I. ĐẶT VẤN ĐỀ Trong thời đại ngày nay, sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kĩ thuật và công nghệ là đặc điểm nổi bật và là sự thiết yếu của phát triển bền vững. Xu hướng đó đã đặt ra những yêu cầu cho giáo dục đào tạo là xây dựng con người mới năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn. Trước tình hình đó nhiệm vụ của giáo viên nói chung, giáo viên địa lí nói riêng ở Trường THCS phải cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học địa lý bằng cách sử dụng nhiều phương pháp dạy học mới, khai thác triệt để các phương tiện trực quan đề nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo của học sinh. Đối với môn học Địa lý việc sử dụng bản đồ, Atlat là đặc trưng của bộ môn Địa lý. Vì tất cả các tri thức địa lý cơ bản đều được biểu hiện trong các phương tiện dạy học này. Atlat là một công cụ rất quan trọng trong dạy và học môn Địa lý của giáo viên và học sinh. Atlat được xem như cuốn sách giáo khoa thứ hai giúp cho người học đào sâu những tri thức địa lý và đồng thời giúp cho giáo viên thuận lợi trong việc giảng dạy môn địa lý. Một trong những vai trò quan trọng của giáo viên địa lý phổ thông hiện nay là hướng dẫn học sinh (HS) sử dụng Atlat để khai thác thông tin tìm tòi khám phá kiến thức mới. Rèn luyện cho HS kĩ năng về bản đồ, biểu đồ, các kĩ năng tư duy, phân tích, tổng hợp để lĩnh hội một cách chuẩn xác và phát huy được tính tích cực trong học địa lý. Trong các kĩ năng đó thì việc rèn cho học sinh kĩ năng tư duy tổng hợp theo lãnh thổ là một trong những kĩ năng quan trọng nhất đối với việc học Địa lý. Khi đã hình thành được tư duy lãnh thổ thì việc học Địa lý trở nên rất đơn giản, dễ dàng học sinh sẽ có hứng thú hơn đối với bộ môn. Học sinh có thể nhìn vào vị trí, địa hình của một khu vực trên bản đồ để tìm ra mối liên hệ với khí hậu, đặc điểm tự nhiên, dân cư và kinh tế của khu vực đó. Vì vậy nếu có được kĩ năng tư duy theo lãnh thổ và kĩ năng đọc bản đồ, Atlat,… thì đây sẽ là một nguồn tri thức vô cùng phong phú, đa dạng cho học sinh. Trong thực tế hiện nay ở Trường THCS, việc sử dụng Atlat trong dạy học địa lý còn nhiều hạn chế. Phần lớn giáo viên chưa nhận thức một cách đầy đủ, chưa khai thác sử dụng nguồn tri thức trong Atlat. Về phía HS chưa quan tâm đến Atlat, rất ít khi sử dụng Atlat nên trang bị Atlat chưa đầy đủ. Mặt khác HS vẫn còn yếu về kĩ năng sử dụng bản đồ, biểu đồ, do vậy tồn tại một cách học thuộc lòng, thụ động, ghi nhớ máy móc, chưa có năng lực độc lập tư duy sáng tạo. Từ đó hiệu quả học tập Địa lý chưa cao, học sinh cảm thấy khó hiểu, trừu tượng, không hứng thú. Điều này được thể hiện rõ qua thi cử, kiểm tra đánh giá và năng lực tư duy sáng tạo. Đã có nhiều đề tài, sáng kiến kinh nghiệm đề cập về tầm quan trọng của Atlat Địa lý Việt Nam đối với dạy học Địa lý nói chung và Địa lý THCS nói riêng ví dụ như: Sáng kiến kinh nghiệm “Rèn kĩ năng sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam cho học sinh trường THCS Tân Thành” của tác giả Đinh Thị Hà, sáng kiến “ Sử dụng Atlat trong dạy học Địa lý tự nhiên lớp 12” của tác giả Nguyễn Đạt Thành…. Tuy nhiên, trong đề tài sáng kiến kinh nghiệm này, tôi chú trọng vào việc hình thành, rèn luyện cho học sinh kĩ năng tư duy tổng hợp theo lãnh thổ qua việc sử dụng Atlat Địa lý Việt Nam, đặc biệt là đối với học sinh lớp 9 THCS. Từ thực tế trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Rèn kĩ năng tư duy tổng hợp theo lãnh thổ thông qua sử dụng Atlat Địa lý Việt Nam cho học sinh lớp 9 trường THCS Tân Phú ” để ghi lại những ý tưởng, kinh nghiệm mà bản thân tôi đã thực hiện trong quá trình giảng dạy Địa lý 9 ở trường THCS Tân Phú năm học 2018 2019.
Trang 1PHÒNG GD & ĐT TÂN SƠN TRƯỜNG THCS TÂN PHÚ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Rèn kĩ năng tư duy tổng hợp theo lãnh thổ thông qua
sử dụng Atlat Địa lý Việt Nam cho học sinh lớp 9
trường THCS Tân Phú
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thúy Quỳnh Chức vụ : Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Địa lý 9
Trang 2MỤC LỤC
I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3
1 Thực trạng của vấn đề 3
2 Các biện pháp giải quyết vấn đề 7
3 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 16
III KẾT LUẬN 19
1 Kết luận 19
2 Kiến nghị…… ……….19
Trang 3DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 4I ĐẶT VẤN ĐỀ Trong thời đại ngày nay, sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kĩ thuật và
công nghệ là đặc điểm nổi bật và là sự thiết yếu của phát triển bền vững Xuhướng đó đã đặt ra những yêu cầu cho giáo dục đào tạo là xây dựng con ngườimới năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn Trước tìnhhình đó nhiệm vụ của giáo viên nói chung, giáo viên địa lí nói riêng ở TrườngTHCS phải cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học địa lý bằng cách sửdụng nhiều phương pháp dạy học mới, khai thác triệt để các phương tiện trựcquan đề nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo của học sinh
Đối với môn học Địa lý việc sử dụng bản đồ, Atlat là đặc trưng của bộ mônĐịa lý Vì tất cả các tri thức địa lý cơ bản đều được biểu hiện trong các phươngtiện dạy học này
Atlat là một công cụ rất quan trọng trong dạy và học môn Địa lý của giáoviên và học sinh Atlat được xem như cuốn sách giáo khoa thứ hai giúp chongười học đào sâu những tri thức địa lý và đồng thời giúp cho giáo viên thuậnlợi trong việc giảng dạy môn địa lý
Một trong những vai trò quan trọng của giáo viên địa lý phổ thông hiện nay
là hướng dẫn học sinh (HS) sử dụng Atlat để khai thác thông tin tìm tòi khámphá kiến thức mới Rèn luyện cho HS kĩ năng về bản đồ, biểu đồ, các kĩ năng tưduy, phân tích, tổng hợp để lĩnh hội một cách chuẩn xác và phát huy được tínhtích cực trong học địa lý Trong các kĩ năng đó thì việc rèn cho học sinh kĩ năng
tư duy tổng hợp theo lãnh thổ là một trong những kĩ năng quan trọng nhất đốivới việc học Địa lý Khi đã hình thành được tư duy lãnh thổ thì việc học Địa lýtrở nên rất đơn giản, dễ dàng học sinh sẽ có hứng thú hơn đối với bộ môn Họcsinh có thể nhìn vào vị trí, địa hình của một khu vực trên bản đồ để tìm ra mốiliên hệ với khí hậu, đặc điểm tự nhiên, dân cư và kinh tế của khu vực đó Vì vậynếu có được kĩ năng tư duy theo lãnh thổ và kĩ năng đọc bản đồ, Atlat,… thì đây
Trang 5Trong thực tế hiện nay ở Trường THCS, việc sử dụng Atlat trong dạy học địa
lý còn nhiều hạn chế Phần lớn giáo viên chưa nhận thức một cách đầy đủ, chưakhai thác sử dụng nguồn tri thức trong Atlat
Về phía HS chưa quan tâm đến Atlat, rất ít khi sử dụng Atlat nên trang bịAtlat chưa đầy đủ Mặt khác HS vẫn còn yếu về kĩ năng sử dụng bản đồ, biểu
đồ, do vậy tồn tại một cách học thuộc lòng, thụ động, ghi nhớ máy móc, chưa cónăng lực độc lập tư duy sáng tạo Từ đó hiệu quả học tập Địa lý chưa cao, họcsinh cảm thấy khó hiểu, trừu tượng, không hứng thú Điều này được thể hiện rõqua thi cử, kiểm tra đánh giá và năng lực tư duy sáng tạo
Đã có nhiều đề tài, sáng kiến kinh nghiệm đề cập về tầm quan trọng củaAtlat Địa lý Việt Nam đối với dạy học Địa lý nói chung và Địa lý THCS nói
riêng ví dụ như: Sáng kiến kinh nghiệm “Rèn kĩ năng sử dụng Atlat Địa lí Việt
Nam cho học sinh trường THCS Tân Thành” của tác giả Đinh Thị Hà, sáng kiến
“ Sử dụng Atlat trong dạy học Địa lý tự nhiên lớp 12” của tác giả Nguyễn Đạt
Thành… Tuy nhiên, trong đề tài sáng kiến kinh nghiệm này, tôi chú trọng vàoviệc hình thành, rèn luyện cho học sinh kĩ năng tư duy tổng hợp theo lãnh thổqua việc sử dụng Atlat Địa lý Việt Nam, đặc biệt là đối với học sinh lớp 9THCS
Từ thực tế trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Rèn kĩ năng tư duy tổng
hợp theo lãnh thổ thông qua sử dụng Atlat Địa lý Việt Nam cho học sinh lớp 9
trường THCS Tân Phú ” để ghi lại những ý tưởng, kinh nghiệm mà bản thân
tôi đã thực hiện trong quá trình giảng dạy Địa lý 9 ở trường THCS Tân Phú năm học 2018 - 2019.
Trang 6II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Thực trạng của vấn đề.
Qua nắm bắt tình hình thực tế và là một giáo viên trực tiếp giảng dạy bộmôn Địa lý ở trường THCS Tân Phú tôi nhận thấy:
Về cơ sở vật chất:
Cơ sở vật chất của trường THCS Tân Phú tương đối đầy đủ, có máy chiếu,
thiết bị, phòng học bộ môn để đáp ứng cho việc dạy và học được thuận lợihơn Tuy nhiên các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc dạy học môn Địa lýlại chưa có nhiều, một phần đã hư hỏng, cũ nát Một số bản đồ xuất bản từnhững năm trước, chưa có sự cập nhật thông tin mới mang tính thời sự, rất kémhiệu quả khi sử dụng Chưa có các mô hình Địa lý phục vụ cho việc dạy học trựcquan Trong khi đối tượng của khoa học Địa lý rất rộng lớn, bao la, khó có thểquan sát tổng quát nếu nhìn bằng mắt thường.Vì vậy phương tiện trực quan nhưbản đồ, tranh ảnh là vô cùng cần thiết
Mặt khác, điều kiện kinh phí của trường còn hạn hẹp, việc đầu tư mới lạitoàn bộ trang thiết bị là vô cùng khó khăn Nếu có thể sử dụng một phương tiệnkhác kết hợp nhằm cụ thể hóa các đối tượng Địa lý, tăng khả năng lĩnh hội,tưởng tượng và tư duy của HS là hướng đi đúng đắn, cần thiết Việc trang bịAtlat Địa lý cho tất cả học sinh sẽ có nhiều thuận lợi hơn do giá thành khá thấp,
đa số học sinh đều có khả năng trang bị, hơn nữa bên cạnh việc sử dụng học trênlớp, học sinh còn có thể sử dụng ở nhà khi làm các bài tập hoặc tự nhiên cứu.Việc dạy và học Địa lý không thể tách rời bản đồ nói chung và Atlat nóiriêng Đó là cuốn sách giáo khoa thứ hai, khai thác Atlat không chỉ hiểu đượckiến thức mà còn là hình ảnh trực quan giúp giáo viên và học sinh trong giảngdạy và học tập rất hiệu quả Trong các kỳ thi, kỳ thi học sinh giỏi đều được sửdụng Atlat để làm bài và khai thác kiến thức trong đó Vì vậy việc trang bị chohọc sinh Atlat Địa lý Việt Nam cũng như kĩ năng sử dụng Atlat trong học tậpmôn Địa lý là điều hết sức cần thiết
Trang 7Về phía giáo viên: Thực tế cho thấy hiện nay nhiều GV dạy học theo lối
dạy chay, lười sử dụng đồ dùng dạy học như bản đồ, tranh ảnh, máy chiếu…dạy theo phương pháp cũ (GV thực hiện – trò sao chép) Từ đó không khơi dậyđược hứng thú của HS, dần dần làm HS cảm thấy môn Địa lý khó tiếp cận, khôkhan, nhàm chán, dẫn đến hiệu quả học tập chưa cao, chất lượng còn hạn chế.Việc làm đồ dùng dạy học tốn nhiều chi phí, thời gian, công sức khôngphải GV nào cũng có thể thực hiện thường xuyên để bổ sung vào các thiết bị dạyhọc trực quan Đa số tâm lý còn ngại làm, ngại thử vì vậy khó áp dụng cácphương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học Địa lý
Bảng tỉ lệ học lực của HS được nghiên cứu (%)
Trang 9Hạnh kiểm HS cũng ảnh hưởng đến sự hứng thú trong học tập, các em cóhạnh kiểm tốt thường là những em ngoan, chăm học, chịu khó và từ đó có kếtquả học tập cao, có sự đam mê khám phá kiến thức Ngược lại những HS cóhạnh kiểm chưa tốt thường ý thức học tập thường kém, học yếu và có tư tưởngchán học Tỉ lệ HS có hạnh kiểm khá và trung bình ở trường còn cao đòi hỏi GVcần quan tâm hơn về tâm lí HS và đầu tư bài giảng để luôn tạo được sự mới lạ,lôi cuốn, thu hút sự tham gia tích cực trong học tập của HS
Nhiều em chưa có thói quen tìm hiểu khám phá mà chỉ quen ghi chép táihiện những gì mà GV cung cấp Do đó các em không có khả năng độc lập suynghĩ nên gặp khó khăn khi phải trực tiếp phân tích các biểu đồ, bản đồ, trực tiếp
tư duy, suy nghĩ tìm ra kiến thức
Qua giai đoạn đầu năm khi chưa tích cực hướng dẫn học sinh khai thácAtlat Địa lý Việt Nam vào giảng dạy thì tỉ lệ HS có kĩ năng tư duy lãnh thổ và
Số lượng (%)
Số lượng (%)
Số lượng (%)
Trang 10Hơn nữa khi các em không có kĩ năng khai thác bản đồ Atlat mà kiến thứcĐịa lý lại quá rộng (tìm hiểu các sự vật hiện tượng diễn ra trên Trái đất, trong tự
nhiên mà các em ít có điều kiện tiếp xúc), gây ra tâm lí ngại tìm hiểu, khám
phá, dẫn đến HS không mấy hứng thú, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng bộmôn
Bảng kết quả khảo sát học lực môn Địa lý đầu năm học 2018-2019 MÔN
Trang 11Qua số liệu thống kê thực tế đầu năm học 2018 - 2019, một bộ phận lớn các
em chưa có hứng thú khi học tập môn Địa lý (chiếm khoảng trên 30% tổng số
HS được khảo sát) Khoảng hơn 40% số HS được khảo sát có hứng thú học tậpnhưng chưa nhiều Những HS có hứng thú hơn các bạn trong lớp, thực sự coiĐịa lý là một môn học cần thiết thì chỉ chiếm khoảng hơn 20% Đây chính làđiều khiến tôi trăn trở và suy nghĩ rất nhiều, mong muốn tìm ra giải pháp giúpcho việc học tập bộ môn Địa lý của các em HS đạt kết quả cao nhằm nâng caochất lượng bộ môn trong năm học này cũng như những năm học tiếp theo
Nguyên nhân của thực trạng:
Qua quá trình nghiên cứu tìm hiểu cho thấy việc học sinh chưa có kĩ năng
sử dụng Atlat cũng như kĩ năng tư duy tổng hợp theo lãnh thổ do những nguyênnhân sau:
Học sinh chưa được tiếp cận nhiều với Atlat, bản đồ, do quan niệm sai lầmcủa một bộ phận không nhỏ HS, phụ huynh về vị trí vai trò của môn Địa lý trongnhà trường, xem đó là môn học phụ nên học qua loa, đại khái, nên việc đầu tư
đồ dùng học tập trong môn học chưa được đầy đủ Học sinh chưa chú ý sử dụngAtlat thường xuyên trong mỗi bài học
Cơ sở vật chất, phương tiện dạy học của nhà trường còn thiếu đặc biệt làbản đồ nên việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh còn chua được thường xuyên
GV chưa truyền được cảm hứng học tập cho HS trong dạy học môn học này Trường đóng trên địa bàn miền núi, hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuấtnông nghiệp, trình độ dân trí còn thấp, nên phần lớn phụ huynh ít quan tâm đếnviệc học tập của con cái mà chủ yếu giao khoán, phó mặc cho GV, nhà trường,kinh tế khó khăn nên đầu tư cho đồ dùng học tập chưa nhiều, nhiều học sinh cònthiếu sách giáo khoa phải mượn thư viện hoặc các lớp học trước
2 Các biện pháp giải quyết vấn đề
2.1 Rèn luyện cho học sinh kỹ năng tìm hiểu các nội dung trong bản đồ của Atlat để rút ra đặc điểm của các yếu tố tự nhiên, xã hội:
Trang 12Muốn tìm hiểu được nội dung của mỗi bản đồ, biểu đồ thì việc hiểu cácngôn ngữ của nó là việc hết sức quan trọng Trong Atlat ngôn ngữ được dùng lànhững quy định thống nhất, chính xác về màu sắc, ký hiệu, tỷ lệ của bản đồ Ngay từ trang đầu tiên của Atlat, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu
và nắm vững các quy ước ở mục chú giải để có thể đọc nhanh, đúng bản đồ và
từ đó phân tích chính xác hơn Giáo viên yêu cầu các em thuộc càng nhiều kýhiệu càng dễ học tập
Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh khi đọc bất cứ một bản đồ nào phảiđọc:
- Tên bản đồ để hình dung ra nội dung của bản đồ
- Đọc phần chú giải để hiểu rõ các kí hiệu được dùng cho bản đồ đó
- Sau đó sẽ tìm hiểu các kiến thức liên quan đến bài học được thể hiện trên bản
đồ, biểu đồ trong Atlat Từ đó rút ra những nhận xét về các yếu tố của tự nhiên
và xã hội theo từng nội dung của bài học
2.2 Khai thác bản đồ, biểu đồ trong Atlat để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tìm hiểu kiến thức địa lí về dân cư:
Ví dụ :
2.2.1 Giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách phân tích bản đồ trang 16 (dạy bài 1 SGK Địa lý 9) học sinh rút ra nhận xét :
+ Phân bố các dân tộc nước ta không đều : Các nhóm dân tộc ít người chỉ có trên
13 % dân số nhưng phân bố rất rộng trên khắp các vùng trong cả nước Dân tộcKinh tập trung đông ở đồng bằng, nhất là ở đô thị
+ Hiểu được ngữ hệ và các nhóm ngôn ngữ của các dân tộc
2.2.2 Phân tích các bản đồ, biểu đồ trang 15 của Atlat (dạy bài 2,3 SGK Địa
lý 9) rút ra kết luận về đặc điểm dân cư và nguồn nhân lực nước ta:
+ Dựa vào màu sắc của bản đồ, phân tích mật độ dân số: Nước ta có mật độ dân
số cao nhưng phân bố không đều ( tập trung đông ở Đồng bằng sông Hồng vàĐồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt mật độ dân số ở các thành thị rất cao, thưathớt ở miền núi nhất là vùng Tây nguyên )
Trang 13+ Phân tích biểu đồ phát triển dân số nước ta qua các năm, từ đó học sinh nhậnthức được : Dân số nước ta đông, gia tăng nhanh từ nửa sau thế kỷ XX đến nay ( Năm 1960 có khoảng 30,17 triệu người Năm 1989 có 64,41 triệu người Năm
1999 có 76,60 triệu người Năm 2007 có khoảng 85,17 triệu người )
+ Phân tích tháp tuổi trong biểu đồ để rút ra kết luận : Dân số nước ta có kết cấudân số trẻ, giải thích xu hướng thay đổi cơ cấu theo độ tuổi ở nước ta So sánhđược giới tính giữa nam và nữ tương đối cân bằng
+ Qua biểu đồ sử dụng lao động theo ngành, học sinh có thể nhận thức được :Nước ta có nguồn lao động dồi dào, tỷ lệ lao động trong nông - lâm - thuỷ sảnchiếm tỷ lệ cao, công nghiệp và dịch vụ còn thấp
2.3 Phân tích bản đồ trong Atlat để rút ra nhận định tình hình phát triển kinh tế của các ngành kinh tế nước ta:
Ví dụ 1 : Sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam để tìm hiểu tình hình sản xuất
nông nghiệp của nước ta
+ Bản đồ trang 11 ( Dạy bài 7,8 SGK Địa lý 9): Giáo viên hướng dẫn học sinhnghiên cứu:
Đặc điểm tài nguyên đất: Đất phù sa tập trung ở lưu vực sông Hồng vàsông Cửu Long, miền Duyên hải Trung Bộ để trồng lúa nước và các cây côngnghiệp ngắn ngày Đất Feralit tập trung chủ yếu ở miền núi và trung du, phù hợpvới việc phát triển các cây công nghiệp dài ngày như : chè, cà phê, cao su, hồtiêu… Đồng thời phản ánh tài nguyên sinh vật phong phú và đa dạng Bên cạnh
đó có thể tìm hiểu tài nguyên nước rất phong phú của nước ta do có hệ thốngsông ngòi chằng chịt và nhiều đầm hồ
+ Bản đồ trang 9: Nói lên đặc điểm của nhân tố khí hậu của nước ta (Lượngmưa, nhiệt độ ) phân hoá từ Bắc vào Nam Các loại gió mùa hoạt động trên lãnhthổ nước ta
+ Bản đồ khái quát chung về nông nghiệp trang 18 ( Dạy bài 8 SGK Địa lý 9 ):Học sinh tìm hiểu được hiện trạng sử dụng đất, sự phân vùng nông nghiệp củanước ta
Trang 14Qua biểu đồ học sinh có thể lập được bảng giá trị sản xuất và cơ cấu giá trịsản xuất của các ngành trong nông nghi p ( theo giá th c t ) ệ hạnh kiểm của HS được nghiên cứu (%) ực tế ) ế )
Năm nghiệp Nông nghiệp Lâm Thuỷ sản Tổng giá trị sản xuất (tỉ đồng)
Trang 15Nhìn bảng số liệu học sinh có thể phát hiện được sự tăng trưởng của cácngành qua các năm đó.
+ Bản đồ trang 19 Atlat học sinh tìm hiểu và phát hiện :
- Ngành trồng trọt : Lúa : Biết được diện tích và sản lượng lúa các tỉnh, diện tíchtrồng lúa so với diện tích trồng cây lương thực, giá trị sản xuất cây lương thựctrong tổng giá trị sản xuất ngành trồng trọt
Như vậy từ nội dung sách giáo khoa kết hợp đọc bản đồ trong Atlat, học sinhnhận thức sâu hơn, rộng hơn những nội dung các em học sinh cần lĩnh hội, đỡphải ghi nhớ máy móc, không cần học thuộc lòng những kiến thức mà có thể tìmngay trong bản đồ, giúp cho học sinh hoạt động trí tuệ hợp lý hơn
- Ngành chăn nuôi : Dựa vào kỹ năng sử dụng Atlat như trên, học sinh sử dụngbiểu đồ trang 19 của Atlat để trình bày giá trị sản lượng của ngành chăn nuôitrong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp, cơ cấu giá trị sản xuất ngành chăn nuôiqua các năm 2000, 2005, 2007
Ví dụ 2: Dùng Atlat Địa lí Việt Nam để học sinh tìm hiểu sự phân bố lâm
nghiệp ( các loại rừng ) và thuỷ sản của nước ta ( Bài 9 SGK Địa lý 9)
Để trình bày được nội dung trên ta hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức quacác trang bản đồ, biểu đồ trang 20 của Atlat, cụ thể:
+ Tổng diện tích rừng nước ta, quy mô giá trị sản xuất lâm nghiệp của các tỉnhtrong cả nước ( năm 2007 )
+ Sự phát triển của ngành thuỷ sản :
- Về sản lượng thuỷ sản của cả nước qua các năm 2000, 2005, 2007
Ví dụ 3: Sử dụng Atlat để học sinh tìm hiểu tình hình phát triển, phân bố
công nghiệp ở nước ta ( Bài 11,12 SGK Địa lý 9)
+ Khi giảng dạy nội dung về ngành công nghịêp ta phải hướng dẫn cho học sinhbiết sử dụng bản đồ công nghiệp chung trang 21 Atlat, cách thực hiện như sau:
- Học sinh đọc kỹ, hiểu về ngành công nghiệp, các trung tâm công nghiệp trongphần chú thích
Trang 16- Khai thác kiến thức trên lược đồ, biểu đồ thấy rõ đặc điểm phân hóa côngnghiệp nước ta như thế nào ?
+ Qua phần hướng dẫn kỹ năng sử dụng Atlat, học sinh nhanh chóng nhận thứcđược:
- Công nghiệp nước ta phân bố không đều trên khắp lãnh thổ mà tập trung theotừng khu vực, từng vùng như Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ
- Cơ cấu các ngành công nghiệp trọng điểm của nước ta, giá trị sản xuất của cácngành công nghiệp, những trung tâm công nghiệp lớn là thành phố Hồ Chí Minh
và Hà Nội
+ Phân tích bản đồ trang 22 học sinh có thể nhận biết được một số ngành côngnghiệp trọng điểm như: Công nghiệp năng lượng, công nghiệp chế biến lươngthực, thực phẩm; công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
Ví dụ 4: Sử dụng Atlat để học sinh tìm hiểu tình hình hoạt động các ngành
dịch vụ nước ta:
+ Phân tích bản đồ, biểu đồ trang 23, 24, 25 học sinh nhận thức được sự phân bố
và phát triển của các loại hình dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân:
- Mạng lưới giao thông và đầu mối giao thông vận tải chính ở nước ta, mối quan
hệ giữa ngành giao thông vận tải với các ngành kinh tế khác Giao thông đường
bộ ngày càng phát triển Giao thông đường thuỷ, đường sắt vận chuyển khốilượng hàng hóa cao Tuyến đường bay trong nước, quốc tế ngày càng phát triển
- Các hoạt động thương mại như : Nội thương ( Biết được tổng mức bán lẻ hànghóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng các tỉnh theo đầu người, xuất nhập khẩu cáctỉnh, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của cả nước phântheo thành phần kinh tế của cả nước qua các năm …), ngoại thương ( Cơ cấuhàng xuất nhập khẩu năm 2007, xuất – nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam vớicác nước và vùng lãnh thổ, xuất – nhập khẩu hàng hóa qua các năm )