1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổng quan tình hình kinh tế việt nam 19902010

12 100 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 279,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

do tổ chức, sắp xếp lại và thực hiện chủ trương cổ phần hoá, nhưng tỷ trọng của thành phần kinh tế này chiếm trong tổng sản phẩm trong nước đã tăng từ 31,1% năm 1991 và 34,3% năm 1992 lê

Trang 1

Tổng quan tình hình kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990- 2010

I.Giai đoạn 1990-2000

1 Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh công

nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Tổng số

Chia ra Nông, Lâm

nghiệp và Thủy sản

Công nghiệp và Xây dựng

Dịch vụ

Cơ cấu vùng kinh tế cũng bắt đầu có sự chuyển dịch theo hướng hình thành các vùng động lực phát triển kinh tế, vùng chuyên canh và các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất qui mô lớn Chúng ta chủ trương kiến tạo một nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Do vậy, sự chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế chỉ có thể coi là tích cực nếu kinh tế Nhà nước vẫn giữ được vai trò chủ đạo; đồng thời tạo điều kiện để các thành phần kinh tế khác phát huy được tiềm năng to lớn của mình Theo tinh thần này, mặc dù những năm vừa qua doanh nghiệp Nhà nước tuy có giảm về số lượng doanh nghiệp

Trang 2

do tổ chức, sắp xếp lại và thực hiện chủ trương cổ phần hoá, nhưng tỷ trọng của thành phần kinh tế này chiếm trong tổng sản phẩm trong nước đã tăng từ 31,1% năm 1991 và 34,3% năm 1992 lên trên dưới 40% những năm gần đây

và là thành phần kinh tế có tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu tổng sản phẩm trong nước Tỷ trọng của các thành phần kinh tế khác chiếm trong tổng sản phẩm trong nước những năm vừa qua là: Kinh tế tập thể chiếm 10%; kinh tế

cá thể, bao gồm cả hộ nông dân chiếm 30%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài chiếm 12%, còn lại là kinh tế tư nhân và hỗn hợp sở hữu

2.Đánh giá cơ cấu kinh tế

Sản xuất công nghiệp đi dần vào thế phát triển ổn định với tốc độ tăng bình quân mỗi năm 13,6%, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,4%; khu vực ngoài quốc doanh tăng 11,0%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 22,5% Tính theo giá trị sản xuất thì qui mô sản xuất công nghiệp năm 2000 đã gấp 3,6 lần năm 1990, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước gấp trên 2,9 lần; khu vực ngoài quốc doanh gấp 2,8 lần; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài gấp 7,6 lần

Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân mỗi năm thời kỳ

1990-2000

%

Tổng số

Chia ra Khu vực

doanh nghiệp Nhà nước

Khu vực ngoài quốc doanh

Khu vực đầu tư nước ngoài

Tốc độ tăng bình

quân mỗi năm trong

- Trong 5 năm

- Trong 5 năm

Từ tháng 10-1993, quan hệ hợp tác phát triển giữa nước ta với Cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế đã được nối lại Từ đó đến nay đã có 8 Hội nghị

Trang 3

quốc tế về ODA dành cho Việt Nam Trong 8 Hội nghị này, các nhà tài trợ đã cam kết dành cho nước ta số vốn ODA lên tới 17,5 tỷ USD và 1,2 tỷ USD hỗ trợ cải cách kinh tế Trong 10 năm 1991- 2000 chúng ta đã cấp giấy phép cho 2.940 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký 37,3 tỷ USD, góp phần đưa vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài lên chiếm 20 - 30% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội những năm vừa qua

BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI 1 NĂM

Năm 1996 (1000 đ) Năm 1999 (1000 đ)

Chi may mặc

Thiết

bị, đồ dùng

Văn hoá, thể thao

Chi may mặc

Thiết

bị, đồ dùng

Văn hoá, thể thao

1 Chia theo khu

vực

- Thành thị 251,0 180,5 119,9 325,4 230,9 179,2

- Nông thôn 107,4 74,8 30,5 112,8 86,5 43,9

2 Chia theo vùng

- Đông Bắc và Tây

Bắc

109,0 70,0 25,6 119,9 91,8 40,3

- Đồng bằng sông

Hồng

102,6 100,1 44,6 120,7 124,0 71,9

- Bắc Trung Bộ 94,7 74,8 24,5 101,0 90,4 33,5

- Duyên hải Nam

Trung Bộ

112,6 70,3 30,5 122,0 72,7 42,8

- Tây Nguyên 168,8 111,5 58,6 143,8 96,7 74,8

- Đông Nam Bộ 209,6 136,2 105,1 262,4 160,3 150,6

Trang 4

- Đồng bằng sông

Cửu Long

135,7 92,0 47,8 161,4 115,7 67,2

- Khối lượng chi dùng một số mặt hàng ăn uống: Tiêu dùng gạo bình quân đầu người 1 tháng giảm từ 13,4 Kg năm 1996 xuống còn 13,1 Kg năm 1999, khu vực thành thị từ 11,2 Kg giảm còn 9,7 Kg Lượng gạo của các hộ tại 6 trong 7

vùng (trừ vùng Đông Bắc và Tây Bắc) đều giảm; Các mặt hàng: Thịt, mỡ dầu

ăn, trứng, đỗ lạc vừng, đường mật tăng hơn các năm trước Riêng lượng tiêu dùng quả chín, rau tươi của dân cư khu vực thành thị và các vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ có xu hướng tăng lên

III Tích luỹ của hộ gia đình

Những năm gần đây, đời sống của nhân dân nhìn chung không có những biến động lớn, một bộ phận lớn dân cư được cải thiện đáng kể nhờ có các nguồn thu nhập tăng tương đối ổn định, đặc biệt tốc độ tăng thu nhập từ 1996-1999 tăng nhanh hơn tốc độ tăng của chi tiêu Vì vậy, ngoài phần chi tiêu dùng cho đời sống hàng ngày, phần lớn các hộ dân cư đã có đầu tư tích luỹ

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 1991 - 2000 (*)

Triệu USD

Tổng số

Chia ra Vốn từ

nước ngoài

Vốn của Việt Nam

(*) Không kể vốn thực hiện của các dự án đã giải

thể

Trang 5

4 Đánh giá phát triển xã hội

- Chi tiêu hộ gia đình

Nhờ thu nhập tăng, đời sống dân cư được cải thiện rõ rệt Năm 1999 tính chung cả nước chi đời sống bình quân đầu người 1 tháng là 221,1 nghìn đồng, tăng bình quân 6,4% trong thời kỳ 1996-1999 và chậm hơn tốc độ tăng thu nhập Chi đời sống của khu vực thành thị 559,2 nghìn đồng 1 người 1 tháng, tốc độ tăng bình quân 11,6% một năm; Ở nông thôn 175,0 nghìn đồng 1 người

1 tháng, tốc độ tăng bình quân 4,4% một năm Chi đời sống của các vùng đều tăng, trong đó tăng nhanh là vùng Đông Nam Bộ 9,0%, Đồng bằng sông Cửu Long 8,2%, tăng thấp nhất là vùng Tây Bắc và Đông Bắc

Mức chi tiêu bình quân đầu người năm 1999 của các hộ khu vực thành thị cao

gấp 3,1 lần khu vực nông thôn (tỷ số này năm 1996 là 2,5 lần) So sánh chi

đời sống bình quân đầu người năm 1999: Khu vực thành thị gấp 3,2 lần khu

vực nông thôn; Nhóm hộ giàu (20% số hộ thu nhập cao nhất) gấp 4,2 lần

nhóm hộ nghèo (nhóm thấp nhất)

- Đáng lưu ý là năm 1999 mặc dù vùng Duyên hải Nam Trung Bộ bị thiên tai

lũ lụt, hạn hán nhưng mức sống dân cư của cả nước nói chung cũng như các vùng vẫn ổn định và tiếp tục được cải thiện Chi ăn uống hút năm 1999 bình quân đầu người 1 tháng là 139,98 nghìn đồng, bình quân mỗi năm tăng 4,0% trong thời kỳ 1996-1999, trong đó khu vực thành thị 328,14 nghìn đồng, tăng bình quân 7,8%, khu vực nông thôn 114,98 nghìn đồng, tăng bình quân

2,5% Cơ cấu chi dùng lương thực, thực phẩm (ăn uống, hút) trong chi đời

Trang 6

sống đã giảm xuống, ngược lại chi dùng cho phi lương thực, thực phẩm tăng lên Cụ thể như sau:

TỶ LỆ CHI ĂN UỐNG, HÚT TRONG CHI ĐỜI SỐNG CỦA HỘ

Đơn vị tính:%

Năm 1996 Năm 1999

1 Chia theo khu vực

2 Chia theo vùng

- Duyên hải Nam Trung Bộ 68,87 63,50

- Đồng bằng sông Cửu Long 66,79 63,10

3 Chia theo nhóm thu nhập

- Khi mức sống ổn định và được cải thiện thì chi tiêu cho nhu cầu ăn uống của

dân cư tuy có tăng nhưng chậm hơn chi tiêu về các khoản ngoài ăn uống (như

may mặc, ở, thiết bị đồ dùng, Y tế chăm sóc sức khoẻ, Giáo dục, văn hoá ).

- Sự phân hoá giàu nghèo trong dân cư.

Theo kết quả tổng hợp số liệu điều tra, thu nhập của những hộ nghèo và hộ giàu đều tăng, và tốc độ tăng của hộ giàu nhanh hơn hộ nghèo Tính chung trong 3 năm (1996 -1999) tốc độ tăng thu nhập hàng năm của hộ nghèo là

Trang 7

7,2%, hộ giàu là 14,5% (chưa loại trừ trượt giá) Bởi vậy khoảng cách chênh lệch giàu nghèo ngày càng có xu hướng doãng ra

Để thấy rõ vấn đề trên, với cách phân chia số hộ điều tra thành 5 nhóm thu nhập từ thấp đến cao với số hộ bằng nhau theo thông lệ quốc tế (số hộ mỗi nhóm đều chiếm 20%) thì mức độ chênh giữa nhóm giàu (nhóm 5) với nhóm

nghèo (nhóm 1) ở từng khu vực, từng vùng cụ thể như sau:

Đơn vị tính: lần

1 Chia theo khu vực

2 Chia theo vùng

- Duyên hải Nam Trung Bộ 4,9 5,5 5,7 6,3

- Đồng bằng sông Cửu Long 6,1 6,4 6,4 7,9

Như vậy số liệu trên cho thấy hệ số chênh lệch giữa nhóm giàu và nhóm nghèo năm 1999 đều tăng; so với năm 1996, tính chung cả nước tăng 1,6 lần; thành thị tăng 1,8 lần, nông thôn tăng 0,2 lần; các vùng đều tăng trong đó tăng nhanh là vùng Đông Nam Bộ 2,4 lần, Đồng bằng sông Cửu Long 1,5 lần, tăng thấp nhất là vùng Đồng bằng sông Hồng 0,4 lần Đáng chú ý là vùng Tây Nguyên từ năm 1995 đến năm 1999 mức chênh lệch giữa nhóm giàu và nhóm nghèo mỗi năm tăng không đáng kể (0,1 lần); nguyên nhân chủ yếu do cà phê sụt giá liên tiếp, kéo theo thu nhập của hộ nông dân bị ảnh hưởng

Để nghiên cứu sâu hơn mức độ chênh lệch thu nhập trong các hộ dân cư có thể tiến hành phân tổ số hộ điều tra theo nhóm hộ bằng nhau với tỷ lệ nhỏ hơn mức nêu trên gồm 10%; 5%; 2% số hộ giàu và số hộ nghèo để so sánh, cụ thể như sau:

So sánh 10% số hộ có mức thu nhập cao nhất với 10% số hộ có mức thu nhập thấp nhất thì hệ số chênh lệch cao hơn so với 20% số hộ nêu trên: năm 1996: 10,6 lần; 1999: 12 lần; vùng có mức chênh lệch lớn hơn vùng khác là Tây

Trang 8

Nguyên 1996: 13,2 lần; 1999: 15,1 lần; Đông Nam Bộ 1996: 11,8 lần; 1999: 13,4 lần, Đồng bằng sông Cửu Long 1996: 9,2 lần; 1999: 10,4 lần

So sánh 5% số hộ có mức thu nhập cao nhất với 5% số hộ có mức thu nhập thấp nhất thì hệ số chênh lệch cao hơn so với 10% số hộ nêu trên năm 1996: 15,1 lần; 1999: 17,1 lần; vùng có mức chênh lệch lớn là Đông Nam Bộ 1996: 18,9 lần; 1999: 21,3 lần; Tây Nguyên 1996: 17,4 lần; 1999: 18,5 lần, Đồng bằng sông Cửu Long 1996: 14,8 lần; 1999: 16,6 lần, Đồng bằng sông Hồng 1996: 10,9 lần; 1999: 13,1 lần

So sánh 2% số hộ có mức thu nhập cao nhất với 2% số hộ có mức thu nhập thấp nhất thì hệ số chênh lệch cao hơn so với 5% số hộ nêu trên: Năm 1996: 27,2 lần; 1999: 29,4lần; vùng có mức chênh lệch lớn là Tây Nguyên 1996: 37,8 lần; 1999: 39,3 lần, Đông Nam Bộ 1996: 34,6 lần; 1999: 37,2 lần, Đồng bằng sông Cửu Long 1996: 29,5 lần; 1999: 32,4 lần; Đồng bằng sông Hồng 1996: 18,8 lần; 1999: 21,1 lần

Nhằm phục vụ đánh giá, phân tích sự bất bình đẳng giữa người giàu và người nghèo các tổ chức quốc tế và nhiều nước đã sử dụng hệ số GiNi* và tính tỷ lệ thu nhập của 40% số hộ có thu nhập thấp trong tổng số thu nhập của toàn bộ dân cư

II Giai đoạn 2001-2010

1.Kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ tăng tương đối khá, đưa nước

ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình

Bước vào thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội mười năm

2001-2010, nền kinh tế nước ta tiếp tục chịu sự tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực năm 1997 và đến những năm cuối thực hiện Chiến lược lại chịu sự tác động mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu diễn ra từ năm 2008 đến nay Mặc

dù vậy, trong mười năm 2001- 2010, hàng năm nền kinh tế nước ta đều đạt tốc độ tăng trưởng tương đối khá (Năm 2001 tăng 6,89%; 2002 tăng 7,08%; 2003 tăng 7,34%; 2004 tăng 7,79%; 2005 tăng 8,44%; 2006 tăng 8,23%; 2007 tăng 8,46%; 2008 tăng 6,31%; 2009 tăng 5,32% và ước tính năm 2010 tăng 6,78%) Tính ra, trong mười năm 2001-2010, bình quân mỗi năm tổng sản phẩm trong nước tăng 7,26%, trong đó, Kế hoạch phát

Trang 9

triển kinh tế-xã hội 5 năm 2001-2005 tăng 7,51%/năm; Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010 tăng 7,01%/năm So với giai đoạn

1991-2000, quy mô nền kinh tế đã tăng lên đáng kể cả về mức của lượng tuyệt đối của 1%, cũng như tốc độ tăng trưởng bình quân mỗi năm vẫn đạt 7,26%, xấp xỉ tốc độ tăng 7,56%/năm của Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội 1991-2000, đây là một thành tựu rất quan trọng Với tốc độ tăng trưởng như vậy, trong suốt mười năm qua, Việt Nam so với một số quốc gia trong khu vực chỉ đứng sau Trung Quốc và Ấn Độ, cao hơn các nước Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore, Indonesia, Malaysia và Philippines

Nhờ đạt được tốc độ tăng trưởng như trên nên tổng sản phẩm trong nước (tính theo giá so sánh năm 1994) năm 2010 đã gấp gần 2,02 lần năm 2000 Nếu tính bằng đô la Mỹ theo tỷ giá hối đoái thực tế bình quân hàng năm thì tổng sản phẩm trong nước (GDP) đã tăng từ gần 31,2 tỷ USD năm 2000 lên trên 100,8 tỷ USD năm 2010, tức là gấp 3,23 lần Tổng thu nhập quốc gia (GNI) của nước ta năm 2000 mới đạt 30,8 tỷ USD với mức bình quân đầu người 396 USD; năm 2007 đạt 68,8 tỷ USD với 817 USD/người, nhưng

Trang 10

đến năm 2008 đã tăng lên, đạt 86,7 tỷ USD, bình quân đầu người đạt 1018 USD; năm 2009 đạt 88,3 tỷ USD, bình quân đầu người đạt 1026,8 USD và ước tính năm 2010 đạt 96,8 tỷ USD, bình quân đầu người đạt 1113,6 USD Theo phân loại hiện nay của Ngân hàng Thế giới về thu nhập tính theo tổng thu nhập quốc gia (GNI)1 , từ năm 2008 nước ta đã ra khỏi nhóm nước và vùng lãnh thổ thu nhập thấp, bước vào nhóm nước và vùng lãnh thổ thu nhập trung bình thấp Trong số những nước kém phát triển (LDCs) Liên hợp quốc công bố những năm gần đây, nước ta cũng không có tên trong danh sách nhóm này Như vậy, sau mười năm triển khai thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010 chúng ta đã đạt được thành công kép, vừa “đưa GDP năm 2010 lên ít nhất gấp đôi năm 2000”, vừa “đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp, hoàn thành tốt mục tiêu đề ra.

2.Cơ cấu kinh tế chậm đổi mới

Trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội mười năm 2001-2010, xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành chậm dần và nhìn chung chỉ diễn ra ở 5 năm đầu

Trang 11

(2001-2005) Do vậy, tính chung mười năm 2001-2010, cơ cấu kinh tế ngành không duy trì được xu hướng chuyển dịch của những năm

1991-2000 Năm 2001 là năm đầu thực hiện Chiến lược kinh tế - xã hội mười năm 2001-2010, cơ cấu ba khu vực kinh tế chiếm trong GDP lần lượt là: 23,3%; 38,1% và 38,6%, nhưng sau 10 năm triển khai Chiến lược, đến năm

2010, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn còn chiếm tỷ trọng 20,6% GDP (chỉ giảm 2,7% so với tỷ trọng 23,3% năm 2001); khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 41,1% GDP (chỉ tăng 3,0% so với tỷ trọng 38,1% năm 2001; nếu loại trừ ngành khai thác mỏ ra khỏi khu vực công nghiệp và xây dựng theo cách phân chia đang được nhiều nước áp dụng thì đến nay tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng của nước ta còn thấp hơn nhiều, mới chiếm trên dưới 30%); khu vực dịch vụ gần như giữ nguyên với mức 38,3% so với tỷ trọng 38,6% năm 2001 Chính vì vậy, mục tiêu đề ra trong Chiến lược “đưa tỷ trọng trong GDP của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản xuống còn 16-17%; nâng tỷ trọng khu vực dịch vụ lên 42-43% vào năm 2010” đã không thực hiện được Trong buổi đầu cất cánh, kinh tế Hàn Quốc và Đài Loan cũng chỉ là nền kinh tế nông nghiệp, nhưng sau hơn 20 năm đổi mới cơ cấu ngành, Hàn Quốc và Đài Loan đã giảm

tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản từ trên 30% GDP xuống còn dưới 10% GDP2 ; trong khi đó, sau 25 năm đổi mới, tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm trong GDP của nước ta chỉ giảm từ 38,1% năm 1986 xuống 20,6% năm

2010 Có thể nói, cho tới nay cơ cấu kinh tế ngành của nền kinh tế nước ta vẫn lạc hậu, chưa ra khỏi cơ cấu ngành truyền thống với đặc trưng tỷ trọng cao của khu vực sản xuất vật chất nói chung và của khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản nói riêng Cơ cấu ngành của nền kinh tế nước ta hiện chỉ tương ứng với cơ cấu ngành của một số nước trong khu vực những năm 80 của thế kỷ trước

3.Đánh giá cơ cấu kinh tế

Trong những năm vừa qua, nền kinh tế nước ta vận hành theo mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào yếu tố vốn Trong mười năm 1991- 2000 tổng số vốn đầu tư là 802,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 36,5% GDP, nhưng mười năm 2001-2010, tổng số vốn đầu tư đã lên tới 4336,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 41,6% GDP Đây là một tỷ lệ đầu tư cao, không chỉ cao hơn tỷ lệ đầu tư những năm 1991-2000, mà còn cao hơn tỷ lệ đầu tư của nhiều nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới Nếu phân chia số vốn đầu tư nêu trên theo

ba khu vực: Khu vực Nhà nước, khu vực ngoài Nhà nước và khu vực có

Ngày đăng: 26/02/2020, 19:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w