Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống có ý nghĩa sống còn đốivới mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, đặc biệt trong xu thế hội nhập với cơ chế thịtrường hiện nay thì vấn đề này càng đư
Trang 1Phần thứ nhất: GIỚI THIỆU CHUNG
1 Lời nói đầu
Bản sắc văn hóa của một dân tộc là những giá trị vật chất và tinh thần đặctrưng trường tồn cùng dân tộc đó Một mặt, nó phản ánh sinh động đời sống kinh
tế - xã hội của dân tộc, mặt khác, đó cũng là dấu hiệu đặc trưng để chúng ta phânbiệt và nhận biết dân tộc này với dân tộc khác
Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống có ý nghĩa sống còn đốivới mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, đặc biệt trong xu thế hội nhập với cơ chế thịtrường hiện nay thì vấn đề này càng được chú trọng và quan tâm hơn bao giờ hết.Vĩnh Phúc là tỉnh trung du miền núi phía bắc có nhiều dân tộc sinh sống, cácdân tộc thiểu số với những giá trị văn hóa truyền thống phong phú, độc đáo vàchứa đựng tính nhân văn cao cả, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhànước, đặc biệt là sự ủng hộ chung sức của cộng đồng các dân tộc thiểu số ở tỉnhVĩnh Phúc, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống là những giá trị về vănhóa truyền thống các dân tộc thiểu số ở tỉnh Vĩnh Phúc vẫn còn nhiều điểm tồntại, chưa chú trọng, đẩy những giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số đứng trướcnhững nguy cơ, thách thức không nhỏ Chính vì vậy, việc bảo tồn và phát huy cácgiá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnhVĩnh Phúc đang được đặt ra và góp phần vào sự phong phú của bản sắc văn hóacác dân tộc tỉnh Vĩnh Phúc
Chính vì lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài: Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Vĩnh Phúc
2 Tên đề tài: Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Vĩnh Phúc
8 Các tổ chức phối hợp chính thực hiện đề tài:
Ban quản lý di tích - Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch
Trang 29 Mục tiêu của đề tài:
- Đánh giá thực trạng công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa củacác dân tộc thiểu số ở tỉnh Vĩnh Phúc
- Nâng cao chất lượng công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóatruyền thống của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Vĩnh phúc hiện nay
10 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, quan điểm nhất quán của Đảng
ta là: văn hóa, văn học, nghệ thuật là bộ phận khăng khít, phục vụ cho sự nghiệpcách mạng nói chung, từng giai đoạn lịch sử nói riêng; luôn gắn bó chặt chẽ vớiđời sống nhân dân nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng Sau 15 nămthực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) “Về xây dựng và phát triển nềnvăn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, đất nước ta đã đạt đượcnhững thành tựu quan trọng về văn hóa - xã hội Đảng, Nhà nước và các đoàn thể
đã đưa nội dung xây dựng văn hóa vào nghị quyết lãnh đạo và chương trình hànhđộng, kế hoạch công tác; tích cực tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về vịtrí, vai trò của văn hóa, tạo bước chuyển biến tích cực về tư tưởng chính trị, đạođức, lối sống của nhân dân và đồng bào các dân tộc thiểu số Việc tìm hiểu, nghiêncứu, giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số là việc làm có
ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng Trong thời gian qua, ở trong nước đã cónhiều hội thảo, nhiều công trình nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóadân tộc, song chưa có một nghiên cứu nào về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóatruyền thống các dân tộc thiểu số ở tỉnh Vĩnh Phúc
11 Nội dung nghiên cứu của đề tài:
Nội dung 1 Nghiên cứu các giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số ởtỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
Nội dung 2 – Đánh giá thực trạng công tác bảo tồn và phát huy các giá trị vănhóa truyền thống các dân tộc thiểu số ở tỉnh Vĩnh Phúc
Nội dung 3- Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần bảo tồn và phát huy các giátrị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Vĩnh phúc hiện nay
12 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, gắn với khảo sát thực tiễn một số điểm trênđịa tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 313. Kế hoạch thực hiện
- Xây dựng đề cương, thuyết minh: Từ tháng 01-03/2014
- Khảo sát, điều tra:Từ tháng 03-06/2014
- Tổng hợp, phân tích thông tin: Từ tháng 04-07/2014
- Viết báo cáo tổng hợp, báo cáo nghiệm thu: Từ tháng 06-08/2014
- Nghiệm thu: Tháng 12/2014
14 Lợi ích của đề tài:
- Đây là tài liệu tham khảo, là căn cứ quan trọng để cơ quan quản lý nhà nước, các ngành chức năng trong tỉnh nghiên cứu việc bảo tồn, giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số tỉnh Vĩnh Phúc
- Là tài liệu nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức của người dân cũng nhưcác cấp, các ngành về ý thức, về công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số
Trang 4Phần thứ hai: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ
TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
1 Một số khái niệm cơ bản
1.1 Dân tộc:
Khái niệm dân tộc theo nghĩa hẹp dùng để chỉ tất cả các dân tộc (tộc người)
từ trình độ phát triển thấp (đang ở trong phạm trù xã hội nguyên thủy) đến cao(đạt đến sự hình thành nhà nước)
1.2 Khái niệm giá trị, bảo tồn, phát huy, di sản
Giá trị là các tư tưởng bao quát được cùng nhau tin tưởng mạnh mẽ ở mộtnhóm người, một giai tầng, một dân tộc hoặc một thời đại về cái gì là đúng, sai,thiện, ác, xấu, tốt, hợp lý, không hợp lý Ở Việt Nam, thường dùng thuật ngữ giátrị là để chỉ phẩm chất, phẩm giá, đức tính (giá trị đạo đức, truyền thống…) Theo Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nắng năm 2005
Bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi
Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt lan toả tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm
Phát huy, trước hết là sử dụng giá trị tinh thần của di sản văn hóa trong côngtác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, tình cảm; đồng thời, khái niệm phát huy cũng
đã bao hàm cả các hoạt động khai thác
Di sản: Theo nghĩa Hán Việt, di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại; sản
là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Di sản làcái của thời đại trước để lại
Di sản văn hóa
Di sản văn hóa được hiểu là những gì có giá trị do tổ tiên, cha ông truyềnlại cho thế hệ sau Di sản văn hóa tồn tại dưới hai dạng là: Di sản văn hóa vật thể
và di sản văn hóa phi vật thể
1.3 Giá trị văn hóa truyền thống
Theo nghĩa tổng quát, truyền thống đó là những yếu tố của di tồn văn hóa, xãhội thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tư tưởng, phong tục, tập quán, thói quen, lốisống và cách ứng xử của cộng đồng người được hình thành trong lịch sử và đã trởnên ổn định, được lưu truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài
Trang 52 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống
Đại hội BCH Trung ương Đảng khóa IX tiếp tục khẳng định: “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong
mỹ tục của các dân tộc, tôn tạo các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh; khai thác các kho tàng văn hóa cổ truyền… chú trọng gìn giữ, phát triển các di sản văn hóa phi vật thể, các di tích lịch sử, nâng câp các bảo tàng”
Ngày 5/9/2012 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số TTG phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2012-2015với mục tiêu chung là nhằm nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, của cáccấp, các ngành huy động sức mạnh toàn xã hội tham gia, đóng góp vào sự nghiệpphát triển văn hóa; bảo tồn các di sản, giá trị văn hóa phục vụ việc thực hiệnnhiệm vụ chính trị quan trọng của Đảng và Nhà nước
1211/QĐ-Vĩnh Phúc là tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, định cư lâuđời, trong quá trình phát triển, đồng bào các dân tộc thiểu số luôn có sự biến động
về nhân khẩu Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài,nhóm nghiên cứu khảo sát 06 dân tộc có số dân đông nhất sau dân tộc Kinh ở cáchuyện, thị là Sông Lô, Lập Thạch, Tam Đảo, Bình Xuyên và thị xã Phúc Yên tỉnhVĩnh Phúc 06 dân tộc là, Sán Dìu, Cao Lan, Dao, Tày, Nùng, Mường
Trang 6CHƯƠNG II BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN
THỐNG CÁC DÂN TỘC Ở TỈNH VĨNH PHÚC
1 Vị trí địa lý
Vĩnh Phúc là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, vùng đồng bằngsông Hồng Là tỉnh có bề dày truyền thống văn hóa, cách mạng và có nhiều tiềmnăng phát triển công nghiệp và du lịch Hiện nay, tỉnh có 9 đơn vị hành chính: 1thành phố, 1 thị xã và 7 huyện
Toàn tỉnh có 40 xã miền núi, trong đó, huyện Tam Đảo có 09 xã, huyện LậpThạch 14 xã, huyện Sông Lô 12 xã, huyện Bình Xuyên có 1 xã, huyện TamDương 3 xã, thị xã Phúc Yên: 1 xã Đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địabàn tỉnh soinh sống chủ yếu ở ven dãy núi Tam Đảo và núi Sáng của 5 huyện, thị
xã gồm 14 xã Tính đến tháng 6 năm 2014, Đồng bào dân tộc thiểu số có hơn 47nghìn người (chiếm khoảng 4,6% dân số toàn tỉnh) bao gồm các dân tộc thiểu sốsau: Dân tộc Sán Dìu 42,264 người chiếm 89,9%, dân tộc Cao Lan 1.827 ngườichiếm 3,9%, dân tộc Nùng 911 người chiếm 1,94%, dân tộc Dao 776 người chiếm1,65%, dân tộc Tày 676 người chiếm 1,44%, dân tộc Mường 339 người chiếm0,72% các dân tộc Hoa, H.Mông, Giáy, Lào, Ngái,… số lượng ít sống rải rác trênđịa bàn các huyện, thành thị (Nguồn: Tài liệu Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu sốtỉnh Vĩnh Phúc lần thứ II, năm 2014) Mỗi dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàntỉnh có tập tục, sắc thái văn hóa riêng nhưng tựu chung đều có giá trị truyền thốngchung là tinh thần yêu nước, cần cù trong lao động sản xuất, anh dũng trong chiếnđấu, đoàn kết giúp đỡ nhau trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Các dân tộc thiểu số sống thành làng bản đan xen với dân tộc Kinh, có truyền
thống đoàn kết hoà thuận, hỗ trợ nhau phát triển Số liệu bảng 1 cho thấy, các dân
tộc thiểu số cư trú rải rác ở các xã trên địa bàn các huyện Sông Lô, Lập Thạch,Tam Đảo, Bình Xuyên, thị xã Phúc Yên là chủ yếu Ở tỉnh Vĩnh Phúc có 6 dân tộcthiểu số có số dân đồng hơn cả là dân tộc Sán Dìu, Cao Lan, Dao, Tày, Nùng,Mường Mỗi dân tộc đều có nguồn gốc lịch sử, phong tục tập quán, văn hóa riêng.Tuy dân số ít so với dân tộc Kinh, song họ làm ăn sinh sống ở một vùng đất khá
Trang 7rộng lớn men theo sườn Tây Nam của dãy núi Tam Đảo, từ giáp huyện Sóc Sơncủa thành phố Hà Nội đến giáp huyện Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 1
Trang 82 Khái quát lịch sử hình thành và phân bố của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Vĩnh Phúc
2.2 Dân tộc Cao Lan
Dân tộc Cao Lan ở tỉnh Vĩnh Phúc, có 1.827 người nhưng sống tập trung chủ yếu ở xã Quang Yên huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc (xem bảng 3).
Đặc điểm của dân tộc Cao Lan là không thích du cư Theo gia phả của dòng
họ Lâm ở xã Quang Yên, người Cao Lan di cư đến đây đến nay đã được 8 đời(khoảng trên 180 năm, mỗi đời 30 năm) Từ khi định cư ở xã Quang Yên, đồngbào Cao Lan coi đây là quê hương chính thức của mình
2.3 Dân tộc Dao
Dân tộc Dao ở Vĩnh Phúc có 776 người Họ đã sống định canh định cư nhiều đời ở bản Thành Công, xã Lãng Công, huyện Sông Lô có 158 hộ với 678 người (xem bảng 3) Ở xã Trung Mỹ, huyện Bình Xuyên có một bản với 14 hộ, 27
nhân khẩu đi cư từ Thái Nguyên và Lạng Sơn đến Nếu tính từ khi những ngườiđầu tiên đến ở tỉnh Vĩnh Phúc, đến nay cũng đã được 5 đời (khoảng trên 120 năm).Đặc điểm tâm lý của người Dao từ thời xa xưa thường thích ở lưng chừng núi
2.4 Dân tộc Tày
Theo số liệu thống kê, dân tộc Tày ở Vĩnh Phúc có 676 người Họ sống rải
rác ở các huyện: Sông Lô 238 người; Lập Thạch 224 người; Tam Đảo 81 người;thị xã Phúc Yên 131người
2.5 Dân tộc Nùng
Dân tộc Nùng ở tỉnh Vĩnh Phúc có 911 người, họ cư trú chủ yếu ở các huyện
Sông lô, Lập Thạch, Tam Đảo, Bình Xuyên, thị xã Phúc Yên Cũng giống như dântộc Tày, Mường, họ sống rải rác ở các xã trên địa bàn các huyện nhưng nơi tập trung
đồng nhất là xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo với 502 người (xem số liệu ở bảng 2)
Trang 9Người Nùng cư trú tại nước Việt Nam cách ngay nay khoảng 200-300 năm.Người Nùng thường cu trú tại ven sông, suối,sườn đồi, núi và cư trú chủ yếu thành
Bảng 2, 3
Trang 102.6 Dân tộc Mường.
Dân tộc Mường ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện có 339 người, họ cư trú chủ yếu ở các huyện
Sông lô, Lập Thạch, Tam Đảo, thị xã Phúc Yên
3 Các giá trị văn hóa truyền thống chung của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Vĩnh Phúc
3.1 Truyền thống yêu nước
3 2 Truyền thống đoàn kết, ý thức cộng đồng
3 3 Truyền thống cần cù, chăm chỉ trong lao động, sản xuất
4 Khái quát những giá trị văn hóa truyền thống (văn hóa vật thể và phi vật thể) của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Vĩnh Phúc
Ngoài ba đặc trưng chung của dân tộc Việt Nam là Truyền thống yêu nước,
Truyền thống đoàn kết, ý thức cộng đồng, Truyền thống cần cù, chăm chỉ trong lao động, sản xuất ; Giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số ở tỉnh
Vĩnh phúc được nhóm nghiên cứu khảo sát, đánh giá có hai loại hình : Một làVăn hóa vật thể gồm : cách thức lao động sản xuất, nông cụ; nhà ở; trang phục;văn hóa ẩm thực Hai là Văn hóa phi vật thể gồm: ngôn ngữ (tiếng nói và chữviết); Văn học dân gian; quan hệ hôn nhân; tôn giáo, tín ngưỡng; nghi lễ tang ma
4.1 Dân tộc Sán Dìu
Trang 114.1.1 Người Sán Dìu đã sớm có nền văn minh cấy lúa nước Để có nướctrồng lúa nước, người Sán Dìu đã đoàn kết cùng nhau và được nhà nước đầu tưlàm nhiều công trình thủy lợi lớn như hồ Đại Lải, Xạ Hương, làng Hà, đầm SáuVó… với hàng ngàn km kênh mương dẫn nước về ruộng tưới tiêu cho một sốcánh đồng bằng phẳng hàng trăm mẫu như ở xã Đạo Trù, Minh Quang, HợpChâu, Đại Đình của huyện Tam Đảo
Người Sán Dìu có phương tiện vận tải khá đặc biệt là chiếc xe quyệt
4.1.6 Văn học dân gian
Văn học dân gian của người Sán Dìu độc đáo nhất có lẽ là hát ví Soọng cô
có ý nghĩa là xướng ca
4.1.7 Quan hệ hôn nhân
Hôn nhân của người Sán Dìu theo nghi thức truyền thống, việc cưới xin củangười Sán Dìu phải tiến hành đủ các bước: Lễ dạm hỏi, lễ so tuổi, lễ ăn hỏi, lễ dứtlời, lễ cưới chính thức và lễ lại mặt Lễ Khai hoa tửu trong ngày cưới chính thức
4.1.8 Tín ngưỡng và tôn giáo
Trang 12Cũng như người Kinh, người Sán Dìu rất coi trọng việc thờ cúng tổ tiên Cùng với việc thờ cúng tổ tiên, người Sán Dìu thờ cúng táo quân, thờ thần cửa, thờ thần Hoàng làng, thờ Mẫu
4.1.9 Lễ tang
Người Sán Dìu quan niệm con người chỉ chết về phần thể xác, còn phầnlinh hồn sống mãi với người thân con cháu Nghi lễ tang ma của người Sán Dìugồm, lễ trao nhà táng, lễ đưa ma Người Sán Dìu cũng có tục cải táng nhưngười Kinh
4.2 Dân tộc Cao Lan
Trước đây, dân tộc Cao Lan chủ yếu là trồng lúa cạn-nương rẫy Hiện nay,đồng bào Cao Lan cũng như người Kinh trông lúc nước là chủ yếu, năng suất khácao đạt 40-45 tạ/ha
Các cô gái Cao Lan ngày xưa thường có hai bộ đồ cưới, một bộ có thể mặckhi cần thiết, một bộ để khi già chết mặc vào khi khâm liệm
4.2.4 Văn hóa ẩm thực
Dân tộc Cao Lan ăn các món ăn như người Kinh Ngoài những thức ăn tươi,người Cao Lan còn có thịt sấy khô, món gỏi cá, món xôi đen Bánh chim, bánhchuột “ẹt nộc, ẹt nâu”
4.2.5 Ngôn ngữ
Tiếng Cao Lan cổ, còn gọi là ngôn ngữ văn cúng, văn nghệ gần với thổ ngữQuảng Đông của người Trung Quốc và một số dân tộc khác ở Việt Nam Trongkhi đó, cả hai hệ thống tiếng nói cổ và tiếng nói hàng ngày của người Cao Lan có
đủ vốn từ để thể hiện tư duy từ cao đến thấp
4.2.6 Văn học dân gian
Trang 13Người Cao Lan có tới 11 làn điệu hát dân ca, giao duyên, hát cúng thần linh,
cúng tổ tiên Nhạc cụ của người Cao Lan gồm trống và khèn Tuy nhiên, đến nay,
người Cao Lan đã không chế tạo và dùng hai loại nhạc cụ này nữa
Làn điệu Sình ca là linh hồn của văn hóa Cao Lan Đây là một loại hình sinh
hoạt văn hóa tinh thần vô cùng đặc sắc và có ý nghĩa lớn đối với người Cao Lan
4.2.7 Quan hệ hôn nhân
Về thủ tục cưới xin phải trải qua nhiều giai đoạn dạm hỏi – sửa lễ gá bạc – lễnạp cheo hẹn ngày – lễ cưới Trước đây, con trai phải ở rể nhà con gái từ 2-3năm Khoảng 100 năm trở lại đây, tục lệ này không còn nữa, người con gái đến ởnhà chồng ngay sau ngày cưới
4.2.8 Tín ngưỡng và tôn giáo
Người Cao Lan không hẳn đi theo tôn giáo nào Các bộ sách còn lưu lại củangười Cao lan phần nhiều nghiêng về Nho giáo và Đạo giáo
Vì vậy mới phải
4.2.9 Nghi lễ tang ma
Khi trong nhà có người chết, con trai, gái dâu, rể thắt con dao ngang lưng, cókhi là vỏ dao Khi đoàn thầy cúng đến, họ cúng tế suốt đêm và làm nhà giấy– nhàcho người chết rồi hóa vàng để cho họ ở ngôi nhà ấy muôn thủa Người Cao Lan
có tục nhất táng thiên thu không cải táng
4.3 Dân tộc Dao
Dân tộc Dao làm lúa nương là chủ yếu, lúa ruộng là phụ Người Dao ở tỉnhVĩnh Phúc đã tiếp thu kỹ thuật canh tác nông nghiệp, trồng các giống lúa mới năngsuất cao
4.3.1 Nhà ở
Dân tộc Dao có nhiều nhóm, mỗi nhóm có nhà ở khác nhau Nhóm Daoquần chẹt ở Lãng Công huyện Sông Lô thì ở nửa sàn nửa đất
4.3.2 Trang phục, dân tộc Dao thường mặc áo cánh bằng vải nhuộm chàm.
Quần may thụng như kiểu quần ta của người Kinh Áo phụ nữ may bằng vải màuchàm dài đến giữa ống chân Các mép cổ, gấu, tay áo, phía sau lưng đều đượcthêu các hình họa tiết hoa văn bằng chỉ màu Chân được cuốn bằng xà cạp trắng
Bộ quần áo phụ nữ Dao được bảo tồn đến ngày nay hầu như nguyên gốc, chứng tỏ phụ nữ Dao rất ít thay đổi Họ có ý thức giữ gìn bản sắc của giới và dân tộc mình.
4.3.3 Văn hoá ẩm thực