Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Chúng ta đang sống ở kỷ nguyên số, cách mạng công nghiệp 4.0, đặc biệtvới sản phẩm mũi nhọn Công nghệ thông tin (CNTT) đang thể hiện vai trò vàsức mạnh vượt trội chi phối các hoạt động của nhiều ngành nghề trong đó cóngành y tế Các hoạt động chăm sóc sức khỏe con người luôn bị áp lực cao, đòihỏi khẩn trương, minh bạch vì vậy CNTT là phương tiện trợ giúp đắc lực đểthực hiện tốt các hoạt động tại các cơ sở khám chữa bệnh[7]
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra vai trò quan trọng của CNTT trongviệc cải thiện chất lượng chăm sóc người bệnh như giảm thời gian xử lý trườnghợp bệnh, quản lý bệnh nhân chi tiết và chính xác, các hoạt động khám và điềutrị được thực hiện tự động Mặc dù còn có khó khăn về tài chính và những tháchthức trong việc triển khai CNTT nhưng việc triển khai và tăng cường áp dụngCNTT trong bệnh viện nói riêng và chăm sóc sức khỏe nói chung ngày càngphát triến về số lượng và chất lượng và nó trở thành việc bắt buộc phải làmtrong thế kỷ 21
Tại Việt Nam, trong những năm qua nhiều bệnh viện có khả năng về tàichính và CNTT đã thành công trong việc đưa ứng dụng CNTT vào các hoạtđộng quản lý bệnh viện đặc biệt là các bệnh viện tuyến trung ương và đa phầncác bệnh viện tuyến tỉnh Qua thực tế tại các bệnh viện này cho thấy việc ứngdụng CNTT đã giúp các nhà quản lý sử dụng có hiệu quả các nguồn lực củabệnh viện, chống thất thu viện phí, đảm bảo công tác xuất nhập thuốc nhanhchóng và chính xác công khai minh bạch tài chính cho bệnh nhân Từ đó, giúpkiểm soát sử dụng thuốc hợp lý an toàn, đảm bảo tra cứu thuận tiện, lưu trữ lâudài và vẹn toàn thông tin rút ngắn thời gian thống kê báo cáo, đưa các dịch vụ y
tế đến gần với người dân hơn, hướng tới sự hài lòng của người bệnh[7]
Bệnh viện A Thái Nguyên là Bệnh viện đa khoa hạng 1 của tỉnh với quy
mô 750 giường kế hoạch Giường thực kê: 1050[8] Hàng ngày có khoảng 700
-800 lượt bệnh nhân đến khám và điều trị[4] Vì vậy việc sớm ứng dụng CNTT
để hỗ trợ cho công tác quản lý bệnh là một yêu cầu cấp thiết Sau gần 6 năm áp
Trang 2dụng việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý bệnh viện bước đầu đã manglại nhiều lợi ích thiết thực như các thông tin, dữ liệu báo luôn được cập nhập;các thông tin về tài chính và thuốc men được công khai minh bạch cho ngườibệnh, các kết quả xét nghiệm, phim ảnh XQ, siêu âm, nội soi dễ dàng chia sẻcho các bác sĩ Tuy nhiên trong quá trình triển khai đã gặp một số khó khăn nhưhạn chế về khả năng tiếp cận CNTT của cán bộ y tế, sự phối hợp chưa đồng bộgiữa các khoa, phòng, cơ sở hạ tầng CNTT chưa đáp ứng đầy đủ, các quy định
về thông tin và quy trình làm việc chưa rõ ràng Trong quá trình vận hành cònnhiều sai sót đòi hỏi phải sửa lỗi nhiều, dữ liệu có lúc còn bị sai lệch khác nhaugiữa các bộ phận[1] Vậy câu hỏi đặt ra là việc ứng dụng công nghệ thông tintrong quản lý bệnh viện tại Bệnh viện A Thái Nguyên hiện nay như thế nào, yếu
tố nào liên quan đến việc ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện A hiệnnay ?
Là một cán bộ Bệnh viện A Thái Nguyên đang theo học lớp Bồi dưỡngtheo tiêu chuẩn chức danh Bác sỹ chính, được các Thầy trường Đại học Y tếcông cộng giảng dạy và hướng dẫn em viết Tiểu luận với chuyên đề:
“ Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện A Thái Nguyên năm 2019”
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG
Để tìm hiểu được thực trạng ứng dụng CNTT và các yếu tố liên quan đến việc ứng dụng CNTT tại Bệnh viện A em dựa vào các báo cáo về CNTT, các báo cáo về tình hình hoạt động của Bệnh viện năm 2019, cụ thể:
* Đối tượng nghiên cứu
- Các số liệu thứ cấp bao gồm các báo cáo hoạt động của Bệnh viện và cácbáo cáo số liệu liên quan đến CNTT tại bệnh viện
- Các văn bản, quyết định, quy định có liên quan đến CNTT tại bệnh viện;
- Các cán bộ, nhân viên làm việc tại Bệnh viện có liên quan đến CNTT
* Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và
định tính Trong đó:
+ Nghiên cứu định lượng: phân tích số liệu thứ cấp để đánh giá thực trạng vàmột số yếu tố liên quan đến ứng dụng CNTT tại bệnh viện A Thái Nguyên + Nghiên cứu định tính: thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu để phân tích, làm
rõ thêm các yếu tố liên quan đến hoạt động ứng dụng CNTT tại Bệnh viện A
Trang 5PHẦN III: KÊT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 Thực trạng ứng dụng CNTT tại Bệnh viện A Thái Nguyên
Các bước triền khai của việc ứng dụng CNTT tại Bệnh viện [1]:
Từ năm 2008: Bệnh viện triển khai một máy chủ và hơn 50 máy tính trạmđược kết nối mạng nội bộ(LAN) và ứng dụng phần mềm Hsoft Các máy trạmđược bố trí đến các khoa phòng và bộ phận
Hàng năm mua bổ sung thêm máy tính và các thiết bị tin học khác nhằmđảm bảo công tác khám chữa bệnh
Năm 2017: Bệnh viện đã đã nâng cấp và trang bị hệ thống máy chủ nhằmđảm bảo chạy song song 24/24 giờ nhằm tăng tính ổn định, an toàn cho hoạtđộng khám chữa bệnh và quản lý điều hành chung, đến thời điểm hiện tại Bệnhviện có hơn 160 máy tính và hơn 60 máy in được bố trí đều cho các khoa phòng
Đã xây dựng mạng LAN nội bộ Từng bước triển khai, áp dụng hệ thống phầnmềm Hsoft quản lý tổng thể bệnh viện đồng bộ từ các phòng chức năng đếnphòng khám cũng như tất cả các khoa lâm sàng, cận lâm sàng
Năm 2013 bệnh viện đã xây dựng trang Web với tên miền là:www.benhvienathainguyen.com.vn
Cùng với việc trang bị các cơ sở hạ tầng gồm phần mềm, phần cứng thìbệnh viện đã tổ chức đào tạo các khóa học ngắn hạn cho tất cả các cán bộ, nhânviên về kỹ năng sử dụng máy tính và việc ứng dụng tin học vào trong công tácquản lý khám chữa bệnh
Việc ứng dụng CNTT tại bệnh viện áp dụng cho nhiều lĩnh như:
o Quản lý bênh nhân khoa khám bệnh và khám ngoại trú: Hiện tại bệnh
viện có 5 bàn tiếp đón, 13 bàn khám chuyên khoa và 5 bàn khám ngoại trú Từbàn đón tiếp bệnh nhân đã được đăng ký qua mã QR-code nên thông tin rấtchính xác và thời gian xử lý nhanh Sau đó thông tin của bệnh nhân được chuyểnđến các bàn khám và hiển thị thông tin cơ bản người bệnh trên màn hình tivitrước mỗi của phòng khám.Tại khoa khám bệnh của Bệnh viện, khi có xử tríphòng khám:
Trang 6- Chỉ định xét nghiệm: Chuyển vào danh sách chờ viện phí, hoặc chuyểnthẳng lên khu vực cận lâm sàng đối với bệnh nhân BHYT.
- Khi có kết quả cận lâm sàng bệnh nhân quay trở lại phòng khám để: Kêđơn cho về hoặc nhập viện
Quản lý bênh nhân nôi trú
- Thông tin từ phòng khám có chỉ định nhập viện sẽ chuyển bệnh nhân vàodanh sách chờ nhập khoa sau khi đã nhập thông tin hành chính đầy đủ
- Bệnh nhân sau khi nhập khoa sẽ có trong danh sách hiện diện tại khoamới sử dụng được các dịnh vụ tại bệnh viện (cận lâm sàng, thuốc, vật tư tiêuhao, )
- Các thông tin sử dụng của từng bệnh nhân sẽ được chuyển khoa sangkhoa phòng tương ứng: thuốc chuyển sang khoa Dược, vật tư tiêu hao chuyểnxuống kho vật tư, cận lâm sàng tương ứng
- Các thông tin này và chỉ số sinh tồn sẽ được cập nhập hàng ngày vào hồ
sơ để lưu trữ và chuyển sang viện phí khi xuất khoa, xuất viện Công khai việnphí từng ngày cho bệnh nhân
Quản lý dươc và vât tư y tế
Tại kho chính: Thông tin đầu vào là các hóa đơn (tên gốc, biệt dược, đơn vịcung cấp, nước sản xuất, lô hạn dùng, số lượng ) Thông tin đầu ra: Xuất kho
lẻ, xuất khác
- Kho lẻ: Quản lý theo loại (kho lẻ độc, kho lẻ viên, )
- Tủ trực thuốc các khoa: Cơ số thuốc, hóa chất và vật tư được Ban Giámđốc duyệt
- Hàng ngày duyệt cấp phát thuốc từ kho lẻ bao gồm:
- Thuốc dự trù hàng ngày theo y lệnh bác sĩ chi tiết từng bệnh nhân và pháttổng hợp theo khoa Viện phí sẽ được cập nhập khi đã được duyệt thuốc
- Bù tủ trực theo từng bệnh nhân, tổng hợp theo khoa hàng ngày Viện phíđược cập nhập ngay khi làm thuốc
Quản lý cận lâm sàng
Bệnh nhân ngoại trú khi có chỉ định qua bộ phận tài chính xác nhận đối với
Trang 7đối tượng không phải là BHYT, và chuyến dữ liệu vào khu vực xét nghiệm,chẩn đoán hình ảnh Khi có kết quả trả lại được cập nhập vào hồ sơ bệnh nhân,khoa xét nghiệm, chẩn đoán hình Hệ thống sẽ lưu kết quả của tất cả các lầnbệnh nhân đến khám, vì vậy mà việc tham khảo các kết quả cũ là rất hữu ích vàcần thiết.
Bệnh nhân nội trú khi có yêu cầu xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh được cậpnhập thông về khu vực đó ngay
Quản lý viên phí
Đây là phân hệ quan trọng đòi hỏi thông tin phải được tổng hợp từ toàn bộcác phân hệ khác với đặc thù tại bệnh viện chia ra nhiều đối tượng gồm: đốitượng bảo hiểm, đối tượng trẻ em dưới 6 tuổi, đối tượng thu viện phí,… Do vậyviệc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý viện phí bao gồm:
Thu tiền khám bệnh từ thông tin đăng ký khám;
Thu tiền khám khám sức khỏe;
Phân loại bệnh nhân theo đối tượng;
Tính tiền dịch vụ theo đối tượng;
Thu tiền tạm ứng nội trú và trả tiền hoàn ứng;
Thanh toán bệnh nhân nội trú
Thống kê theo từng dịch vụ, theo khoa, bác sĩ, đối tượng
Tính, chi trả phẫu thuật, thủ thuật;
Kết chuyển số liệu lên cổng tiếp nhận BHYT
Quản lý hồ sơ bệnh án và báo cáo thống kê: hồ sơ bệnh án được quản lýthống kê khoa học, đầy đủ thông tin và trúy xuất dễ dàng Công tác báo cáothống kê: phục vụ chuyên môn quản lý, báo cáo cấp trên được thực hiện chínhxác, nhanh chóng đáp ứng được yêu cầu
Bảng 3.1 Các phân hệ phần mềm quản lý bệnh viện [6]
Trang 8STT Các phân hệ theo Quyêt định
QL báo cáo thống kê tổng hợp
* Nhận xét và bàn luận: Bảng 3.1 cho thấy, Bệnh viện A hiện có 7 phân
hệ quản lý So với các phân hệ quản lý bệnh viện theo Quyết định BYT thì Bệnh viện A có thêm phân hệ báo cáo thống kê tổng hợp[6] Đây làphân hệ phục vụ công tác chuyên môn điều hành hiệu quả trong Bệnh viện Với
5573/QĐ-8 phân hệ phần mềm quản lý Bệnh viện thì đã bao phủ 31 khoa phòng trongbệnh viện, tất cả các phân hệ đó liên kết logic với nhau tạo thành chu trình khépkín
Bảng 3.2 Số lượng máy tính tại các khoa/phòng
Số lượng máy tính (Bộ ) Số lượng máy in (Cái )
Trang 910 Khoa Hồi sức cấp cứu 6 2
* Nhận xét và bàn luận: Bảng 3.2 cho thấy bệnh viện đã trang bị về cơ bản
máy tính, máy in cho tất cả các khoa, phòng Số lượng máy tính tại bệnh viện là
178, số máy in là 103 Khoa khám bệnh là đơn vị có nhiều máy tính (34), máy in(26) nhất, bởi vì với quy mô khám chữa bệnh đa khoa tất cả các phòng phòngkhám được sắp xếp bố trí một khu vực, thuận tiện cho người bệnh đi khám Việc
in ở các bàn khám cũng công tác khám chữa bệnh được nhanh hơn và giảmđược thời gian chờ đợi của người bệnh Tiếp theo là phòng tài chính kế toán với
số lượng máy tính, máy in là 20 và 19, bởi hầu hết hoạt động của phòng TCKThàng ngày là việc thanh toán KCB nội trú, ngoại trú, các báo cáo tài chính vàbáo cáo quyết toán Số máy tính, máy in này cơ bản đáp ứng công việc hiện tạinhưng nhu cầu vẫn cần tăng thêm để giải phóng công việc nhanh hơn, giảm thời
Trang 10gian chờ đợi của người bệnh.
Bảng 3.3 Hiện trạng kết nối mạng LAN, sử dụng Internet
STT Khoa/phòng
Số lượng máy tính (Bộ )
Kết nối mạng LAN
Trang 11* Nhận xét và bàn luận: Bảng 3.3 cho thấy 178/178 máy tính được nối
mạng LAN bởi vì tất cả các khoa/ phòng đều thao tác trên một phần mềm quản
lý bệnh viện thống nhất, từ đó có thể vừa phục vụ chuyên môn KCB vừa kếtxuất số liệu báo cáo, thống kê một cách chính xác và kịp thời Có 72/178 chiếm40% đây là tỷ lệ khá thấp, một phần là đảm bảo an bảo mật thông tin và việc kếtnối Internet chỉ ở các các phòng giúp tham mưu cho lãnh đạo Bệnh viện
Mặc dù hiện nay đã có ứng dụng công nghệ trong công tác KCB nhưngviệc số hóa toàn bộ quý trình KCB chưa hoàn thiện, vừa làm trên máy tính vàvừa viết trên hồ sơ bệnh án nên tỷ lệ sai sót trên hồ sơ bệnh án vẫn xảy ra ở cáckhoa Như khoa Sản có tỷ lệ cao nhất là 5,3%, khoa có tỷ lệ sai sót thấp nhất làkhoa Mắt, khoa Da liễu là 1,4% Và có khoa Đông y là không có hồ sơ sai.Nguyên nhân sai sót được chỉ ra rằng: lượng máy tính so với lượng bệnh nhântrong khoa là không tương xứng, quá ít máy tính lên bác sĩ, điều dưỡng phải đợinhau làm việc Thứ hai nữa là chưa in được án hoàn toàn trên máy nên vừa viếttay vào bệnh án vừa gõ trên máy tính theo quy định của Bộ y tế về trích chuyển
dữ liệu mất nhiều thời gian và bị giãn đoạn công việc Nhiều khi kiêm cả phầnviệc của bác sĩ trong quá trình làm trên máy tính Ở khoa chưa xây dựng rõ quytrình về làm việc cho điều dưỡng trên máy tính Ví dụ như điều dưỡng phụ tráchbuồng/phòng điều trị nào thì đảm nhận công việc máy tính ngay thì tốt hơn
Trang 12Hiện nay vẫn còn phát sinh thêm bộ phận y tá hành chính soát xét ra viện gâymất nhân lực mà vẫn còn sai sót xảy ra Mạng nhiều khi còn xảy ra hiện tượngtreo, đơ ảnh hưởng tới việc khám chữa bệnh.
3.2.Các yếu tố liên quan đến ứng dụng CNTT tại Bệnh viện
* Nhận xét: Bảng 3.4 Đội ngũ CNTT của bệnh viện có 5 người 100% có trình
độ Đại học trở lên Trong đó có 1 Thạc sỹ CNTT
Đội ngũ nhân viên chuyên trách về CNTT của Bệnh viện A Thái Nguyên có
05 người trong đó 01 người là có trình độ sau đại học, 04 người có trình độ đạihọc Với quy mô giường bệnh là 740 thì tỷ lệ cán bộ tin học chiếm 0,6% Tỷ lệnày thấp so với 1 số nghiên cứu khác
Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Luyện về “Thực trạng ứng dụng CNTT trong khám chữa bệnh tại Bệnh viện Lão Khoa Trung Ương, năm 2017”[3] thì
nhân lực CNTT của Bệnh viện Lão khoa là 3 người trên qui mô giường bệnh
250 chiếm tỷ lệ 1,2% Cũng theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Lâm về “Thực trạng ứng dụng CNTT tại bệnh viện đa khoa Buôn Ma Thuật, năm 2013” thì
nhân lực CNTT của Bệnh Buôn Ma Thuật là 3 người trên qui mô giường bệnh
250 chiếm tỷ lệ 1,2%[2] Xét về nhân lực CNTT so với số máy tính thì Bệnhviện A là 5/178 bộ máy tính chiếm tỷ lệ 2,8% Tỷ lệ này là thấp so với nghiêncứu của Nguyễn Xuân Lâm ở Buôn Ma Thuật 3/135 bộ máy tính chiếm tỷ lệ3,0%
Trang 13Như vậy nhân lực chuyên trách CNTT của Bệnh viện còn thiếu và quaphỏng vấn cho thấy năng lực chưa đồng đều.
Bảng 3.5 Trình độ tin học của cán bộ nhân viên Bệnh viện A Thái Nguyên
STT Cán bộ nhân viên Bệnh viện A Thái Nguyên Tổng số (người)
* Nhận xét và bàn luận: Bảng 3.5 cho thấy số cán bộ nhân viên trong Bệnh
viện không có chứng chỉ tin học văn phòng chỉ có 57 người chiếm tỷ lệ 12%.Không có chứng chỉ tin học là ở nhóm đối tượng không liên quan đến công việcvới máy tính như bảo vệ, hộ lý Tuy vậy tỷ lệ sai sót khi thao tác trên máy tínhcòn cao ở một số khoa Nguyên nhân qua các phỏng vấn đã chỉ ra do nhân viênmới kỹ năng chưa thuần thục, bệnh nhân quá tải, máy tính thiếu nên áp lực côngviệc lớn đòi hỏi thao tác phải nhanh nên dẫn tới sai sót
Bảng 3.6 Số lượng máy tính, máy in trên giường bệnh ở các khoa lâm sang
STT Khoa điều trị
Số lượng máy tính (bộ)
Số lượng máy in(cái)
Giường thực kê
Tỷ lệ máy tính/ giường bệnh
Trang 145 Khoa Ngoại chấn thương 5 1 82 16,4
* Nhận xét: Bảng 3.6 cho thấy tỷ lệ máy tính/giường bệnh thấp nhất ở khoa
TMH 1máy tính/40 giường bệnh, tiếp theo khoa Da liễu 1 máy tính/38 giường.Cao nhất là khoa HSCC 1 máy tính/7,5 giường
Trang 15Bảng 3.7 Tỷ lệ sai sót trên hồ sơ bệnh án khi xuất viện liên quan đến thao tác trên phần mềm
STT Khoa/phòng Số lượng hồ sơ đã kiểm tra
SL hồ sơ Số hồ sơ lỗi Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Bảng 3.7 cho thấy khoa Đông Y không có hồ sơ bệnh án bị lỗi
do thao tác trên máy tính, tiếp theo khoa Mắt có 7 bệnh án ( 1,4%), Da liễu 10bệnh án ( 1,4%) Cao nhất là khoa Sản hồ sơ (5,3%), Nội TH 126 hồ sơ (5,1%)
Hộp 3.1 Phỏng vấn CBYT về nguyên nhân sai sót
“…CNTT đã giúp kiểm soát thông tin người bệnh rất tốt, trước đây mỗi lần chỉ định chúng tôi lại phải ghi chép lại, thì bây giờ thông tin người bệnh có sẵn trên mạng, muốn chỉ định thêm chúng tôi chỉ cần nhấp chuột vào là được, thông tin rất rõ ràng, không thể nhầm lẫn, lần khám sau chỉ cần đọc mã bệnh nhân là thông tin đã có trên máy hết rồi Tuy nhiên lượng máy tính so với lượng bệnh nhân trong khoa là không tương xứng, quá ít máy tính lên bác sĩ, điều dưỡng phải đợi nhau làm việc Thứ hai nữa là chưa in được án hoàn toàn trên máy nên