Tóm lại, qua nghiên cứu các tư tưởng, quan điểm, bàn về dạy học và tự học, tổ chức HĐTH của các tác giả trên thế giới, có thể rút ra nhận xét: Tự học là cần thiết đối với tất cả mọi ngườ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC -*** -
PHAN THỊ KIM DUNG
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC VIÊN TRUNG CẤP Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VÀ KỸ THUẬT Ô
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC -*** -
PHAN THỊ KIM DUNG
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC VIÊN TRUNG CẤP Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VÀ KỸ THUẬT Ô TÔ, BỘ QUỐC PHÒNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Cấn Thị Thanh Hương
HÀ NỘI – 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng đào tạo và các cơ quan
chức năng của trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã tận tình giảng dạy, chỉ dẫn tôi trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp Đặc biệt, xin được
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Cấn Thị Thanh Hương đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, cán bộ, giáo viên và học viên
trung cấp đang học tập tại Trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô, Bộ Quốc Phòng đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và làm luận văn tốt nghiệp
Xin cảm ơn các đồng nghiệp, các anh, chị học viên lớp cao học quản lý
giáo dục K11 đã chia sẻ tinh thần, tình cảm cho tôi trong suốt khóa học
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục các ký hiệu, chữ cái viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các sơ đồ, bảng biểu v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Một số khái niệm có liên quan đến quản lý hoạt động tự học 10
1.2.1 Hoạt động tự học 10
1.2.2 Quản lý hoạt động tự học ….11
1.3 Đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tự học 22
1.3.1 Đặc điểm của quản lý hoạt động tự học 22
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tự học 23
1.4 Nội dung quản lý hoạt động tự học 26
1.4.1 Giáo dục động cơ tự học cho học viên 26
1.4.2 Quản lý nội dung tự học 27
1.4.3 Quản lý kế hoạch tự học 27
1.4.4 Quản lý phương pháp tự học 27
1.4.5 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động tự học 28
1.4.6 Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học 28
Kết luận chương 1 29
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC VIÊN TRUNG CẤP Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VÀ KỸ THUẬT Ô TÔ, BỘ QUỐC PHÒNG 30
2.1 Sơ lược vài nét về trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô 30
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 30
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 31
2.1.3 Tổ chức bộ máy của Nhà trường 32
2.1.4 Đối tượng đào tạo 37
2.2 Thực trạng quản lý HĐTH của HV trung cấp ở trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô, Bộ Quốc Phòng 39
2.2.1 Thực trạng HĐTH của HV trung cấp ở trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô, Bộ Quốc Phòng 40
Trang 62.2.2 Thực trạng quản lý HĐTH của HV trung cấp ở trường Cao đẳng Công
nghệ và Kỹ thuật Ô tô, Bộ Quốc Phòng 46
2.3 Nguyên nhân những hạn chế trong quản lý HĐTH của HV trung cấp ở trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô, Bộ Quốc Phòng 56
2.3.1 Nguyên nhân khách quan 56
2.3.2 Nguyên nhân chủ quan 57
Kết luận chương 2 ……… 59
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC VIÊN TRUNG CẤP Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VÀ KỸ THUẬT Ô TÔ, BỘ QUỐC PHÒNG 61
3.1 Định hướng để đề xuất biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên trung cấp ở trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô, Bộ Quốc Phòng 61 3.2 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp quản lý HĐTH của HV trung cấp ở trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô, Bộ Quốc Phòng 62
3.2.1 Đảm bảo tính hệ thống 62
3.2.2 Đảm bảo tính thực tiễn 62
3.2.3 Đảm bảo tính kế thừa 62
3.2.4 Đảm bảo tính hiệu quả, khả thi 63
3.2.5 Đảm bảo tính khoa học 63
3.3 Các biện pháp quản lý HĐTH của HV trung cấp ở trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô, Bộ Quốc Phòng 63
3.3.1 Kiện toàn đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và sửa đổi, bổ sung quy chế đào tạo, trong đó có nội dung quản lý HĐTH 63
3.2.2 Giáo dục động cơ tự học cho học viên 66
3.3.3 Quản lý nội dung tự học của học viên 72
3.3.4 Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch tự học của HV 75
3.3.5 Quản lý về kiểm tra - đánh giá kết quả HĐTH của học viên 78
3.3.6 Quản lý về các điều kiện đảm bảo cho HĐTH của HV 81
3.4 Mối liên hệ giữa các biện pháp 83
3.5 Khảo nghiệm về sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 85
Kết luận chương 3 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91
1 Kết luận 91
2 Khuyến nghị 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC .98
Trang 7DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý 13
Bảng 2.1 Số lượng cán bộ quản lý giáo dục 33
Bảng 2.2 Số lượng giáo viên trong nhà trường 33
Bảng 2.3: Số lượng cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên tham gia giảng dạy, quản lý học viên trung cấp 34
Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức Trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật ô tô 36
Bảng 2.4: Thực trạng về nhận thức về vai trò, ý nghĩa của tự học 40
Bảng 2.5: Thực trạng việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch tự học 41
Bảng 2.6: Thời gian dành cho hoạt động tự học 43
Bảng 2.7: Học viên xác định nội dung tự học 44
Bảng 2.8: Phương pháp tự học của học viên 45
Bảng 2.9: Thực trạng quản lý, xây dựng, bồi dưỡng và giáo dục động cơ tự học 46
Bảng 2.10: Thực trạng quản lý hướng dẫn học viên xây dựng kế hoạch tự học 49
Bảng 2.11: Thực trạng quản lý, hướng dẫn HV xây dựng nội dung tự học 49
Bảng 2.12: Thực trạng quản lý hướng dẫn học viên phương pháp tự học 51
Bảng 2.13: Thực trạng quản lý kiểm tra đánh giá kết quả HĐTH của HV 52
Bảng 2.14: Thực trạng quản lý các điều kiện đảm bảo cho HĐTH của HV 54
Bảng 2.15: Thực trạng công tác chỉ đạo quản lý HĐTH 55
Bảng 3.1: Mức độ cần thiết của các biện pháp 86
Bảng 3.1: Tính khả thi của các biện pháp 87
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ, sự hình thành xã hội thông tin, nền kinh tế tri thức đã làm xã hội loài người có những biến đổi sâu sắc, toàn diện với tốc độ cao, đòi hỏi mỗi người cần phải thường xuyên nâng cao trình độ năng lực thích ứng với những biến đổi đó Chỉ có tự học, tự bồi dưỡng liên tục, kịp thời thì mới có thể thích ứng được Bởi vì những kiến thức được đào tạo trong Nhà trường chỉ là những kiến thức cơ bản, tối thiểu và cũng nhanh chóng bị lạc hậu với thực tế, với công việc và luôn không theo kịp với tốc độ phát triển của xã hội Tự học sẽ giúp người học học những
gì phải học, cần học và qua tự học sẽ giúp người học củng cố hoàn thiện, cập nhật tri thức với thực tế cuộc sống, thích ứng với xã hội hiện đại
Trong những năm gần đây, xu hướng chủ đạo trong sự đổi mới quá trình dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, về mặt quan điểm, định hướng là chuyển sang quan điểm dạy học tích cực mà ý tưởng cốt lõi là người học phải tích cực, chủ động, tự chủ trong quá trình học tập Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa VIII cũng đã xác định: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước
áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho người học” Trong quá trình dạy học, người học vừa là đối tượng tác động của dạy học, lại vừa là chủ thể của quá trình đó Trong khi các hoạt động khác của con người hướng vào việc làm thay đổi đối tượng khách thể thì hoạt động học tập làm cho chính hoạt động chủ thể thay đổi Bằng hoạt động học tập, người học
tự hình thành và phát triển nhân cách của mình không ai có thể làm thay, mặc
dù trong dạy học có sự chỉ đạo, hướng dẫn trợ giúp của người dạy Tác động của người dạy chỉ có thể được phát huy khi thông qua hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Chính vì vậy, mục tiêu của quá trình dạy học
Trang 9cũng chính là mục tiêu của quá trình tự học Ngoài ra, tự học còn là con đường thử thách, rèn luyện và hình thành ý chí cao đẹp của mỗi người trên con đường lập nghiệp, là con đường tạo ra tri thức bền vững cho người học Do đó, nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học nói chung, HĐTH nói riêng có vai trò quan trọng, nó góp phần khắc phục nghịch lý: học vấn thì vô hạn mà thời gian học ở trường thì có hạn, đảm bảo tự học là một chìa khóa cho việc học tập
Theo luật giáo dục sửa đổi năm 2009, yêu cầu về phương pháp giáo dục được ghi rõ trong điều 5, chương I: “phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” Một trong những yêu cầu của đổi mới giáo dục hiện nay là nhằm phát triển tiềm năng, phát triển năng lực tự học của mỗi người, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Do đó, đề tài thuộc hướng ưu tiên của các cấp, các ngành trong đó có đối tượng HV trung cấp
“Đầu vào” của đối tượng trung cấp hiện nay theo hình thức xét tuyển nên chất lượng không cao Mặt khác, thời gian đào tạo của đối tượng trung cấp rút ngắn từ 3 năm xuống còn 2 năm mà mục tiêu đào tạo không giảm Do đó, để đạt được mục tiêu đặt ra cần phải đổi mới phương pháp dạy và phương pháp học, trong đó việc quản lý HĐTH của HV là một trong những phương pháp được chú trọng
Hiện nay, trước đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, các trường quân sự, trong đó có Trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô thuộc Tổng cục Kỹ thuật phải thực hiện nghiêm chỉnh Nghị Quyết 86 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương)
về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và nhân viên chuyên môn kỹ thuật - lực lượng nòng cốt của lực lượng
vũ trang
Việc nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo ở trường Cao đẳng Công nghệ
và Kỹ thuật Ô tô mà cốt lõi là nâng cao chất lượng quá trình dạy học Một
Trang 10trong các yếu tố quyết định chất lượng quá trình dạy học là chất lượng HĐTH của HV Tình hình HĐTH của HV trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô
tô trung cấp còn nhiều hạn chế, dẫn tới chất lượng thấp
Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần có sự xem xét, đánh giá thực trạng tình hình
tự học của HV hiện nay và những yếu tố cản trở việc nâng cao chất lượng tự học, từ đó xác định các biện pháp quản lý HĐTH, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô, đồng thời góp phần thực hiện “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”
Từ các lý do trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Biện pháp quản
lý hoạt động tự học của học viên trung cấp ở trường Cao đẳng Công nghệ
và Kỹ thuật Ô tô, Bộ Quốc Phòng”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động tự học để
đề xuất được các giải pháp quản lý HĐTH của HV trung cấp ở trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý, quản lý HĐTH
3.2 Khảo sát thực trạng quản lý HĐTH của HV trung cấp ở trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô
3.3 Xây dựng hệ thống các biện pháp quản lý HĐTH của HV trung cấp ở Trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô và đánh giá tính khả thi của các biện pháp
4 Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay, quản lý HĐTH của học viên trung cấp ở trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô còn nhiều hạn chế dẫn đến kết quả đào tạo chưa cao Nếu phân tích rõ nguyên nhân để từ đó xây dựng và áp dụng các biện pháp khả thi về quản lý HĐTH sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cho
Trang 11HV trung cấp ở Trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô đáp ứng mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường trong giai đoạn hiện nay
6 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
6 1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động tự học của học viên trung cấp ở trường Cao đẳng Công nghệ
và Kỹ thuật Ô tô, Bộ Quốc Phòng
6 2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý HĐTH của HV trung cấp ở Trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô, Bộ Quốc Phòng
7 Phương pháp nghiên cứu
7 1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá tài liệu
có liên quan đến lý luận về quản lý hoạt động tự học
- Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu lịch sử nghiên cứu vấn đề, phát hiện
và khai thác những khía cạnh mà các công trình nghiên cứu trước đây đã đề cập vấn đề tự học và quản lý HĐTH, làm cơ sở cho việc tiến hành các hoạt động nghiên cứu tiếp theo
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến của một số nhà khoa học, giảng viên, cán bộ quản lý có bề dày kinh nghiệm về một số vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến việc nghiên cứu đề tài
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát sư phạm
- Điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến cho các CBQL, GV, HV trung cấp
Trang 12- Xử lý số liệu bằng phương pháp toán thống kê
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học
- Các biện pháp đã xây dựng sau khi hoàn thiện có thể phổ biến trong trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô, Bộ Quốc Phòng và các cơ sở đào tạo trung cấp khác trong Quân đội góp phần đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học hiện nay
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học
Chương 2: Thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên trung cấp ở trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên trung cấp
ở trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô
Trang 13Một nghiên cứu khác về hoạt động học tập được trình bày trong cuốn sách “Học tập hợp lý” [29] R.Retzke chủ biên Ông coi việc học tập là một quá trình phát triển con người, không ai làm thay được người học trong các hoạt động của bản thân họ và nhấn mạnh: “Tiếp thu và tích luỹ hiểu biết - một nhiệm vụ của tự học” [29, tr22]
Năm 1986, A.MachiuSkin [1] đã nghiên cứu HĐTH như là một hình thức tổ chức dạy học bằng cách dạy phương pháp cho người học Theo tác giả, người ta có thể dạy phương pháp cho HV bằng nhiều hình thức khác nhau tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh, tuỳ theo tính chất đặc thù môn học và nội dung yêu cầu của bài học Nhưng theo ông dù tuân theo hình thức nào thì cũng phải thực hiện theo các giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1: GV thiết kế bài tập và cung cấp nguồn tài liệu cần thiết cho bài tập và chỉ dẫn cụ thể những gì HV phải làm để hoàn thành bài tập
- Giai đoạn 2: GV tổ chức cho HV tự nghiên cứu, tự làm bài tập với sự
hỗ trợ của những thông tin có sẵn
- Giai đoạn 3: GV làm việc với HV trên lớp theo hình thức cá nhân hay tập thể thông qua những hình thức khác nhau: Thảo luận, xêmina, củng cố ôn tập, xây dựng bài giảng, kiểm tra đánh giá, tự kiểm tra, tự đánh giá
Trang 14Đây là lí thuyết mới về tổ chức tự học dưới góc độ nhìn nhận tự học như
là một phương pháp dạy học
Tóm lại, qua nghiên cứu các tư tưởng, quan điểm, bàn về dạy học và tự học, tổ chức HĐTH của các tác giả trên thế giới, có thể rút ra nhận xét: Tự học là cần thiết đối với tất cả mọi người và được nhiều tác giả trên thế giới quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau như phát huy tính tích cực học tập của người học, tối ưu hoá việc học bằng dạy học chương trình hoá, áp dụng công nghệ dạy học, tổ chức dạy học phân hoá, dạy học theo nhịp độ cá nhân, dạy phương pháp học cho người học để đạt được hiệu quả cao nhất ở người học Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học, tự học, đã để lại cho chúng ta nhiều tư tưởng giáo dục có giá trị: Hồ Chí Minh - một tấm gương sáng, điển hình về việc tự học Khi nói về công tác huấn luyện cán bộ, người chỉ ra “Lấy tự học làm cốt” [22] Lời dạy này của Bác có hàm ý phải kết hợp chặt chẽ nội lực - môi trường và sự quản lý Người đề cao tinh thần học tập chủ động, là nhu cầu nội lực của người học “phải biết tự động học tập”
Từ những năm 70 trở lại đây, trong các tài liệu về lý luận dạy học, nhiều giáo trình đã viết về tự học với tư cách là một hình thức tổ chức dạy học ở đại học, nhằm bồi dưỡng lý luận cơ bản về tự học cho người học, giúp người học vận dụng có hiệu quả vào hoạt động học tập của mình Ngoài ra, có nhiều bài báo của các nhà giáo, nhà quản lý giáo dục, nhà khoa học viết về vấn đề tự học của người học được đăng tải chủ yếu ở các tạp chí giáo dục như bài viết: Tình hình tự học của sinh viên Đại học ngoại ngữ- Đại học Quốc gia Hà Nội 15, Đặng Quốc Bảo với bài viết: "Tấm gương tự học của Bác", báo giáo dục -thời đại, số 5/1998, Trần Bá Hoành với bài viết: "Vị trí tự học, tự đào tạo trong quá trình dạy học, giáo dục - đào tạo" Tạp chí nghiên cứu giáo dục, số 7/1998
“Luận bàn và kinh nghiệm về tự học”[31] do tác giả Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên Các tác giả đã quan niệm tự học gần với quan niệm tự đào tạo, tự học thường xuyên suốt đời của mỗi con người với những nội dung cơ bản: sự học là gì, phương châm học, các yếu tố, mâu thuẫn, trở lực, điều kiện, phương
Trang 15tiện của việc tự học như thế nào Các tác giả hy vọng góp phần phổ biến, bồi dưỡng kinh nghiệm tự học cho mọi người, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn bộc bạch: “Tôi muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc khơi ra và nhân lên kinh nghiệm tự học của nhân dân ta, một tài nguyên quý giá mà theo tôi chưa được khai thác mấy”[32]
Ngoài ra, vấn đề tự học còn được nghiên cứu trong nhiều các luận văn thạc sỹ theo hướng được coi như là một hình thức tổ chức ngoài giờ lên lớp
và được phối hợp với các hình thức tổ chức dạy học khác như: "Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng tự học của sinh viên Học viện Quân Y" của tác giả Quản Thành Minh,“Một số biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh THPT nội trú Đồ Sơn” của tác giả Trịnh Khắc Hậu v.v
Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định tự học có một ý nghĩa
và vai trò rất quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người, là nhân tố trọng yếu nâng cao chất lượng dạy và học, là yếu tố cơ bản
để người học lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và hình thành thái độ mới Kiểm tra đánh giá là khâu then chốt nhằm giúp GV điều chỉnh, điều khiển hoạt động dạy của mình, điều khiển, điều chỉnh hoạt động học của HV, đồng thời giúp người học tự điều khiển, tự điều chỉnh hoạt động học tập nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động dạy học Bên cạnh đó, kiểm tra đánh giá còn là một nhân tố phát huy tính tích cực của người học trong quá trình tự học và hình thành kĩ năng tự đánh giá ở HV
Nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc tự học, các trường quân sự đã quan tâm thúc đẩy HĐTH cho HV như tổ chức hội nghị, các diễn đàn để trao đổi kinh nghiệm về tự học Lý luận về tự học còn được bàn ở các chương, mục viết về tự học với tư cách là một hình thức tổ chức dạy học ở Nhà trường đại học quân sự, trong các giáo trình giáo dục học quân sự và nhiều bài báo khoa học của cán bộ, GV viết về vấn đề này được đăng tải trên các tạp chí
“Nhà trường quân đội”, “Khoa học quân sự”, “Khoa học xã hội và nhân văn”,
“giáo dục lý luận chính trị quân sự” Cũng đã có nhưng luận văn thạc sỹ, luận
Trang 16án tiến sỹ nghiên cứu về vấn đề này như Hồ Bá Cảnh với luận văn thạc sĩ
“Một số phương hướng nâng cao chất lượng tự học của HV trường sĩ quan chính trị”, Trịnh Quang Từ với luận án phó tiến sĩ “Những phương hướng tổ chức HĐTH của HV các trường quân sự”[36] đã đi sâu vào các phương hướng tổ chức HĐTH của HV các trường quân sự Đó là:
- HĐTH của người học diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của người dạy và những phương tiện kỹ thuật trên lớp Để việc học tập có kết quả, người học phải phát huy năng lực, các phẩm chất như khả năng chú ý, óc phân tích, năng lực tổng hợp, khái quát hóa tiếp thu tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo
mà người dạy định hướng Đây là hình thức tự học ở mức độ thấp
- Tự học của người học được diễn ra có sự điều khiển gián tiếp của người dạy Người học phải tự sắp xếp quỹ thời gian và điều kiện vật chất để
tự học, tự ôn tập, tự củng cố, tự chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo về một lĩnh vực nào đó Đây là hình thức tự học ở mức độ trung bình
- Tự học ở mức độ cao là không có sự hướng dẫn trực tiếp hay gián tiếp của người khác Người học tự tìm kiếm tri thức để thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của mình bằng cách tự lập kế hoạch tự học, tự tìm tài liệu nghiên cứu, tự thực hiện kế hoạch, tự rút kinh nghiệm về tư duy, tự phê bình về tính cách và tự đánh giá kết quả học tập của bản thân
Từ các công trình nghiên cứu về tự học đã tổng quan ở trên, có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Về vấn đề tự học đã được các nhà giáo dục nói tới từ thời cổ xưa đến nay Tự học được tiếp cận cả ở phạm vi rộng và hẹp Ở phạm vi rộng tự học gắn liền với tự học thường xuyên, tự học tập suốt đời Ở phạm vi hẹp, tự học gắn với quá trình học tập, đào tạo tại Nhà trường
- Vấn đề tự học của ở Việt Nam, đã có nhiều công trình chuyên khảo, đề tài nghiên cứu với các khía cạnh khác nhau Việc bồi dưỡng phương pháp tự học cho HV trong các Nhà trường đại học quân sự đã có những đề tài nghiên cứu, song nghiên cứu về quản lý HĐTH của HV trung cấp, Trường Cao đẳng
Trang 17Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô thuộc Tổng cục Kỹ thuật/ Bộ Quốc Phòng thì chưa
có công trình nghiên cứu, chưa giải quyết được đòi hỏi của thực tiễn Vì vậy, cần có các biện pháp quản lý HĐTH cho HV, vấn đề này đòi hỏi phải trở thành một mục tiêu và nhiệm vụ để nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường Những kết quả nghiên cứu về tự học ở trên chính là tiền đề cho việc xây dựng cơ sở lý luận về HĐTH của đề tài
1.2 Một số khái niệm có liên quan đến quản lý hoạt động tự học
1.2.1 Hoạt động tự học
1.2.1.1 Tự học
Theo từ điển tiếng Việt (1994), “Tự”: từ biểu thị hoạt động do chủ
thể tiến hành không nhờ đến kẻ khác hoặc có ý nghĩa phản thân: tự giác, tự lực Với cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã đưa ra những khái niệm khác
nhau về tự học:
+ Theo Đặng Hữu Hoạt, Hà Thị Đức: “Tự học là một hình thức tổ chức
dạy học cơ bản ở đại học Đó là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình
và sách giáo khoa đã quy định” [16, tr.42]
+ Theo GS, TS Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não,
suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”[31, tr.76]
+ Theo GS Vũ Văn Tảo: “Học, cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển
nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình…”[30]
Qua các khái niệm về tự học đã nêu trên, có thể khái quát: Tự học là
hoạt động nhận thức độc lập của từng người học, tự phát huy năng lực cá nhân
để thực hiện các nhiệm vụ tự học xác định Tự học là “tự động học tập”, thể
hiện tính tự lực, tự giác, tích cực cao trong quá trình lĩnh hội kiến thức, rèn
Trang 18luyện kỹ năng Vì vậy, tự học mang đậm sắc thái cá nhân, biểu hiện ở: tự xác định mục tiêu chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hoàn thành các nhiệm
vụ tự học cụ thể đặt ra trong từng giờ học, buổi học; tự lập kế hoạch, tiến độ, thời gian tự học phù hợp với mục tiêu tự học đã xác định; tự xác định nội dung, nhiệm vụ, lựa chọn phương pháp tự học, sử dụng phương tiện tự học phù hợp;
tự kiểm tra - đánh giá, tự điều chỉnh việc học của bản thân
1.2.1.2 Hoạt động tự học
Theo Lưu Xuân Mới: “Hoạt động là sự tương tác tích cực của chủ thể vào đối tượng nhằm biến đổi đối tượng theo mục đích mà chủ thể tự giác đặt
ra để thỏa mãn nhu cầu của bản thân” [23, tr.41]
Hoạt động nảy sinh từ nhu cầu nhưng lại được điều chỉnh bởi mục tiêu
mà chủ thể nhận thức được, nghĩa là nhu cầu, là cơ sở xuất phát, là động cơ của hoạt động, nhưng nội dung, hình thái của hoạt động lại chịu sự chi phối bởi mô hình lý tưởng của kết quả mong muốn, của sự biến đổi đối tượng Cấu trúc hoạt động gồm ba cấp độ từ thấp đến cao: cấp bậc thao tác, cử động; cấp bậc hành động và cấp bậc hoạt động
Hoạt động gồm hai thành tố cơ bản là chủ thể và đối tượng, đồng thời
và đối tượng được cải tạo
Như vậy, HĐTH là quá trình tổ chức nhận thức độc lập, tự phát huy năng lực cá nhân một cách tích cực, tự giác, tự lực chiếm lĩnh tri thức khoa học
Trang 19Mariy Parker Folett., Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc …Điểm chung của các định nghĩa QL là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định
- Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về quản lý: Quản lý xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra
- Theo William - Tay Lor: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất
- Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: "Quản lý là sự
tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý), trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức"
Sau khi xem xét các khái niệm về quản lý, có thể sử dụng khái niệm quản
lý dưới đây trong hoạt động quản lý nhà trường: Quản lý là quá trình lập kế
hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các bộ phận, các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được mục đích đã định
- Chức năng quản lý: Quản lý là một quá trình mà chủ thể quản lý tác
động đến khách thể quản lý bằng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo kiểm tra đánh giá, dựa trên những nguồn lực và những điều kiện có thể nhằm đạt được mục đích của tổ chức
Thông qua cách tiếp cận và xem xét quản lý với tư cách là một hành động thì quản lý có 4 chức năng cơ bản là: Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và
Trang 20kiểm tra các công việc của các thành viên trong tổ chức và việc sử dụng tất cả các khả năng, cách tổ chức để đạt được mục tiêu mà tổ chức đã đề ra
Bốn chức năng trên quan hệ với nhau tạo thành một chu trình quản lý, được biểu diễn bằng sơ đồ hình 1.1:
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ các chức năng quản lý
- Lập kế hoạch: Bao gồm việc xác định sứ mệnh, nhiệm vụ, dự báo xu
hướng trong tương lai của tổ chức trên cơ sở thu thập và phân tích các thông tin
và điều kiện thực tế của tổ chức Từ đó, xác định các mục tiêu, các kế hoạch mang tính chiến lược, chiến thuật dựa trên việc tính toán về điều kiện thực tế các nguồn lực của tổ chức và xây dựng các giải pháp thực hiện Thực chất của việc lập kế hoạch là xác định mục tiêu của tổ chức và cách thức hoạt động, thực hiện của tổ chức để đặt được mục tiêu đó trong điều kiện nhất định
- Tổ chức: Chức năng này được xem như là công cụ của quản lý và có ý
nghĩa quan trọng nhất trong hoạt động quản lý Hoạt động quản lý có đạt được mục tiêu hay không, có thực hiện được kế hoạch hoặc không thì công tác tổ chức giữ vai trò quyết định
Tổ chức là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả Ứng với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc của tổ chức của đơn vị cũng khác nhau Người quản lý cần lựa chọn
Kế hoạch hóa
Tổ chức Kiểm tra,
đánh giá
Chỉ đạo Thông tin quản lý
Trang 21cấu trúc tổ chức phù hợp với những mục tiêu và nguồn lực hiện có Quá trình
đó còn gọi là thiết kế tổ chức
Một cơ cấu tổ chức cần phải được thiết kế để chỉ rõ ra rằng, ai sẽ làm việc gì và ai chịu trách nhiệm về những kết quả nào, để loại bỏ những trở ngại đối với việc thực hiện do sự nhầm lẫn và không chắc chắn trong việc phân công công việc gây ra và tạo điều kiện cho các mạng lưới ra quyết định, liên lạc phản ảnh và hỗ trợ cho các mục tiêu của tổ chức
- Lãnh đạo: Việc thống nhất một đường lối hành động mà mọi bộ phận
của tổ chức phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu cần thiết Tuy nhiên, để thực hiện được mục tiêu này thì chức năng lãnh đạo của nhà quản lý phải được thực hiện một cách có hiệu quả Đó là quá trình điều hành, điều khiển, tác động, huy động và giúp đỡ những cán bộ, nhân viên dưới quyền thực hiện những nhiệm vụ được phân công Hoạt động lãnh đạo là làm việc với con người một cách khái quát, lãnh đạo được xác định như là sự tác động, như một nghệ thuật hay một quá trình tác động đến con người sao cho họ sẽ
tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức Một cách lý tưởng, mọi người cần được khuyến khích để phát triển không chỉ sự
tự nguyện làm việc mà còn tự nguyện làm việc với sự sốt sắng và tin tưởng,
sự sốt sắng và sự nhiệt tình, nghiêm chỉnh và chăm chú trong thực hiện công việc, sự tin tưởng, thể hiện kinh nghiệm và khả năng kỹ thuật
- Kiểm tra: Đối với hoạt động quản lý thì kiểm tra, đánh giá là khâu
quan trọng, then chốt giúp nhà quản lý đánh giá được kết quả thực hiện mục tiêu kế hoạch trên cơ sở so sánh với các tiêu chuẩn theo quy định Mặt khác, kiểm tra đánh giá cũng giúp cho các nhà quản lý phát hiện được những hạn chế của hệ thống để kịp thời điều chỉnh hoạt động và trong những trường hợp cần thiết có thể phải điều chỉnh cả mục tiêu để thông qua việc điều chỉnh kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo để hoạt động quản lý đạt được mục tiêu quản lý
Có ba yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:
+ Xây dựng các tiêu chuẩn
Trang 22Các tiêu chuẩn là các chỉ tiêu thực hiện nhiệm vụ, chúng là những điểm được lựa chọn trong toàn bộ chương trình kế hoạch, mà tại đó những phép đo
về việc thực hiện nhiệm vụ sẽ được tiến hành nhằm cung cấp cho những người quản lý những dấu hiệu sao cho những công việc sẽ diễn ra mà họ không cần phải quan sát mọi bước trong việc thực hiện kế hoạch
Có nhiều loại tiêu chuẩn, trong đó tốt nhất là các đích hoặc các mục tiêu, được thể hiện dưới dạng số lượng hoặc chất lượng, được thiết lập một cách thường xuyên trong hệ thống hoạt động tốt, theo cách quản lý bằng mục tiêu + Đo lường việc thực hiện
Việc đo lường sự thực hiện nhiệm vụ dựa theo các tiêu chuẩn để có thể phát hiện được những sai lệch Nếu các tiêu chuẩn được vạch ra một cách thích hợp và nếu các phương tiện có khả năng để xác định một cách chính xác rằng các cấp dưới đang làm gì, thì việc đánh giá sự thực hiện thực tế là việc tương đối dễ dàng Nếu có sự sai lệch thì cần điều chỉnh hoạt động Trong trường hợp cần thiết có thể điều chỉnh mục tiêu
+ Điều chỉnh các sai lệch
Các nhà quản lý tiến hành đo lường kết quả thực hiện, so sánh kết quả
đo lường này với các tiêu chuẩn, rồi xác định và phân tích những sai lệch Nhưng sau đó, để thực hiện những sự điều chỉnh cần thiết, họ phải đưa ra một chương trình cho hoạt động điều chỉnh và thực hiện chương trình này nhằm đi tới kết quả mong muốn
- Ngoài 4 chức năng quản lý cơ bản trên, trong thực hiện quá trình quản
lý không thể không đề cập đến thông tin quản lý và quyết định quản lý
+ Thông tin quản lý là những dữ liệu về tình hình thực hiện các nhiệm vụ
đã được xử lý giúp người quản lý hiểu đúng về đối tượng quản lý mà họ đang quan tâm để phục vụ cho việc đưa ra các quyết định quản lý cần thiết
+ Quyết định quản lý là sản phẩm của người quản lý trong quá trình thực hiện các chức năng quản lý Mỗi chức năng có vị trí, vai trò riêng, song nó luôn quan hệ khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành chu trình quản
Trang 23lý, trong đó chất xúc tác và liên kết giữa các chức năng cơ bản này là thông tin quản lý và quyết định quản lý
1.2.2.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
Khi nghiên cứu về giáo dục, tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng
xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [3]
Đồng thời tác giả Nguyễn Ngọc Quang khi nghiên cứu về Quản lý giáo dục quan niệm: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích có
kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà mục tiêu là điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng mới về chất” [25]
Từ những khái niệm khác nhau về quản lý giáo dục có thể khái quát:
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt mục tiêu đã đề ra Quản lý giáo dục có thể hiểu là sự quản lý hệ thống
giáo dục và đào tạo bao gồm một hay nhiều cơ sở giáo dục, trong đó nhà trường là đơn vị cơ sở diễn ra các hoạt động quản lý giáo dục cơ bản nhất Dựa vào phạm vi quản lý, người ta chia quản lý giáo dục thành hai loại:
- Quản lý hệ thống giáo dục: Quản lý giáo dục được diễn ra ở tầm vĩ mô, trong phạm vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ địa phương (tỉnh, thành phố)
- Quản lý nhà trường: Quản lý giáo dục ở tầm vi mô trong một đơn vị, một cơ sở giáo dục
Nhà trường vừa là khách thể chính của mọi cấp quản lý từ Trung ương đến địa phương, vừa là một hệ thống độc lập trong xã hội Chất lượng của giáo dục và đào tạo chủ yếu do các nhà trường chịu trách nhiệm Vì vậy, khi
Trang 24nói đến quản lý giáo dục phải nghĩ đến quản lý nhà trường cũng như hệ thống các nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh" [14, tr.61]
Như vậy, quản lý nhà trường là một chuỗi hoạt động quản lý mang tính
tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm làm cho quá trình giáo dục và đào tạo vận hành một cách tối ưu tới mục tiêu dự kiến
Xét về lý luận và thực tiễn thì quản lý nhà trường gồm hai loại:
Tác động của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường Đây là những tác động quản lý của các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập, giáo dục của nhà trường, bao gồm các chỉ dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường, hỗ trợ và tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó
Quản lý nhà trường do chủ thể quản lý bên trong nhà trường bao gồm các hoạt động như: quản lý giáo viên, quản lý học sinh, quản lý quá trình dạy học của giáo viên, quản lý hoạt động học tập của học sinh, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, quản lý tài chính v.v
1.2.2.3 Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý quá trình dạy học là quản lý hệ thống bao gồm các nhân tố: mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hoạt động dạy của thầy, hoạt động học của trò v.v
Các nhân tố cấu trúc này có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau nhằm tạo ra chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học Trong các nhân
tố trên, hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò là nhân tố trung tâm của quá trình dạy học bởi các hoạt động khác của nhà trường đều hướng vào
Trang 25hai hoạt động trọng tâm này Do vậy, trọng tâm của quản lý nhà trường chính
là quản lý quá trình dạy học và giáo dục, đó chính là quản lý quá trình lao động sư phạm của người thầy và hoạt động học tập, rèn luyện của người trò diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học
Quá trình dạy học là một quá trình thống nhất, theo tác giả Đặng Quốc Bảo: 10 yếu tố hạt nhân hình thành và phát triển quá trình đào tạo thì mối quan hệ giữa dạy và học có tác động qua lại lẫn nhau, thầy dạy là truyền thụ kiến thức (sản phẩm có sẵn) và tổ chức điều khiển các hoạt động nhận thức của người học nhằm hình thành cho người học năng lực, phương pháp và ý chí học tập Người học khai phá kiến thức, tự đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ nhận thức và nắm chắc kiến thức Người thầy phải giữ vai trò quyết định trong quá trình nhận thức của học viên với tư cách là người tổ chức và kiểm tra, chất lượng dạy học sẽ đạt hiệu quả cao khi hoạt động dạy của người thầy và hoạt động học của người học có sự cộng hưởng lẫn nhau
Quá trình dạy học là sự phối hợp thống nhất và biện chứng của yếu tố ngoại lực bao gồm các hoạt động chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức của thầy với những yếu tố nội lực bao gồm các hoạt động lĩnh hội, tự giác, tích cực, tự lực, sáng tạo của trò nhằm đạt mục đích cuối cùng và đúng nghĩa của dạy học Quá trình dạy học tối ưu chính là thực hiện được sự thống nhất biện chứng, trong đó dạy chỉ đạo học, học vừa được chỉ đạo vừa tự chỉ đạo Chất lượng giáo dục được thể hiện rõ nét nhất ở sự tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập thông qua phương pháp dạy học của GV, biến quá trình dạy học của GV thành quá trình tự học của HV, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
Như vậy, quản lý quá trình dạy học chính là hệ thống tác động sư phạm
có mục đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học viên và các lực lượng khác nhằm huy động, lôi kéo, phối hợp sức lực, trí tuệ của các lực lượng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả của mục tiêu đào tạo
Trang 261.2.2.4 Quản lý hoạt động tự học
Quản lý hoạt động tự học là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quản lý giáo dục nói chung và quản lý nhà trường nói riêng, là bộ phận cấu thành nên hệ thống quản lý quá trình giáo dục, đào tạo trong nhà trường Quản lý hoạt động tự học của HV bao gồm hai quá trình cơ bản là quản lý hoạt động tự học trong giờ lên lớp và quản lý hoạt động tự học ngoài giờ lên lớp, được tiến hành trên cả hai phương diện ở trường và ở nhà Tuy nhiên đối với các nhà trường trong quân đội nói chung và trường Cao đẳng Công nghệ
và Kỹ thuật Ô tô nói riêng thì công tác quản lý hoạt động tự học của HV được diễn ra chủ yếu trong môi trường nhà trường Đây là điểm khác biệt với các
cơ sở đào tạo dân sự
Quản lý HĐTH là sự tác động của chủ thể quản lý đến quá trình tự học của HV làm cho HV tích cực, chủ động tự chiếm lĩnh tri thức bằng sự cố gắng
nỗ lực của chính mình Quản lý hoạt động tự học của HV có liên quan chặt chẽ với quá trình tổ chức dạy học của GV
Như vậy, quản lý hoạt động tự học là một hệ thống các tác động sư
phạm có mục đích, phương pháp, kế hoạch của các lực lượng giáo dục trong
và ngoài nhà trường đến toàn bộ quá trình tự học của học viên nhằm thúc đẩy học viên tự giác, tích cực, chủ động tự chiếm lĩnh tri thức bằng sự cố gắng nỗ lực của chính bản thân
- Vai trò của hoạt động tự học trong giáo dục - đào tạo
Tự học giúp người học nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp tương lai của mình, biến kinh nghiệm lịch sử của loài người thành vốn tri thức của chính mình Qua tự học sẽ giúp người học tự kiểm tra mức độ kết quả lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo để người học tự điều chỉnh hoạt động học tập của mình, đồng thời rèn luyện người học có ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì,
óc phê phán, bồi dưỡng hứng thú học tập
Tự học sáng tạo của người học là mục tiêu của dạy học, hình thành và phát triển ở người học những năng lực và phẩm chất phù hợp với mục tiêu giáo
Trang 27dục, tức là biến quá trình dạy học thành quá trình tự học Mối quan hệ giữa dạy
- tự học về bản chất là mối quan hệ giữa ngoại lực và nội lực Tác động dạy của thầy dù là quan trọng đến mức “không thầy đố mày làm nên” vẫn chỉ là ngoại lực hỗ trợ, thúc đẩy, xúc tác, tạo điều kiện cho trò tự học, tự phát triển Tự học của trò là nội lực quyết định sự phát triển bản thân người học Người học là chủ thể trung tâm, tự mình chiếm lĩnh tri thức bằng hành động của chính mình, tự phát triển từ bên trong Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi tạo
ra tự học sáng tạo của người học, khi kết hợp được quá trình đào tạo với quá trình tự đào tạo Cho nên tự học - tự đào tạo là con đường phát triển của mỗi con người và của giáo dục - đào tạo…
Triết học Mác - Lê Nin khẳng định tự học trong quá trình giáo dục là
yếu tố quan trọng đóng vai trò nguyên nhân bên trong, động lực thực sự của việc học sinh tự giác học tập
Tâm lý học cũng chỉ ra rằng sự phát triển của con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó giáo dục và hoạt động của cá nhân là quan trọng nhất Hoạt động của cá nhân là yếu tố đóng vai trò trực tiếp quyết định năng lực và phẩm chất của con người
Đánh giá về vai trò, tầm quan trọng của tự học, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã từng dạy: “Về cách học tập phải lấy tự học làm cốt” 22 Quá trình tự học
như thế có thể hiểu là sự chuyển hoá quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục, là sự biến đổi bản thân trở nên có thêm giá trị bằng nỗ lực của chính mình để chiếm lấy giá trị bên ngoài, là một hành trình nội tại được “cắm mốc” bởi kiến thức, phương pháp tư duy và thực hiện tự phê bình để tự hiểu bản thân mình
Các lý luận trên không có nghĩa là xem nhẹ vai trò, trách nhiệm của
GV trong quá trình dạy học mà GV đóng vai trò chủ đạo, kích thích, động viên, dẫn đường cho HV học tập có hiệu quả và đúng cách Thông qua tự học giúp HV nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và nghề nghiệp trong tương lai; giúp HV không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi còn học
Trang 28trong trường, đồng thời giúp HV rèn luyện nhân cách, hình thành nền nếp làm việc khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức kiên trì, óc phê phán và hứng thú học tập; không ngừng làm phong phú, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của mình, giúp họ tránh được lạc hậu trước sự “bùng nổ thông tin” trong thời đại hiện nay
Tự học - tự đào tạo tiềm ẩn trong mỗi con người Nếu biết kết hợp quá trình đào tạo với quyết tâm tự học thì đó sẽ là con đường để khắc phục được những hạn chế trong giáo dục - đào tạo hiện nay như dạy nhồi nhét, trò thụ động Vì vậy, tự học đóng một vai trò to lớn trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của người học trong việc chiếm lĩnh tri thức khoa học
Tự học đối với HV trong nhà trường Quân đội có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm giúp HV rèn luyện thói quen lao động trí óc, khả năng suy nghĩ, phán đoán độc lập, rèn luyện phẩm chất tự giác, tự giáo dục, ý thức chấp hành nội quy, kỷ luật của Quân đội, xây dựng thái độ, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng tự hoàn thiện bản thân để có thể vận dụng linh hoạt trong thực tiễn chiến đấu sau này
1.2.2.5 Biện pháp quản lý hoạt động tự học
Theo từ điển tiếng Việt (1994), biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành giải quyết một vấn đề cụ thể
Biện pháp quản lý là tổ hợp các phương pháp, các hình thức tiến hành của chủ thể quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết những vấn đề cụ thể của hệ quản lý, làm cho hệ vận hành phát triển đạt được mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra và phù hợp với quy luật khách quan
Biện pháp quản lý hoạt động tự học: là những cách làm, cách giải quyết, cách thức tiến hành của nhà quản lý hợp quy luật, tác động đến các lĩnh vực trong quản lý HĐTH của HV nhằm thúc đẩy HV tự giác, tích cực, chủ động
tự chiếm lĩnh tri thức bằng sự cố gắng nỗ lực của chính bản thân HV
Trang 29Để quản lý tốt hoạt động tự học của HV có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, nhưng có thể chia thành ba nhóm biện pháp chính:
- Biện pháp quản lý có tính chất hành chính, quy chế: Căn cứ điều lệ trường trung cấp, điều lệnh quân đội, quy chế quản lý giáo dục HV các trường trong quân đội, quy định quản lý việc dạy học trên lớp của GV và việc học tập của HV
- Biện pháp quản lý có tính chất đặc thù: Thông qua việc soạn bài trước khi lên lớp, GV thiết kế các tình huống để tạo hứng thú học tập, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HV, thu hút HV vào HĐTH ngay trong các giờ lên lớp Thông qua việc giao nội dung lý thuyết, bài tập để HV tự học ngoài giờ lên lớp
- Biện pháp quản lý mang tính chất kích thích hoạt động của cá nhân: Tổ chức các hoạt động thi đua giữa cá nhân, nhóm, tập thể lớp và trong toàn trường Động viên, khen thưởng kịp thời những cá nhân có thành tích cao trong học tập, những tập thể có phong trào tự quản tốt trong học tập để kích thích hứng thú và hình thành ý thức tự học trong HV
1.3 Đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tự học
1.3.1 Đặc điểm của quản lý hoạt động tự học
Trong quá trình dạy học, HV có thể tiến hành hoạt động học tập dưới nhiều hình thức khác nhau trong những điều kiện khác nhau Khi người học
tự mình huy động những phẩm chất, năng lực để tiến hành các hành động tìm tòi, khám phá độc lập nhằm mục đích chiếm lĩnh tri thức, tức là họ tiến hành HĐTH HĐTH của HV có thể diễn ra dưới sự chỉ đạo của GV Khi đó, người học là chủ thể nhận thức tích cực, họ phải huy động mọi phẩm chất tâm lý cá nhân, tiến hành những hành động học tập để lĩnh hội kiến thức theo sự dẫn dắt trực tiếp của GV
Khi không có GV điều khiển trực tiếp, người học tự mình sắp xếp kế hoạch, huy động các điều kiện vật chất và năng lực bản thân để củng cố, đào sâu, mở rộng và hoàn chỉnh kiến thức, hoàn thành nhiệm vụ học tập mà GV
Trang 30giao, lĩnh hội một phần kiến thức mới Đó là HV tự học dưới sự điều khiển gián tiếp của GV nhằm hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ dạy - học
Trong quá trình học tập, ngoài những hoạt động được tiến hành dưới sự
tổ chức, điều khiển của GV, người học còn tiến hành HĐTH nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao hiểu biết riêng, bổ sung và mở rộng tri thức ngoài chương trình đào tạo đã quy định Như vậy, HĐTH của HV có phạm vi rất rộng: từ tự học trên lớp dưới sự điều khiển trực tiếp của GV, tự học ngoài giờ lên lớp dưới sự điều khiển gián tiếp của GV và tự học hoàn toàn độc lập không có sự
tổ chức, điều khiển của GV
Do mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ xem xét việc quản lý HĐTH của HV trung cấp ở trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật
Ô tô ngoài thời gian lên lớp, trong quá trình dạy - học và luôn đặt dưới sự điều khiển gián tiếp của GV, đặt dưới sự tổ chức, quản lý của cán bộ đại đội, tiểu đoàn quản lý HV nhằm hoàn thành mục đích, nhiệm vụ dạy học của nhà trường HĐTH của HV được đề cập ở đây là quá trình độc lập, nỗ lực của người học nhằm củng cố, mở rộng và vận dụng kiến thức đã được lĩnh hội qua các hình thức lên lớp Là quá trình người học tự tổ chức hoạt động lĩnh hội của mình một cách tự giác, độc lập, sáng tạo Trong quá trình tự học, người học tự xác định mục tiêu, sắp xếp bố trí nội dung tự học theo một trình
tự hợp lý, phân phối thời gian cho từng nội dung, lựa chọn phương tiện, vất chất, tự huy động năng lực cá nhân để hoàn thành công việc, tự kiểm tra và tự điều chỉnh HĐTH của mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ tự học đề ra
Với ý nghĩa đó, đề tài quan tâm đến quản lý HĐTH như là quản lý các hoạt động của người học trong quá trình tự học ngoài giờ lên lớp và quản lý các điều kiện đảm bảo cho HĐTH nhằm làm cho HĐTH của người học đạt hiệu quả cao, hoàn thành nhiệm vụ dạy - học
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tự học
Quản lý HĐTH là một mắt xích quan trọng trong hệ thống chuỗi quản lý nhà trường Từ cơ sở lý luận đã đề cập ở mục 1.2.2.4 và quản lý nhà trường thấy rõ, quản lý HĐTH bị tác động ảnh hưởng của nhiều yếu tố, đó là:
Trang 311.3.2.1 Ảnh hưởng của những yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế,
xã hội, an ninh, quốc phòng (gọi tắt là phát triển xã hội)
Đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước; các nghị quyết, chỉ thị, thông
tư, hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Quốc Phòng có liên quan tới quá trình giáo dục đào tạo của GV và HV nhà trường
Quản lý nhà trường trong đào tạo nghề nghiệp (trung cấp chuyên nghiệp
và các trình độ đào tạo nghề khác) trong đó có quản lý HĐTH đều nhằm mục đích tạo ra nguồn nhân lực kỹ thuật nghiệp vụ có kiến thức, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp đáp ứng được các yêu cầu của xã hội trong từng lĩnh vực Sự thỏa mãn các yêu cầu đó chính là thước đo chất lượng đào tạo mà cụ thể là kết quả của quản lý HĐTH
Các yêu cầu của xã hội có tác động điều chỉnh mục tiêu đào tạo và các chuỗi hoạt động quản lý trong nhà trường, quản ly HĐTH
1.3.2.2 Ảnh hưởng của nội dung, chương trình đào tạo
Nội dung, chương trình đào tạo nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo của từng chuyên ngành hay của từng nghề (trong đào tạo nghề nghiệp)
Theo điều 35 trong luật giáo dục sửa đổi bổ sung năm 2009, trên cơ sở chương trình khung, hiệu trưởng (hay giám đốc) các cơ sở đào tạo ban hành nội dung chương trình đào tạo của cơ sở mình
Nội dung chương trình là cơ sở pháp lý để quản lý HĐTH và xây dựng nội dung, kế hoạch quản lý HĐTH của HV
1.3.2.3 Ảnh hưởng của hình thức, phương pháp đào tạo, phương pháp dạy học đến quản lý HĐTH
Hình thức đào tạo được thể hiện ở loại hình tập trung hay không tập trung, đào tạo từ xa hay tại cơ sở đào tạo, phương pháp đào tạo truyền thống hay đa phương tiện hiện đại
Quản lý HĐTH phải phù hợp với từng hình thức và phương pháp đào tạo mới mang lại hiệu quả đào tạo
Trang 32Mặt khác, với mỗi phương pháp dạy học được sử dụng đều ảnh hưởng quyết định đến HĐTH và quản lý HĐTH Khi GV sử dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học sẽ làm cho quản lý HĐTH mang lại hiệu quả cao, nhanh chóng đạt được mục tiêu đào tạo
1.3.2.4 Ảnh hưởng của các hoạt động đặc thù của từng cơ sở đào tạo đến quản lý HĐTH
Mỗi cơ sở đào tạo đều là những đơn vị độc lập do vậy đều có những đặc điểm riêng và có những hoạt động đặc thù Các cơ sở đào tạo nhân lực quân sự có nhiều hoạt động đặc thù khác với các cơ sở đào tạo nhân lực dân
sự Cụ thể, ngoài học tập chuyên môn giống như ở các cơ sở đào tạo dân sự,
HV trong quân đội phải dành thời gian cho rèn luyện thể lực, rèn luyện kỷ luật, điều lệnh đội ngũ, chiến thuật, tác chiến, luôn sẵn sàng chiến đấu bảo
vệ Tổ quốc khi có lệnh Những yếu tố này chi phối mạnh đến quản lý HĐTH của HV trong quân đội
1.3.2.5 Ảnh hưởng của kết quả tuyển sinh và bản thân người học đến quản lý HĐTH
Năng lực học tập của người học hiện nay được đánh giá bằng kết quả thi tuyển hoặc xét tuyển đầu vào Kết quả trúng tuyển ở các nhà trường rất khác nhau nên năng lực ban học tập ban đầu của người học ở các cơ sở đào tạo, các chuyên ngành đào tạo rất khác nhau Do đó, hình thức và nội dung quản lý HĐTH cần phải thích ứng với từng trình độ đào tạo và năng lực học tập của người học
Trong quá trình tự học, yếu tố nội lực của cá nhân người học là yếu tố
cơ bản nhất quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động tự học Nội lực của HV bao gồm:
- Những yếu tố với tư cách là thành phần cấu trúc của HĐTH đó là nhận thức về tự học, động cơ tự học, thái độ tự học, kỹ năng tự học
- Yếu tố ảnh hưởng tới HĐTH với tư cách là tiềm năng tự học của HV như yếu tố bẩm sinh, di truyền và một số kỹ năng tự học
Trang 33- Yếu tố sức khoẻ cá nhân: HĐTH là hoạt động căng thẳng, mất nhiều năng lượng thần kinh Do vậy, đòi hỏi HV phải có sức khoẻ tốt thì mới đảm bảo cho HĐTH đạt hiệu quả
Ngoài các yếu tố đã trình bày ở trên, còn có những yếu tố khác ảnh hưởng đến quản lý HĐTH như các yếu tố về các điều kiện cơ sở vật chất, số lượng, chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục Các yếu tố ảnh hưởng có quan hệ mật thiết với nhau trong đó các yếu tố về các yêu cầu phát triển xã hội, nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo
và phương pháp dạy học đặc biệt là bản thân người học có tác động mạnh mẽ đến quản lý HĐTH của HV
1.4 Nội dung quản lý hoạt động tự học
1.4.1 Giáo dục động cơ tự học cho học viên
Mọi hoạt động của con người đều là hoạt động có mục đích, được thúc đẩy bởi động cơ của hoạt động đó Động cơ hoạt động là lực đẩy trực tiếp, là nguyên nhân trực tiếp của hành động, duy trì hứng thú, tạo ra sự chú ý liên tục, giúp chủ thể vượt mọi khó khăn, đạt mục đích đã định Vì vậy, động cơ của hoạt động quyết định kết quả của hoạt động đó
HĐTH của HV bình đẳng như các hoạt động khác, song nó có tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân, điều này càng khẳng định nó phải được thúc đẩy bởi hệ thống động cơ học tập nói chung, động cơ tự học nói riêng Giống như động cơ hoạt động nói chung, động cơ tự học cũng có nhiều cấp
độ khác nhau, bắt đầu tự sự thỏa mãn nhu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ tự học, tự khẳng định mình, mong muốn thành thạo nghề nghiệp tương lai… cho tới cấp độ cao là thảo mãn nhu cầu hiểu biết, lòng khát khao tri thức
Mọi động cơ có nguồn gốc từ bên ngoài, được hình thành từ những tác động bên ngoài và được cá nhân hóa thành hứng thú, tâm thế, niềm tin … của mỗi cá nhân Hình thành động cơ học tập cho cá nhân phải bắt đầu từ xây dựng các điều kiện bên ngoài cho phù hợp với nhận thức, tình cảm của cá nhân
Trang 341.4.2 Quản lý nội dung tự học
Để quản lý được nội dung tự học, hướng cho nội dung tự học phù hợp mục tiêu, yêu cầu đào tạo; mục tiêu, yêu cầu môn học, GV phải hướng dẫn nội dung tự học cho HV Nội dung tự học cơ bản có hai phần:
+ Hệ thống các nhiệm vụ tự học có tính chất bắt buộc (HV phải hoàn thành)
+ Định hướng nghiên cứu, đào sâu, mở rộng trí thức từ các vấn đề trong nội dung học tập
1.4.3 Quản lý kế hoạch tự học
Việc xây dựng kế hoạch tự học của HV là yếu tố quan trong góp phần nâng cao chất lượng tự học Kế hoạch tự học là bảng phân chia nội dung tự học theo thời gian một cách hợp lý dựa trên yêu cầu nhiệm vụ tự học, khả năng của bản thân và các điều kiện được đảm bảo, nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo, mục tiêu môn học
Kế hoạch tự học giúp cho người học thực hiện các nhiệm vụ tự học một cách khoa học, hiệu quả Quản lý việc xây dựng kế hoạch và quản lý thực hiện kế hoạch tự học sẽ góp phần nâng cao chất lượng tự học của HV
Trang 35+ Quản lý thao tác tự học: Nghe (giảng trên lớp, băng đĩa) đọc (giáo trình, tài liệu…) ghi chép, trao đổi, xử lý số liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh của HV
1.4.5 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động tự học
+ Kiểm tra việc xây dựng kế hoạch tự học của HV (tuần, tháng, học kỳ) + Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tự học theo các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ tự học Phát hiện sai lệch, giúp người học điều chỉnh HĐTH
1.4.6 Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học
Quản lý cơ sở vật chất phục vụ cho việc học tập trên lớp, thời gian dành cho tự học; giáo trình, tài liệu tham khảo, thiết bị đồ dùng để GV và HV cùng tích cực trong dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
Trong quản lý HĐTH của HV, cần phải phối hợp quản lý chặt chẽ tất cả các nội dung trong mối quan hệ thống nhất Đồng thời cần phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để quản lý HĐTH nhằm đảm bảo thời gian tự học của HV
+ Quản lý cơ sở vật chất học tập trên lớp, tự học
+ Quản lý giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo, phương tiện kỹ thuật
tự học
+ Quản lý các hoạt động đảm bảo thời gian cho HĐTH của HV
Trang 36Kết luận chương 1
Tự học là hoạt động độc lập, chủ yếu mang tính cá nhân của người học trong quá trình nhận thức, học tập để cải biến nhân cách, nó vừa là phương tiện vừa là mục tiêu của quá trình đào tạo
Quản lý hoạt động tự học thực chất là một hệ thống các tác động sư phạm có mục đích, phương pháp, kế hoạch của các lực lượng giáo dục trong
và ngoài nhà trường đến toàn bộ quá trình tự học của HV nhằm thúc đẩy HV
tự giác, tích cực, chủ động tự chiếm lĩnh tri thức bằng sự cố gắng nỗ lực của chính bản thân
Tự học có vai trò quan trọng, quyết định đến kết quả học tập của người học Để tạo điều kiện thuận lợi cho tự học đạt kết quả, người quản lý cần chú trọng đến việc quản lý kế hoạch, nội dung, phương pháp dạy học của GV, quản lý trang thiết bị, cơ sở vật chất, tài liệu học tập và tham khảo cho người dạy và người học, chú trọng đến các yếu tố ảnh hưởng đến HĐTH đồng thời quản lý các hoạt động khác trong nhà trường để đảm bảo đủ thời gian cho HĐTH đạt hiệu quả
Để tăng cường quản lý HĐTH của HV nói chung và HĐTH của HV trung cấp ở trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô nói riêng, cần tập trung vào các nội dung: Nhận thức về vai trò và chức năng tự học, kế hoạch tổ chức hoạt động tự học cho HV, thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp dạy học theo hướng dạy - tự học, cải tiến việc kiểm tra đánh giá hoạt động tự học của HV, tạo môi trường thuận lợi phục vụ cho HV tự học, đồng thời ứng dụng công nghệ thông tin và huy động tối đa các lực lượng cùng tham gia quản lý HĐTH của HV
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC VIÊN TRUNG CẤP Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ
VÀ KỸ THUẬT Ô TÔ, BỘ QUỐC PHÒNG 2.1 Sơ lược vài nét về trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số: 1510/2012/QĐ-BGD&ĐT ngày 18/4/2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Thành lập Trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô trên cơ sở Trường trung cấp
Kỹ thuật Xe - Máy
Qua hơn 60 năm xây dựng và phát triển , Nhà trường đã đào tạo được trên 16 vạn cán bộ , nhân viên chuyên môn kỹ thuâ ̣t cả quân sự và dân sự ; trong đó có 3.623 sỹ quan ô tô trình độ cao đẳng , trên 91 nghìn lái xe ô tô Quân sự Là nơi cung cấp chủ yếu nguồn nhân viên chuyên môn kỹ thuâ ̣t và
sỹ quan ôtô phục vụ 2 cuô ̣c kháng chiến chống Pháp , chống Mỹ và xây dựng Quân đô ̣i trong thời bình Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ngoài nhiê ̣m vu ̣ đào ta ̣o , Nhà trường đã trực tiếp phục vụ 09 chiến di ̣ch lớn (chiến dịch Điện Biên Phủ , chiến di ̣ch Trung Lào , Nam Lào chiến di ̣ch Hồ Chí Minh) Trong kháng chiến chống Mỹ các đơn vi ̣ tách ra từ Nhà trường đều đã
Trang 38trở thành các đơn vi ̣ vâ ̣n tải chủ công trên tu yến đường Trường Sơn Năm
2005 Nhà trườ ng được Nhà n ước phong tặng danh danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Ngoài việc hoàn thành xuất sắc nhiê ̣m vu ̣ đào ta ̣o , Nhà trường cũng hoàn thành tốt các nhiê ̣m
vụ được Chính Phủ giao
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ
- Chức năng: Trườ ng Cao đẳng Công nghê ̣ và Kỹ thuâ ̣t Ô tô là cơ sở giáo dục đại học công lập trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật - Bô ̣ Quốc Phòng, chịu sự quản lý Nhà nước về giáo du ̣c đào ta ̣o của Bô ̣ Giáo du ̣c và Đào ta ̣o , chịu sự quản lý hành chính của thành phố Hà Nội , có chức năng đào tạo nguồn nhân lực ở trình độ cao đẳng và các trình đô ̣ thấp hơn ở các lĩnh vực về kinh tế , công nghê ̣ và kỹ thuật phục vụ nhu cầu nhân lực của Quân đội và xã hội ; tổ chức nghiên cứu khoa ho ̣c công nghê ̣ , kết hợp đào ta ̣o với nghiên cứu khoa học, dịch vụ kinh tế - kỹ thuật phục vụ Quân đội và xã hội theo nhiệm vụ chuyên môn củ a Nhà trường
- Nhiê ̣m vụ: Trường Cao đẳng Công nghê ̣ và Kỹ thuâ ̣t ô tô là trường công
lâ ̣p thuô ̣c hê ̣ thống các nhà trường Quân đội trong hê ̣ thống giáo du ̣c quốc dân Việt Nam, thực hiê ̣n đầy đủ nhiê ̣m vu ̣ được quy đi ̣nh ta ̣i Điề u lê ̣ trường cao đẳng ban hành theo Thông tư số 14/2009/TT-BGDĐT ngày 28/5/2009 của Bộ trưởng Bô ̣ Giáo du ̣c và Đào ta ̣o:
+ Đào ta ̣o đô ̣i ngũ nhân viên chuyên môn kỹ thuâ ̣t thuô ̣c các nhóm ngành công nghê ̣ và kỹ thuâ ̣t bâ ̣c cao đẳng chu yên nghiê ̣p , trung cấp chuyên nghiê ̣p và lái xe quân sự các hạng theo nhu cầu của Quân đội trong tình hình mới Đào ta ̣o la ̣i, bồi dưỡng, tâ ̣p huấn cán bô ̣, nhân viên chuyên môn kỹ thuâ ̣t nghiê ̣p vu ̣, thợ bâ ̣c cao cho ngành kỹ thuâ ̣t quân sự
+ Đào ta ̣o nguồn nhân lực phát triển kinh tế xã hô ̣i thuô ̣c các nhóm
ngành công nghệ, kinh tế, kỹ thuật có trình độ cao đẳng , trung cấp, sơ cấp và lái xe các hạng
Trang 39+ Thực hiê ̣n nhiê ̣m vu ̣ khoa ho ̣c và công nghê ̣ do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giao; kết hợp đào ta ̣o với nghiên cứu khoa ho ̣c , triển khai nghiên cứu khoa ho ̣c ; phát triển và chuyển giao công nghệ , thực hiê ̣n các loa ̣i hình dịch vụ khoa học, công nghê ̣ và sản xuất; sử du ̣ng có hiê ̣u quả kinh phí đầu tư phát triển khoa học và công nghệ
+ Thực hiê ̣n dân chủ, bình đẳng, công khai trong viê ̣c bố trí và thực hiê ̣n các nhiệm vụ đào tạo , khoa ho ̣c, công nghê ̣ và hoa ̣t đô ̣ng tài chính ; quản lý giảng viên, cán bô ̣, công nhân viên; xây dựng đô ̣i ngũ giảng viên của trường đủ về số lượng, đảm bảo yêu cầu về chất lượng, cân đối về cơ cấu trình đô ̣, cơ cấu ngành nghề theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
+ Đăng ký, tổ chức, triển khai kiểm định chất lượng giáo du ̣c và chi ̣u sự quản lý chất lượng của cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục
+ Tuyển sinh , tổ chứ c quá trình đào ta ̣o , công nhâ ̣n tốt nghiê ̣p , cấp văn bằng, chứng chỉ theo đúng quy đi ̣nh của Bô ̣ Giáo dục và Đào tạo , Bô ̣ Quốc Phòng Tổ chức quản lý người học theo Điều lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và pháp luâ ̣t của Nhà nước
+ Phối hợp với các tổ chức, cá nhân và gia đình của người học trong hoạt
đô ̣ng giáo du ̣c
+ Tổ chứ c cho giảng viên , cán bộ, nhân viên và người ho ̣c tham gia các hoạt động xã hội phù hợp với ngành nghề đào tạo Chăm lo đời sống và bảo
vê ̣ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của cán bô ̣, giảng viên Nhà trường
+ Thực hiê ̣n các nhiê ̣m vu ̣ khác của Bô ̣ Quốc phòng giao và các nhiê ̣m
vụ khác theo quy định của pháp luật
2.1.3 Tổ chức bộ máy của Nhà trường
Tính đến thời điểm hết tháng 9 năm 2013 toàn trường hiện có 275 đồng chí cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên Trong đó có 01 tiến sỹ, 26 thạc sỹ,
131 đại học, 17 cao đẳng, 65 trung cấp, 37 sơ cấp Hàng năm căn cứ vào chỉ tiêu tuyển sinh và kế hoạch thực tế Bộ quốc phòng có bổ sung thêm cán bộ quản lý và nhà trường tuyển bổ sung giáo viên để đáp ứng yêu cầu thực hiện
Trang 40nhiệm vụ Tổng quan số lượng và trình độ đào tạo về đội ngũ giảng viên cơ hữu của nhà trường cụ thể như sau :
* Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục thể hiện trong bảng 2.1
Bảng 2.1 Số lượng cán bộ quản lý giáo dục
chÕ
SL hiÖn cã
(Nguồn : Ban cán bộ, ban quân lực nhà trường)
* Đội ngũ giảng viên, giáo viên được thể hiện trong bảng 2.2
Bảng 2.2 Số lượng giáo viên trong nhà trường
chÕ
SL hiÖn cã