1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ của trường đại học chính trị, bộ quốc phòng

120 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho việc tổ chức hoạt động BD nghiệp vụ sư phạm tại TĐHCT, BQP và các cơ sở giáo dục đại học khác trong Quân đội và quốc gia n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM XUÂN BẢO

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN TRẺ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC CHÍNH TRỊ, BỘ QUỐC PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM XUÂN BẢO

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN TRẺ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC CHÍNH TRỊ, BỘ QUỐC PHÒNG

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Bá Dương

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Trước hết, tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu cùng toàn thể cán

bộ, GV, viên chức của Trường Đại học Giáo dục đã luôn giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ quản lý giáo dục và hoàn thành luận đề tài luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Bá Dương, người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn

Tôi xin gửi lời cám ơn tới Đảng ủy, Ban Giám hiệu các thầy giáo, cô giáo, anh chị đồng nghiệp, các bạn bè, các cơ quan chức năng, khoa giáo viên; đặc biệt là lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ, nhân viên Ban Khảo thí và Đảm bảo chất lượng giáo dục - đào tạo của Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng; sự khích lệ, động viên và giúp đỡ của gia đình, người thân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất có thể cho tôi trong suốt quá trình công tác, học tập và nghiên cứu, triển khai khảo sát số liệu cho nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp

Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong nhận được những ý kiến góp ý của quý thầy, cô và các anh (chị) đồng nghiệp

Hà Nội, ngày 22 tháng 01 năm 2014

Tác giả

Phạm Xuân Bảo

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, BIỀU

Bảng 2.1 Thực trạng số lượng GV Trường Đại học Chính trị 39

Bảng 2.2 Thực trạng chất lượng GV Trường Đại học Chính trị 39

Bảng 2.3 Thực trạng cơ cấu đội ngũ GV Trường Đại học Chính trị 40

Bảng 2.4 Thực trạng số, chất lượng GVT Trường Đại học Chính trị 40

Bảng 2.5 Kết quả tự đánh giá mức độ đáp ứng của GVT về kiến thức chuyên ngành, năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực NCKH và đạo đức nghề nghiệp so với chuẩn hóa 43

Bảng 2.6 Thực trạng nhu cầu, nguyện vọng của GVT về những nội dung cần được BD 44

Bảng 2.7 Thực trạng xây dựng kế hoạch BD NVSP cho GVT của NT và khoa 47

Bảng 2.8 Đánh giá về tính phù hợp và hiệu quả của các hình thức BD NVSP cho GVT 50

Bảng 2.9 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động BD NVSP cho GVT 52

Bảng 2.10 Thực trạng sự gắn kết giữa hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm với xây dưng môi trường sư phạm 58

Bảng 3.1: Bảng tổng hợp kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 92

DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Mô hình về quản lý 23

Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy quản lý của Trường Đại học Chính trị 38

Trang 6

MỤC LỤC

Lời cám ơn i

Danh mục các cụm từ viết tắt ii

Danh mục sơ đồ iii

Danh mục bảng, biểu iii

Mục lục iv

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN TRẺ TRONG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG 6

1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.2 Các khái niệm cơ bản 8

1.2.1 Hoạt động BD nghiệp vụ sư phạm cho GV trẻ 8

1.2.2 Quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ của Trường Đại học Chính trị, Bố Quốc phòng 21

1.3 Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ ở Trường Đại học Chính trị , Bộ Quốc phòng 25

1.4 Tiêu chí đánh giá quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ của Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng 30

1.5 Những yếu tố tác động đến hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ của Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN TRẺ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC CHÍNH TRỊ, BỘ QUỐC PHÒNG 36

2.1 Sơ lược về Trường Đại học Chính trị Bộ quốc phòng 36

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 36

2.1.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và bộ máy tổ chức 37

2.2 Thực trạng quản lý hoạt động BD nghiệp vụ sư phạm cho GV trẻ của Trường Đại học Chính trị (TSQCT), Bộ Quốc phòng 38

2.2.1 Thực trạng hoạt động BD nghiệp vụ sư phạm cho GV trẻ của Trường Đại học Chính trị (TSQCT) 38

2.2.2 Thực trạng quản lý hoạt động BD nghiệp vụ sư phạm cho GV trẻ 44

2.2.3 Nguyên nhân của những kết quả và hạn chế trong quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ 58

Trang 7

CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN TRẺ CỦA TRƯỜNG ĐẠI

HỌC CHÍNH TRỊ, BỘ QUỐC PHÒNG 63

3.1 Phương hướng và nguyên tắc đề xuất các biện pháp 63

3.1.1 Phương hướng 63

3.1.2 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 66

3.2 Một số biện pháp quản lý hoạt động BD nghiệp vụ sư phạm cho GV của Trường Đại học Chính trị 67

3.2.1 Thống nhất nhận thức, đề cao trách nhiệm cho các chủ thể tham gia quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ 67

3.2.2 Kế hoạch hóa hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ sát với nhiệm vụ giáo dục - đào tạo, thực tiễn của Nhà trường và chức trách nhiệm vụ của giảng viên trẻ 71

3.2.3 Đổi mới khâu tổ chức hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ 75

3.2.4 Đổi mới hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ của Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng 77

3.2.5 Tạo môi trường sư phạm thuận lợi cho hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ 80

3.3 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ ở Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng 91

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95

1 Kết luận 95

2 Khuyến nghị 95

2.1 Đối với Nhà trường 95

2.2 Đối với các khoa giáo viên 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC 101

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự nghiệp đào tạo, BD đội ngũ cán bộ cách mạng nói chung, cán bộ Quân đội nói riêng luôn được Đảng và Bác Hồ đặc biệt coi trọng Đảng ta khẳng định: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh”[18, tr.38] Vì thế Đảng chủ trương “Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở tất cả các cấp học, bậc học”[18, tr.97] Quán triệt tinh thần đó và tinh thần Nghị quyết 93 và 94 của Đảng uỷ Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về xây dựng NT chính quy, xây dựng đội ngũ nhà giáo Quân đội; Nhiệm vụ đào tạo đội ngũ chính ủy, chính trị viên của các NT Quân đội nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị đã và đang khẳng định vị trí, vai trò hết sức to lớn của đội ngũ GV của NT nói chung, GVT nói riêng Đây là lực lượng sư phạm chủ yếu và trực tiếp quyết định đến chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy - học Với tư cách là nhà sư phạm quân sự, đội ngũ GVT trực tiếp tham gia một cách tích cực vào quá trình GD - ĐT, nhằm BD, hình thành và phát triển hệ thống các phẩm chất, năng lực cần thiết cho người chính ủy, chính trị viên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về mọi mặt, trong đó lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở Để sự nghiệp đó đạt được mục tiêu đặt ra, đòi hỏi đội ngũ GV phải có chất lượng rất cao, vì họ là nhân tố quyết định đến chất lượng và hiệu quả của quá trình GD - ĐT

Đội ngũ GVT với ưu thế của sức trẻ, lòng nhiệt huyết và khát vọng cống hiến sức lực, trí tuệ cho sự nghiệp cách mạng, cùng ý chí vươn lên tự khẳng định bản thân, năng động, sáng tạo; lại được đào tạo rất cơ bản về mọi mặt, nên họ luôn là lực lượng xung kích đi đầu trong mọi hoạt động giảng dạy, NCKH, xây dựng NT vững mạnh toàn diện Đồng thời, họ là đội dự bị, lực lượng kế cận quan trọng và chủ yếu cho sự nghiệp đổi mới toàn diện nhiệm vụ GD - ĐT của NT trong những năm tiếp theo Do đó, để nâng cao chất lượng và hiệu quả GD - ĐT đội ngũ chính ủy, chính trị viên ở TĐHCT, BQP thì đòi hỏi tất yếu khách quan là phải quan tâm chăm lo xây dựng đội

Trang 9

ngũ GV, đặc biệt là đội ngũ GVT không chỉ có đủ phẩm chất (chính trị, đạo đức); năng lực chuyên môn; phong cách sư phạm, mà còn phải đặc biệt chú ý

BD NVSP cho họ Chất lượng, hiệu quả của quá trình giáo dục và dạy học phụ thuộc rất lớn vào NVSP của người GV Nếu người GV thực sự có NVSP cao thì sẽ khảng định được năng lực chuyên môn, tạo được uy tín, sự kính trọng của đối với đồng nghiệp và học viên trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của mình

Thực tiễn quá trình GD - ĐT ở TĐHCT, BQP trong những năm qua cho thấy: đội ngũ GVT đã thực sự có nhiều cố gắng và phát huy khá tốt vai trò, trách nhiệm của nhà SPQS, khẳng định được vị trí, vai trò và uy tín của mình trong việc giáo dục, BD xu hướng nghề nghiệp; trang bị hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp nhằm hình thành, phát triển các phẩm chất nhân cách cho đội ngũ cán bộ chính ủy, chính trị viên đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ khi ra trường; điều đó đã được các thế hệ học viên ghi nhận và đánh giá khá cao Tuy nhiên, trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị theo tinh thần Nghị quyết số 51/NQ-TW

“Về việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính uỷ, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”, đã và đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao và có bước phát triển mới về chất đối với nhiệm vụ GD - ĐT của NT Theo đó, đòi hỏi tất yếu khách quan là phải phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng đội ngũ GV; đặc biệt là GVT

Nhưng trên thực tế, đội ngũ GVT ở TĐHCT, BQP hiện nay chỉ chiếm khoảng 30% trong tổng số cán bộ giảng dạy, cán bộ khoa học; mặt khác, do tuổi đời ít, thâm niên công tác và kinh nghiệm thực tiễn giảng dạy chưa nhiều, NVSP còn thiếu, chưa cao nên chất lượng của hoạt động giáo dục và dạy học của đội ngũ GVT còn bộc lộ không ít những hạn chế, chưa đáp ứng và theo kịp được đòi hỏi của tình hình thực tiễn GD - ĐT của NT hiện nay và những năm tiếp theo

Là một cán bộ tham gia quản lý GD - ĐT của TĐHCT Tôi luôn quan tâm đến hoạt động BD NVSP cho GV nói chung, đặc biệt là cho GV trẻ của

Trang 10

NT; tác giả nhận thấy vấn đề tổ chức quản lý hoạt động BD NVSP cho GV trẻ của TĐHCT ngày càng trở nên cấp thiết để nâng cao chất lượng đội ngũ này, nâng cao chất lượng GD - ĐT của NT Vì vậy, việc đề xuất các biện pháp quản

lý hoạt động BD NVSP để nâng cao chất lượng đội ngũ GV nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập, giảng dạy cho đội ngũ GV nói chung, GVT nói riêng của

NT là vấn đề quan trọng được Đảng ủy, Ban Giám hiệu NT đặc biệt quan tâm

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý hoạt động BD nghiệp vụ sư phạm cho GV trẻ của Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng” để nghiên cứu với mong muốn tìm ra một số biện pháp quản lý nhằm

nâng cao chất lượng BD NVSP cho GVT của TĐHCT, BQP nâng cao chất lượng đội ngũ GV, góp phần nâng cao chất lượng GD - ĐT của NT

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận - thực tiễn về hoạt động BD nghiệp vụ sư phạm cho GV của Trường Đại học Chính trị; đề xuất biện pháp quản lý hoạt động BD nghiệp vụ sư phạm cho GV trẻ của Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến BD nghiệp vụ sư phạm và quản lý hoạt động BD nghiệp vụ sư phạm cho GV đại học

- Khảo sát, đánh giá thực trạng BD nghiệp vụ sư phạm, quản lý hoạt động BD nghiệp vụ sư phạm cho GV trẻ của Trường Đại học Chính trị trong thời gian qua

- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động BD nghiệp vụ sư phạm cho GV trẻ của Trường Đại học Chính trị đáp ứng với yêu cầu phát triển của

NT

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động BD GV của Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động BD nghiệp vụ sư phạm cho GV trẻ của Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng

Trang 11

5 Giả thuyết khoa học

Chất lượng, hiệu quả của hoạt động BD nghiệp vụ sư phạm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quản lý hoạt động bồi d??ng nghiệp vụ sư phạm giữ vai trò rất quan trọng Thực tiễn tiến hành hoạt động BD nghiệp vụ sư phạm ở Trường Đại học Chính trị trong những năm qua còn có những hạn chế, nhất là

về mặt quản lý Nếu đề xuất được những biện pháp quản lý khoa học phù hợp, đồng bộ thì sẽ nâng cao được hiệu quả hoạt động BD nghiệp vụ sư phạm cho

GV trẻ, nâng cao chất lượng đội ngũ GV của Trường Đại học Chính trị, Bộ

Quốc phòng

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Tập trung nghiên cứu các giải pháp quản lý hoạt động BD nghiệp vụ sư phạm cho GV trẻ ở Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng

- Các nghiên cứu khảo sát được tiến hành tại Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng về quản lý hoạt BD nghiệp vụ sư phạm cho GV trẻ

- Khảo sát và sử dụng các số liệu của hoạt BD nghiệp vụ sư phạm từ năm 2009 cho đến nay

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa lý luận

Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý đội ngũ GV; quản lý hoạt động BD nghiệp vụ sư phạm cho GV trẻ của Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng

- Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho việc tổ chức hoạt động

BD nghiệp vụ sư phạm tại TĐHCT, BQP và các cơ sở giáo dục đại học khác trong Quân đội và quốc gia nhằm góp phần nâng cao chất lượng BD nghiệp

vụ sư phạm cho GV trẻ nói riêng và GV nói chung, cũng như chất lượng GD -

ĐT của NT đồng thời giúp cho công tác quản, BD cán bộ ngày càng khoa học, hiệu quả và chuyên sâu

8 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Sưu tầm, đọc tài liệu, nghiên

cứu các văn bản về quản lý, quản lý hoạt động BD nghiệp vụ sư phạm cho

Trang 12

GV trẻ của TĐHCT, BQP, tổng hợp các quan điểm, lý luận liên quan đến vấn

đề nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra - khảo sát

bằng phiếu hỏi, tìm hiểu thực tế, tổng kết kinh nghiệm, tham vấn chuyên gia

- Nhóm phương pháp xử lý thông tin: Định lượng, định tính, thống kê

và phân tích số liệu thống kê

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư

phạm cho giảng viên trẻ của Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư

phạm cho giảng viên trẻ của Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm

cho giảng viên trẻ của Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ

SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN TRẺ TRONG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG 1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề

Một trong những yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả của sự nghiệp GD - ĐT nước ta nói chung và chất lượng của các cơ sở giáo dục đại học trong Quân đội nói riêng chính là đội ngũ GV; trong đó GVT có một vai trò quan trọng Sự phát triển của GD - ĐT ngày nay đòi hỏi người GV cần có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực

xã hội khác, bởi họ sẽ là những người trực tiếp tham gia vào sự nghiệp đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ thành những con người có đủ năng lực đáp ứng các yêu cầu của xã hội hiện đại Để có được đội ngũ GV đủ mạnh, đủ chuẩn, kế tục và phát huy thành tựu của sự nghiệp GD - ĐT nước ta, đáp ứng được yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, vấn đề BD GV mà đặc biệt là GVT là hết sức cần thiết và quan trọng Vấn đề này đã được các nhà khoa học quan tâm, đặc biệt là các nhà khoa học giáo dục, các nhà QLGD quan tâm; nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đã bước sang thế ki

21 với việc giao lưu, hợp tác toàn diện trên tất các lĩnh vực KT - XH trong

và hoàn thiện quy trình rèn luyện kỹ năng sư phạm theo quy trình đào tạo mới”(Trường Đại học Sư phạm Hà Nội - 1994); Nguyễn Minh Đường với “BD

và đào tạo lại nguồn nhân lực” (1996); Nguyễn Hữu Dũng với “Hình thành kỹ

Trang 14

năng sư phạm cho sinh viên” (1995); Phạm Trung Thanh và Nguyễn Thị Lý với “Rèn luyện NVSP thường xuyên” (2004), Hà Thị Thanh Thủy với “Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo các lớp cấp chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm tại Khoa Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà nội”

Trong Quân đội: Năm 2005 Bộ tổng tham mưu đã xây dựng “Đề án kiện toàn và phát triển đội ngũ nhà giáo Quân đội” Đề án đã đánh giá thực trạng nhà giáo Quân đội hiện nay, xuất phát từ yêu cầu xây dựng, chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo của nhà nước và quy định của Bộ Quốc phòng để đề ra quan điểm, mục tiêu, các giải pháp kiện toàn và phát triển đội ngũ nhà giáo đến năm 2010 và những năm tiếp theo Trên cơ sở đó, đội ngũ nhà giáo Quân đội từng bước được kiện toàn và phát triển đảm bảo đủ số lượng, cơ cấu hợp lý, chuẩn về trình độ đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng GD - ĐT của hệ thống

NT Quân đội trong giai đoạn mới

Về phía NT có Đề án số 790/ĐA “Kiện toàn, phát triển đội ngũ nhà giáo của NT đến năm 2015” Đề án đã đánh giá thực trạng nhà giáo của NT hiện nay, đề quan điểm, mục tiêu, phương hướng, biện pháp kiện toàn, phát triển đội ngũ nhà giáo của NT đến năm 2015

Bên cạnh đó còn có một số công trình khoa học của các cá nhân như: Đặng Đức Thắng chủ nhiệm đề tài: “Nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giáo viên khoa học xã hội và nhân văn trong Quân đội giai đoạn hiện nay” (2005) Đề tài đã khắc phục những điểm bất cập, góp phần đào tạo, BD, xây dựng đội ngũ giáo viên khoa học xã hội và nhân văn ở Học viện Chính trị quân sự - cơ sở đào tạo giáo viên khoa học xã hội và nhân văn duy nhất trong Quân đội có trình độ học vấn, NVSP, có xu hướng nghề nghiệp và những phẩm chất sư phạm phát triển cao đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa đội ngũ giáo viên Quân đội hiện nay Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu như: Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của Nguyễn Quốc Nghị “Tổ chức hoạt động BD năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên Trường Quân sự quân khu 4” (2008); Đề tài khoa học cấp Học viện của Phạm Minh Thụ

“Giải pháp rèn luyện kỹ năng sư phạm cho học viên đào tạo giáo viên ở Học

Trang 15

viện Chính trị hiện nay” (2010); Đề tài khoa học cấp Học viện của Phan Văn

Tỵ “BD năng lực sư phạm của học viên hệ sư phạm ở Học viện Chinh trị hiện nay” (2011); Đề tài ngành của Nguyễn Văn Chung “BD năng lực dạy học của đội ngũ GV khoa học xã hội và nhân văn trong các trường sĩ quan Quân đội” (2012); Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của Hà Văn Họa “quản

lý hoạt động thực hành sư phạm trong đào tạo giáo viên khoa học xã hội nhân văn ở Trường Sĩ quan Chính trị” (2013)

Ngoài ra còn khá nhiều các đề tài NCKH các cấp, các luận văn, bài báo

đề cập tới hoạt động BD GV nhưng chưa công trình nào đề cập tới quản lý hoạt động BD NVSP cho GV, GVT của TĐHCT, BQP đề tài này lần đầu tiên được nghiên cứu với các điều kiện và số liệu cụ thể về hoạt động BD NVSP cho GVT của TĐHCT, BQP tiến hành

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Hoạt động BD nghiệp vụ sư phạm cho GV trẻ

1.2.1.1.Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm

* Khái niệm bồi dưỡng

Theo quan niệm của UNESCO: “BD có ý nghĩa là nâng cao nghề nghiệp, quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn - nghiệp vụ cho bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp”

Theo Từ điển Tiếng Việt (2010): “BD là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”

Theo Từ điển Giáo dục học (2001): “BD là trang bị thêm kiến thức kỹ năng, nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể”

Kế thừa các quan niệm trên đây, tác giả cho rằng:

Bồi dưỡng là quá trình bồi bổ, tu dưỡng để nâng cao năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức của một cá nhân, quá trình này có thể được tác động

từ bên ngoài theo một chương trình hay kế hoạch xác định, cũng có thể là một quá trình tự giác của một cá nhân theo nhu cầu

Trang 16

* Nghiệp vụ sư phạm

Theo từ điển tiếng Việt (2010) thì: “nghiệp vụ là công việc chuyên môn của một nghề”, công việc chuyên môn chính của nghề giáo là: Dạy học một môn cụ thể ở NT, trực tiếp giáo dục học sinh (sinh viên) hoặc tham gia vào quá trình đó

Nghiệp vụ sư phạm theo nghĩa rộng: là toàn bộ hoạt động sư phạm với

tư cách là hệ thống công việc mang tính nghề nghiệp, phân biệt với các lĩnh vực khác như nghiệp vụ ngân hàng, nghiệp vụ công an v.v

Nghiệp vụ sư phạm theo nghĩa hẹp: là các phương thức, phương pháp,

kỹ năng, các thủ thuật ứng xử của người thầy giáo trong giảng dạy, giáo dục, giao tiếp với học sinh (sinh viên) và các tầng lớp nhân dân

Trong thực tế, thuật ngữ NVSP còn được dùng theo nghĩa: là cách thức, thủ thuật mà người thầy giáo sử dụng trong giao tiếp và ứng xử với cá nhân, tập thể học sinh (sinh viên) và các lực lượng xã hội khác hay còn gọi là hoạt động

sư phạm và để thực hiện được hoạt động này, cần có các hệ thống tri thức về hoạt động sư phạm và hệ thống kỹ năng tương ứng như:

Hệ thống tri thức hoạt động sư phạm: gồm tri thức nghề là tri thức

chung của bậc đào tạo như Giáo dục học đại cương v.v , tri thức khoa học chuyên ngành như Toán học, Ngữ văn, Lịch sử v.v (nhiều người quan niệm rằng đây là khoa học cơ bản) và tri thức khoa học giáo dục bao gồm Tâm lý học, Giáo dục học, Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn, v.v được gọi chung là tri thức khoa học nghiệp vụ

Hệ thống kỹ năng: gồm các kỹ năng thuộc lĩnh vực khoa học chuyên

ngành, kỹ năng khoa học giáo dục (dạy học, giáo dục, xử lý tình huống dạy học, giáo dục v.v.) và các kỹ năng NCKH, giao tiếp, tự học, tự BD cùng thái

độ, phẩm chất, tình cảm thuộc năng lực và phẩm chất nghề nghiệp của người giáo viên Có một số quan niệm cho rằng để hoạt động thuận lợi trong lĩnh vực sư phạm chỉ cần có tri thức khoa học chuyên ngành (cơ bản) và các tri thức khoa học nghiệp vụ là đủ Thậm chí nhiều người chỉ đề cao tri thức khoa học chuyên ngành (cơ bản), song có 3 vấn đề chưa thoả đáng sau đây:

- Thứ nhất, thuật ngữ khoa học cơ bản không phản ánh đúng diện mạo

và tính chất của một khoa học trong hệ thống phân loại khoa học (không có khoa học nào được coi là cơ bản và không cơ bản)

Trang 17

- Thứ hai, nếu trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp được dựa chủ yếu trên

nền tảng của một hoặc một số lĩnh vực tri thức khoa học nào đó (chẳng hạn kỹ

sư chế tạo máy dựa trên nền tảng kiến thức toán - lý) và được gọi là tri thức khoa học cơ bản, thì trong lĩnh vực hoạt động sư phạm, tri thức khoa học cơ bản không chỉ là tri thức khoa học chuyên ngành mà còn là tri thức khoa học giáo dục

- Thứ ba, nếu hoạt động sư phạm chỉ giới hạn trong các lĩnh vực khoa

học cơ bản và nghiệp vụ thì hoàn toàn chưa đủ Do tính đặc thù của hoạt động

sư phạm đòi hỏi người thầy giáo cần phải có nhiều hiểu biết về nhiều lĩnh vực khác nhau, tạo thành hệ thống tri thức văn hoá sâu rộng: tâm lý học, văn hoá học, đạo đức học, triết học Vì vậy trong quá trình học tập ở trường sư phạm cũng như sau này, người thầy giáo cần phải nghiên cứu, tiếp thu những lĩnh vực tri thức sau:

Kiến thức văn hoá chung: Văn hoá chung được hiểu là những tri thức

cơ bản về xã hội và nhân văn gắn liền với lịch sử phát triển của cộng đồng, dân tộc, quốc gia và của cả nhân loại, văn hoá và văn minh nhân loại, văn hoá học Việt Nam, dân tộc học Việt Nam, xã hội học Việt Nam, lịch sử phát triển

tư tưởng và giáo dục Việt Nam, triết học và các khoa học về ứng xử v.v Của

NT sư phạm, những lĩnh vực khoa học này được tập trung dưới tên gọi là những môn chung

Tuy nhiên trong thực tế không phải cơ sở đào tạo nào cũng xác định đúng những lĩnh vực văn hoá chung này Ví dụ không ít trường trong chương tình đào tạo giáo viên dạy các môn khoa học tự nhiên (toán, lý, hoá, sinh v.v) sinh viên không được nghiên cứu Văn hoá học Việt Nam, lịch sử phát triển tư tưởng và giáo dục Việt Nam Có lẽ không cần bàn luận thêm nhiều cũng đủ thấy nếu người sinh viên sư phạm không được cung cấp các tri thức cơ bản về văn hoá gắn với sự phát triển của cộng đồng và dân tộc mình thì dễ xuất hiện nguy cơ trở thành thợ dạy học, chỉ biết duy nhất việc dạy học môn khoa học nào đó như nhiều giáo viên hiện nay Do đó, việc trở thành nhà sư phạm đối với họ sẽ gặp nhiều khó khăn mà muốn khắc phục nó buộc họ phải tự mình trang bị những kiến thức nói trên trong hoạt động sư phạm của mình Vì vậy

Trang 18

ngay của NT sư phạm cần trang bị cho sinh viên những tri thức khoa học nền tảng Tuy nhiên cũng cần lưu ý các lĩnh vực văn hoá chung rất sâu và rộng, do

đó việc xác định những lĩnh vực cơ bản và cần thiết để dạy cho sinh viên sư phạm là rất khó khăn

Kiến thức khoa học bộ môn: Kiến thức khoa học bộ môn được hiểu là

tri thức của lĩnh vực khoa học mà người thầy giáo sau này phải tổ chức truyền thụ cho học sinh Hiển nhiên là người thầy giáo phải nắm vững những tri thức khoa học cần phải dạy cho học sinh Vấn đề quan tâm hàng đầu và chủ yếu của nhà khoa học hay của người thực hành là những tri thức cơ bản của tài liệu, khả năng ứng dụng và hướng phát triển của nó Ngoài ra những vấn đề khác của tài liệu là thứ yếu Trong khi đó, đối với nhà sư phạm, không chỉ bản thân tri thức khoa học mà cả logic hình thành chúng đều quan trọng Nhà sư phạm không chỉ hiểu nội dung tài liệu mà còn phải biết tái tạo lại con đường, logic đã sản sinh ra nội dung đó Nói cách khác đối với mỗi sinh viên sư phạm, tri thức khoa học bộ môn phải được sáng tỏ trên cả hai phương diện: logic của tri thức khoa học và logic tạo ra chúng

Kiến thức về tâm - sinh lý học sinh: Không cần phải phân tích nhiều

cũng đủ sáng tỏ tầm quan trọng của vấn đề hiểu đối tượng học sinh của người thầy giáo trong hoạt động sư phạm Vốn tri thức về tâm- sinh lý học sinh càng trở nên quan trọng trong hoạt động giáo dục hiện nay, khi mà trẻ em là hệ thống mở và phát triển có gia tốc cao Sự hiểu biết tâm lý học sinh của người thầy giáo bao hàm cả hiểu biết về đặc trưng thể chất - tâm lý lứa tuổi nói chung, các đặc điểm riêng của cá nhân Những đặc điểm hiện tại và chiều hướng phát triển trong tương lai cùng với hoàn cảnh sống ảnh hưởng tới sự phát triển của các em, trong tình huống bình thường và các hành vi xảy ra trong các tình huống bất thường v.v

Kiến thức về phương pháp dạy học bộ môn: Trong nền giáo dục trước

đây, với mục tiêu là hình thành ở người học những hiểu biết nhất định về lĩnh vực nào đó nên nhiệm vụ chủ yếu của người thầy giáo là truyền giảng những điều đã được học trước đó Cơ chế tâm lý chủ yếu của người học là trí nhớ và

tư duy sáng tạo Những tri thức mà xã hội cần truyền lại cho thế hệ sau chủ

Trang 19

yếu được thực hiện qua kênh người thầy giáo Vì vậy, đối với thầy giáo việc hiểu tài liệu giảng dạy là nhiệm vụ quan trọng nhất

Ngày nay, vai trò người thầy giáo đã thay đổi Thầy giáo không còn giữ vai trò toàn quyền đối với khoa học trước học sinh Các em có thể học qua nhiều kênh thông tin khác nhau Việc học theo đúng nghĩa của nó hiện nay là

sử dụng tư duy sáng tạo, còn việc ghi nhớ dần dần được chuyển ra bên ngoài thông qua các phương tiện kỹ thuật Vì vậy trong mọi trường hợp, vai trò của người thầy giáo hiện nay là định hướng cho người học trong học tập và tu dưỡng đạo đức, giúp đỡ họ khi gặp khó khăn, điều khiển và điều chỉnh hoạt động học tập của các người học khi cần thiết Vai trò của người thầy giáo chuyển dần từ trung tâm, quyết định sang ngoại vi và trở thành yếu tố điều kiện, tác nhân

Chính vì vậy, việc hiểu tài liệu học tập của học sinh không còn là yếu

tố quan trọng duy nhất của người thầy giáo như trước kia nữa, mà thay vào đó

là phương pháp định hướng, giúp đỡ, tổ chức và điều khiển, điều chỉnh hoạt động học tập của học sinh, đó là phương pháp dạy học bộ môn Phương pháp dạy học hiện đại không còn được hiểu theo nghĩa các phương pháp truyền thụ của người thầy giáo với mọi hình thức, mà là phương pháp hướng đạo, với mục đích chỉ ra cho học sinh nguồn tài liệu chứa đựng thông tin cần chiếm lĩnh, cách khai thác thông tin tối ưu, cách sử dụng thông tin hữu ích và sau cùng, là cách sáng tạo thông tin

Phương pháp giáo dục học viên: Trong thực tế ở các trường sư phạm

và phổ thông, mối quan tâm chủ yếu là dạy học còn giáo dục vẫn bị xem nhẹ hơn, trong khi đó vấn đề phải được đặt ngược lại Chính vì vậy trong các trường sư phạm thường chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng dạy học cho sinh viên, còn kỹ năng giáo dục cho họ thì ít được coi trọng Có thể đây là hạn chế trong lĩnh vực rèn luyện nghiệp vụ của NT sư phạm hiện nay

Kiến thức về giao tiếp, ứng xử sư phạm: Đặc trưng của hoạt động sư

phạm là mọi hành vi ứng xử của người thầy giáo với học sinh, đồng nghiệp, với cha mẹ học sinh và với mọi người xung quanh không chỉ là phương thức

Trang 20

sinh hoạt bình thương mà là phương diện giáo dục học sinh Người thầy giáo không chỉ dạy học sinh bằng lời nói mà bằng cả nhân cách của mình được bộc

lộ trong các hành vi ứng xử hàng ngày Vì vậy người thầy giáo cần thiết phải được trang bị tri thức về khoa học giao tiếp và giao tiếp sư phạm Đây là yếu tố quan trọng tạo ra năng lực khéo léo trong ứng xử sư phạm của người giáo viên

Kiến thức về NCKH và khoa học giáo dục: NCKH bộ môn và khoa

học giáo dục là một trong những nhiệm vụ của người thầy giáo Điều đó không chỉ giúp người thầy giáo giải quyết được những vấn đề nảy sinh trong hoạt động sư phạm của mình, mà còn là biện pháp tích cực để nâng cao trình

độ chuyên môn nghiệp vụ của mình Hoạt động NCKH của người thầy giáo rất phong phú và nhiều cung bậc, bao hàm từ sáng kiến kinh nghiệm trong hoạt động sư phạm tới các đề tài quy mô khác nhau Hiện nay hoạt động NCKH của các thầy giáo phổ thông, đặc biệt là ở các cấp dưới còn rất ít và có nhiều hạn chế Ở đây có rất nhiều nguyên nhân, một trong số đó là do tri thức

và kỹ năng NCKH của họ còn hạn chế Vì vậy bên cạnh những giải pháp có tính chất hành chính nhằm khuyến khích đội ngũ giáo viên NCKH, cần có biện pháp nâng cao năng lực nghiên cứu cho họ, trước hết là cung cấp kiến thức và hình thành kỹ năng cơ bản của quy trình nghiên cứu đề tài khoa học

Từ cách tiếp cận về BD và nghiệp vụ sư phạm như trên, theo tác giả:

Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm là quá trình các chủ thể tiến hành các hoạt động nhằm bồi bổ, tu dưỡng để nâng cao năng lực, phẩm chất đạo đức sư phạm của giáo viên

1.2.1.2 Giảng viên trẻ:

* Giảng viên đại học

Theo Điều 24, Điều lệ trường đại học ban hành năm 2010 “GV đại học

là người có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có chứng chỉ BD nghiệp vụ sư phạm Có bằng thạc sĩ trở lên đối với GV giảng dạy các môn lý thuyết của chương trình đào tạo đại học; có bằng tiến sĩ đối với giảng giảng dạy và hướng dẫn chuyên đề, luận văn, luận án trong các chương trình đào tạo thạc

sĩ, tiến sĩ” [8, tr.13]

Trang 21

* Giảng viên trẻ

Tiếp cận khái niệm GV đại học trên, thì có thể đưa ra khái niệm GV trẻ

là những người có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có chứng chỉ BD nghiệp

vụ sư phạm Có bằng thạc sĩ trở lên đối với GV giảng dạy các môn lý thuyết của chương trình đào tạo đại học; có bằng tiến sĩ đối với GV giảng dạy và hướng dẫn chuyên đề, luận văn, luận án trong các chương trình đào tạo thạc

sĩ, tiến sĩ Trong độ tuổi thanh niên

* Giảng viên trẻ ở Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng

Từ khái niệm GV đại học, GVT như trên, tác giả quan niệm về GVT ở TĐHCT, BQP như sau:

Giảng viên trẻ ở Trường Đại học Chinh trị, Bộ Quốc phòng là những người đang trực tiếp tham gia giảng dạy và có đủ tiêu chuẩn được NT công nhận là GV, trong độ tuổi thanh niên theo Luật Thanh niên quy định và có tuổi nghề dưới 5 năm

- Có đủ tiêu chuẩn: là những người có bằng đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; có

phẩm chất chính trị, đạo đức, tư tưởng tốt; có trình độ ngoại ngữ, tin học đáp ứng yêu cầu công việc; đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; lý lịch bản thân rõ ràng; có chứng chỉ BD nghiệp vụ sư phạm

- Được NT công nhận là GV: Những GV trực tiếp tham gia giảng dạy ở

TĐHCT, BQP, phải trải qua thời gian làm trợ giảng 3 năm Có đủ điều kiện, tiêu chuẩn được NT xem xét công nhận công nhận là GV

- Trong độ tuổi thanh niên: “Thanh niên quy định trong Luật này là

công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi” Theo Điều 1, Luật

Thanh niên số 53/2005/QH11, ngày 29 tháng 11 năm 2005 quy định: Như vậy những GV trẻ của Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng là những người

có tuổi dưới ba mươi; có dưới 5 năm trực tiếp giảng dạy liên tục tại NT và có tuổi nghề dưới 5 năm

* Đặc điểm của GV trẻ của Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng: Một là, đội ngũ GV trẻ ở Trường Sĩ quan Chính trị hiện nay được tuyển chọn và đào tạo khá cơ bản, có trình độ học vấn, nhưng chưa từng trải, chưa được rèn luyện, thử thách nhiều trong thực tiễn khó khăn

Trang 22

Đây là đặc điểm cơ bản nhất của đội ngũ GV trẻ, đặc điểm này phản ánh nét đặc thù của đội ngũ GV trẻ với các thế hệ GV khác của NT ta hiện nay Đó là một đội ngũ cán bộ có trình độ học vấn khá cao, có trí thông minh, tài năng, sáng tạo, kế thừa và phát huy trí tuệ, truyền thống vẻ vang của dân tộc, của Quân đội và NT Đội ngũ GV trẻ là sản phẩm của quá trình giáo dục, đào tạo, BD, rèn luyện của Đảng, Nhà nước, Quân đội và quá trình tự tu dưỡng rèn luyện của chính họ

Thực hiện phương hướng đổi mới mục tiêu, chương trình đào tạo trong các

NT Quân đội, quá trình tuyển chọn nguồn đào tạo thành sĩ quan, GV hiện nay khá chặt chẽ và toàn diện về phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ học thức, học lực

và sức khoẻ Quá trình đào tạo tại các NT, học viên sĩ quan được trang bị hệ thống kiến kiến thức khá toàn diện, chuyên sâu, nhất là những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác - lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, mục tiêu, lý tưởng, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội Đây là thuận lợi rất cơ bản của quá trình nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ GV trẻ ở NT hiện nay Về trình độ chuyên môn, đội ngũ GV trẻ có tư duy khá năng động, sáng tạo, thích tìm tòi khám phá những vấn đề mới trong giảng dạy, NCKH Tuy nhiên, trên thực tế do yêu cầu bố trí, sử dụng nên vẫn còn một bộ phận GVT hiện nay chưa được đào tạo cơ bản Chính vì vậy, trình độ đào tạo của đội ngũ GV trẻ của NT hiện nay không đồng nhất

Do tuổi đời và tuổi quân chưa nhiều, lại chủ yếu được nuôi dưỡng và rèn luyện trong điều kiện thời bình, đội ngũ GVT hiện nay chưa được thử thách, rèn luyện nhiều trong các điều kiện khó khăn, phức tạp, nhất là trong các tình huống chiến đấu Những kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ huy, quản

lý giáo dục bộ đội, giảng dạy, NCKH tích luỹ được còn ít, quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ còn gặp không ít khó khăn Sự hiểu biết về các lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết là lĩnh vực chính trị - xã hội còn ở mức độ nhất định; khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn hoạt động còn hạn chế; vốn sống, kinh nghiệm còn thiếu, dễ bộc lộ sự hời hợt, giản đơn, chủ quan, thiếu chắc chắn trong suy nghĩ, thiếu sự suy xét thấu đáo và trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ thường xuất hiện sự nôn nóng, chủ quan

Trang 23

Đội ngũ GVT hiện nay luôn chịu sự tác động tiêu cực từ mặt trái của

cơ chế thị trường và các thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, làm cho một bộ phận đội ngũ GVT còn có những biểu hiện lệch chuẩn trong việc xác lập, định hướng giá trị nhân cách, giá trị đạo đức văn hoá trong môi

trường quân sự

Hai là, đội ngũ giảng viên trẻ là những người đang trong thời kỳ sung sức nhất về sức khoẻ và trí lực

Đội ngũ GVT nằm trong độ tuổi từ 21 đến 30, xét về mặt sinh học đây

là thời kỳ sung sức nhất về sức khoẻ và trí lực, là giai đoạn phát triển và hoàn chỉnh về thể chất và hoàn thiện tâm lý nhân cách Độ tuổi này biểu trưng cho

sự trẻ trung, mạnh mẽ và năng động nhất, thời kỳ bản thân mỗi GV trẻ tự khẳng định vai trò, vị trí, trách nhiệm của mình trong công việc

Đội ngũ GVT của NT hiện nay là lực lượng trẻ, có sức khoẻ, nghị lực, ước mơ và hoài bão, ham thích nghiên cứu học tập nâng cao tri thức hiểu biết,

có năng lực nhận thức và phương pháp tư duy khoa học, khát vọng cống hiến, thể hiện sự nhạy bén, năng động và sáng tạo của tuổi trẻ, tài năng và trí tuệ của họ đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất Trong độ tuổi này, họ đang bắt đầu ổn định về nghề nghiệp, tính chất hoạt động của họ mang tính xã hội cao Đồng thời, môi trường quân sự cũng tạo ra điều kiện khách quan thuận lợi cho quá trình rèn luyện bản lĩnh chính trị, niềm tin của người cán bộ,

GV Quân đội

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu thế và thuận lợi cơ bản đó, đội ngũ GVT lại thường hay bộc lộ những hạn chế của lớp người trẻ, đó là: sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm, thậm chí có khi suy nghĩ chưa thấu đáo, hành động vội vã, hấp tấp Tuổi trẻ giàu tính sáng tạo, hăng hái say mê hoạt động nhưng nhiều khi sôi nổi thái quá rất dễ rơi vào lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan, thiếu suy tính cặn kẽ, sâu sắc nên dễ mắc phải sai lầm, thậm chí thất bại trong công việc, từ đó sinh ra bi quan chán nản, thụ động Đây là sự phản ánh trình độ phát triển chưa ổn định, chưa bền vững các phẩm chất nhân cách của đội ngũ GV trẻ Đó là mâu thuẫn của quá trình tự phát triển, hoàn thiện nhân cách trong bản thân từng GVT

Trang 24

Ba là, đội ngũ giảng viên trẻ sống và hoạt động gắn liền với hậu phương gia đình, phần lớn hậu phương gia đình của họ chưa ổn định và còn nhiều khó khăn

Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với Quân đội và những thành tựu của công cuộc đổi mới những năm vừa qua đã góp phần cải thiện đáng kể hậu phương gia đình của GVT so với thời kỳ trước đổi mới Mặc dù số GV trẻ có vợ con ở nông thôn chiếm tỷ lệ khá lớn, nhưng cơ bản vợ con của họ đều có công ăn việc làm tương đối ổn định, thu nhập hàng tháng có thể bảo đảm được cuộc sống gia đình Hơn nữa, công tác chính sách của Quân đội,

NT những năm gần đây đối với gia đình sĩ quan đã có những chuyển biến tích cực, phần nào đã giảm bớt những suy tính thiệt hơn với bạn bè cùng lứa tuổi không phải là sĩ quan Quân đội, điều đó giúp đội ngũ GV trẻ yên tâm, gắn bó với nghề nghiệp, xác định rõ động cơ thái độ phục vụ Quân đội, củng cố ý chí phấn đấu vươn lên

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cơ bản đó, nhìn chung tình hình hậu phương gia đình của GVT hiện nay vẫn còn không ít khó khăn Đặc biệt vấn đề nhà ở và hợp lý hoá gia đình cho đội ngũ GV trẻ còn gặp rất nhiều khó khăn, đây là những trăn trở, lo lắng trong GVT hiện nay

Những đặc điểm trên của GV trẻ của Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng là khách quan, nó sẽ ảnh hưởng trục tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình BD, quản lý BD NVSP của NT Do đó, các chủ thể quản lý phải quan tâm đến yếu tố này để hoạt động BD NVSP cho GVT đạt được mục tiêu đã xác định

1.2.1.3 Hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ ở Trường

Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng

* Khái niệm bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ ở Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng

Theo tác giả giả: Hoạt động BD NVSP cho GV trẻ ở TĐHCT, BQP là

hoạt động có mục đích, có kế hoạch của các chủ thể sư phạm tác động đến

GV trẻ nhằm nâng cao kiến thức; kỹ năng, kỹ xảo và thái độ về NVSP cho GVT, qua đó giúp họ hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; góp phần nâng cao chất lượng GD - ĐT của NT

Trang 25

Hoạt động BD NVSP cho GVT ở TĐHCT, BQP là hoạt động có mục đích, có kế hoạch; không có hoạt động nào là chung chung trừu tượng, không

có mục đích nào cả; mà mọi hoạt động của con người (cá nhân, tập thể) có ý thức đều nhằm đạt đến một mục đích nhất định Để thực hiện được mục đích thì phải xác định được lực lượng, những công việc cụ thể, đề ra được lộ trình, thòi gian, bước đi và giải pháp thực hiện phù hợp; tổng hợp những nội dung

đó chính là kế hoạch Có kế hoạch khoa học, tổ chức thực hiện đúng kế hoạch thì hiệu quả của hoạt động BD sẽ đạt được kết quả như mong muốn, đạt được mục đích đã xác định; mà mục đích của hoạt động BD NVSP cho GVT là nâng cao kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ NVSP cho GVT giúp họ hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao

Chủ thể của hoạt động BD NVSP cho GV trẻ ở TĐHCT, BQP là tất các lực lượng sư phạm, các nhà quản lý giáo dục, các GV có trình độ, kinh nghiệm về BD NVSP trong toàn Trường và các Trường trong và ngoài Quân đội; nhưng tập trung vào các chủ thể đó là: Đảng ủy, Ban Giám hiệu NT, cơ quan đào tạo, các khoa giáo viên mà đặc biệt là tự BD của GVT

Khách thể hoạt động BD NVSP cho GVT ở TĐHCT, BQP chính là đội ngũ GVT của các khoa giáo viên của NT; xét ở góc độ tự BD thì đội ngũ GVT lại là chủ thể của hoạt động BD; như vậy đội ngũ GVT vừa là khách thể vừa là chủ thể của hoạt động BD NVSP

Nội dung BD NVSP, là bồi toàn diện cả về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo

và thái độ cho GVT Về kiến thức, các kiến thức cơ bản về khoa học giáo dục học đại học; vai trò và sứ mệnh của giáo dục đại học, những xu hướng phát triển của giáo dục đại học hiện đại; Các kiến thức cơ bản về tâm lí h?c, lí luận dạy học đại học, phương pháp và kĩ thuật dạy học đại học; Những vấn đề cơ bản về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học Về kĩ năng, các kĩ năng thiết kế kế hoạch dạy học, tổ chức bài học và hướng dẫn phương pháp tự học,

tự nghiên cứu cho người học ; các kĩ năng xây dựng , phát triển chương trình dạy học, sử dụng các phương tiện dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy ở đại học ; kĩ năng NCKH và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học ; các kĩ năng phân tích , tổng hợp và đánh giá quá trình dạy

Trang 26

học; kĩ năng đọc, viết, trình diễn và giao tiếp trong quá trình dạy học ; các kĩ năng tổ chức và quản lí trường đại học , cao đẳng (cấp bộ môn, khoa), quản lí người học theo quy định và nhiệm vụ của GV Về thái độ, hình thành ý thức nghề nghiệp, đạo đức và tác phong sư phạm mẫu mực của nhà giáo trong cơ

sở giáo dục đại học; hình thành lòng say mê và hứng thú trong hoạt động giảng dạy, NCKH; thể hiện thái độ khách quan, khoa học trong tổ chức và quản lí quá trình dạy học

* Đặc điểm hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ của Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng

Quản lý hoạt động BD NVSP cho GVT của TĐHCT, BQP là việc làm thường xuyên, liên tục, gắn với quá trình quản lý học tập, nghiên cứu, giảng dạy

và công tác của NT, cơ quan chức năng, các khoa giáo viên và của mỗi GVT Quản lý hoạt động BD NVSP cho GVT của TĐHCT bị chi phối bởi nhiều đặc điểm, trong đó có một số đặc điểm cơ bản là:

Thứ nhất, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ của Trường Đại học Chính trị vừa là một thiết chế giáo dục, vừa là một tổ chức quân sự

Thiết chế giáo dục được hiểu là hệ thống các cách thức, các qui tắc, các chuẩn mực chính thức hoặc không chính thức qui định và điều chỉnh hành vi hoạt động của cá nhân và tổ chức trong quá trình giáo dục Với tư cách là một thiết chế giáo dục, các trường sĩ quan Quân đội, TĐHCT phải thực hiện tốt mục tiêu GD - ĐT của đất nước, của Quân đội Toàn bộ hoạt động của các trường sĩ quan phải tuân thủ đúng hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội và trang bị cho học viên những vấn đề cơ bản về hiến pháp, pháp luật, những chuẩn mực của xã hội Việt Nam hiện nay; đồng thời phải thực hiện tốt các chức năng cơ bản của một thiết chế giáo dục Vì vậy, hoạt động BD NVSP cho GVT của TĐHCT phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật, mà trực tiếp là Luật giáo dục và các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, BQP

Với tư cách là một tổ chức quân sự, TĐHCT được tổ chức chặt chẽ theo biểu biên chế của Quân đội, đồng thời phải vừa thực hiện tốt chức năng

GD - ĐT, NCKH…, vừa phải thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của một tổ

Trang 27

chức quân sự Trong các trường sĩ quan Quân đội, quan hệ giữa người GV với học viên vừa là quan hệ thầy - trò, vừa là quan hệ đồng chí, đồng đội, vừa là quan hệ giữa chỉ huy và phục tùng Quan hệ giữa chủ thể BD với đối tượng BD trong quá trình BD NVSP thường là quan hệ cấp trên với cấp dưới, giữa chỉ huy và phục tùng Đồng thời hoạt động đó mang tính kế hoạch, tính pháp lệnh rất cao

Thứ hai, hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ của Trường Đại học Chính trị luôn bám sát, gắn chặt với mục tiêu đào tạo của Nhà trường

Mục tiêu đào tạo của TĐHCT, BQP(SQCT) là đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội, giáo viên khoa học xã hội và nhân văn, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, có trình độ đại học, cao đẳng; có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; có phẩm chất đạo đức tốt; có kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khoa học xã hội và nhân văn và những kiến thức về chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội cần thiết; có năng lực lãnh đạo, chỉ huy, huấn luyện và tiến hành công tác đảng, công tác chính trị theo chức trách, nhiệm vụ được phân công; có sức khỏe tốt và tiềm năng phát triển lâu dài đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ của Quân đội [43, tr.1]

Mục tiêu đào tạo của các NT Quân đội nói chung, Trường Đại học Chính trị nói riêng là mục tiêu kép; vừa đào tạo trình độ học vấn, vừa đào tạo chức vụ, học viên tốt nghiệp ra trường được cấp bằng cử nhân, đồng thời còn giữa chức vụ chỉ huy ban đầu ở đơn vị cơ sở trong Quân đội (Chính trị viên, Chính trị viên phó đại đội….)

Thứ ba, đội ngũ giảng viên trẻ của Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng được bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau

Đội ngũ GVT của TĐHCT, BQP được bổ sung từ học viên tốt nghiệp của các trường trong Quân đội và ngoài Quân đội, trình độ, vốn sống, mức

độ trải nghiệm trong thực tiễn hoạt động sư phạm còn ít, không đồng đều Điều này đặt ra cho công tác quản lý hoạt động BD NVSP phải tính toán đầy đủ các yếu tố đó, nhằm bảo đảm cho việc xây dựng kế hoạch, lựa chọn

Trang 28

nội dung, hình thức, phương pháp BD sát với đặc điểm, tâm lý của họ, để công tác quản lý hoạt động BD NVSP cho GVT đạt được mục tiêu đề ra Thứ tư, hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ trong điều kiện Nhà trường mới tái thành lập

Về nguồn nhân lực, còn gặp rất nhiều khó khăn; số lượng cán bộ, GV còn thiếu so với tổ chức biên chế và nhu cầu thực hiện nhiệm vụ, chất lượng không đồng đều, đội ngũ GV cơ cấu về độ tuổi chưa bảo đảm tính kế thừa, đặc biệt là GVT có trình độ sau đại học chiếm tỉ lệ thấp chỉ khoảng hơn 28,33%; cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý giáo dục phần lớn ít có kinh nghiệm trong công tác quản lý NT, quản lý giáo dục - đào tạo

Về cơ sở vật chất, trang thiết bị, điều kiện ăn, ở, làm việc của NT chưa được đầu tư xây dựng cơ bản; chủ yếu là nâng cấp cơ sở hiện có của hơn 30 năm về trước cán bộ Vật chất, trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cho nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu còn thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo trong tình hình hiện nay

1.2.2 Quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ của Trường Đại học Chính trị, Bố Quốc phòng

đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau:

- Taylor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ, muốn người khác làm việc

gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm"

- Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ

chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”

- Hard koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp

con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định"

Trang 29

- Peter.F druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích" Tác giả cho rằng: "Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản

lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công"

Chủ trương của Peter F Dalark là giới hạn doanh nghiệp từ góc độ xã hội, lấy quản lý làm chức năng chính của doanh nghiệp Vì thế, quản lý trở thành chức năng và vai trò của tổ chức xã hội, nó cũng sẽ thông qua các doanh nghiệp góp phần xây dựng chế độ xã hội mới để đạt được mục tiêu, lý tưởng là "một xã hội tự do và phát triển" Nếu không có quản lý hiệu quả thì doanh nghiệp không thể tồn tại và từ đó không thể xây dựng một xã hội tự do, phát triển

Có thể đề cập đến nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm quản lý, trên đây chỉ là một vài ý kiến mang tính đại diện trên cơ sở phân tích tổng hợp những quan điểm không giống nhau Tóm lại, những quan điểm đó tuy rất rõ ràng, đúng đắn nhưng chưa đầy đủ Chúng chỉ chú trọng đến quản lý như là một hiện tượng chứ chưa làm bộc lộ rõ bản chất của nó Vậy, làm thế nào để khái quát khái niệm quản lý một cách đơn giản và tương đối toàn diện?

Chúng ta đều biết, quản lý thực chất cũng là một hành vi, đã là hành vi thì phải có người gây ra và người chịu tác động Tiếp theo cần có mục đích của hành vi, đặt ra câu hỏi tại sao làm như vậy? Do đó, để hình thành nên hoạt động quản lý, trước tiên cần có chủ thể quản lý: nói rõ ai là người quản lý? Sau đó, cần xác định đối tượng quản lý: quản lý cái gì? Cuối cùng, cần xác

định mục đích quản lý: quản lý vì cái gì?

Có được 3 yếu tố trên nghĩa là có được điều kiện cơ bản để hình thành nên hoạt động quản lý Đồng thời, cần chú ý rằng, bất cứ hoạt động quản lý nào cũng không phải là hoạt động độc lập, nó cần được tiến hành trong môi trường,

điều kiện nhất định nào đó Như vậy, chúng ta có thể hiểu quản lý như sau:

Khái niệm trên cho thấy, chức năng quản lý là nội dung, phương thức hoạt động cơ bản mà nhờ nó chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý thông qua quá trình quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý xác định Quản

Trang 30

lý có bốn chức năng: lập kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra

Về bản chất, quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật Quản lý là hệ thống mở mà bản chất của nó là sự phối hợp các nỗ lực của con người thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý Hoạt động quản lý vừa có tính chất khách quan, vừa mang tính chủ quan, vừa có tính pháp luật nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi,… chúng là những mặt đối lập trong một hệ thống nhất Đó là biện chứng và bản chất của hoạt động quản lý Bản chất đó có thể được thể hiện ở sơ đồ 1.1

Từ cách phân tích và tiếp cận các quan điểm trên đây, xét quản lý với tư cách là một hành động, theo tác giả có thể định nghĩa quản lý:

Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra

Sơ đồ 1.1: Mô hình về quản lý

1.2.2.2 Quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ ở

Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng

Từ cách tiếp cận khái niệm quản lý và khái niệm BD NVSP, tác giả quan niệm rằng:

Quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ của Trường Đại học Chính trị (SQCT), Bộ quốc phòng là những tác động có

tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, qua

Chủ thể quản lý

Khách thể quản lý

Nội dung quản lý

Công cụ, PP quản lý Mục tiêu

quản lý

Trang 31

đó góp phần nâng cao trình độ nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ giúp họ hoàn thành tốt nhiệm vụ của người giảng viên ở Nhà trường

Mục đích của quản lý hoạt động BD là đảm bảo cho hoạt động BD

nghiệp vụ sư phạm diễn ra một cách tự giác, nhịp nhàng, khoa học, có chất lượng, hiệu quả cao Qua đó góp phần nâng cao trình độ NVSP cho GVT ở TĐHCT, BQP bảo đảm cho họ hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ giảng dạy, NCKH và thực hiện các nhiệm vụ khác, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của NT, của Quân đội trong từng giai đoạn cách mạng

Chủ thể quản lý hoạt động BD NVSP cho GVT ở TĐHCT, BQP là các

cấp uỷ đảng, lãnh đạo, chỉ huy các khoa giáo viên, Đảng uỷ, Ban Giám hiệu NT; các cơ quan chức năng; các lực lượng sư phạm cùng phối hợp trong quá trình công tác, giảng dạy ở các trường trong và ngoài Quân đội và bản thân đội ngũ GVT - với tư cách là chủ thể tự BD Trong đó, lực lượng thường xuyên, trực tiếp quyết định chất lượng, hiệu quả của quá trình BD là cấp uỷ đảng, lãnh đạo, chỉ huy các khoa, bộ môn và bản thân mỗi GVT

Đối tượng quản lý hoạt động BD NVSP cho GVT ở TĐHCT, BQP là

đội ngũ GVT giảng dạy của NT Đội ngũ GVT vừa là đối tượng tác động BD của lãnh đạo, chỉ huy, các khoa, các lực lượng sư phạm của NT vừa là chủ thể của hoạt động tự BD

Phương pháp và hình thức tổ chức BD NVSP cho GVT của TĐHCT, BQP là sử dụng tổng hợp các phương pháp, hình thức BD; có BD chung, BD

riêng; BD thường xuyên, BD theo định kỳ; BD tập trung, BD thông qua hoạt động Trong đó, chú trọng BD thường xuyên của lãnh đạo, chỉ huy, khoa, tổ

bộ môn thông qua các hình thức thông qua bài, dự giờ, kiểm tra, đánh giá, giảng rút kinh nghiệm và tự BD của mỗi GVT thông qua tự học tập, tự nghiên cứu; tự tu dưỡng, rèn luyện tác phong, phương pháp, phong cách giảng dạy

Biện pháp quản lý hoạt động BD NVSP GVT là kết hợp các nhóm giải

pháp về giáo dục nhận thức, nhóm về chức năng quản lý, với thực hiện chế độ chính sách và xây dựng môi trường sư phạm; trong đó tập trung vào nhóm giải pháp chức năng quản lý; bằng kế hoạch hóa, tổ chức chỉ đạo thực hiện,

Trang 32

kiểm ta đánh giá của các chủ thể quản lý và của mỗi GVT trong hoạt BD NVSP thông qua thực hiện nhiệm vụ GD - ĐT của NT

1.3 Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ ở Trường Đại học Chính trị , Bộ Quốc phòng

Quản lý hoạt động BD NVSP cho GVT ở TĐHCT, BQP có rất nhiều nội dung cần quan tâm quản lý; nhưng theo tác giả cần tập trung vào các nội dung cơ bản sau:

1.3.1 Thống nhất nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể tham gia quản lý hoạt động BD NVSP cho GVT của Trường Đại học Chính trị

Nhận thức là khâu đầu tiên, bước khởi đầu cho mọi hoạt động của con người, nó định hướng cho mọi hoạt động có ý thức của con người đạt được đích đã định từ trước; làm cho mọi hoạt động có ý thức của con người, mang tính tự giác, tích cực và sáng tạo; nhận thức sai dẫn đến hành động sẽ sai; có nhận thức đúng thì hành động mới đúng được, hành động đúng mới đem lại chất lượng, hiệu quả cao trong mọi hoạt động Để có nhận thức đúng, thống nhất được nhận thức của các lực lượng tham gia quản lý hoạt động BD NVSP cần làm tốt các nội dung như: Quán triệt đầy đủ các nghị quyết, chỉ thị, văn bản của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành về BD NVSP cho GVT; quán triệt đầy đủ các nghị quyết, chỉ thị, văn bản của Quân ủy Trung ương, BQP về GD - ĐT, BD NVSP; làm rõ các chính sách ưu đãi của Đảng, Nhà nước đối với sự nghiệp GD - ĐT trong Quân đội; quán triệt đầy đủ các quy chế GD - ĐT, đào tạo, BD…để nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của quản lý hoạt động BD NVSP cho GVT ở NT Đồng thời thực hiện đầy đủ các yêu cầu:

Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo thông qua các hoạt động, các chế độ học tập, sinh hoạt của NT, cần thường xuyên tổ chức quán triệt sâu sắc nghị quyết của Đảng, chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn của BQP Tổng Cục Chính trị,

Bộ Tổng Tham mưu về công tác GD - ĐT, NCKH, hoạt động BD NVSP cho GVT Ban hành quy chế, quy định và hướng dẫn các lực lượng của NT tổ chức thực hiện tốt hoạt động BD NVSP cho GVT

Các khoa giáo viên là lực lượng trực tiếp tiến hành giáo dục nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, GV, GVT về sự cần thiết, vị trí vai trò của BD

Trang 33

NVSP; Các cơ quan chức năng, khoa giáo viên thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm thông qua các hoạt động như: Quán triệt nhiệm vụ, lồng ghép các buổi hội thảo, sinh hoạt chuyên đề về nâng cao chất lượng hoạt động BD NVSP cho GVT, các hoạt động tuyên truyền hướng vào việc tôn vinh nghề dạy học, hội thi nghiệp vụ sư phạm để nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các lực lượng làm công tác giáo dục, quản lý giáo dục

1.3.2 Xây dựng kế hoạch hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ

Kế hoạch hóa hoạt động BD NVSP cho GVT về thực chất là xây dựng chương trình hành động của các chủ thể BD nâng cao trình độ NVSP cho GVT Lập kế hoạch là quá trình thiết lập mục tiêu của hệ thống, các hoạt động và điều kiện đảm bảo thực hiện các mục tiêu đó Kế hoạch là nền tảng của tổ chức hoạt động BD NVSP cho GVT Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình tổ chức hoạt động BD NVSP cho GVT Bất cứ một hoạt động nào muốn đạt được mục tiêu đã xác định thì phải xây dựng được kế hoạch hoạt động Trên cơ sở phân tích thực trạng, những thuận lợi, khó khăn, căn cứ vào khả năng, tiềm năng cần có để xác định rõ mục tiêu, nội dung hoạt động và các biện pháp cần thiết phù hợp với thực tiễn

Để thực hiện kế hoạch hóa hoạt động BD NVSP cho GVT cần phải giải quyết các vấn đề chính là: Xác định mục đích và nhiệm vụ phát triển NT, hoàn thiện quá trình sư phạm, nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác BD; xác định các con đường và các phương tiện hiện thực để hoàn thành các nhiệm vụ và đạt tới các mục đích đã nêu Kế hoạch hóa là chức năng quan trọng nhất của việc lãnh đạo, vì rằng lập nên kế hoạch tức là soạn thảo và thông qua những quyết định quản lý quan trọng nhất Công tác kế hoạch hóa bao gồm dự báo, vạch chiến lược, xây dựng các kế hoạch dài hạn, trung hạn

và ngắn hạn, các kế hoạch tác chiến hàng tháng, hàng tuần, hàng ngày Xác định quy trình và điều kiện bảo đảm sự vận hành của quá trình BD NVSP cho GVT của NT

Trang 34

Xây dựng kế hoạch là hành động đầu tiên của nhà quản lý nhằm đạt tới các mục tiêu của hoạt động quản lý giáo dục Xây dựng kế hoạch bao gồm việc xác định mục tiêu, chương trình hành động, xác định các giai đoạn hành động và từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong thời gian nhất định của hệ thống quản lý giáo dục NT

Việc xây dựng kế hoạch quản lý giúp cho nhà quản lý có cách nhìn tổng thể, bao quát toàn diện sự phát triển của NT, thấy được mối quan hệ

và tác động tương tác giữa các bộ phận thông qua đó giúp nhà quản lý ra những quyết định chính xác, điều chỉnh và lựa chọn những phương án tối

ưu, tiết kiệm nhân, vật lực, tài chính song vẫn đạt tới hiệu quả tối đa của quá trình đào tạo Nói cách khác, thông qua kế hoạch trong quản lý giáo dục, nhà quản lý giáo dục có thể giữ vững cái “bất biến” và ứng phó linh hoạt trước sự “vạn biến”, trước những thay đổi của đội ngũ giáo viên, học viên cả về số lượng, chất lượng, những tác động của thực tiễn xây dựng

và chiến đấu của Quân đội, của các nhân tố chính trị - xã hội v.v Đồng thời, việc lập kế hoạch giúp cho nhà quản lý có thể xây dựng những tiêu chí đo lường, kiểm tra xác định được các trạng thái trung gian cũng như cuối cùng của đối tượng quản lý

Kế hoạch quản lý hoạt động BD NVSP cho GVT của TĐHCT có thể được phân ra nhiều loại kế hoạch khác nhau, song thường có các loại chủ yếu như: Kế hoạch ngắn hạn, kế hoạch trung hạn, kế hoạch dài hạn hay còn gọi là kế hoạch chiến lược

1.3.3 Chỉ đạo, tổ chức thực hiện hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ

Tổ chức và điều hành các hoạt động BD NVSP cho GVT là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và nguồn lực cho các thành viên của tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác nỗ lực phấn đấu để họ có thể hoạt động và đạt các mục tiêu của tổ chức

Chức năng tổ chức và điều hành các hoạt động BD NVSP là thiết kế cơ cấu, phương thức và quyền hạn hoạt động của các bộ phận (cơ quan) quản lý giáo dục của NT sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức Chức năng tổ

Trang 35

chức là hoạt động thực hiện kế hoạch bằng tổ chức, là hoạt động thực hiện quyết định quản lý bằng những cách thức chủ yếu như:

Xây dựng cấu trúc tổ chức của đối tượng quản lý: phòng, khoa, hệ, tiểu đoàn, lớp, các tập thể tổ, nhóm, của giáo viên và học viên Xây dựng cấu trúc

tổ chức của chủ thể quản lý: Bao gồm hệ thống quản lý giáo dục của NT, lựa chọn, thiết kế các kiểu cấu trúc quản lý sao cho phù hợp với đối tượng quản lý

và có khả năng tác động đến hệ thống được quản lý nhằm bảo đảm thực hiện mục đích và nhiệm vụ được đề ra Tạo ra một mạng lưới quan hệ tổ chức (quan hệ phụ thuộc và phối hợp; quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm; phân cấp, phân quyền) trong hệ được quản lý và hệ quản lý, giữa Hiệu trưởng, giáo viên, nhân viên và học viên

Tuyển lựa, sắp xếp, BD, đào tạo cán bộ, GV, GVT của NT, sao cho có khả năng thực hiện các nhiệm vụ, chức trách đã xác định Tổ chức một cách khoa học lao động của các tập thể của NT, bao gồm lao động dạy, lao động học, lao động quản lý nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động sư phạm Vấn

đề sơ đẳng nhất, đồng thời cũng là vấn đề cơ bản nhất của công tác tổ chức là trả lời chính xác và rõ ràng các câu hỏi sau đây: làm gì, ai làm, làm lúc nào, với trách nhiệm và quyền hạn gì? Sau khi hoạch định kế hoạch và sắp xếp tổ chức, người cán bộ quản lý phải điều hành cho hệ thống hoạt động theo đúng

kế hoạch nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra

Chức năng điều hành có các nhiệm vụ sau: Ra các quyết định quản lý và

tổ chức điều hành các lực lượng của NT thực hiện các quyết định đó; đưa ra những biện pháp tác động quản lý kích thích, khuyến khích, tạo động cơ, tích cực hóa hoạt động của cả hệ thống quản lý và hệ thống bị quản lý; lựa chọn các phương tiện và các hình thức tác động đến hệ thống các nhân tố của hành vi

GV, GVT, khuyến khích vật chất cũng như tinh thần đối với mọi thành viên của tập thể sư phạm, khiến họ thực hiện và giải quyết sáng tạo các nhiện vụ giáo dục giảng dạy, học tập, NCKH, phát triển, xây dựng NT

Nhân tố cơ bản của hành vi con người và cũng là đòn bẩy để quản lý con người là những nhu cầu của con người Vì vậy, việc đưa ra các quyết định quản lý và những biện pháp tác động lên đối tượng quản lý phải

Trang 36

nghiên cứu quan tâm chú ý đến xây dựng nhu cầu như là những nhân tố của hành vi con người

1.3.4 Kiểm tra, thanh tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ

Kiểm tra là việc theo dõi và đánh giá các hoạt động của tổ chức bằng nhiều phương pháp và hình thức (trực tiếp hoặc gián tiếp, thường xuyên hoặc định kỳ) nhằm so sánh kết quả các hoạt động với mục tiêu đã xác định để nhận biết về chất lượng và hiệu quả các hoạt động Từ đó nhận biết được các mặt tốt, các sai lệch để có các quyết định quản lý nhằm phát huy các mặt tích cực, điều chỉnh hoặc xử lý những sai phạm Kiểm tra là những hoạt động của chủ thể quản lý nhằm đánh giá và xử lý những kết quả của quá trình vận hành

tổ chức Có thể nói kiểm tra là chức năng đích thực của quản lý, là khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình quản lý, giúp người quản lý hình thành cơ chế điều chỉnh theo hướng đích Kiểm tra là điểm nối giữa quá trình quản lý trước với quá trình quản lý tiếp theo

Chức năng kiểm tra của nhà quản lý đối với hoạt động BD NVSP cho GVT được thực hiện trong suốt quá trình năm học Kiểm tra giám sát càng chặt chẽ, sát sao, tỷ mỉ cả số lượng, chất lượng và tiến độ công việc để rút kinh nghiệm kịp thời càng làm cho hoạt động BD NVSP tiến hành có chất lượng cao Kiểm tra là chức năng xuyên suốt trong quá trình quản lý và là chức năng của mọi cấp của NT, bao gồm từ việc xác định các tiêu chí thực hiện nhiệm vụ

BD NVSP cho GVT, đo đạc việc thực hiện và điều chỉnh các sai lệch nhằm làm cho toàn bộ hệ thống quản lý đạt mục tiêu đã định Kiểm tra là hoạt động kiểm soát, kiểm kê, hạch toán, phân tích, tổng kết Kiểm tra bao gồm các nhiệm vụ chủ yếu sau: Quan sát và xét lại xem tiến trình thực tế của quá trình BD NVSP cũng như toàn bộ hoạt động BD, GD - ĐT của NT có phù hợp với quyết định quản lý, phù hợp với kế hoạch, chương trình, chuẩn mực, quy tắc, chế độ, công nghệ đã được đề

ra không Thu thập, hệ thống hóa, phân tích, đánh giá các kết quả thực tế của tác động BD đối với GVT, cũng như tác động quản lý đối với NT Phát hiện những sai lệch của quá trình BD NVSP và hoạt động của NT so với các yêu cầu của quyết định quản lý, chỉ ra các nguyên nhân gây nên những sai sót đó,

để làm cơ sở cho những quyết định các biện pháp nhằm khắc phục những

Trang 37

sai lệch nói trên Kiểm tra công BD NVSP là vạch ra và khắc phục kịp thời những yếu kém trong quá quản lý BD NVSP và trong quản lý hoạt động của NT

Các nội dung quản lý hoạt động BD NVSP cho GVT của TĐHCT có vị trí, ý nghĩa khác nhau, không ngang bằng nhau; nhưng có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất, chặt chẽ với nhau Trong quá trình tổ chức quản lý hoạt động BD NVSP cho GVT của TĐHCT không được tuyệt đối hóa một nội dung nào, đồng thời cũng không được xem nhẹ bất cứ nội dung nào; mà phải tiến hành đầy đủ các nội dung quản lý trên

1.4 Tiêu chí đánh giá quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ của Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng

Quản lý hoạt động BD NVSP cho GVT của TĐHCT là quá trình bao gồm rất nhiều hoạt động khác nhau; với sự tham gia của nhiều tổ chức, nhiều lực lượng trong toàn NT Từ tính chất phức tạp của nó, việc đánh giá chất lượng, hiệu quả của các hoạt động BD NVSP cho GVT của TĐHCT là hết sức cần thiết

Để đánh giá khách quan, chính xác hoạt động BD NVSP cho GVT của TĐHCT cần phải được dựa trên những tiêu chí nhất định Sau đây là một số tiêu chí được xem như là những cứ để đánh giá hoạt động BD NVSP cho GVT của TĐHCT

1.4.1 Các tiêu chí đánh giá nhận thức của các lực lượng tiến hành bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ của Trường Đại học Chính trị

- Mức độ nhận thức về vị trí, vai trò của nghiệp vụ sư phạm đối với người GV KHXHNV ở các trường quân sự nói chung, TĐHCT nói riêng;

- Mức độ nhận thức về sự cần thiết quản lý hoạt động BD NVSP cho GVT của TĐHCT;

- Mức độ nhận thức về các hình thức, biện pháp tiến hành hoạt động

Trang 38

1.4.2 Các tiêu chí đánh giá việc tổ chức thực hiện các hoạt động bồi bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ của Trường Đại học Chính trị

- Có mục tiêu BD NVSP cho GVT của TĐHCT rõ ràng, cụ thể, khoa học;

- Có kế hoạch BD NVSP cho GVT của TĐHCT chặt chẽ, khoa học, phù hợp với điều kiện cụ thể của NT;

- Có hệ thống văn bản để tổ chức, quản lý hoạt động BD NVSP cho GVT của TĐHCT;

- Phân định chức năng, quyền hạn và sự phối kết hợp giữa các tổ chức, các lực lượng tiến hành hoạt độngBD NVSP cho GVT;

- Tính sáng tạo trong việc đề xuất các hình thức, biện pháp tiến hànhhoạt động BD NVSP cho GVT;

- Khả năng thực hiện các biện pháp tiến hành hoạt động BD NVSP cho GVT;

- Sự phối, kết hợp giữa các chủ thể quản lý và các tổ chức, các lực lượng trong việc tiến hànhhoạt động BD NVSP cho GVT;

- Có kế hoạch và phương pháp khoa học, hợp lý để đánh giá sự tiến bộ

1.4.4 Các tiêu chí đánh giá về kết quả hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư

phạm cho giảng viên trẻ của Trường Đại học Chính trị

- Các tiêu chí đánh giá sự tiến bộ về nhận thức của GVT :

+ Sự tiến bộ trong nhận thức các kiến thức khoa học nói chung;

+ Sự tiến bộ trong nhận thức về khoa học chuyên ngành;

Trang 39

+ Sự tiến bộ trong nhận thức về Khoa học Giáo dục

- Các tiêu chí đánh giá sự phát triển về các kỹ năng sư phạm:

+ Kỹ năng xây dựng, thiết kế chương trình đào tạo;

+ Kỹ năng tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch đào tạo;

+ Kỹ năng thiết kế mục tiêu, nội dung dạy học;

+ Kỹ năng tiến hành lựa chọn và thực hiện các hình thức, phương pháp , phương tiện dạy học;

+ Kỹ năng nắm bắt, đánh giá đúng thực trạng giáo dục - đào tạo;

+ Kỹ năng tổ chức đánh giá kết quả học tập của học viên;

+ Tính sáng tạo trong việc đề xuất các hình thức, biện pháp đổi mới giáo dục - đào tạo;

+ Kỹ năng tiến hành hoạt động NCKH;

+ Kỹ năng kết hợp giữa dạy học với giáo dục nhân cách học viên;

+ Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác, kỹ năng làm việc theo nhóm

- Các tiêu chí đánh giá sự tiến bộ về phong cách, tác phong sư phạm: + Sự mô phạm về đạo đức, lối sống;

+ Trung thực, thẳng thắn trong công việc, trong cuộc sống

+ Khiêm tốn, giản dị, nói đi đôi với làm;

1.5.1 Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên đại học cao đẳng của Bộ giáo dục và Đào tạo

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành chương trình khung BD nghiệp

vụ sư phạm cho GV đại học và cao đẳng tại Thông tư 12/2013/TT-BGDĐT

Trang 40

ngày 12 tháng 4 năm 2013, có hiệu lực kể từ ngày 16 tháng 6 năm 2013 với mục tiêu là: Trang bị kiến thức và kĩ năng nghiệp vụ s ư phạm cơ bản về giảng dạy đại học cho các đối tượng chưa qua đào tạo về nghiệp vụ sư phạm muốn trở thành GV trong cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá , nhằm bổ sung nguồn nhân lực và nâng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ GV trong cơ sở giáo dục đại học, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế Chương trình xác định mục tiêu cụ thể là:

Về kiến thức, người học được trang bị:

- Các kiến thức cơ bản về khoa học giáo dục học đại học; vai trò và sứ mệnh của giáo dục đại học, những xu hướng phát triển của giáo dục đại học hiện đại;

- Các kiến thức cơ bản về tâm lí học, lí luận dạy học đại học , phương pháp và kĩ thuật dạy học đại học;

- Những vấn đề cơ bản về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học

Về kĩ năng, người học được cung cấp:

- Các kĩ năng thiết kế kế hoạch dạy học , tổ chức bài học và hướng dẫn phương pháp tự học, tự nghiên cứu cho người học;

- Các kĩ năng xây dựng , phát triển chương trình dạy học , sử dụng các phương tiện dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy ở đại học; kĩ năng NCKH và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học;

- Các kĩ năng phân tích , tổng hợp và đánh giá quá trình dạy học ; kĩ năng đọc, viết, trình diễn và giao tiếp trong quá trình dạy học;

- Các kĩ năng tổ chức và quản lí trường đại học , cao đẳng (cấp bộ môn, khoa), quản lí người học theo quy định và nhiệm vụ của GV

Về thái độ, giúp người học:

- Hình thành ý thức nghề nghiệp, đạo đức và tác phong sư phạm mẫu mực của nhà giáo trong cơ sở giáo dục đại học;

- Hình thành lòng say mê và hứng thú trong hoạt động giảng dạy, NCKH;

- Thể hiện thái độ khách quan , khoa học trong tổ chức và quản lí quá trình dạy học

Ngày đăng: 26/02/2020, 23:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w