của mình rồi vận dụng sự hiểu biết đó ngược trở lại vào thế giới khách quan Mức độ hiểu biết, nhận thức của mỗi người sẽ phụ thuộc vào chính việc họ tham gia cũng như vận dụng
kiến thức đó vào trong hoạt động, giao tiếp hàng ngày của bản thân
1.1.1.2 Các nghiên cứu nhận thức về sức khỏe tâm thần tại Việt Nam
Ở Việt Nam, hầu hết các công trình nghiên cứu nhận thức về sức khỏe tâm thần đều là của các tác giả trẻ Các nghiên cứu này chủ yếu đánh giá về mức độ hiểu biết, kinh nghiệm, quan điểm của một nhóm người vào một khía
Trang 20cạnh sức khỏe tâm thần cụ thể Các hướng nghiên cứu hướng đến nhận thức của các nhóm khách thể khác nhau như: cha mẹ, giáo viên, phụ nữ bị bạo hành và về các khía cạnh SKTT trẻ em như: rối loạn hành vi, chiến lược quản
lý hành vi, tự kỷ
Trong hướng nghiên cứu nhận thức của cha mẹ về tổn thương sức khỏe
tâm thần: Ở đề tài “Tìm hiểu nhận thức của cha mẹ về tổn thương sức khỏe tâm thần trẻ em” của tác giả Trần Thành Nam cho thấy, hầu hết cha mẹ mới
chỉ dừng lại ở việc chăm lo, cung cấp cho trẻ có được đời sống vật chất tốt nhất theo khả năng của mình, ngoài ra, việc lo lắng, quan tâm, giáo dục về các nguy cơ sức khỏe tâm thần tiềm ẩn ở trẻ chưa thực sự được chú trọng (15) Hướng nghiên cứu nhận thức về rối loạn hành vi của tác giả Trần Văn
Hô “Nhận thức của giáo viên về rối loạn hành vi ở học sinh tiểu học tại một
số trường trên địa bàn Huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội” (2002), cũng cung
cấp một số vấn đề lý luận nhận thức của giáo viên về rối nhiễu hành vi ở học sinh tiểu học Kết quả cho thấy, hầu hết giáo viên tiểu học có nhận thức đúng
về rối loạn hành vi ở trẻ em, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn có một số giáo viên chưa nhận thức đúng về vấn đề này Nghiên cứu cũng đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của giáo viên và đưa ra một số các giải pháp, cách thức tác động phù hợp (12)
Hướng nghiên cứu nhận thức về chiến lược quản lý hành vi trong “Nhận thức của giáo viên tiểu học về chiến lược quản lý hành vi đối với trẻ có dấu hiệu tăng động giảm chú ý trong một số trường tiểu học ở Hà Nội” (2012),
tác giả Nguyễn Linh Trang cho thấy, hầu hết các giáo viên đều biết về thuật
ngữ “tăng động, giảm chú ý” Tuy nhiên hiểu biết chung về bệnh còn hạn chế
và có mức độ không đồng đều nhau ở các nhóm giáo viên như: nhiều hoặc ít kinh nghiệm giảng dậy; nhóm giáo viên đã từng làm việc với trẻ tăng động hoặc không, hoặc ở nhóm giáo viên có các chiến lược khen thưởng khác nhau Từ đó tác giả cũng đưa ra những đề xuất và khuyến nghị cho từng nhóm cụ thể (24)
Trang 21Hướng nghiên cứu nhận thức về nạn bạo lực gia đình: Kết quả từ
“Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt Nam” (2010), của
nhóm nghiên cứu đa quốc gia của WHO về sức khỏe phụ nữ và bạo lực gia đình đối với phụ nữ cho thấy: phụ nữ từng kết hôn có tỉ lệ bị bạo hành khá cao, họ cũng thường xuyên sống trong bất an, lo sợ Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chưa chỉ ra được họ nhận thức như thế nào về những nguy cơ có thể mắc các rối loạn tâm thần khi sống trong bạo hành và điều này có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ hay không (8)
Hướng nghiên cứu nhận thức về tự kỷ: Theo tác giả Trịnh Thanh Hương
(2014), trong nghiên cứu “Nhận thức về tự kỷ của sinh viên năm cuối các ngành chăm sóc sức khỏe tâm thần ở Việt Nam” đã chỉ ra rằng, đa phần sinh
viên các ngành đã có những hiểu biết nhất định về tự kỷ Tuy vậy, vẫn có một
bộ phận sinh viên hiểu sai, hiểu hạn chế về bệnh này và sự hiểu biết của sinh viên các ngành cũng có sự khác biệt rõ rệt (12)
Qua một số các hướng nghiên cứu trên đây, có thể thấy, tại Việt Nam, đã
có các nghiên cứu về nhận thức của các nhóm cha mẹ, giáo viên, sinh viên…
về một vấn đề sức khỏe tâm thần nào đó nhưng các kết quả đưa ra cũng cho thấy mức độ hiểu biết, nhận thức còn khá hạn chế, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và cũng chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào vấn đề nhận thức của gia đình bệnh nhân mắc RLLA Vì vậy việc nghiên cứu nhận thức của gia đình trong hỗ trợ ban đầu cho bệnh nhân RLLA để từ đó thấy được thực trạng, những yếu tố liên quan và giải pháp hỗ trợ cho bệnh nhân là việc làm cần thiết
1.1.2 Các nghiên cứu về RLLA
1.1.2.1 Các nghiên cứu về RLLA trên thế giới
RLLA được biết đến rất sớm Ngay từ thời cổ đại, sự lo lắng và những biểu hiện của nó đã được xuất hiện rất nhiều trong thơ ca, các tư tưởng triết học, y học và thần học Đến thời Hy Lạp cổ đại thì lo lắng được tin rằng đó là kết quả của sự mất cân bằng trong cuộc sống của con người (32) Các hướng
Trang 22nghiên cứu chính về RLLA bao gồm: khái niệm, biểu hiện, nguyên nhân, các phương pháp, kỹ thuật trị liệu …
Các hướng nghiên cứu về khái niệm RLLA
Đầu thế kỷ 18, một sự thay đổi xảy ra trong quá trình nhận thức của các triệu chứng lo âu hướng tới một mô hình y tế, trong đó tính năng của sự lo lắng đã được giải thích như là triệu chứng của bệnh Bác sỹ tâm lý người Scotlen- William Battie (1703-1776) đã cung cấp một trong những mô tả sớm nhất của sự lo lắng trong y văn, phân biệt sự điên rồ khỏi những lo âu ít nghiêm trọng và cho đó là kết quả của sự kích thích quá mức của các dây thần kinh (32) Cho đến thế kỷ 19, các nhà tâm lý học và tâm thần học bắt đầu đi vào nghiên cứu, mô tả về lo âu và bản chất của nó
Năm 1894, là một cột mốc đánh dấu một bước tiến mới về khái niệm RLLA khi Sigmund Freud công bố nghiên cứu mới của mình trong một bài báo về chứng suy nhược thần kinh với mục đích tiếp cận và làm sáng tỏ khái niệm lo âu Freud cho rằng nên tách hội chứng suy nhược thần kinh thành hội chứng riêng biệt khỏi các triệu chứng của suy nhược thần kinh tích hợp và gọi
là “Lo âu loạn thần kinh chức năng” (anxiety neurosis) Mặc dù khái niệm ban đầu của Freud về lo lắng loạn thần kinh đã có nhiều ý kiến hồ nghi tại thời điểm đó, nhưng quan điểm này đã hình thành cơ sở của các RLLA, góp phần trở thành tiêu chuẩn trong hệ thống chẩn đoán và ngày càng có ảnh hưởng tới các nghiên cứu sau này (32) Năm 1964, nhà tâm thần học và dược
lý học tâm thần Klein đã tách hội chứng lo âu toàn thể thành rối loạn hoảng sợ
và RLLA lan tỏa (49) Năm 1988 WHO đã sử dụng DSM – III làm tài liệu tham khảo để soạn thảo Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi (ICD - 10) Năm 1992, ICD - 10 được WHO công
bố và áp dụng chính thức trên toàn thế giới đến nay (49)
Có thể thấy RLLA được biết đến từ rất sớm với những quan điểm, khái niệm sơ khai Càng về sau, những kết quả các công trình nghiên cứu đã thực
Trang 23sự giúp cho việc chẩn đoán về RLLA ngày càng có sơ sở khoa học, chính xác góp phần vào việc điều trị bệnh ngày càng đạt hiệu quả
Hướng nghiên cứu về nguyên nhân RLLA
Các nghiên cứu theo hướng này chỉ ra có nhiều nguyên nhân dẫn đến lo
âu như gắn bó kéo dài thời thơ ấu, thiếu ngủ, môi trường căng thẳng, nguyên nhân sinh học, nguyên nhân nhận thức và hành vi v.v…
Trong hướng nghiên cứu phương pháp tiếp cận dựa vào thực chứng: Huston và cộng sự (2000) đã chỉ ra rằng ảnh hưởng của sự gắn bó kéo dài ở thời thơ ấu trong mối quan hệ mẹ con sẽ làm tăng sự sợ hãi, khó đối mặt với tình huống, sự kiện cũng như sẽ dự báo trước được RLLA khi ở lứa tuổi trẻ
em và vị thành niên sau này (38) Một nghiên cứu khác của Magot Prior và cộng sự (2000) nhằm đánh giá mối liên hệ giữa tính cách nhút nhát của trẻ ở thời thơ ấu với RLLA độ tuổi thanh thiếu niên cũng cho thấy: nếu trẻ sống trong tuổi thơ thường xuyên có biểu hiện nhút nhát sẽ làm tăng nguy cơ mắc RLLA sau này Có đến 42% trẻ thanh thiếu niên có thể mắc RLLA nếu thời thơ ấu của chúng thường xuyên sống trong nhút nhát (32)
Trong nghiên cứu khác của Matthew Valker về mối quan hệ giữa việc thiếu ngủ với RLLA thì việc thường xuyên thiếu ngủ hoặc mất ngủ có tác động tiêu cực đến chức năng của não bộ làm tăng nguy cơ phát triển và là một trong các nguyên nhân gây RLLA (64)
Trong hướng nghiên cứu về nguyên nhân sinh học ảnh hưởng tới RLLA của nhiều tác giả đều thể hiện rằng có thể liên quan đến một số hóa chất trong não (chất dẫn truyền thần kinh), chẳng hạn như dopamine, serotonin, norepinephrine Các bằng chứng khác cũng chỉ ra các quá trình sinh học thần kinh liên quan đến việc dễ phát triển thành RLLA (Salle & March, 2001) Trong thời điểm sợ hãi, các nội tiết tố stress được phóng thích và dẫn đến việc gia tăng tính kích thích của trục hạ đồi-tuyến yên-tuỷ thượng thận liên quan đến các phản ứng hồi hộp, sợ hãi Khi những chu trình này bị kích thích thường xuyên, phát triển một tình trạng gia tăng nhạy cảm với lo âu Những
Trang 24giả thuyết đề cập đến các chu trình của hệ thần kinh trung ương có liên quan đến đáp ứng lo âu đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của hạnh nhân (Amygdala) Tuy nhiên, không có cấu trúc đơn hay hoá chất thần kinh riêng
lẻ hoặc đơn thuần một gen nào điều khiển toàn bộ hệ thống đáp ứng lo âu Ngoài ra, một số chất dẫn truyền thần kinh và các hệ thống dẫn truyền thần kinh cũng có ý nghĩa và liên quan đến lo âu như mất điều chỉnh, thay đổi gia tăng nồng độ cortisol Bên cạnh đó, những nghiên cứu về rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) cũng cho thấy, việc tiếp xúc với mức lo âu quá mức gây ảnh hưởng đến hoá chất trong não, làm ảnh hưởng đến các nối kết trung gian giữa các neuron, cấu trúc của não và chức năng của não (De Bellis, 2001) (46)
Trong hướng nghiên cứu về nguyên nhân của rối loạn lo âu, Mowrer vào năm 1947 đã đưa ra mô hình lý giải hợp lý nhất lý của việc mắc phải và duy trì lo âu là do nhận thức và hành vi Ông đưa ra mô hình hai yếu tố và cho rằng trước một tác nhân gây kích thích đặc hiệu, nỗi sợ hãi xuất hiện theo cơ chế thông qua điều kiện hóa cổ điển và được duy trì bằng điều kiện hóa tạo tác (Operant conditioning) Đó là một phản ứng lo sợ có điều kiện cổ điển được duy trì bằng cách né tránh những mệt mỏi và vì vậy nó tạo ra cảm giác
dễ chịu Chính sự dễ chịu này lại tạo ra quá trình điều kiện hóa tạo tác, củng
cố cho sự né tránh và giúp các cá nhân không phải đối diện, trải qua trạng thái
sợ hãi Cá nhân đó nhận thức được rằng né tránh thì họ sẽ không bị những nỗi
sợ tấn công và họ học được cách né tránh mỗi khi gặp tình huống có thể gây nguy hiểm cho bản thân Mô hình này tỏ ra hiệu quả trong việc giải thích cơ chế xuất hiện và duy trì một nỗi sợ hãi cụ thể nào đó (51)
Nghiên cứu của Weiller và cộng sự (1996), khám phá sự nhận biết về RLLA của các bác sĩ đa khoa trong các bệnh viện đa khoa ở Paris- Pháp cho thấy, các bác sĩ đa khoa có mức độ nhận biết về RLLA xã hội rất thấp, họ chỉ
dễ nhận ra bệnh nhân có RLLA xã hội khi bệnh nhân có kèm theo trầm cảm (40)
Trang 25Như vậy, việc nghiên cứu để đưa ra những cơ sở lý luận có tính khoa học, chính xác giúp cho việc chẩn đoán, điều trị RLLA luôn là một việc làm cần thiết Các nghiên cứu cũng chỉ ra có nhiều nguyên nhân dẫn đến RLLA
và nó vẫn còn là vấn đề cần được quan tâm, nghiên cứu
1.1.2.2 Các nghiên cứu về RLLA tại Việt Nam
Tại Việt Nam, gần đây cũng có một số các hướng nghiên cứu về RLLA
Hướng nghiên cứu về nguyên nhân, thực trạng RLLA
Có nhiều nghiên cứu về nguyên nhân gây lo âu, các nghiên cứu khác nhau đưa ra những nguyên nhân khác nhau phụ thuộc vào các khách thể nghiên cứu mà các tác giả thực hiện Nói chung, các nguyên nhân chủ yếu gây RLLA ở trẻ em là gia đình, môi trường làm việc, học tập và quan hệ xã hội
Cụ thể, yếu tố gia đình được Nguyễn Hồng Thúy (2003) đưa ra trong
nghiên cứu “Ảnh hưởng của một số yếu tố tâm lý đến RLLA của trẻ em” như:
yếu tố gia đình trong đó bao gồm việc mẹ gặp vấn đề cảm xúc trong và sau khi sinh, kiểu giáo dục của cha mẹ (bao bọc, chăm sóc quá mức), sống trong môi trường thường xuyên chứng kiến hoặc bị bạo lực trong gia đình, hoặc gia đình khiếm khuyết ; yếu tố liên quan tới khó khăn, không đạt được thành công, kỳ vọng của bản thân trong học tập và một số các nguyên nhân xã hội khác cũng ảnh hưởng tới việc mắc RLLA ở trẻ (21) Hay Nguyễn Hằng Phương (2008) chỉ đưa ra kết luận chung là gia đình và yếu tố tự sinh là nguyên nhân gây lo âu ở trẻ trong nghiên cứu một số nguyên nhân gây ra RLLA ở học sinh trung học phổ thông (19) Hay kết luận trong nghiên cứu về nguyên nhân dẫn tới biểu hiện khác nhau ở trẻ mắc RLLA của Nguyễn Thị Hồng Nhung (2013) cũng cho thấy, đặc điểm khác nhau về giới, độ tuổi và ngay cả trong hoàn cảnh có bạo lực gia đình khác nhau là nguyên nhân gây RLLA (17)
Trong một nghiên cứu khác của nhóm tác giả thuộc trường Đại học Y Hà Nội cho rằng các yếu tố gây stress trong quá trình làm việc như: môi trường làm việc ồn ào, ô nhiễm, khắc nghiệt, khối lượng công việc nhiều, nhàm chán,
Trang 26ít có cơ hội thăng tiến… cũng là nguyên nhân ảnh hưởng tới RLLA ở nhóm đối tượng được nghiên cứu (41)
Như vậy, yếu tố môi trường làm việc, học tập: công việc quá áp lực, căng thẳng, không tạo được hứng thú …(41) và các yếu tố liên quan tới gia đình, quan hệ xã hội và yếu tố tự sinh (19) là một số những nguyên nhân
thường gây ra RLLA
Hướng nghiên cứu về tỉ lệ mắc RLLA
Tại Việt Nam, những nghiên cứu khác nhau với các khách thể và cỡ mẫu khác nhau cho kết quả tỉ lệ RLLA là rất khác nhau
Báo cáo của tác giả Hoàng Cẩm Tú (1997) về nhận xét RLLA trẻ em điều trị tại Khoa Tâm bệnh- Viện Sức khỏe trẻ em cho thấy, khoảng 1/3 số người mắc RLLA trong tổng số người gặp vấn đề tâm bệnh Đặc biệt trong nghiên cứu này có tới 75.29% rơi vào nhóm tuổi vị thành niên mắc RLLA (25) Một nghiên cứu khác nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm
và lo âu ở bệnh nhân ung thư dạ dày cũng cho thấy, biểu hiện lo âu ở nhóm đối tượng này chiếm tỉ lệ lên tới 81,67% (7) Tuy nhiên, ở nghiên cứu khác của nhóm tác giả thuộc Đại học Y Hà Nội về đặc điểm RLLA ở nhóm công nhân thì chỉ có 10,83% trong số đó mắc RLLA và chủ yếu là do điều kiện và
áp lực công việc (41) Hay trong nghiên cứu gần đây nhất của Đặng Hoàng Minh, Bahr Weiss và Nguyễn Cao Minh (2013) về điều tra dịch tễ trên trẻ em
từ 6 – 16 tuổi tại 10 tỉnh, thành phố Việt Nam thì tỉ lệ lo âu (trầm cảm) chỉ chiếm 1,8% (18)
Như vậy, có thể thấy, trong các nghiên cứu về tỉ lệ có sự khác biệt rất lớn Tùy thuộc vào mục đích và nhóm đối tượng nghiên cứu khác nhau sẽ cho kết quả khác nhau về tỉ lệ mắc RLLA Cho nên không thể chỉ dựa vào số liệu riêng lẻ để kết luận rằng nhóm đối tượng này có tỉ lệ mắc RLLA nhiều hơn nhóm đối tượng khác để rồi có những định kiến không đúng đắn, phù hợp
Trang 27Hướng nghiên cứu về độ tuổi khởi phát RLLA
Đối với độ tuổi khởi phát, không có những con số thống kê cụ thể và áp dụng cho tất cả các đối tượng nghiên cứu Mà trong nhóm nghiên cứu về đặc điểm này thì ở trẻ em, tuổi khởi phát có thể từ rất sớm, trước khi trẻ đi học nhưng đa phần là từ 10- 12 tuổi (38) Còn kết quả trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Dũng (2010), RLLA thường khởi phát ở nhóm tuổi 36-45 (46) Như vậy, trong hướng nghiên cứu về độ tuổi khởi phát cũng cho kết quả khác nhau Điều này cũng xuất phát từ nhiều nguyên nhân và phụ thuộc vào nhóm đối tượng tham gia quá trình nghiên cứu
Qua một số nghiên cứu cho thấy, có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới RLLA, tùy thuộc vào mục đích và đối tượng nghiên cứu khác nhau sẽ cho kết quả là khác nhau trong cùng nguyên nhân, biểu hiện, tỉ lệ, tuổi khởi phát…
Hiện nay, theo tìm hiểu của chúng tôi chưa có nghiên cứu nào chỉ ra rằng nhận thức của gia đình về RLLA và sự ảnh hưởng của nó tới việc họ hỗ trợ người trong gia đình khi mắc bệnh này Vì vậy, trong nghiên cứu của mình, chúng tôi muốn tìm hiểu nhận thức của gia đình về RLLA và dựa trên các đặc điểm khác nhau như: trình độ, điều kiện kinh tế… để thấy cách thức họ tìm kiếm nguồn lực và mức độ hỗ trợ bệnh nhân như thế nào Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hỗ trợ cho gia đình và bệnh nhân RLLA tốt hơn
1.1.3 Các nghiên cứu về hỗ trợ điều trị RLLA
RLLA là một bệnh có tỉ lệ mắc ngày một gia tăng, vì vậy việc nghiên cứu để tìm ra những giải pháp hỗ trợ điều trị lo âu là cần thiết Trong thực tế, hiện nay đã có một số các biện pháp hỗ trợ bệnh nhân RLLA và được sử dụng như là một giải pháp chính đó là : hỗ trợ y khoa và hỗ trợ tâm lý Cụ thể:
1.1.3.1 Hỗ trợ Y khoa
Thực tế việc sử dụng thuốc cho người mắc RLLA đã được áp dụng từ lâu Không thể phủ nhận vai trò của thuốc trong hỗ trợ điều trị RLLA từ trước tới nay Dựa vào các yếu tố như: di truyền, các chất dẫn truyền thần kinh… và các loại thuốc khác mà các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu, đưa ra nhiều
Trang 28loại thuốc hỗ trợ điều trị lo âu mới bổ sung vào danh mục thuốc hiện nay (52) Việc nghiên cứu để tìm ra các loại thuốc hỗ trợ điều trị tốt nhất luôn là điều cần thiết trong bất kỳ giai đoạn nào và phù hợp nhu cầu thực tiễn Tuy nhiên, các loại thuốc dù giúp bệnh nhân giảm được các triệu chứng hiện tại thì vẫn
có nguy cơ khiến bệnh nhân chịu tác dụng phụ không mong muốn cũng như nguy cơ bị lạm dụng thuốc chống lo âu Điều này đòi hỏi người thầy thuốc phải cẩn trọng trong việc kê đơn và hướng dẫn bệnh nhân sử dụng thuốc cho phù hợp (50)
1.1.3.2 Hỗ trợ tâm lý
Hiện nay, ngoài sử dụng thuốc thì việc điều trị bằng tâm lý ngày càng thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong quá trình hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân, đặc biệt là đối với một số bệnh như: lo âu, trầm cảm, rối loạn stress sau sang chấn… Có nhiều các kỹ thuật được áp dụng phổ biến trong điều trị RLLA mà không cần sự can thiệp của thuốc, có thể kể tới các cách tiếp cận sau:
Cách tiếp cận hành vi
B.F.Skinner, Arnold Lzarus và Albert Bandura là các nhà tâm lý học tiêu biểu theo quan điểm tiếp cận hành vi Nguyên lý đưa ra là mức độ bệnh nhân tham gia vào việc học để giải quyết những rối loạn hành vi cụ thể với mục đích nhằm cải thiện các chức năng cơ thể Trong liệu pháp hành vi, mục đích là giúp cho thân chủ thay đổi các hành vi kém thích ứng, không chính xác, thông qua các kỹ thuật giải cảm ứng hệ thống, thư giãn và tập thở với mục đích điều chỉnh hành vi của bệnh nhân Kỹ thuật hành vi nhằm kiểm tra
và thay đổi các nhận thức kém thích ứng, không chính xác để hướng tới mục đích chung là giúp bệnh nhân nhận ra những niềm tin giả định và nhận thức không chính xác của bản thân Từ đó họ học các chiến lược và cách thức mới
để giải quyết vấn đề của mình Các kỹ thuật hành vi bao gồm lên các kế hoạch hoạt động, thư giãn, làm bài tập về nhà như viết nhật ký ý nghĩ và thay đổi nhận thức - hành vi - cảm xúc kèm theo diễn tập nhận thức, đóng vai…
Trang 29Giải cảm ứng hệ thống cũng là một kỹ thuật hành vi thường được áp dụng kèm với kỹ thuật nhận thức, khi thân chủ tưởng tượng một tình huống hay một sự việc mà bản thân đã trải nghiệm gây lo sợ, cùng với kỹ thuật thư giãn sẽ giúp họ đối phó với phản ứng sợ và cuối cùng loại bỏ được lo âu Với mục đích giúp thân chủ sẽ dần trở nên bớt nhạy cảm với các đáp ứng sợ hãi đã trải nghiệm và học cách cải thiện phản ứng, đối phó với tình huống Ngoài ra, còn có các kỹ năng khác như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự khẳng định bản thân, kỹ năng xã hội, kỹ năng nhận diện, ứng phó, giải quyết vấn đề…(48)
Cụ thể liệu pháp trị liệu hành vi- nhận thức (CBT) thường được sử dụng
trong điều trị RLLA Ban đầu, được đề cập bởi Albert Ellis trong cuốn “Lý luận và cảm xúc trong liệu pháp tâm lý” năm 1962 và Aeron Beck trong cuốn
“Quan niệm của bản thân trong trong trầm cảm” năm 1960 Đây là một liệu
pháp trị liệu tâm lý với cấu trúc ngắn hạn Thông qua mối quan hệ giữa thân chủ và nhà trị liệu, tác động, làm thay đổi suy nghĩ, nhận thức của thân chủ từ
đó thay đổi cảm xúc và hành vi của họ theo chiều hướng tích cực CBT chính
là sự kết hợp giữa việc sử dụng kỹ thuật tái cấu trúc nhận thức của liệu pháp
nhận thức với các kỹ thuật điều chỉnh hành vi của liệu pháp hành vi (48)
Trên thực tế thì các kỹ thuật áp dụng trong trị liệu RLLA bao gồm trị liệu hành vi- nhận thức, các kỹ thuật hỗ trợ khác được sử dụng xen kẽ lẫn nhau như là một sự bổ trợ và được áp dụng linh hoạt cho từng bệnh nhân cụ thể chứ không có sự phân tách rõ rệt và máy móc
Trang 30Bên cạnh sự hỗ trợ từ phía chuyên gia tâm lý thì việc hỗ trợ, quan tâm, động viên, chia sẻ từ phía gia đình cũng là một nhân tố đóng góp rất quan trọng trong điều trị cho người mắc RLLA
Có rất nhiều các hiểu khác nhau về nhận thức
Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người dựa trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo
ra những tri thức về thế giới khách quan đó (29)
Theo Nguyễn Khắc Viện (1995) thì nhận thức là: “Quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy, nhận biết và và hiểu biết
về thế giới khách quan”, nhưng diễn ra ở các mức độ từ kinh nghiệm đến có ý thức và cuối cùng là mức độ triết lý cao (27)
Theo Từ điển tiếng Việt của NXB Khoa học Xã hội thì nhận thức được
hiểu: “Là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy, nhận biết và và hiểu biết thế giới khách quan (64)
Theo Từ điển Triết học:“Nhận thức là quá trình tái tạo lại hiện thực ở trong tư duy của con người, được quyết định bởi quy luật phát triển xã hội và gắn liền cũng như không thể tách rời khỏi thực tiễn, phải là mục đích của thực tiễn, phải hướng tới chân lý khách quan” (36)
Trang 31Theo Lênin: “Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não con người Nhưng đó không phải là sự phản ánh đơn giản trực tiếp hoàn chỉnh mà là cả quá trình, cả một chuỗi sự trừu tượng, hình thành ra các khái niệm, quy luật phổ biến của giới tự nhiên vĩnh viễn vận động, phát triển” (68)
Có thể thấy Lê Nin rất đề cao vai trò của con người - chủ thể của nhận thức Chính thông qua quá trình sống, phát triển mà con người dần dần nhận biết, nắm bắt được thế giới xung quanh, đúc kết thành nhận thức, kinh nghiệm cho bản thân mình
Theo Từ điển Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên (2008), nhận thức là:
“Hiểu được một điều gì đó, tiếp thu được những kiến thức về điều nào đó, hiểu biết những quy luật về những hiện tượng, quá trình nào đó” (5)
Như vậy, có rất nhiều quan điểm được đưa ra về nhận thức, trong nghiên
cứu này chúng tôi cho rằng nhận thức: Là quá trình phản ánh, tái hiện hiện thực khách quan vào đầu óc con người thông qua quá trình hoạt động thực tiễn, giao tiếp xã hội, từ đó con người tích lũy được kinh nghiệm, hiểu biết và vận dụng ngược trở lại những hiểu biết đó vào trong cuộc sống của mình
1.2.1.2 Bản chất của nhận thức
Nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn nhằm tạo ra những tri thức về thế giới khách quan (50) Nghĩa là trước khi con người muốn nhận thức được một sự vật, hiện tượng, vấn đề nào đó thì phải tiến hành hoạt động, giao tiếp từ đó nắm bắt, tìm ra được bản chất về các quy luật, thuộc tính cơ bản nhất của đối tượng Chính trong quá trình hoạt động đó, luôn chứa đựng
và làm nảy sinh các vấn đề đòi hỏi con người phải giải đáp Nhờ đó con người tích lũy thành kinh nghiệm, hiểu biết, nhận thức cho riêng mình
Nhận thức mang bản chất xã hội và lịch sử Vì thông qua quá trình hoạt động của chính mình, bản thân cá nhân đó có sự tương tác, ảnh hưởng, tác động tới người khác, xã hội, môi trường xung quanh Từ đó nẩy sinh nhu cầu được hiểu biết, nhận thức về hiện thực khách quan, thế giới xung quanh, về
Trang 32tất cả những sự vật, hiện tượng, đối tượng giao tiếp của con người Qua mỗi hoạt động thực tiễn, con người lại tích lũy được nhiều hơn kinh nghiệm về đối tượng giao tiếp của mình từ đó đưa ra được những cách thức ứng xử phù hợp hơn với đối tượng ấy Có thể nói hoạt động thực tiễn chính là cơ sở, nguồn gốc, là động lực và mục đích mà nhận thức hướng tới (52)
1.2.1.3 Các mức độ nhận thức
Thông qua hoạt động thực tiễn với xung quanh và quá trình tác động vào thế giới khách quan mà con người nhận thức được về thế giới ấy Tuy nhiên, tùy trong từng hoạt động, tùy từng mối quan hệ và môi trường, điều kiện sống của mỗi người mà có những mức độ nhận thức khác nhau Sự khác biệt ấy ở mỗi người lại được thể hiện thông qua các hình ảnh, biểu tượng, tri giác và ứng xử với cùng một đối tượng cụ thể
Theo quan niệm chủ nghĩa duy vật Mac- Lênin thì mức độ nhận thức được phân chia dựa vào quá trình con người hoạt động để tìm hiểu, chiếm lĩnh cái bản chất của đối tượng, sự vật Đó là các mức độ: nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận; nhận thức thông thường và nhận thức khoa học (68)
Theo quan điểm của phép tư duy biện chứng thì con đường nhận thức của con người được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp Dựa vào tính chất của phản ánh, nhận thức được chia thành 2 giai đoạn bao gồm nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính
Nhận thức cảm tính (bao gồm cảm giác, tri giác và biểu tượng), là mức
độ sơ đẳng, giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức Nó phản ánh trực tiếp những thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng (bao gồm cả tính ngẫu nhiên và tất nhiên) tác động vào giác quan của con người, qua đó con người nắm bắt được sự vật, hiện tượng ấy Đây chính là mức độ thấp nhất của nhận thức và mới dừng lại ở việc nhận thức về cái bên ngoài của sự vật, hiện tượng chứ chưa nắm được các mối liên hệ, dấu hiệu bản chất, tính tất yếu bên trong mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng Có thể nói, nhận thức ở giai đoạn
Trang 33này còn rất sơ khai Muốn làm chủ được tự nhiên, xã hội và bản thân mình đòi hỏi con người cần đi sâu vào tìm hiểu, phân tích, nắm bắt được cái bản chất bên trong Từ đó khái quát được, hiểu rõ hơn cái bản chất của sự vật, hiện tượng hay còn gọi là giai đoạn nhận thức lý tính
Nhận thức lý tính (còn gọi là tư duy, trừu tượng), là giai đoạn phản ánh một cách gián tiếp, trừu tượng, khái quát về sự vật, hiện tượng thông qua hệ thống các khái niệm, phán đoán và suy luận Đây là quá trình mà nhận thức đã
đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng để tìm hiểu, nắm bắt được nó (68) Trên đây là hai mức độ của quá trình nhận thức theo quan điểm của phép
tư duy biện chứng Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động nhận thức của con người không có sự phân chia rõ rệt mà nó diễn ra đan xen, có sự tác động qua lại, gắn kết chặt chẽ, không tách rời nhau Không có giai đoạn nhận thức cảm tính sẽ không thể có nhận thức lý tính Nhận thức cảm tính là cơ sở nền tảng của nhận thức lý tính, giúp nắm bắt được bản chất và quy luật vận động của
sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan
Như vậy, có thể thấy nhận thức của con người là một quá trình diễn ra từ mức độ mang tính riêng lẻ, bề ngoài, dễ nắm bắt cho đến mức độ nhận thức được cái bên trong, bản chất, mang tính khái quát, tính quy luật của sự vậy, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan Việc nắm bắt và vận dụng những kiến thức, hiểu biết đó để giải quyết các vấn đề diễn ra trong xã hội là đòi hỏi thực tiễn và cấp thiết đối với mỗi cá nhân Sự hiểu biết ấy cũng chính là thước
đo để đánh giá mức độ nhận thức của mỗi người về bản thân, xã hội và thế giới xung quanh
Năm 1956, trong cuốn sách “Phân loại tư duy theo các mục tiêu giáo dục”, Benjamin Bloom, nhà sư phạm người Mỹ đã mô tả, phân chia nhận thức
ở con người gồm sáu mức độ từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, mỗi mức độ đặc trưng cho từng hoạt động trí tuệ và được thể hiện như sau:
Mức 1: Biết: xác định, nhớ lại được thông tin để miêu tả, gọi tên, phân loại, nhận biết, mô phỏng, làm theo … Từ đó đưa các thông tin thu được vào
Trang 34trí nhớ và được mã hóa lại ở chủ thể nhận thức Nhờ đó chủ thể nhận thức có thể nhắc lại các sự kiện, đưa ra được định nghĩa, khái niệm về đối tượng Mức 2: Hiểu: hiểu được nghĩa, diễn giải được khái niệm để tóm tắt lại, thay đổi và giải thích, chứng minh cũng như lĩnh hội được vấn đề đó để truyền đạt cho người khác có thể hiểu được vấn đề
Mức 3: Vận dụng: sử dụng thông tin hay khái niệm đã có được trong những tình huống mới cũng như tạo dựng, mô phỏng, tái tạo lại và dự đoán được các tình huống xẩy ra, những vấn đề mới cần phải giải quyết
Mức 4: Phân tích: chia nhỏ thông tin và khái niệm thành những phần nhỏ hơn để hiểu rõ, làm sáng tỏ hơn những mối quan hệ bên trong và phân biệt cũng như lựa chọn được sự khác biệt giữa các đối tượng
Mức 5: Tổng hợp: sắp xếp các bộ phận riêng lẻ thành một thể thống nhất Ghép nối các vấn đề nhỏ thành các vấn đề lớn hơn, tạo thành một khối tổng thể, thống nhất mới liên kết tất cả các bộ phận với nhau
Mức 6: Đánh giá: có thể đưa ra những nhận định, phán đoán, đánh giá hoặc tranh luận, biện hộ… về chất lượng, giá trị, ý nghĩa của vấn đề mình hiểu biết Nhờ đó có thêm những tri thức, trí tuệ về sự vật, hiện tượng xã hội (3)
Qua các mức độ được phân loại của Bloom cho thấy, các mức độ của quá trình nhận thức được nâng dần lên Hai mức độ một và hai là nhận thức ở mức độ thấp nhất, mới chỉ dừng lại ở biết và hiểu Nhận thức ở các mức độ sau đó có trình độ cao hơn, thể hiện thành các thao tác để vận dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá về sự vật, hiện tượng
Từ những lý thuyết được phân tích trên đây, trong phạm vi nghiên cứu của mình, chúng tôi chỉ xem xét nhận thức của gia đình bệnh nhân mắc RLLA
ở mức độ một là biết về biểu hiện của bệnh, mức độ hai là hiểu về nguyên nhân, biểu hiện của bệnh và mức độ ba là sự vận dụng hiểu biết để tìm kiếm
các nguồn lực và thực hiện hành vi hỗ trợ cho bệnh nhân mắc RLLA
Trang 351.2.2 RLLA
1.2.2.1 Khái niệm RLLA
RLLA (tên tiếng Anh là Anxiety Disorder) là một bệnh lí chỉ sự lo sợ quá mức và không kiểm soát được trước một tình huống xảy ra, có tính chất
vô lý, lặp lại và kéo dài gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống Đây là một trong những rối loạn tâm lý phổ biến, thường gặp ở tuổi vị thành niên trở lên, nữ mắc phải nhiều hơn nam (42) Là một trong số những loại bệnh thuộc nhóm bệnh tâm căn, được phân biệt với những những bệnh thuộc nhóm loại bệnh thần kinh phản ứng và nhóm nhân cách bệnh Bệnh thường xuất hiện sau một sang chấn tâm thần, tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định (28) Từ trong khoảng 1956- 1965, theo tổng hợp nghiên cứu tại một số nước, đặc biệt
là các nước tư bản tỉ lệ nhóm các bệnh tâm căn là 52-60/1000 dân (tương đương 5-6%) Theo Taylor thì nhóm bệnh tâm căn chiếm khoảng 1/3 trên tổng số bệnh nhân tại Luân Đôn Tại Việt Nam, điều tra cơ bản cho thấy nhóm bệnh tâm căn trong thời bình chiếm tỉ lệ xấp xỉ 5% và trong thời chiến
ở một số vùng còn có tỉ lệ cao hơn (28- tr 90 )
Đến thế kỷ XIX bệnh tâm căn được quan niệm như một bệnh thần kinh
và xem đây là một bệnh tâm thần, một bệnh do sang chấn tâm lý gây ra và có tới ba trường phái khác nhau trong quan điểm về cơ chế phát sinh, nguồn gốc, căn nguyên gây ra nhóm bệnh này (45)
Có rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về RLLA:
Theo Aubrey Lewis RLLA là: “Một trạng thái cảm xúc với trải nghiệm chủ quan về nỗi sợ hoặc các cảm xúc gần như thế (kinh hãi, hoảng sợ, bối rối, kinh hoàng…) mà những cảm xúc đó có thể có những đe dọa hoặc không và thường kèm theo các cảm giác khó chịu cũng như rối loạn về mặt cơ thể”
(14)
Theo ICD- 10 thì RLLA nằm trong nhóm các rối loạn bệnh tâm căn có liên quan đến stress và dạng cơ thể bao gồm các rối loan lo âu ám ảnh sợ, các RLLA khác (1)
Trang 36Theo DSM -IV thì: “RLLA là những sợ hãi thái quá về một sự kiện hoặc các hành vi kéo dài trong nhiều ngày, xảy ra và lặp lại, duy trì ít nhất sáu tháng Cá nhân đó thường khó khăn trong việc kiểm soát những lo lắng kèm theo dấu hiệu cơ thể như: căng cơ, bồn chồn, khó ngủ và bất an…” (18)
Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu khác nhau các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng đưa ra các định nghĩa về lo âu cho nghiên cứu của mình như:
Theo GS Nguyễn Việt (1984) thì RLLA là: “Một trong những bệnh thuộc nhóm rối loạn tâm căn, kéo dài với các triệu chứng và biểu hiện của quá trình rối loạn nhẹ, không gây rối loạn trong tiếp xúc, trong hoạt động ý thức, trong hoạt động nhận thức, hành vi, tác phong, không có sự rối loạn hoặc chỉ rối loạn từng lúc nên vẫn có thể làm việc, học tập được” RLLA chủ
yếu là các triệu chứng cơ thể và tâm thần xuất hiện thành hội chứng (hội chứng suy nhược, hội chứng ám ảnh ) và thường xuất hiện sau một sang chấn tâm thần, tồn tại ở một thời điểm nhất định (28)
Theo từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng, 2008) RLLA là: “Sự sợ hãi quá mức không có nguyên nhân hay do chủ quan của bệnh nhân và không thể giải thích được do một bệnh tâm thần hoặc do bệnh cơ thể RLLA là rối loạn mà bệnh nhân không thể kiểm soát được, biểu hiện bền vững và mang tính lan tỏa, thậm chí có thể xảy ra dưới dạng kịch phát” Các RLLA gồm: Các
RLLA ám ảnh sợ: ám ảnh sợ khoảng trống, ám ảnh sợ xã hội, ám ảnh sợ đặc hiệu, ám ảnh cưỡng bức, rối loạn hoảng sợ, RLLA lan tỏa (5)
Bên cạnh đó, có một số các định nghĩa về RLLA của các tác giả khác nhưng đều đồng ý rằng RLLA là sự lo âu quá mức hoặc dai dẳng về nhiều vấn
đề khác nhau gây ảnh hưởng tới cuộc sống của cá nhân đó (48), (23)
Như vậy, có rất nhiều định nghĩa được đưa ra về RLLA Trong phạm vi
nghiên cứu của mình, chúng tôi đồng ý với định nghĩa: “ RLLA là trạng thái rối loạn cảm xúc trong đó biểu hiện ra thành những sợ hãi thái quá về một tình huống, sự kiện nào đó không thực sự nguy hiểm Là những nỗi sợ, lo lắng
có tính chất vô lý, xuất hiện, duy trì trong nhiều ngày, thường đi kèm theo dấu
Trang 37hiệu cơ thể như: căng cơ, bồn chồn, khó ngủ và bất an…, khiến cho cá nhân
đó gặp khó khăn trong việc kiểm soát những lo lắng cũng như tham gia vào các hoạt động khác”
Theo đó, người được chẩn đoán mắc RLLA phải đảm bảo rằng họ khó hoặc không thể kiểm soát được cảm xúc, hành vi, suy nghĩ và các dấu hiệu cơ thể và các dấu hiệu này xuất hiện liên tục trong một thời gian dài Các biểu hiện ấy khiến cho họ gặp khó khăn trong kiểm soát tình trạng của mình cũng như khó khăn khi tham gia vào các hoạt động sống, giao tiếp và công việc hàng ngày
1.2.2.2 Các biểu hiện của RLLA
Bệnh nhân có rối loạn lo âu thường có những biểu hiện đa dạng và thường là các dấu hiệu về cơ thể: bồn chồn, mất ngủ, hồi hộp, thường xuyên căng thẳng, lo âu, mệt mỏi, dễ cáu gắt, tăng tính phản ứng với môi trường, rối loạn giấc ngủ, gặp ác mộng, trạng thái sợ hãi, mất cảm giác an toàn (23) Kèm theo các dấu hiệu như: nhịp tim nhanh, vã mồ hôi, run rẩy chân tay hoặc rung tay; cảm giác khó thở, thở rất nông hoặc cảm giác ngột ngạt Họ thường mất kiểm soát bản thân, có cảm giác rất sợ chết, có những cảm giác bất thường, cảm thấy tê cóng, hoặc nóng bừng Những biểu hiện RLLA này thường xảy
ra khi bệnh nhân gặp phải những sang chấn tâm lý trong cuộc sống (46)
RLLA thường được biểu hiện thành các nhóm chính: cảm xúc, tư duy, hành vi, dấu hiệu cơ thể
+1 Cảm xúc: căng thẳng, sợ hãi, thường đa dạng, không lo một nỗi lo cụ thể
+2 Tư duy: chú tâm suy nghĩ về những nguy hiểm có thật hoặc tiềm ẩn +3 Hành vi: bồn chồn, đứng ngồi không yên, khả năng tập trung chú ý suy giảm, sử dụng chất kích thích để làm giảm lo âu
+4 Cơ thể: nhịp tim nhanh, hồi hộp, vã mồ hôi, dễ mệt mỏi, căng cơ,
đau đầu, rối loạn giấc ngủ…(54)
Trang 381.2.2.3 Nguyên nhân gây ra RLLA
Có rất nhiều nguyên nhân gây RLLA Matthew Valker (2013) đã chứng minh trong nghiên cứu của mình rằng việc ngủ đủ thời gian sẽ giúp não bộ có những phản ứng khả quan với lo lắng Việc cải thiện giấc ngủ sẽ góp phần làm giảm nguy cơ mắc RLLA (64) Thực tế trong kết quả phỏng vấn những bệnh nhân mắc RLLA đến khám và điều trị tại một số cơ sở y tế cũng cho thấy, đa phần họ đều có giấc ngủ không tốt hoặc mất ngủ hoàn toàn trong một thời gian nhất định trước đó Như vậy, có thể thấy, giấc ngủ đã ảnh hưởng không ít tới RLLA nói riêng và sức khỏe tâm thần nói chung Bên cạnh đó theo kết quả một số nghiên cứu khác thì RLLA thường liên quan đến các yếu
tố như: gen di truyền (có thể chiếm 30- 50%) (62), (61), sinh học hoặc những trải nghiệm từ tuổi thơ bất hạnh do sống trong gia đình có bạo lực, xung đột; hoặc có thể do những áp lực, căng thẳng trong học tập, công việc, cũng như
kỳ vọng, trông đợi quá lớn từ phía gia đình và bản thân người đó Việc hạn chế kỹ năng để đối phó với các tình huống nguy hiểm, các sang chấn tâm lý đi kèm với nhân cách có xu hướng lo âu … cũng là những nguyên nhân được cho là ảnh hưởng tới RLLA (62), (33), (56) Tuy nhiên, mặc dù có nhiều nguyên nhân được liệt kê như vậy nhưng cho đến nay vẫn chưa có yếu tố nào được coi là nguyên nhân chính gây RLLA
1.2.2.4 Chẩn đoán, phân loại RLLA
Có nhiều thang đo được xây dựng để hỗ trợ quá trình đánh giá mức độ lo
âu của nhiều tác giả khác nhau như: thang đánh giá lo âu Zung, đánh giá lo âu Hamilton, đánh giá lo âu Spierlberger Tuy nhiên, tiêu chuẩn chẩn đoán dựa vào bảng phân loại các rối loạn tâm thần và hành vi ICD- 10 và sổ tay thống
kê và chẩn đoán các rối loạn tâm thần DSM, vẫn được sử dụng như một công
cụ hỗ trợ đắc lực cho chẩn đoán RLLA Trong ICD 10 và DSM thì RLLA được chia thành nhiều loại khác nhau, nhưng trong phạm vi đề tài chúng tôi không đi vào liệt kê chi tiết các tiêu chuẩn dùng để phân biệt và đánh giá cho từng dạng rối loạn này
Trang 391.2.3 Nhận thức về RLLA
RLLA là một trong các rối loạn tâm lý có tính phổ biến cao, bệnh thường kết hợp với nhiều rối loạn khác như trầm cảm, rối loạn nhân cách, rối loạn ăn uống, rối loạn dạng cơ thể Lo âu ảnh hưởng đến các chức năng sống bình thường và làm hạn chế các giao tiếp xã hội của bệnh nhân
Trong nghiên cứu này, chúng tôi hiểu quá trình nhận thức của gia đình bệnh nhân theo mô hình của B.S.Bloom ở các mức độ: biết, hiểu và vận dụng
Cụ thể:
Mức 1: Biết về RLLA Là mức độ gia đình của bệnh nhân xác định và nhớ lại được thông tin về bệnh RLLA Quá trình hoạt động, giao tiếp của bản thân trước đó, họ đã có được những thông tin gì về bệnh Từ đó giúp họ hình dung, tự đưa ra lựa chọn biết về RLLA như thế nào và mức độ biết về bệnh đến đâu, thông qua các câu hỏi tình huống được đưa ra trong bảng hỏi
Mức 2: Hiểu về RLLA Với mức độ này, gia đình của bệnh nhân sẽ dựa trên những thông tin đã có về RLLA ở mức độ một để xác định và vận dụng vào lựa chọn, đưa ra các đáp án đúng theo sự hiểu của mình trong những câu hỏi nguyên nhân, biểu hiện về bệnh RLLA Từ đó có được những con số thống kê cụ thể về mức độ hiểu của gia đình về bệnh RLLA
Mức 3: Vận dụng Thể hiện qua việc vận dụng các hiểu biết, nhận thức của gia đình về bệnh để đưa ra những cách hỗ trợ cho bệnh nhân Ở giai đoạn này, sẽ cho thấy từ việc nhận thức về RLLA như vậy, gia đình sẽ vận dụng chúng như thế nào vào thực tiễn để có những hành vi hỗ trợ bệnh nhân Họ chủ động hay không và mức độ chủ động như thế nào trong việc tìm kiếm các nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài cũng như hành vi hỗ trợ từ chính bản thân họ đối với bệnh nhân
Tuy nhiên, chưa tìm thấy tài liệu nào nói về cách thức gia đình tìm kiếm các nguồn lực hỗ trợ ban đầu cho người mắc RLLA
Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của mình, chúng tôi xin được đưa vào thực trạng cách thức tìm kiếm nguồn lực hỗ trợ của gia đình đối với quá trình
Trang 40điều trị cho người mắc RLLA, từ đó phần nào có thể đưa ra nhận xét, đánh giá về thực trạng này
1.3 Các khái niệm liên quan
1.3.1 Gia đình
Gia đình là nơi con người sinh ra và lớn lên, là nơi mà con người được yêu thương, bảo vệ, chia sẻ… để có thể tồn tại và phát triển Ngay từ thời sơ khai, con người đã biết tập họp thành các nhóm nhằm bảo vệ, giúp đỡ nhau để sinh tồn, phát triển Theo sự phát triển xã hội, gia đình trong mọi thời đại vẫn luôn là chỗ dựa vật chất và tinh thần, gia đình luôn có vị trí đặc biệt quan trọng trong mỗi cá nhân Gia đình, vừa là cầu nối giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với xã hội và ảnh hưởng rất lớn tới sự tồn tại và phát triển của xã hội
Có nhiều định nghĩa về gia đình được đưa ra Có thể kể tới một vài định
nghĩa như: “Gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở hôn nhân và quan hệ huyết thống, những thành viên trong gia đình có sự gắn bó
và ràng buộc với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ có tính hợp pháp được nhà nước thừa nhận và bảo vệ” (51)
Hoặc “Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người” (55) Hoặc “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người,
là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” (67)
Theo Nguyễn Khắc Viện thì: “Gia đình là nơi bồi dưỡng về vật chất,
tinh thần, là chỗ dựa vững chắc cho mỗi cá nhân khi cuộc sống ngoài xã hội gặp khó khăn” (27)