1. Trang chủ
  2. » Tất cả

ÔN TẬP VB CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG

16 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 128 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận xét về cách kết thúc Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, cú ý kiến cho rằng: “Truyện kết thúc có hậu, thể hiện được ước mong của con người về sự công bằng trong cuộc đời”,

Trang 1

ÔN TẬP “CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG”

Câu 1 Đọc kĩ đoạn văn sau và trả lời ngắn gọn các câu hỏi bên dưới

“Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên thế

là đủ rồi Chỉ e vịêc quân khó liệu, thế giặc khôn lường Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến cho tiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn

áo rét gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.”

( Ngữ Văn 9 Tập I)

a Đoạn văn trên trích từ văn bản nào? Tác giả là ai?

b Tóm tắt truyện có đoạn trích bằng một đoạn văn từ 5- 7 câu

c Nêu ngắn gọn giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm

d Hãy kể tóm tắt những chi tiết khiến cho văn bản ấy mang đậm tính truyền kì

và nêu ý nghĩa của những chi tiết đó

Câu 2 Phân tích giá trị biểu đạt của một số yếu tố miêu tả trong câu văn sau:

“Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh, mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió, khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồm

xa đâu cú thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa”

Câu 3 Hình ảnh cái bóng có ý nghĩa gì trong cách kể chuyện?

Câu 4 Kết thúc truyện “ Chuyện người con gái Nam Xương ‘ Nguyễn Dữ viết : 

“ Vũ Nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng giữa dòng, theo sau đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện.

Chàng vội gọi, nàng vẫn ở giữa dòng mà núi vọng vào: 

- Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đó thề sống chết cũng không bỏ Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa.

Rồi trong chốc lát, bóng nàng loang loỏng mờ dần rồi biến mất.”

a Nêu cảm nhận của em về cách kết thúc câu chuyện trên

b Trình bày suy nghĩ của em về lòng khoan dung

Câu 5 Nhận xét về cách kết thúc Chuyện người con gái Nam Xương của

Nguyễn Dữ, cú ý kiến cho rằng: “Truyện kết thúc có hậu, thể hiện được ước mong của con người về sự công bằng trong cuộc đời”, song ý kiến khác lại khẳng định: “Tính bi kịch của truyện vẫn tiềm ẩn ở ngay trong cái kết lung linh ḱì ảo”

Hãy trình bày suy nghĩ của em về hai ý kiến trên

Câu 6 Truyện có những chi tiết kì ảo nào? Tác dụng của những chi tiết kì ảo đó Câu 7 Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi

“Đoạn rồi nàng tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng:

- Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin

Trang 2

làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ.”

(Theo Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục, 2010)

1 Đoạn văn trên được trích từ văn bản nào? Do ai sáng tác?

2 Tìm ít nhất hai thành ngữ có trong đoạn văn Giải thích ý nghĩa của hai thành ngữ đó

3 Các câu trong đoạn văn trên liên kết với nhau bằng phép liên kết nào?

4 Từ việc Vũ Nương quyết tìm đến cái chết để chứng minh cho tấm lòng trong sạch của mình, em hãy viết đoạn văn bàn về lòng tự trọng của con người

Câu 8

" - Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ Đa tạ tình

chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa."

( SGK Ngữ văn 9, tập I, trang

48)

1 Xác định những từ ngữ xưng hô trong đoạn trích trên

2 Dựa vào các từ xưng hô và từ ngữ in đậm trong đoạn trích, cho biết Vũ Nương đã tuân thủ phương châm hội thoại nào? Vì sao?

3.Ý nghĩa của lời thoại trên trong "Chuyện người con gái Nam

Xương"-Nguyễn Dữ?

Câu 2 Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời câu hỏi :

“Thiếp vốn con kẻ khó được nương tựa nhà giàu Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết Tô son điểm phấn đã từng nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót Đâu có sự

hư thân mất nết như lời chàng nói Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp.”

1 Đoạn trích trên nằm trong tác phẩm nào? Tác giả là ai?

2 Đoạn trích trên là lời của nhân vật nào nói với nhân vật nào? Nói nhằm mục đích gì? Qua đó thể hiện phẩm chất nào của nhân vật?

3 Tóm tắt truyện ngắn có đoạn trích trên bằng một đoạn văn từ 5- 7 câu

4 Giải thích ý nghĩa nhan đề Truyền kì mạn lục.

5 Trong Chuyện người con gái Nam Xương, lúc vắng chồng, Vũ Nương hay

đùa con, chỉ vào bóng mình mà bảo là cha Đản Chi tiết đó đã nói lên điều gì ở nhân vật này? Việc tác giả đưa vào cuối truyện yếu tố kỳ ảo nói về sự trở về chốc lát của Vũ Nương có làm cho tính bi kịch của tác phẩm mất đi không? Vì sao?

6 Từ ý câu văn “ Thiếp vốn con kẻ khó được nương tựa nhà giàu”, em hãy viết một đoạn văn bàn về tính tự lập của con người trong cuộc sống

Câu 9 Phân tích vẻ đẹp và số phận của Vũ Nương

Gợi ý:

Câu 1

a Đoạn văn trích từ “Chuyện người con gái “Nam Xương” của Nguyễn Dữ

Trang 3

b Tóm tắt ngắn gọn truyện: Vũ Nương nết na xinh đẹp Trương Sinh cưới

nàng về Sau đó, Trương Sinh phải đi lính Vũ Nương ở nhà chăm sóc mẹ già con trẻ Bà mẹ vì quá nhớ con buồn rầu mà chết Nàng ma chay tế lễ chu đáo

Vũ Nương hàng đêm thường chỉ bóng mình trên vách bảo với con đấy là cha Đản Khi giặc tan trương Sinh trở về đứa trẻ không nhận là cha mình Nghe nó

kể lại Trương Sinh nghi ngờ vợ mình thất tiết, đánh đuổi vợ ra khỏi nhà Vũ Nương thanh minh không được đành phải nhảy xuống sông Hoàng Giang tự vẫn Cùng làng có người tên là Phan Lan vì cứu Linh Phi lúc hóa rùa đã được Linh Phi cứu sống, tình cờ gặp Vũ Nương ở thủy cung Phan Lang trở về trần gian Vũ Nương gửi theo chiếc hoa vàng cùng lời nhắn Trương Sinh Biết vợ bị oan Trương Sinh đã lập đàn giải oan bên bến Hoàng Giang Vũ Nương hiện ra giữa dòng ngồi trên chiếc kiệu hoa đạ tạ chàng rồi biến mất

c

1 Giá trị hiện thực:

- Chuyện phản ánh hiện thực xã hội phong kiến bất công với chế độ nam quyền, chà đạp số phận người phụ nữ (Đại diện là nhân vật Trương Sinh)

- Phản ánh số phận con người chủ yếu qua số phận phụ nữ: chịu nhiều oan khuất

và bế tắc

- Phản ánh xã hội phong kiến với những cuộc chiến tranh phi nghĩa làm cho cuộc sống của người dân càng rơi vào bế tắc

2 Giá trị nhân đạo:

a Ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam thông qua nhân vật Vũ Nương

Tác giả đặt nhân vật Vũ Nương vào những hoàn cảnh khác nhau để bộc lộ đời sống và tính cách nhân vật

Ngay từ đầu, nàng đã được giới thiệu là “tính đã thuỳ mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp” Chàng Trương cũng bởi mến cái dung hạnh ấy, nên mới xin với

mẹ trăm lạng vàng cưới về

Cảnh 1: Trong cuộc sống vợ chồng bình thường, nàng luôn giữ gìn khuôn

phép nên dù chồng nàng đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức nhưng gia đình chưa từng phải bất hoà

Cảnh 2: Khi tiễn chồng đi, Vũ Nương rót chén rượu đầy, dặn dò chồng

những lời tình nghĩa đằm thắm Nàng “chẳng dám mong ” vinh hiển mà chỉ cầu cho chồng “khi về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi” Vũ Nương

cũng thông cảm cho những nỗi gian lao, vất vả mà chồng sẽ phải chịu đựng Và xúc động nhất là những lời tâm tình về nỗi nhớ nhung, trông chờ khắc khoải của mình khi xa chồng Những lời văn từng nhịp, từng nhịp biền ngẫu như nhịp đập trái tim nàng - trái tim của người vợ trẻ khát khao yêu thương đang thổn thức lo

âu cho chồng Những lời đso thấm vào lòng người, khiến ai ai cũng xúc động ứa hai hàng lệ

Cảnh 3: Rồi đến khi xa chồng, nàng càng chứng tỏ và bộc lộ nhiều phẩm

chất đáng quý Trước hết, nàng là người vợ hết mực chung thuỷ với chồng Nỗi buồn nhớ chồng vò võ, kéo dài qua năm tháng Mỗi khi thấy “bướm lượn đầy

Trang 4

vườn” – cảnh vui mùa xuân hay “mây che kín núi” – cảnh buồn mùa đông, nàng lại chặn “nỗi buồn góc bể chân trời nhớ người đi xa Đồng thời, nàng là người

mẹ hiền, hết lòng nuôi dạy, chăm sóc, bù đắp cho đứa con trai nhỏ sự thiếu vắng tình cha Bằng chứng chính là chiếc bóng ở phần sau câu chuyện mà nàng vẫn bảo đó là cha Đản Cuối cùng, Vũ Nương còn bộc lộ đức tính hiếu thảo của người con dâu, tận tình chăm sóc mẹ chồng già yếu, ốm đau Nàng lo chạy chữa thuốc thang cho mẹ qua khỏi, thành tâm lễ bái thần phật, bởi yếu tố tâm linh đối

với người xưa là rất quan trọng Nàng lúc nào cũng dịu dàng, “lấy lời ngọt ngào khôn khéo, khuyên lơn” Lời trăng trối cuối cùng của bà mẹ chồng đã đánh giá cao công lao của Vũ Nương đối với gia đình: “Xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ” Thông thường, nhất là trong xã hội cũ, mối

quan hệ mẹ chồng – con dâu là mối quan hệ căng thẳng, phức tạp Nhưng trước người con dâu hết mực hiền thảo như Vũ Nương thì bà mẹ Trương Sinh không

thể không yêu mến Khi bà mất, Vũ Nương đã “hết lời thương xót, phàm việc

ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình” Có thể nói, cuộc đời Vũ

Nương tuy ngắn ngủi nhưng nàng đã làm tròn bổn phận của người phụ nữ: một người vợ thuỷ chung, một người mẹ thương con, một người dâu hiếu thảo ở bất

kỳ một cương vị nào, nàng cũng làm rất hoàn hảo

Cảnh 4: Khi bị chồng nghi oan, nàng đã tìm mọi cách để xoá bỏ ngờ vực

trong lòng Trương Sinh

+ ở lời nói đầu tiên, nàng nói đến thân phận mình, tình nghĩa vợ chồng và khẳng định tấm lòng chung thuỷ trong trắng của mình Cầu xin chồng đừng nghi oan, nghĩa là nàng đã cố gắng hàn gắn, cứu vãn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ

+ ở lời nói thứ hai trong tâm trạng “bất đắc dĩ”, Vũ Nương bày tỏ nỗi thất

vọng khi không hiểu vì sao bị đối xử tàn nhẫn, bất công, không có quyền tự bảo

vệ mình, thậm chí không có quyền được bảo vệ bởi những lời biện bạch, thanh minh của hàng xóm láng giềng Người phụ nữ của gia đình đã mất đi hạnh phúc

gia đình, “thú vui nghi gia nghi thất” Tình cảm đơn chiếc thuỷ chung nàng dành cho chồng đã bị phủ nhận không thương tiếc Giờ đây “bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió, khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồn xa”, cả nỗi nhớ chờ chồng mà

hoá đá trước đây cũng không còn Vậy thì cuộc đời còn gì ý nghĩa nữa đối với người vợ trẻ khao khát yêu thương ấy?

+ Chẳng còn gì cả, chỉ có nỗi thất vọng tột cùng, đau đớn ê chề bởi cuộc hôn nhân đã không còn cách nào hàn gắn nổi, mà nàng thì phải chịu oan khuất tày trời Bị dồn đến bước đường cùng, sau mọi cố gắng không thành, Vũ Nương chỉ còn biết mượn dòng nước Hoàng Giang để rửa nỗi oan nhục Nàng đã tắm gội chay sạch mong dòng nước mát làm dịu đi tức giận trong lòng, khiến nàng suy nghĩ tỉnh táo hơn để không hành động bồng bột Nhưng nàng vẫn không thay đổi quyết định ban đầu, bởi chẳng còn con đường nào khác cho người phụ nữ bất hạnh này Lời than của nàng trước trời cao sông thẳm là lời nguyện xin thần sông chứng giám cho nỗi oan khuất cũng như đức hạnh của nàng Hành động trẫm mình là hành động quyết liệt cuối cùng, chất chứa nỗi tuyệt vọng đắng cay nhưng cũng đi theo sự chỉ đạo của lý trí

Trang 5

+ Được các tiên nữ cứu, nàng sống dưới thuỷ cung và được đối xử tình nghĩa Nàng hết sức cảm kích ơn cứu mạng của Linh Phi và các tiên nữ cung nước Nhưng nàng vẫn không nguôi nỗi nhớ cuộc sống trần thế – cuộc sống nghiệt ngã

đã đẩy nàng đến cái chết Vũ Nương vẫn là người vợ yêu chồng, người mẹ thương con, vẫn nặng lòng nhung nhớ quê hương, mộ phần cha mẹ, đồng thời vẫn khao khát được trả lại danh dự Bởi vậy mà nàng đã hiện về khi Trương Sinh lập đàn giải oan Thế nhưng “cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ”, Vũ Nương không quay trở về trần gian nữa

Tóm lại: Vũ Nương là một người phụ nữ xinh đẹp, nết na, hiền thục lại đảm

đang, tháo vát, thờ kính mẹ chồng rất mực hiếu thảo, một dạ thuỷ chung với chồng, hết lòng vun đắp cho hạnh phúc gia đình Nàng là người phụ nữ hoàn hảo, lý tưởng của mọi gia đình, là khuôn vàng thước ngọc của mọi người phụ

nữ Người như nàng xứng đáng được hưởng hạnh phúc trọn vẹn, vậy mà lại phải chết oan uổng, đau đớn

b Cảm thông cho những đau khổ mà Vũ nương phải gánh chịu

c

Những chi tiết kì ảo:

- Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa

- Phan Lang lạc vào động rùa của Linh Phi, được đãi yến vàgặp, trò chuyện với

Vũ Nương; được trở về dương thế

- Vũ Nương hiện về sau khi Trương Sinh lập đàn giải oan chonàng ở bến Hoàng Giang

Ý nghĩa:

- Tăng sức hấp dẫn bằng sự li kì và trí tượng tượng phongphú

- Hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của Vũ Nương, mộtngười dù đã ở thế giới khác, vẫn quan tâm đến chồng con, nhà cửa, phần mộ tổtiên, khao khát được phục hồi danh dự

- Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu, thể hiện ước mơ ngànđời của nhân dân

ta về sự công bằng: người tốt dù có phải trải qua bao oankhuất, cuối cùng sẽ được minh oan

- Khẳng định niềm cảm thương của tác giả đối với sự bi thảmcủa người phụ nữ trong xã hội phong kiến

Câu 2

- Đây là lời thoại thứ 2 của Vn khi bị TS hắt hủi, tình vợ chồng gắn bó bị tan vỡ, hạnh phúc tiêu tan

- Vũ nương k nói trực tiếp mà mượn các hình ảnh ước lệ thể hiện tâm trạng đâu khổ và tuyệt vọng cùng cực của mình:

+ Bình rơi trâm gẫy: tình vợ chồng tan vỡ.

+Mây tạnh mưa tan: Tình vợ chồng nguội lạnh.

+Sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió: Sự tàn lụi của hạnh phúc

+Khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn: cố gắng níu giữ

Hp mà k đc

+ Nước thẳm buồm xa : Những đau khổ chờ chồng đến hóa đá giờ cũng k thể làm lại được nữa

Trang 6

-> Hình ảnh ước lệ diễn tả một cách thấm thía, xúc động tâm trạng của VN Nỗi đau, luyến tiếc cuojc sống gia đình đầm ấm, hạnh phúc; sự tuyệt vọng trước những oan trái cuộc đời Chính những yếu tố miêu tả qua những hình ảnh ước lệ

có tác dụng diễn tả sâu sắc tâm trạng đau khổ của Vũ nương

Câu 3 Phân tích ý nghĩa của chi tiết cái bóng

- Về nghệ thuật : chi tiết cái bóng tạo lên cách thắt nút, mở nút hết sức bất ngờ,

hấp dẫn:

+ Cái bóng là biểu hiện của tình yêu thương, lòng chung thuỷ, trở thành nguyên nhân trực tiếp của nỗi đau oan khuất, dẫn đến cái chết bi thảm của nhân vật (thắt nút)

+ Cái búng làm nên sự hối hận của chàng Trương và giải oan cho Vũ Nương (mở nút)

-Về nội dung :

+ Với VN: cái bóng là nỗi nhớ chồng của VN

+ Với Trương Sinh: cái bóng là bằng chứng về sự hư hỏng của VN

+ Với bé Đản: Cái bóng là người cha đích thực

+ Chi tiết cái bóng làm cho cái chết Vũ Nương thêm oan ức và giá trị tố cáo xã hội phong kiến nam quyền đầy bất công với phụ nữ thêm sâu sắc

+ Phải chăng, qua chi tiết cái bóng, tác giả ngầm muốn nói trong xã hội phong kiến, thân phận người phụ nữ mong manh và rẻ rúng chẳng khác nào cái bóng trên tường

Câu 4

* Hình ảnh Vũ Nương trở về trong một không gian rực rỡ và tràn đầy ánh sáng như một sự đền bù xứng đáng cho người phụ nữ có phẩm chất tốt đẹp

nhưng cuộc đời bất hạnh Nỗi oan của Vũ Nương đó được giải Đây là một kết thúc có hậu ta vẫn thường gặp trong truyện dân gian: Ở hiền gặp lành

- Cách kết thúc ấy đó làm hoàn thiện thêm vẻ đẹp ở nhân vật Vũ Nương

+ Đối với chồng con: nàng là người phụ nữ độ lượng, vị tha, ân tình, nhân hậu + Đối với Linh Phi: ngàng là người trọng tình, trọng nghĩa giữ trọn lời hứa

.- Cõu chuyện kết thúc có hậu song vẫn tiềm tàng tính bi kịch, Vũ Nương mói mói khụng thể trở về trần gian, cuộc sống giàu sang mà nàng có nơi làn mây cung nước chỉ là ảo ảnh, hạnh phúc thực sự sẽ không bao giờ đến với Vũ Nương Chọn cách kết thúc ấy làm giá trị tố cáo của truyện càng trở nên sâu sắc Chế độ nam quyền độc đoán đó không cho người phụ nữ quyền hưởng hạnh phúc Phải chăng với những người phụ nữ phong kiến hạnh phúc đối với họ là quá mong manh, hư không

- Hình ảnh Vũ Nương trở về trên kiệu hoa rực rỡ là hỡnh ảnh đặc sắc nhất thể hiện đặc trưng của thể loại truyền kì làm truyện thêm sâu sắc, hấp dẫn

- Hỡnh ảnh cuối truyện Vũ Nương hiện lên mờ ảo lúc ẩn lúc hiện nói với chồng vài lời rồi biến mất Nàng không thể trở lại nhân gian được nữa dù rất thương nhớ chồng con, dù Trương Sinh rất hối hận đau lòng đó nói lên một bài học: Phải có niềm tin với những người thân yêu, bởi nếu thiếu nó thì sẽ rất khó đắp xây hạnh phúc gia đinh, phải biết trân trọng nâng niu những gì mình đang có

* Viết đoạn văn về lòng khoan dung:

- Hình thức: Tự chọn (diễn dịch hoặc quy nạp)

Trang 7

- Nội dung:

+ Khoan dung có nghĩa là rộng lòng tha thứ Người có long khoan dung luôn tôn

trọng và thông cảm với người khác khi họ hối hận và sửa chữa lỗi lầm

+ Biểu hiện:

* Trong gia đình:

- Cha mẹ, ông bà, bao dung cho con, cháu khi con, cháu…biết nhận lỗi lầm sau mỗi lần mắc lỗi

- Là sự tha thứ của anh chị em mỗi khi mắc sai lầm

* Trong nhà trường:

- Là sự bao dung của thầy cô trước những lỗi lầm của HS

- Là sự rộng lượng trước những khuyết điểm của bạn bè khi họ ân hận và sửa chữa Nhường nhịn bạn bè, nhường nhịn em nhỏ Góp ý giúp bạn sửa chữa khuyết điểm Chăm chú lắng nghe để hiểu mọi người

* Trong XH và c/s: Biết bỏ qua, tha thứ trước những lỗi lầm của người khác khi

họ đã biết ăn năn, hối lỗi

- Sống cởi mở, gần gũi với mọi người và cư xử một cách chân thành, rộng lượng, biết tôn trọng và chấp nhận cá tính, sở thích, thói quen của người khác trên cơ sở những chuẩn mực XH

+ ý nghĩa:

- Là một đức tính cao đẹp của con người Người có lòng khoan dung luôn được mọi người yêu mến, tin cậy và có nhiều bạn tốt

- Nhờ có long khoan dung mà c/s, quan hệ giữa mọi người trở nên lành mạnh, thân ái, dễ chịu Xua tan lạnh giá, mang đến cho đời ánh sang và sự ấm áp

- Trong gia đình, lòng khoan dung giúp mỗi thành viên trong gia đình yêu thương, đùm bọc, chia sẻ, thông cảm cho nhau nhiều hơn Không có long khoan dung gia đình sẽ tan vỡ

- Lòng khoan dung sẽ kết nối những trái tim yêu thương gần nhau hơn

- Có lòng khoan dung con người chiến thắng được tư tưởng hẹp hòi, ích kỉ

* Lật ngược vấn đề:

Hiện nay, còn nhiều người cố chấp, không biết tha thứ trước lỗi lầm của người khác khi họ biết hối hận…

* Liên hệ- Bài học:

* Biện pháp

Câu 5 Nhận xét về cách kết thúc Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ có 2 ý kiến:

“Truyện kết thúc có hậu, thể hiện được ước mong của con người về sự công bằng trong cuộc đời”

“Tính bi kịch của truyện vẫn tiềm ẩn ở ngay trong cái kết lung linh ḱ ảo”

Cả hai ý kiến trên đều nói lên được ý nghĩa của cỏch kết thỳc Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ Hai ý kiến trờn khụng phải mõu thuẫn với nhau mà nú bổ sung cho nhau để nói lên đầy đủ ý nghĩa sõu xa của cỏch kết thỳc vừa cú hậu vừa mang tính bi kịch sâu sắc của tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ

-Ý kiến thứ nhất muốn đề cao kết thúc có hậu của tác phẩm, thể hiện mơ ước ngàn đời của nhân dân về lẽ công bằng: Người tốt dù có trải qua bao oan khuất

Trang 8

cuối cùng cũng được đền trả xứng đáng, cái thiện bao giờ cũng chiến thắng -Ý kiến thứ hai muốn đề cập tính bi kịch của tác phẩm.Vũ Nương trở về uy nghi, rực rỡ nhưng chỉ thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện ở giữa dũng sụng và sau lời tạ từ đầy ngậm ngùi rồi biến mất Nàng không trở lại trần gian thực ra đâu phải cái nghĩa với Linh Phi: “ Thiếp cám ơn đức Linh Phi, đó thề sống chết cũng khụng bỏ”, mà điều chủ yếu là nàng chẳng cũn gỡ để trở về Đàn giải oan chỉ là một chút an ủi cho người bạc phận chứ không thể làm sống lại tỡnh xưa Nỗi oan được giải, nhưng hạnh phúc thực sự đâu có thể tỡm lại được nữa Sự dứt áo ra đi của Vũ Nương biểu hiện thái độ phủ định cừi trần thế với cỏi xó hội bất cụng đương thời, xó hội mà ở đó phụ nữ không thể có hạnh phúc Như vậy trong ý kiến nhận xét thứ hai muốn đề đến với sự phê phán và niềm thương cảm của tác giả tiềm ẩn trong cái kết lung linh kì ảo

Câu 6 Cần chỉ ra được các chi tiết kì ảo trong câu chuyện :

+ Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa

+ Phan Lang gặp nạn, lạc vào động rùa, gặp Linh Phi, được cứu giúp; gặp lại

Vũ Nương, được sứ giả của Linh Phi rẽ đường nước đưa về dương thế

+ Vũ Nương hiện về trong lễ giải oan trên bến Hoàng Giang giữa lung linh, huyền ảo rồi lại biến mất

- Ý nghĩa của các chi tiết kì ảo

+ Làm hoàn chỉnh thêm nét đẹp vốn có của nhân vật Vũ Nương: nặng tình, nặng nghĩa, quan tâm đến chồng con, khao khát được phụ hồi danh dự

+ Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu cho câu chuyện

+ Thể hiện ước mơ về lẽ công bằng ở đời của nhân dân

+ Tăng thờm ý nghĩa tố cáo hiện thực của xã hội

+ Thể hiện tấm lòng yêu thương, kính trọng và bênh vực, bù đắp những mất mát của nàng

+ Thể hiện nỗi day dứt, dày vò của Trương Sinh

Câu 7 Vì sao Vũ Nương phải chết oan khuất? Từ đó em cảm nhận được điều

gì về thân phận người phụ nữ dưới chế độ phong kiến?

Những duyên cớ khiến cho một người phụ nữ đức hạnh như Vũ Nương không thể sống mà phải chết một cách oan uổng:

- Nguyên nhân trực tiếp: do lời nói ngây thơ của bé Đản Đêm đêm, ngồi

buồn dưới ngọn đèn khuya, Vũ Nương thường “trỏ bóng mình mà bảo là cha Đản” Vậy nên Đản mới ngộ nhận đó là cha mình, khi người cha thật chở về thì không chịu nhận và còn vô tình đưa ra những thông tin khiến mẹ bị oan

- Nguyên nhân gián tiếp:

+ Do người chồng đa nghi, hay ghen Ngay từ đầu, Trương Sinh đã được

giới thiệu là người “đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức”, lại thêm “không

có học” Đó chính là mầm mống của bi kịch sau này khi có biến cố xảy ra Biến

cố đó là việc Trương Sinh phải đi lính xa nhà, khi về mẹ đã mất Mang tâm trạng buồn khổ, chàng bế đứa con lên ba đi thăm mộ mẹ, đứa trẻ lại quấy khóc

không chịu nhận cha Lời nói ngây thơ của đứa trẻ làm đau lòng chàng: “Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia, chỉ nín thin thít” Trương Sinh gạn hỏi đứa bé lại đưa thêm những thông tin gay

Trang 9

cấn, đáng nghi: “Có một người đàn ông đêm nào cũng đến” (hành động lén lút che mắt thiên hạ), “mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đảng ngồi cũng ngồi” (hai người rất

quấn quýt nhau), “chẳng bao giờ bế Đản cả” (người này không muốn sự có mặt của đứa bé) Những lời nói thật thà của con đã làm thổi bùng lên ngọn lửa ghen tuông trong lòng Trương Sinh

+ Do cách cư xử hồ đồ, thái độ phũ phàng, thô bạo của Trương Sinh Là

kẻ không có học, lại bị ghen tuông làm cho mờ mắt, Trương Sinh không đủ bình tĩnh, sáng suốt để phân tích những điều phi lý trong lời nói con trẻ Con người độc đoán ấy đã vội vàng kết luận, “đinh ninh là vợ hư” Chàng bỏ ngoài tai tất

cả những lời biện bạch, thanh minh, thậm chí là van xin của vợ Khi Vũ Nương hỏi ai nói thì lại giấu không kể lời con Ngay cả những lời bênh vực của họ hàng, làng xóm cũng không thể cời bỏ oan khuất cho Vũ Nương Trương Sinh

đã bỏ qua tất cả những cơ hội để cứu vãn tấn thảm kịch, chỉ biết la lên cho hả giận Trương Sinh lúc ấy không còn nghĩ đến tình nghĩa vợ chồng, cũng chẳng quan tâm đến công lao to lớn của Vũ Nương đối với gia đình, nhất là gia đình nhà chồng Từ đây có thể thấy Trương Sinh là con đẻ của chế độ nam quyền bất công, thiếu lòng tin và thiếu tình thương, ngay cả với người thân yêu nhất

+ Do cuộc hôn nhân không bình đẳng, Vũ Nương chỉ là “con nhà kẻ khó”,

còn Trương Sinh là “con nhà hào phú” Thái độ tàn tệ, rẻ rúng của Trương Sinh

đối với Vũ Nương đã phần nào thể hiện quyền thế của người giàu đối với người nghèo trong một xã hội mà đồng tiền đã bắt đầu làm đen bạc thói đời

+ Do lễ giáo hà khắc, phụ nữ không có quyền được nói, không có quyền

được tự bảo vệ mình Trong lễ giáo ấy, chữ trinh là chữ quan trọng hàng đầu; người phụ nữ khi đã bị mang tiếng thất tiết với chồng thì sẽ bị cả xã hội hắt hủi, chỉ còn một con đường chết để tự giải thoát

+ Do chiến tranh phong kiến gây nên cảnh sinh ly và cũng góp phần dẫn

đến cảnh tử biệt Nếu không có chiến tranh, Trương Sinh không phải đi lính thì

Vũ Nương đã không phải chịu nỗi oan tày trời dẫn đến cái chết thương tâm như vậy

Tóm lại: Bi kịch của Vũ Nương là một lời tố cáo xã hội phong kiến xem

trọng quyền uy của kẻ giàu có và của người đàn ông trong gia đình, đồng thời bày tỏ niềm cảm thương của tác giả đối với số phận oan nghiệt của người phụ

nữ Người phụ nữ đức hạnh ở đây không những không được bênh vực, trở che

mà lại còn bị đối xử một cách bất công, vô lý; chỉ vì lời nói thơ ngây của đứa trẻ

và vì sự hồ đồ, vũ phu của anh chồng hay ghen tuông mà đến nỗi phải kết liễu cuộc đời mình

Câu 8 Giá trị nghệ thuật:

1 Một số nét nghệ thuật đặc sắc của Chuyện người con gái Nam Xương

- Xây dựng tình huống truyện độc đáo, đặc biệt là chi tiết chiếc bóng Đây là

sự khái quát hoá tấm lòng, sự ngộ nhận và sự hiểu lầm của từng nhân vật Hình ảnh này hoàn thiện thêm vẻ đẹp nhân cách của Vũ Nương, đồng thời cũng thể hiện rõ nét hơn số phận bi kịch của Vũ Nương nói riêng và người phụ nữ Việt Nam nói chung

Trang 10

- Nghệ thuật dựng truyện Dẫn dắt tình huống truyện hợp lý Chi tiết chiếc

bóng là đầu mối câu chuyện lại chỉ xuất hiện một lần duy nhất ở cuối truyện, tạo

sự bất ngờ, bàng hoàng cho người đọc và tăng tính bi kịch cho câu chuyện

- Có nhiều sự sáng tạo so với cốt truyện cổ tích "Vợ chàng Trương" bằng

cách sắp xếp thêm bớt chi tiết một cách độc đáo

- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nhân vật được xây dựng qua lời nói và hành

động Các lời trần thuật và đối thoại của nhân vật sử dụng nhiều hình ảnh ước lệ nhưng vẫn khắc hoạ đậm nét và chân thật nội tâm nhân vật

- Sử dụng yếu tố truyền kỳ (kỳ ảo) làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm.

Yếu tố kỳ ảo, hoang đường làm câu chuyện vừa thực vừa mơ, vừa có hậu vừa không có hậu, làm hoàn chỉnh vẻ đẹp của Vũ Nương

- Kết hợp các phương thức biểu đạt: Tự sự + biểu cảm (trữ tình) làm nên một

áng văn xuôi tự sự còn sống mãi với thời gian

*Phần mở bài

- Các tác phẩm văn học ra đời trước thế kỉ XVI, hầu hết đều đề cập tới những vấn đề hết sức lớn lao, trọng đại của quốc gia, dân tộc: vấn đề đấu tranh chống ngoại xâm, ý thức tự cường của dân tộc, ca ngợi quê hương, đất nước, không đề cập tới số phận, đời tư của mỗi cá nhân

- Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ ra đời vào thế kỷ XVI

lại đề cập tới thân phận của con người cụ thể.Trong chế độ phong kiến, người phụ nữ không có vị trí xứng đáng trong văn học Một nét mới mẻ mang tính tiến

bộ của Nguyễn Dữ đó là đưa hình ảnh một người phụ nữ thường dân vào trung

tâm tác phẩm của mình là tác giả đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt tới những tầng lớp "thấp cổ, bé họng" nhất trong XH, tầng lớp đáng được quan tâm, bênh vực nhất => Biểu hiện tinh thần nhân đạo

Câu 9.

- Lòng chim dạ cá: tâm địa xấu xa, phản trắc, tráo trở, khó lường

- Duyên phận hẩm hiu: Chuyện tình duyên không may mắn

- Liên kết bằng phép thế : kẻ bạc mệnh, thiếp; phép nối : nhược bằng

Câu 10: Viết đoạn văn về lòng Tự trọng:

- Là coi trọng, giữ gìn phẩm cách, danh dự của mình

- Là nét tính cách nền tảng làm nên phẩm giá cao quý của một con ng chân chính’

*Giá trị của tự trọng:

- Người tự trọng luôn nhận thức và ý thức đc những việc mình làm: cái gì đúng,cái gì sai; cái gì nên làm, k nên làm

- Luon giữ nếp sống thanh cao, trong sạch k ham quyền lợi vật chất mà bán rẻ lương tâm danh dự trong bất kì hoàn cannhr nào

- Giúp ta giữ đc nhân cách; có ý chí nghị lực vươn lên thành công

- Mất tự trọng dễ tha hóa biến chất

- GIới thiệu tác giả:

+ Nguyễn Dữ là nhà văn nhân đạo lớn TK 16; ông cũng là nhà văn trung đại đầu tiên viết về người phụ nữ với tất cả niềm cảm thương, trân trọng và ngợi ca

- Nói đến ND, k thể k nhắc tới áng văn được coi là “thiên cỏ kì bút ( áng văn hay ngàn đời): Truyền kì mạn lục

Ngày đăng: 26/02/2020, 21:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w