Chính vì vậy, để có thể giải quyết nhu cầu vốn trung và dài hạn cho tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, khắc phục nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới, cần p
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ T ư PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Nguyễn Việt Hà
THỰC TRỌNG PHÁP LUẬT • • • vế THỈ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN sơ CẤPĩ
ở VIỆT NflM vn PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN• ■
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Trang 3MỤC LỤC
Trang
C hương 1 Thị trường chứng khoán sơ cấp 4
Phần 1 Chứng khoán và thị trường chứng khoán 4
1 Chứng khoán - Hàng hoá của thị trường chứng khoán 5
2 Thị trường chứng khoán: cơ cấu, vai trò và nguyên tắc hoạt đ ộ n g 10
Phần 2 Thị trườns chứng khoán sơ cấp và các đặc trưng pháp lý của no # 18 1 Các phươns thức phát h àn h 18
2 Các chủ thể phát hành và điều kiện phát hành chứng khoán ra côns; ch ú n g 20
3 Hoạt động bảo lãnh phát hành 23
4 Nghĩa vụ công bố tlìỏng từ; trên thị trường sơ cấp 24
Phần 3 Địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thị trường sơ cấp 26
1 Chủ thể quản lý 26
2 Chủ thể đầu tư 29
3 Chủ thể phát hành 31
Chương 2 Thực trạng pháp luật về thị trường chứng khoán sơ cấp ở Việt n am 3 4 Phần 1 Thực trạng thị trường phát hành chứng khoán ở Việt nam 34
1 Nhu cầu vốn của nền kinh tế và thưc trạng thị trường phát 34 hành cổ phiếu, trái phiếu ở Việt nam hiện nay
2 Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước - giải pháp hữu hiệu tao 36 các chủ thể phát hành tiềm năng trên thị trường sơ cấp
3 Tiềm năng về các chủ thể phát hành trên thị trường sơ cấp ở
Việt nam Ị
Trang 4Thực trạng pháp luật về thị trường chứng khoán sơ cấp ở Việt
nam
Những điều kiện để hình thành và phát triển thị trường chứng
khoán sơ cấp ở Việt nam
Những khó khăn và thuận lợi trong việc xây dựng và hoàn
thiện thị trường chứng khoán sơ cấp ở V iệt N am
Khung pháp lý cho thị trường chứng khoán sơ cấp ở Việt
nam
Pháp luật điều chỉnh hoạt động phát hành chứng khoán trên
thị trường sơ cấp ở Việt nam
Phương hưóĩig hoàn thiện pháp luật vê thị trường chứng
khoán sơ cấp ở Việt nam
Những mục tiêu chủ yếu của việc xây dựng và hoàn thiện
pháp luật về thị trường chứng khoán sơ cấp ở V iệt n am
Phương hướng hoàn thiện pháp luật về thị trường phát hành
chứng khoán sơ cấp ở Việt nam
Hoàn thiện khung pháp luật về thị trường chứng khoán sơ cấp
ở Việt nam
Hoàn thiện các văn bản pháp lý liên quan đến nhà phát hành
và các trung gian tài chính
Hoàn thiện các văn bản pháp lý liên quan đến nhà đầu tư
Kết luận
Trang 5tư phát triển là vấn đề cần được quan tâm trú trọng.
Thòi gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách và giải pháp nhằm huy động vốn cho đầu tư phát triển Tuy nhiên, các nguồn vốn huy động được từ trong nước chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn, không thể đáp ứng nhu cầu các nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế Chính vì vậy, để có thể giải quyết nhu cầu vốn trung và dài hạn cho tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, khắc phục nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới, cần phải có các chính sách huy động vốn tối đa mọi nguồn lực tài chính trong nước, biến các nguồn vốn nhàn rỗi thành vốn đầu tư hoạt đông sinh lời
và thu hút các nguồn vốn nước ngoài bằng nhiều hình thức như phát hành trái phiếu, cổ phiếu, mở rộng quỹ đầu tư , tiến tới hình thành và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt nam, như văn kiện Đại hội lần thứ VIII của Đảng
chỉ rõ: “ P h á t triển thị trường vốn, thu hút các nguồn vốn trung và dài hạn
qua ngân hàng và các công ty tài chính đ ể đáp ứng nhu cầu cho vay đầu tư
p h á t triển, chuẩn bị các điều kiện cần thiết đ ể từng bước xây dựng thị trường chứng khoán phù hợp với điều kiện Việt nam và định hướng p h á t triển kinh tế
- x ã hội của đất nước”.
Cho tới thời điểm hiện nay, sự ra đời của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước là cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Trang 6V iệt nam cùng với một hệ thống pháp lý về chứng khoán và thị trường chứng khoán và các quy chế, thông tư hướng dẫn kèm theo đã cơ bản đảm bảo cho việc thiết lập và vận hành thị trường chứng khoán đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, khó khăn vẫn còn tồn tại mà cơ bản nhất vẫn là sự
k ém phát triển của thị trường sơ cấp, dẫn đến sự thiếu hụt hàng hoá có chất lượng cho sự hoạt động và phát triển của thị trường thứ cấp Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do sự mâu thuẫn, chồng chéo, không thống nhất trong các văn bản pháp luật điều chỉnh việc phát hành đặc biệt là phát hành ra công chúng, nên phần lớn các chứng khoán được phát hành theo phương thức phát hành riêng lẻ hoặc phát hành ra công chúng nhưng lại không đảm bảo được nguyên tắc công khai hoá thông tin, dẫn đến các chứng khoán được phát hành chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn niêm yết, trong khi đó các quy định của pháp luật chưa đảm bảo quyền lợi cũng như niềm tin cho các nhà lầ u tư
Vì vậy, để có thể đảm bảo cho sự phát triển của thi trường chứng khoán nói chung, thúc đẩy thi trường sơ cấp phát triển, cần thiết phải có m ột hệ thống pháp luật đổng bộ, linh hoạt điều chỉnh hoạt động của thị trường này
Các văn bản pháp luật về thị trường chứng khoán sơ cấp đã được ban hành ngoài văn ban pháp lý về chứng khoán và thị trường chứng khoán (Nghị định 48/1998/NĐ -CP), các nội dung liên quan đến chứng khoán và phát hành chứng khoán còn thể hiện trong rất nhiều các văn bản pháp luật khác nhau, trong đó có nội dung liên quan đến phát hành chứng khoán Hệ thống các văn bản pháp luật này đã từng bước được bổ sung, sửa đổi nhằm hoàn thiện để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế đất nước Tuy nhiên, vẫn còn nhiều yếu
tố chưa được xây dựng và hoàn thiện VI vậy, để có thể hoàn thiện pháp luật cho thị trường chứng khoán sơ cấp, đảm bảo cho thị trường chứng khoán sơ cấp V iệt nam có một hệ thống pháp lý đồng bộ còn là cả một quá trình Với
nhận thức đó, chúng tôi chọn đề tài: “Thực trạn% pháp luật về thị trường
chứng khoán sơ cấp ở V iệt nam và phương hướng hoàn thiện'’ để nghiên cứu,
trên cơ sở tổng hợp và phân tích những cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình phát triển thị trường chứng khoán ở Việt nam
Pháp luật về thị trường chứng khoán sơ cấp là một nội dung mới liên quan đến nhiều lĩnh vực, chuyên ngành khác nhau Vì vậy, trong luận án này
Trang 7chúng tôi chỉ đề cập đến những nội dung cơ bản thuộc phạm vi nghiên cứu của luật kinh tế trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá, học hỏi và tham khảo các tài liệu khoa học của những nhà nghiên cứu đi trước cùng với thực trạng phát triển của thị trường phát hành chứng khoán ở Việt nam, nhằm mục đích làm
rõ nội dung của pháp luật về thị trường chứng khoán sơ cấp Từ đó, phân tích các yêu cầu cụ thể của hê thống các văn bản pháp luật cho lĩnh vực này Luận
án đưa ra những kiến nghị cụ thể tiếp tục sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp lý nhằm tạo ra một khung pháp luật đổng bộ cho thị trường chứng khoán sơ cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể phát hành, đảm bảo quyền bình đẳng
và khuyến khích các chủ thể đầu tư với mục tiêu quan trọng là thúc đẩy sự phát triển của thị trường thứ cấp nói riêng và thị trường chứng khoán nói chung
Bằng sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu biện chứng, có tính lo-gic và lịch sử Luận án bao gồm 3 nội dung chính
- Thị trường chứng khoán sơ cấp
- Thực trạng pháp luật về thị trường chứng khoán sơ cấp ở Viột nam
- Hoàn thiện pháp luật cho thị trường chứng khoán sơ cấp ở Việt nam
Những nội dung chúng tôi đề cập đến trong luận án rất rộng và mới mẻ,
có những nội dung chỉ mang tính lý luận m à chưa được kiểm nghiêm của ihực
té V iệt nam Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án, do phải tập hợp nhiều văn bản pháp lý với một khôi lượng thông tin lớn trong một thời gian có hạn Vì vậy, luận án không thể tránh được những thiếu sót Chúng tôi
m ong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo, các nhà nghiên cứu khoa học trong và ngoài trường để có thể hoàn chỉnh luận án ở m ột mức cao hơn./
Tác giả
Nguyễn Việt Hà
Trang 8T h ự c tr ạ n g P h á p lu ậ t v è th ị trư ờ n g ch ứ n g k h o á n s ơ c ấ p ở V iệ t N a m và p h ư ơ n g h ư ư n y h o à n th iên
Là thị trường biểu hiện sự phát triến đến một mức độ nhất định của nền kinh tế thị trường, 7TCK là m ột thị trường phức tạp, cao cấp mà hàng hoá được giao dịch là m ột loại hàng hoá đặc biệt, đó là: Chứng khoán Tại đây, các hoạt động được diễn ra tuân thủ theo các quy luật cơ bản của nền kinh tế, giá cả của hàng hoá biến động phụ thuộc vào cung và cầu của thị trường Có nghĩa là: khi mức cầu vượt quá cung (người m ua nhiều hơn người bán) các giá của chứng khoán sẽ tăng và ngược lại, khi mức cung vượt quá cầu (người bán nhiều hơn người mua) thì giá cả của chứng khoán sẽ giảm Tuy nhiên, là một thị trường phức tạp, cao cấp, các hoạt động giao dịch, m ua bán chứng khoán không giống như các hoạt động giao dịch m ua bán các loại hàng hoá thông thường khác bằng các giao dịch trực tiếp m à hầu hết phải thông qua bên thứ 3
- các tổ chức môi giới trung gian Do đặc tính của chứng khoán và để đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư, sự tồn tại của các tổ chức môi giới trung gian trong các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trên TTCK trở
Trang 9T h m tr ạ n g P h á p lu ậ t v ề th ị trư ờ n g ch ứ n g k h o á n s ơ c ấ p ở V iệ t N a m vù p h ư ơ n g h ư ớ n g h o à n th iện
thành một đặc trưng pháp lý không thể thiếu và là một nguyên tắc hoạt động
cơ bản nhất, trọng yếu nhất của thị trường
1 C hứng khoán - hàng hoá của TTCK.
H ay có thể nói,
chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền SƯ hữu hay quyền chủ nợ hợp p h á p có th ể chuyển nhượng được của người sở hữu chứnạ khoán đối với vốn, tài sản và các lợi ích khác của người phát hành.
Với sự phát triển ngày càng cao cúa khoa học công nghệ, ngày nay khái niệm về chứng khoán đã có sự thay đổi, chứiie; khoán không chỉ là một chứng từ hiện vật dưới hình thức giấy tờ mà còn có thể được thể hiộn trên hệ thống điện tử
1.2 Đ ặc điểm của chứng khoán.
Là m ột loại hàng hoá nhưng lại làm bằng chứng xác nhận quyền sở hữu đối với m ột khoản vốn mà người chủ sở hữu nó đã bỏ ra mua nó, chứng khoán
m ang nét đặc trưng riêng, bởi lẽ: trong giao dịch mua bán chứng khoán người
ta không thấy có sự di chuyển của hàng hoá với tư cách là khách thể của quan
hệ này mà ở đây các quyền sở hữu về vốn được xem là đối tượng giao dịch, trong đó m ột bên có nha cầu mua là nhà đầu tư và một bên có nhu cầu bán là
Trang 10T h ự c trạrtỊỊ P h á p ỉư ật vè í l i Ị n ườníỊ y hứniỊ k h o á n s ơ c ấ p á V iệ t N a m vả p h ư ơ n g h h tớ m h o á n thiện
nhà phát hành Những đặc tính cơ bản của chứng khoán đó là: tính thanh khoản, tính rủi ro và tính sinh lời, trong đó tính thanh khoản là đặc tính cơ bản nhất
- Tính thanh khoản, là khả năng có thể chuyển đổi chứng khoán thành tiền m ật khi cần thiết Tuỳ thuộc vào tính chất của từng loại chứng khoán, hoặc hình thức, quy mô hoạt động của mỗi chủ thể phát hành hay vào sự biến động giá cả của thị trường mà các chứng khoán có mức độ thanh khoan cao thấp khác nhau Chứng khoán có thanh khoản cao là chứng khoán có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mật, sự dễ dàng này tạo nên tính hấp dẫn của mỗi loại chứng khoán và là động lực thúc đẩy hoại động của thị trường Nếu tính thanh khoản thấp, chứng khoán sẽ m ất đi tính hấp dẫn, dẫn đến số lượng các nhà đầu tư sẽ ít đi và sẽ là m ột trong những nguyên nhân làm giảm sự sôi động của thị trường
- Tính sinh lòi: Tính sinh lời của chứng khoán được thể hiện khi một nhà đầu tư bỏ vốn ra kinh doanh chứng khoán có thể sẽ thu được một khoản lớn hơn giá trị ban đầu, đưa nhà đầu tư không chỉ nhận được cổ tức mà khi nắm giữ cổ phiếu họ còn có thể được hưởng lợi từ giá trị gia tăng từ kết quả kinh doanh của công ty nếu công ty làm ăn có hiệu quả
- Tính rủi ro: Rủi ro xảy ra khi mà thu nhập thực tế có thể thấp hơn thu nhập kỳ vọng, biểu hiện của nó là sự giảm sút giá chứng khoán mà nhà đầu tư
đã đầu tư Tính rủi ro của chứng khoán phát sinh từ những rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp, sự biến động của nền kinh tế hay sự thay đổi về chính sách, về pháp luật hoặc về cơ chế chính trị của mỗi quốc gia cũng tác động đến tính rủi ro của chứng khoán, ở mỗi loại chứng khoán khác nhau thì
độ rủi ro cũng khác nhau, nhiều khi nhà đầu tư chứng khoán có thể bị rủi ro toàn bộ khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản
Những đặc tính trên của chứng khoán có mối quan hệ tương hỗ với nhau Những nhà đầu tư chứng khoán có thể chấp nhận một mức sinh lời thấp
Trang 11T h ự c tr ạ n g P h á p lu ậ t v ề tlii trư ờ n g ( h ứn g k h o á n s ơ c ấ p ở V iệ t N a m vù p h ư ơ n g hướní; 'noan th iện
để đổi lấy tính thanh khoan cao, trong khi tính rủi ro và tính thanh khoản lại
có quan hệ ngược chiều Một chứng khoán càng có nhiều rủi ro càng ít thanh khoản dẫn đến mức độ sinh lời của chứng khoán đó sẽ cao và ngược lại chứng khoán có tính thanh khoản cao, ít rủi ro thì mức độ sinh lòi sẽ giảm
1.3 Phân loại chứng khoán.
Là m ột loại hàng hoá đặc biệt có những đặc thù riêng như vậy, nhưng cũng giống như các loại hàng hoá trên các thị trường khác, chứng khoán rất phong phú, đa dạng Dựa theo các tiêu chí khác nhau chứng khoán có thể được phân thành nhiều loại khác nhau như: c ổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, hợp đồng giao sau, hợp đồng quyền lựa chọn, hợp đồng tương lai và m ỗi loại chững khoán có m ột đặc điểm riêng tạo nên sự đa dạng của thị trường Trong đó, những chứng khoán được lưu hành phổ biến trên TTCK
là cổ phiếu và trái phiếu
1.3.1 C ổ phiếu:
Cổ phiếu là bằng chứng chứng minh quyền sở hữu của m ột cố đông đối với m ột công ty cổ phần Hay nói cách khác, cổ phiếu là bằng chứng xác nhận việc đáu tư vốn vào công ty cổ phần Các ch' sở hữu cổ phiếu là cổ đông của công ty
Cổ phiếu được phát hành từ công ty cổ phần khi thành lập công ty hoặc khi cần gọi thêm vốn, chứng m inh quyền sở hữu m ột phần vốn đầu tư của chủ
sở hữu nó và được quyền tham gia quản lý công ty Là loại chứng khoán không có kỳ hạn, cổ phiếu tổn tại cùng với sự tồn tại của công ty phát hành ra
nó Chủ sở hữu cổ phiếu được quyển hưởng một lợi tức cổ phiếu nhất định phụ thuộc vào kết quả và chu kỳ kinh doanh của công ty theo từng loại cổ phiếu được phát hành, c ổ phiếu có thể được ghi danh hoặc không ghi danh
G iá trị ban đầu xác định phần vốn góp của chủ sở hữu cổ phiếu vào công ty ghi trên cổ phiếu là mệnh giá cổ phiếu Mệnh giá cổ phiếu có thể hoàn toàn
Trang 12T h ự c trụ n g P h á p lu ậ t vê th ị trư ờ n ẹ ch ứ n g k h o á n s ơ c ấ p ở V iệ t N a m và pliư ơ niỊ hướrnỊ h o à n thiện.
chỉ là giá trị danh nghĩa, no chỉ có tầm quan trọng duy nhất vào thời điểm cổ phiếu lần đầu tiên phát hành Người mua cổ phiếu có quyền chuyển nhượng
cổ phiếu của mình cho người khác
Cổ phiếu là m ột loại chứng từ chứng nhận quyền sở hữu một khoản vốn nhất định, c ổ phiếu cũng có nhiều loại khác nhau với những đặc điểm riêng biệt như: cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi
C ổ phiếu thường: Là loại cổ phiếu mà lợi tức của nó phụ thuộc vào mức
lợi nhuận thu được từ công ty phát hanh ra nó với những đặc điểm của cổ phiếu như đã phân tích ở trên M ột công ty cổ phần có thể phát hành nhiều loại cổ phiéu thường khác nhau, có thể một loại cổ phiếu này có nhiều quyền hơn loại cổ phiếu kia
Người nắm giữ cổ phiếu thường có quyền tham dự đại hội cổ đông, được ứng cử và bầu cử vào bộ máy qi.án lý, vào ban kiểm soát công ty, được quyên bỏ phiếu, kiểm tra sổ sách, hưởng cổ tức khi công tv làm ăn có hiệu quả và được chia lãi nếu công ty giải thể sau khi đã thanh toán hết chn các chủ nợ và Iihững người được hướng quyền ưu đãi khác
c ổ phiếu ưu đ ấ i: Là loại cổ phiếu cũng thể hiện quyền sở hữu trong
m ột công ty Nhưng được gọi là cổ phiếu ưu đãi vì những cổ đông nắm giữ loại cổ phiếu này được hưởng một số ưu đãi hơn so vór cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường, chẳng hạn về cổ tức hoặc quyền biểu quyết Ngoài ra trường hợp công ty giải thể hay phá sản thì việc thanh toán giá trị cổ phiếu ưu đãi được ưu tiên trước khi thanh toán cổ phiếu thường
M ột công ty có thể phát hành m ột loại cổ phiếu thường nhưng có thể phát hành nhiều loại cổ phiếu ưu đãi Điều này nhằm tạo nên sự hấp dẫn và phù hợp với tâm lý của những nhà đầu tư cũng giống như cổ phiếu thường,
cổ phiếu ưu đãi có nhiều loại như: cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi, cổ phiếu
ưu đãi có tham dự chia phần, cổ phiếu ưu đãi có gộp lãi hoặc không gộp lãi
Trang 13T hự c tr ạ n g P h á p lu ậ t vè th ị trư ờ n g ch ư niị k lio á n s ơ c ấ p ở V iệ t N a m vả p h ư ơ n g hướn<ị h o à n thiện.
Khác với cổ phiếu, là một chứng khoán vốn, cổ đông là người góp vốn
vào công ty và trở thành người chủ sở hữu công ty, thì trái phiếu là một chứng
khoán nợ, chủ sở hữu trái phiếu là chủ nợ của đơn vị phát hành Trái phiếu
xác nhận quyền của chủ sở hữu nó được hoàn trả số tiền gốc và cả lãi theo
một thời hạn nhất định được ghi rõ trên trái phiếu và được phát hành bởi các
tổ chức như: Chính phủ, chính quyền địa phương và các công ty
Trái phiếu là loại chứng khoán có lợi tức ổn định, có thể mua bán,
chuyển nhượng một cách dễ dàng Trường hợp khi chủ sở hữu trái phiếu cần
tha hổi vốn không nhất thiết phải đựi đến hạn thanh toán m à có thể bán lại
trái phiếu của mình cho người khác Đặc điểm này đã tạo nên tính thanh
khoản cao của trái phiếu và điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu
tư đồng thời là công cụ gọi vốn thích hợp, không chỉ đáp ứng nhu cầu bổ sung
vốn cho các doanh nghiệp mà còn giải quyết các nhu cầu về vốn cho nển kinh
tế Trên thực tế trái phiếu là loại chứng khoán quan trọng trên thị trường
chứng khoán Trái phiếu chiếm một số lượng lớn trong các loại chứng khoán
được giao dịch trên thị trường
G iốne như cổ phiếu, trái phiếu cũng rất đa dạng, nếu dựa vào các tiêu
chí khác nhau trái phiếu có thể được phân thành nhiều loại và mỗi loại đều có
những đặc điểm riêng Nếu xét theo hình thức phát hành, trái phiếu được phân
thành trái phiếu vô danh và trái phiếu ký danh Nếu xét theo đối tượng phát
hành, trái phiếu được phân thành trái phiếu công ty và trái phiếu Chính phủ
- Trái phiếu vô danh: là loại trái phiếu không ghi tên người sở hữu trên
bề mặt cúa trái phiếu Đặc điểm của trái phiếu vô danh là dễ dàng chuyển
nhượng, người sở hữu trái phiếu có quyền hưởng lãi và quyền được thanh toán
hoặc chuyển nhượng nó trên TTCK trước ngày đáo hạn
Trang 14T h ự c trụ n iị P h á p lu ậ t vê th ị trưưriiỊ t h u n "Ị k h o á n s ơ c ấ p ừ V iệ t S a m vù p h ư ơ n g hưansị h o a n thiện
- Trái phiếu ghi danh: là loại trái phiếu ghi rõ họ tên và địa chỉ của
người sở hữu trái phiếu trên bể m ặt của trái phiếu Việc chuyển nhượng trái phiếu này phải được tiến hành theo thủ tục đăng ký tại tổ chức phát hành
- Trái phiêĩi công ty, là loại trái phiếu do các công ty phát hành với mục
đích huy động vốn cho đầu tư phát triển Trái phiếu công ty là m ột khoản vay trong đó tổ chức phát hành là người đi vay, còn người mua trái phiếu là chủ
nợ.
Trái phiếu công ty có nhiều loại như: trái phiếu tín chấp, trái phiếu thế chấp, trái phiếu cầm cố ưu tiên, trái phiếu có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu thường, trái phiếu lãi suất chiết khấu, trái phiếu lãi suất thả nổi, trái phiếu có thể thu hồi
- T rái phiếu Chính p h ủ và chỉnh quyền địa phương, là công cụ nợ của
Chính phủ hay chính quyền địa phương phát hành và được đảm bảo chi trả bằng ngân sách Nhà nước Loại trái phiếu này bao gồm công trái, trái phiếu kho bạc, trái phiếu Chính phủ
Như vậy, cổ phiếu và trái phiếu có những đạc điểm giống và khác nhau, tạo nên những ưu, nhược điểm và sự hấp dẫn riêng cua mỗi loại cố phièu hoặc trái phiếu Sự hấp dẫn C1 ì những chứng khoán này sẽ là động lực thúc đẩy sự tham gia của các nhà đầu tư trên thị trường, thúc đẩy thị trường hoạt động sôi động và có hiệu quả hơn
Ngoài ra, chứng khoán còn bao gồm cả các công cụ phát sinh khác như: hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền lựa chọn, quyền mua, chứng quyền
2 Thị trường chứng khoán: cơ cấu, vai trò và nguyên tắc hoạt động.
Thị trường chứng khoán được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động
m ua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn mà phổ biến là các loại cổ
Trang 15T h ự c tr ạ n g P h á p lu ậ t vè rlv trư ơ n g ( h ứ n q k h o á n s ơ c ấ p ở V iệ t N a m và p h ư ơ n g h ươniị h o à n th iện
phiếu và trái phiếu Việc m ua bán này được thực hiện ở thị trường sơ cấp khi chủ thể đầu tư mua được chứng khoán lần đầu từ các chủ thể phát hành chứng khoán và ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi, bán lại các chứng khoán đã được phát hành từ thị trường sơ cấp
X ét về m ặt hình thức, các hoạt động m ua bán, chuyển nhượng các chứng khoán chỉ là việc thay đổi các chủ thể nắm giữ chứng khoán; còn xét
về thực chất (nội dung) đây chính là quá trình vận động tư bản ở hình thái tiền
tệ, tức là quá trình chuyển từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh Các quan
hệ m ua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán phản ánh sư thay đổi chủ thể sở hữu của chứng khoán Chủ thể tham gia TTCK với tư cách là người
bỏ vốn đầu tư, là chủ sở hữu tư bản; còn khi tham gia với tư cách là người sứ dụng vốn đầu tư, chủ thể này thực hiện chức năng của tư bản kinh doanh Do
đó, TTCK xét về bản chất, không chỉ phản ánh các quan hệ trao đổi, m ua bán, chuyển nhượng m ột số lượng các khoản vốn bằng tiền, m à còn là các quyền
sở hữu về vốn bằng tiền Các quyền sở hữu này được lưu thông như một loại hàng hoá thông thường có giá trị và có giá trị sử dụng
2.1 C ơ cấu của TTC K
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động đầu tư tài chính trực tiếp, bổ sung các nguồn vốn quan trọng cho Nhà nước và các doanh nghiệp để thực hiện các hoạt động đầu tư nhằm thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển Căn cứ vào nguồn gốc ra đời và sự lưu thông của chứng khoán, TTCK được chia thành hai bộ phận: Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
T h ị trường sơ cấ p , còn gọi là thị trường cấp một hay thị trường phát
hành Là thị trường ở đó các chứng khoán của các doanh nghiệp, Chính phủ, Chính quyền địa phương được phát hành lần đầu hoặc tái phát hành nhằm thu hút các loại vốn tiết kiệm đầu tư, tạo vốn cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của tổ chức mình Hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trên thị trường
sơ cấp diễn ra trực tiếp giữa người m ua chứng khoán và người phát hành
Trang 16T h ự c trụ n g P h á p lu ậ t vè th ị trư ờ n g ch ứ n g k h o á n s ơ c ấ p ở V iệ t N a m và p h ư ơ n g h ư ơ ỉtạ h o à n th iện
chứng khoán V à tại thị trưimg này, để đảm bảo cho hoạt động phát hành
chứng khoán được thuận lợi thì sự tồn tại của các tổ chức bảo lãnh phát hành
là m ột yếu tố đặc biệt quan trọng
Thị trường thứ cấ p , còn gọi là thị trường cấp hai Là nơi diễn ra các
giao dịch, m ua bán các chứng khoán đã được phát hành (qua thị trường sơ
cấp) thông qua các nhà môi giới hoặc các nhà đầu tư trực tiếp Những chứng
khoán này có thể được m ua đi, bán lại trên thị trường thứ cấp vói e;iá cả cao
thấp khác nhau Thị trường thứ cấp không ảnh hưởng đến nguồn vôn của tổ
chức phát hành ra chứng khoán đó, nhưng nó giúp tạo nên một yếu tố quan
trọng cơ bản của viộc m ua bán chứng khoán, đó là tính thanh khoản Tính
thanh khoản của chứng khoán có thể giúp chứng khoán chuyển đổi sang tiền
m ặt trong trường hợp cần thiết Vì vậy, về mặt nguyên tắc, sự có mặt của
TTTC có thể giúp cho người sở hữu chứng khoán chuyển đổi các chứng khoán
đó thành tiền mặt một cách dễ dàng Điều này làm tăng tính hấp dẫn của
chứng khoán và tạo điều kiện cho thị trường sơ cấp phát triển, tăng tiềm năng
huy đông vốn của các tổ chức phát hành chứng khoán
Thị trường thứ cấp có mọt sò dạng khác nhau, bao gồm: thị trường
chứng khoán tập trung (Sở Giao dịch chứng khoán) và thị trường chứng khoán
phi tập trung (O T O Sở giao dịch chứng khoán là thị trường diễn ra các hoạt
động giao dịch theo phưi/ng thức đấu giá trong đó những người mua và những
người bán cạnh tranh giao dịch với nhau trên cơ sở đó hình thành giá cả cạnh
tranh Thị trường OTC là một thị trường thương lượng, nơi một người bán
thương lượng với một người mua
- Thị trường chứng khoán tập trung, là thị trường ở đó diễn ra việc giao
dịch mua bán chứng khoán thực hiện thông qua Sở Giao dịch chứng khoán
Tuy nhiên, Sở giao dịch chứng khoán không phải là cơ quan sở hữu chứng
khoán, không mua vào bán ra các loại chứng khoán, mà Sở giao dịch chứng
khoán chỉ là nơi gặp gỡ của các nhà môi giới chứng khoán để thương lượng,
đấu giá, m ua bán chứng khoán một cách có tổ chức tuân theo những luật định
Trang 17T h ự c tra n g P h á p Luật v ề th ị trườiĩiỊ c h đ n g k h o á n s ơ c ấ p ớ V iệ t N a m vả phươniỊ hưưriỊỊ h ó n [hiện
nhất định Sở Giao dịch chứng khốn là m ột tổ chức cĩ tư cách pháp nhân (cĩ
vốn điều lệ, cĩ điều lệ hoạt động, cĩ ban giám đốc điều hành), và cĩ chức
năng cung cấp các dịch vụ kỹ thuật, tạo địa điểm cho hoạt động giao dịch
m ua bán chứng khốn
Sở giao dịch chứng khốn được thành lập và hoạt động phục vụ cho các
giao dịch thương mại Iihưng khơng nhằm mục đích lợi nhuận Các thành viên
tham gia Sở giao dịch chứng khốn cĩ thể là cá nhân hoặc pháp nhân nhưng
đều phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định và phải được sự chấp thuận
của Sở giao dịch chứng khốn Tuy nhiên, theo xu thế chung hiện nay các
thành viên của Sở Giao dịch chứng khốn thường là pháp nhân Các thành
viên này trực tiếp thực hiện các hoạt động giao dịch tại sàn và đĩng các khoản
phí theo quy định, các khoản phí do các thành viên trực tiếp đĩng chính là
nguồn thu nhập chủ yếu của Sở Giao dịch chứng khốn
Chứng khốn giao dịch trên Sở giao dịch chứng khốn phải là những
chứng khốn đủ điều kiện niêm yết theo quy định Các thĩng tin về chứng
khốn và tổ chức phát hành chứng khốn đư^c cơng bố cơng khai trên TTCK
giúp cho các nhà đầu tư lựa chọn quyết định mua, bán, giá cả và thời điểm
m ua bán, tránh rủi ro tối đa
- Thị trường chứng khốn p h i tập trung- Khác vớ- Sở giao dịch chứng
khốn, đĩ là nơi tập trang của các nhà mơi giới trực tiếp gặp nhau, giao dịch,
thương lượng và đâu giá m ua bán chứng khốn, thì thị trường phi tập trung
(OTC) là thị trường khơng hiện hữu, khơng cĩ trung tâm giao dịch, các giao
dịch, mua bán chứng khốn được thực hiện thơng qua hệ thống điện thoại và
m ạng vi tính được kết nối giữa các tổ chức mơi giới giao dịch chứng khốn
Thành viên của thị trường OTC chủ yếu là những nhà kinh doanh chứng
khốn, thực hiên các giao dịch, m ua hán chứng khốn cho chính mình là cơ
bản Các chứng khốn giao dịch trên thị trường này khơng địi hỏi các tiêu
chuẩn, điều kiện như các chứng khốn giao dịch tại Sở giao dịch chứng
Trang 18T h ư c tran% P h á p lu ậ t vè 'thị tnrờriiỊ ch ứ n g k h o á n s ơ c ấ p ở V iệ t N a m vả phươrHỊ h ườn {Ị h o à n th iẹn
khoán, mà tại đây kể cả những chứng khoán không đủ điều kiện niêm yết ở
Sở giao dịch chứng khoán cũng có thể được đem ra giao dịch
Đ iểm khác nhau cơ bản giữa thị trường tập trung và thị trưòng phi tập trung là các điểu kiện tham gia thị trường Trên thị trường tập trung, các chủ thể tham gia thị trường đòi hỏi phải đáp ứng các điều kiện cụ thể, nhất định theo các quy định của pháp luật về chứng khoán và TTCK, ví dụ như mức vốn của doanh nghiệp, tỷ lệ % cổ phiếu bán ra công chúng, thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đối với chủ thể phát hành Còn trên thị trường OTC, các điểu kiện tham gia thị trường dễ dàng hơn
Phân biệt thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp trong cơ cấu của TTCK chỉ có ý nghĩa về m ặt lý thuyết Trên thực tế, tổ chức TTCK không có
sự phân biệt đâu là thị trường sơ cấp và đâu là thị trường thứ cấp, nghĩa là trong m ột TTCK vừa có giao dịch của thị trường sơ cấp, vừa có giao dịch của thị trường thứ cấp Hai thị trường này chỉ khác nhau cơ bản ở chỗ chứng khoán được đưa ìa mua bán trên thị trường có phải là chứng khoán được phát hành lần đầu bởi các tổ chức phát hành hay không Đây không phải là sự khác nhau về hình thức mà là sự khác nhau về nội dung, về mục đích của thị trường chứng khoán Bởi lẽ, việc phát hành cổ phiếu hay trái phiếu ' thị trường sơ cấp là nhằm thu hút mọi nguồn vốn tiết kiệm và đầu tư, còn ở thị trường thứ cấp, mặc dù việc giao dịch rất nhộn nhịp nhưng không làm phát sinh thêm các nguồn vốn đầu tư, mà chỉ phát sinh những khoản lời chênh lệch giá giữa những người mua bán chứng khoán
Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp tuy có sự khác nhau như vậy nhưng lại có quan hệ nội tại và m ật thiết với nhau, trong đó thị trường sơ cấp
là cơ sở, là tiền đề; thị trường thứ cấp là động lực Nếu không có thị trường sơ cấp thì sẽ chẳng có chứng khoán để lưu thông trên thị trường thứ cấp; và ngược lại, nếu không có thị trường thứ cấp thì thị trường sơ cấp khó có thể hoạt động trôi chảy Các loại chứng khoán sẽ rất khó khăn trong phát hành, không ai dám mua cổ phiếu hoặc trái phiếu vì vốn của họ bị bất động, chứng
Trang 19T h ự c tr ạ n g P h á p lu ậ t v ề th ị trư ờ n g ch ứ n g k h o á n s ơ v ấ p ò V iệ t N a m và ph ươ ntỊ h ướ ng h o à n th iện
khoán không dễ dàng chuyển hoá được thành tiền khi khi người đầu tư có nhu cầu (khó có khả năng thanh khoản)
2.2 N guyên tắc hoạt động của TTC K
Là m ột bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường, cùng với những đặc tính mang tính đặc thù của hàng hoá được giao dịch, TTCK không hoạt động m ột cách tự do m à hoạt động tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định nhằm mục đích cơ bản là bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư Các nguyên tắc hoạt động chủ yếu của TTCK là: nguyên tắc công khai, nguyên tắc trung gian và nguyên tắc đấu giá, trong đó nguyên tắc công khai
là nguyên tắc chủ đạo, mang tính bản chất
N guyên tắc công khai thể hiện qua nhieu yêu cầu đối với hoạt động của thị trường chứng khoán, đòi hỏi phải được thực hiện thông qua nhiều phương diện ihòng tin khác nhau như: tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của chủ thể phát hành, số lượng và giá cả chứiig khoán phát hành đến những thông tin
về số lượng chứng khoán đang được giao dịch Nguyên tắc công khai xuất phát từ nhu cầu tìm hiểu về cung - cầu của thị trướng, giá trị của chưng khoán
để các chủ thể đáu tư có thể đưa ra quyết định đầu tư phù hợp, đảm bảo sự bình đẳng và tránh rủi ro tối đa cho các chu thể đầu tư
Tuy các chứng khoán được đưa ra giao dịch mua bán lẠc >t cách công khai trên thị trường, tạo điều kiên cho sự lựa chọn chứng khoán để dầu tư cho các chủ thể kinh doanh, nhưng trên thực tế không phải bất kỳ một chủ thể đầu
tư nào đều có khả năng xác định được giá trị của từng loại chứng khoán và đánh giá được giá trị tương lai của nó để đảm bảo không bị nhầm lẫn hoặc lường gạt Vì vậy, sự tồn tại của các trung gian giúp cho hoạt động giao dịch
m ua bán chứng khoán được thực hiện có hiệu quả: người mua có thể mua được chứng khoán với giá thấp nhất và người bán có thể bán được chứng khoán với giá cao nhất Nguyên tắc trung gian nhằm đảm bảo các chứng khoán là chứng khoán thực, hợp pháp và bảo vê quyền lợi cho người đầu tư
Trang 20T h ư c tr ạ n g P h á p lu ậ t vé th ị trư ờ n g ch ứ n g k h o á n s ơ c ấ p ở V iệ t N a m và p h ư ơ n g hướniỊ h o á n [hiện.
Chứng khoán đủ điều kiện được niêm yết tại thị trường chứng khoán, khi đưa ra giao dịch được thực hiện qua một cuộc đấu giá thông qua những người môi giới mua và những người môi giới bán hoặc qua m ột cuộc thương lượng giữa hai bên Đấu giá có thể dưới các hình thức như: đấu giá trực tiếp, đấu giá gián tiếp và đấu giá tự động Tuỳ theo sự xét đoán, đánh giá riêng các chủ thể có thế đưa ra các giá cả giao dịch khác nhau và việc mua bán sẽ thực hiện theo phương thức có lợi nhất cho các bên Nguyên tắc đấu giá tạo ra sự bình đẳng giữa các chủ thể cùng có nhu cầu như nhau, đồng thời cũng tạo ra khả năng giảm phí cao nhất đối với bên mua và thu lời cao nhất đối với bên bán hoặc ngược lại
2.3 Vai trò của TTCK.
Là thị trường đầu tư tài chính trực tiếp, thực hiện chức năng cung cấp nguồn huy động vốn cho nền kinh tế từ các khoản tiết kiệm và đầu tư, TTCK giữ một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển:
- TTCK giúp cho tiền vốn đầu tư bò sung vào các ngành, các doanh nghiệp biết tạo ra hiẹu quả thông qua sự định hướng của thị trường vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho viẹc tách bạch giữa sở hữu và quản lý, làm tăng hiệu quả quản lý nhưng đồng thời cũng tạo ra môi trường cho việc kết hợp hài hoà giữa hai lĩnh vực quan lý và đầu tư
- TTCK giúp nâng cao tính nhạy cảm của nền kinh tế, với tư cách là
m ôi trưừng rèn luyện và thử thách năng lực phản ứng của các doanh nghiệp, TTCK còn là nơi cung cấp những dự báo đáng tin cậy để các doanh nghiệp có thể đưa ra những quyết định đúng đắn và kịp thời
- TTCK với nguyên tắc hoạt động chủ đạo là cồng khai, công bằng và trung thực, TTCK tạo điều kiện và thúc đẩy hoạt động của các chủ thể đầu tư, đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể cùng có nhu cầu đầu tư như nhau, đồng thời đòi hỏi và rèn luyện cho tất cả các đối tượng tham gia - đặc biệt là
Trang 21T h ư c tr ạ n g P h á p lu ậ t vê th ị tn tơ n iị c ín m q lih oú n s ơ c ấ p à V iệ t N a m vù p h ư ơ n g h ướ ng h o a n thiện.
những công ty phát hành chứng khoán - những phẩm chất can thiết để hoạt
động trong một môi trường thị trường hiện đại
- TTCK không những là m ột thị trường hữu hiệu trong việc huy động các nguồn vốn (cả trong và ngoài nước) cho các mục tiêu dài hạn của nển
kinh tế, mà TTCK còn là nơi tạo ra môi trường thuận lợi để dung hoà các lợi
ích khác nhau giữa các chủ thể khác nhau tham gia TTCK thông qua một cơ
ch ế hoạt động hợp pháp nhằm hạn chế tối đa những rủi ro Điều đó tạo ra khả
năng to lớn cho tích luỹ vốn và là động lực thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát
triển
Tóm lại, TTCK là nơi các giao dịch, m ua bán chứng khoán được diễn
ra m ột cách thuận lợi, dễ dàng, hạn chế các chi phí bằng cách tạo ra những
luật lệ phù hợp TTCK không ấn định hay can thiệp đến sự hình thành giá cả
chứng khoán, mà chỉ đảm bảo cho việc giao dịch, m ua bán chứng khoán diễn
ra đúng luật pháp, công khai, công báng, đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể
đầu tư
Hay có thể nói:
Thị trường chứng khoán là nơi tập trun°, phân p hối các nguồn vốn đầu
tư thông qua việc mua bán các loại chứng khoán theo những nguyên tắc nhất
định.
Trang 22T h ự c rrạn ạ P h á p lu ậ t vé tliị trư ờ ìt\ị chi/HỊỊ kh oán s ơ c ấ p ở V iệ t N a m vù p h ư ơ n g hướng h oàn thiện.
Thể hiện những nét đạc trưng riêng m à điểm dễ nhận tháy nhất so với thị trường thứ cấp là ở thị trường sơ cấp, tổ chức phát hành thu được tiền từ đột phát hành còn ở thị trường thứ cấp thì không Thị trường sơ cấp được tổ chức hoạt động theo một quy trình phức tạp m ang những đặc trưng pháp lý cơ bán trong các điểu kiện về hoạt đóng phát hành chứng khoán
1 Các phương thức phát hanh.
Phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp là hoạt động tạo hàng hoá cho thị trường Thị trương phát hành thông thường bao gồm: thị trường phát hành trái phiếu Chính phủ và trái phiếu công ty (thị trường nợ); Thị trường phát hành cổ phiếu (thị trường vốn) Tuy nh,iên phụ thuộc vào phong tục, tập quán, trình độ kinh tế - xã hội, chính sách kinh tế, hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau có những đặc thù riêng đã tạo nên tính đa dạng và phong phú của thị trường phát hành ở mỗi quốc gia cũng khác nhau Ví dụ như, chế
độ quán lý theo giá.trị thông thường được các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển hoặc nền kinh tế chuyển đổi áp dụng Chế độ công bố thông tin thường được các quốc gia có thị trường phát triển áp dụng Việc áp dụng quản
lý theo hình thức này hay hình thức kia hoặc kết hợp cả hai hình thức còn phụ thuộc vào đặc thù khác của nền kinh tế mỗi quốc gia Tuy nhiên, mục tiêu
Trang 23T h ự c tr ạ n g P h á p lu ậ t vè thi trư ờ n g i hứn<ị k h o á n s ơ c ấ p ớ V iệ t N a m vá ph ư ơ n íị hướníị h o à n thiện.
cuối cùng của các quốc gia là phải đạt được hiệu quả nhất do công tác quản lý của thị trường đem lại
Hoạt động phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp được thực hiện dưới 2 hình thức: phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng
- Phát hành chứng khoán riêng lẻ (phát hành tư nhân): là việc phát hành chỉ được thực hiện trong phạm vi một số người nhất định (thông thường là cho các nhà đầu tư có tổ chức) và với những điều kiện tham gia hạn chế, không phát hành rộng rãi ra công chúng Ví dụ như ở Mỹ, nếu như việc phát hành thực hiện bán cho người đầu tư không phải là những người thông thạo thì số lượng các nhà đầu tư này sẽ bị giới hạn không vượt quá 35 người và những nhà đầu tư này phải cử ra m ột người đại diện mua và việc phát hành không được quảng cáo bằng các phương tiện thòng tin đại chúng, hội thảo rộng rãi trừ hội nghị hẹp với các nhà đầu tư tiềm tàng Còn ở Thái Lan, quy định về phát hành riêng lẻ cho không quá 35 người và tổng số tiền không quá 29 triệu baht (khoảng 8 tỷ đồng V iệt nam) thì không phải xin phép nhưng phải đăng
ký và nộp lệ phí cho Uỷ ban chứng khoán
V iệc phát hành riêng lẻ thông thường do các văn bản pháp luật về công
ty quy định Ở m ột số quốc gia ban hành dưới hình thức luật, còn ở một số quốc gia khác ban hành dưới hình thức Nghị định hay nằm trong các văn bản pháp luật khác
- Phát hành chứng khoán ra công chúng: là việc phát hành trong đó chứng khoán được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn người đầu tư nhất định (trong đó phải giành một tỷ lệ cho các nhà dầu tư nhỏ) và khối lượng phát hành phải đạt mức độ nhất định
Khác vói việc phát hành riêng lẻ (phát hành tư nhân), nhìn chung đại
bộ phận các quốc gia việc phát hành chứng khoán ra công chúng phải chịu sự chi phối của Luật về chứng khoán và phải chịu sự quản lý của cơ quan quản lý
Trang 24T h ự c trani> P h á p lu ậ t v é th ị trư ở tiíị chứm> k h o á n s ơ c ấ p ỏ V iệ t N a m và p h ư ơ n g h ư ơ n v h o à n ih iện
Nhà nước về chứng khoán, sau khi phát hành các chứng khoán được giao dịch tại Sở Giao dịch chứng khoán theo quy định của Sở giao dịch chứng khoán Những công ty phát hành chứng khoán ra công chúng được gọi là công ty đại chúng phải thực hiện m ột chế độ báo cáo, chế độ cung cấp thông tin côngkhai và chế độ giám sát riêng theo quy định của pháp luật chứng khoán Ở Việt nam, việc phát hành chứng khoán ra công chúng để niêm yết tại thị trường giao dịch chứng khoán phải tuân thủ các quy định tại Nghị định 48/1998/N Đ -C P ngày 11/7/1998 của Chính phủ về chứng khoán và TTCK Nghị định này quy định việc phát hành chứng khoán ra công chúng để niêm yết tại thị trường giao dịch tập trung phải được u ỷ ban chưiig khoán N hà nước cấp phép, trừ việc phát hành trái phiếu Chính phủ Các chứng khoán sau khi được phát hành ra công chúng sẽ được niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán
2 Các chủ thể phát hành và điều kiện phát hành chứng khoán ra công chúng.
Như phẩn trên chúng tôi đã đề cập, phát hành chứng khoán tuỳ thuộc vào điều kiện của từng nước khác nhau mà người ta đưa ra những điều kiện khác nhau đối với các chủ thể phát hành
Nhìn chung, để phát hành chứng khoán ra công chúng thông thường tổ chức phát hành phải đảm bảo các điều kiện cơ bản như: vốn điều lệ tối thiểu ban đầu, tỷ lệ phần trăm (%) nhất định về vốn cổ phần do công chúng nắm giữ và số lượng công chúng tham gia, phải được thành lập và đã hoạt động trong m ột thời gian nhất định (thường từ 3 - 5 năm), phải có đội ngũ quản lý công ty (Hội đổng quản trị, giám đốc điều hành) đủ năng lực trình độ quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, phải làm ăn có lãi với lợi nhuận không thấp hơn mức quy định và trong một số năm nhất định (thường từ 2 - 3 năm) và phải có dự án khả thi về việc sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành Ngoài ra, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của đợi phát hành m à người phát
Trang 25Tlíư í tr ạ n g P h á p lu a t vè th ị trư ờ n g ih ư ĩV ị kh o á n s ơ c ấ p à V iệ t N a m vù p h ư ơ ítạ hướn\ị h oàn th iện
hành phải đáp ứng m ột số điều kiện khác như điều kiện về bảo lãnh phát hành, việc nắm giữ cổ phiếu của các cổ đông sáng lập
Tuy nhiên, đối với một số nước đang phát triển thường có quy định một
số doanh nghiệp có thể được giảm một số điều kiện nêu trên, ví dụ như doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực công ích, hạ tầng cơ sở có thể được miễn trừ điều kiện về quá trình kinh doanh có lãi
là những nhà đầu tư nhỏ phải lớn hơn hoặc bằng 50, tỷ lệ chứng khoán phát hành ra công chúng phải lớn hơn hoặc bằng 20% nhưng phải từ 5 triệu USD trở lên
vốn điều lệ tối thiểu là 2,4 triệu USD, lợi nhuận 3 năm liền, số cổ đông nhỏ lớn hơn hoặc bằng 600 với tỷ lộ phát hành ra công chúng từ 15 đến 30%
vốn diổu lệ tỏi thiểu là 50 triệu NDT, có lợi nhuận 3 nam liền, mỗi cổ đông không giữ quá 0,05% số cổ phiếu và tỷ
lệ phát hành ra công chúng là 25% và 15% nếu vốn điéu
lệ lớn hơn 400 triệu NDT
vốn điều lệ tối thiểu là 50 triệu RM , lợi nhuận 5 năm nhưng phải lớn hơn hoặc bằng 5 triệu RM , số cổ đông nhỏ từ 500 đến 1000 và tỷ lệ phát hành ra công chúng lớn hơn hoặc bằng 25%
Ở V iệt nam, theo quy định của Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 của Chính phủ về chứng khoán và TTCK và thông tư số 01/1998/TT-UBCK hướng dẫn Nghi định 48/1998/NĐ -CP, tổ chức phát hành
Trang 26T h ự c tr ạ n g P h á p lu ậ t v ề th ị trư ờ n g chứtệg kh oán s ơ c ấ p à V iệ t N a m vù phươiĩỊỊ h ư ớ n g h o à n th iện
Cổ phiếu lần đầu ra công chúng phải đáp ứng được các điều kiện như: Mức vốn tối thiểu là 10 tỷ đồng Việt nam; Hoạt động có lãi trong 2 năm liên tục gần nhất; Thành viên hội đồng quản trị và giám đốc (Tổng giám đốc) có kinh nghiệm quản lý kinh doanh; Có phương án khả thi về việc sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành chứng khoán; Tối thiểu 20% số vốn cổ phần của tổ chức phát hành được bán cho trên 100 người đầu tư ngoài tổ chức phát hành; trường hợp vốn cổ phần của tổ chức phát hành trên 100 tỷ đồng trở lên thi tỷ
lệ tối thiểu này là 15% vốn cổ phần của tổ chức phát hành; c ổ đông sáng lập phải nắm giữ ít nhất 20% số vốn cổ phần của tổ chức phát hành và phải nắm giữ mức này tối thiểu 3 năm kể từ ngày kết thúc đợt phát hành; Trường hợp cổ phiếu phát hành có tổng giá trị theo mệnh giá vượt 10 tỷ đồng thì phải có tổ chức bảo lãnh phát hành
V iệc phát hành trái phiếu ra công chúng nhìn chung cũng phải đáp ứng các điều kiện tương tự như phát hành cổ phiếu, nhưng có m ột số điểm khác như: phải có tổ chức bảo lãnh phát hành trừ trường hợp tổ chức phát hành là tổ chức tín dụng, phải có đại diện người sở hữu trái phiếu là m ột ngân hàng hoặc
tổ chức tài chính do tổ chức phát hành chọn được Uỷ ban chứng khoán chấp thuận Đ ại diện người sở hữu trái phiếu thay m ặt người sở hữu trái phiếu giám sát tổ chức phát hành trong việc thực thi các cam kết khi phái hàiih trái phiếu
để bảo vệ quyền lợi của người sở hữu trái phiếu
Còn đối với hoạt động phát hành chírng khoán riêng lẻ, nhìn chung các chủ thể đều phải đáp ứng được các diều kiện cơ bản theo quy định của cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và TTCK về đợt phát hành chứng khoán đó, như khả năng về vốn, bộ máy điều hành quản lý công ty, thời gian hoạt động và lợi nhuận bắt buộc Tuy nhiên, do quy định hạn ch ế về các chủ thể đầu tư cho nên sự phức tạp trong hoạt động phát hành, m ua bán chứng khoán của phương thức này cũng được giảm thiểu so với hoạt động phát hành chứng khoán ra công chúng dẫn đến các điều kiện bắt buộc đối với các chủ thể phát hành chứng khoán riêng lẻ cũng có phần “nhẹ nhàng” hơn
Trang 27T h ự c tr ạ n g P h a p lu ậ t v ê th ị trườniỊ ch ứ ng kh o á n s ơ c ấ p ỏ V iè t N a m vù phươriiỊ hướnịỊ ìió n th iện
3 Về hoạt động bảo lãnh phát hành.
T hơng thường, để phát hành ra cơng chúng, tổ chức phát hành cần phải
cĩ được sự bảo lãnh của một hoặc một số tổ chức bảo lãnh phát hành Trường hợp tổ chức phát hành là một cơng ty nhỏ và số lượng chứng khốn phát hành khơng lớn thì chỉ cần cĩ m ột tổ chức bảo lãnh phát hành, cịn nếu tổ chức phát hành là m ột cơng ty lớn và số lượng chứng khốn phát hành vượt quá khả năng của m ột tổ chức bảo lãnh phát hành thì cần phải cĩ một tổ hợp bảo lãnh phát hành, bao gồm m ột tổ chức bảo lãnh chính và một số tổ chức bảo lãnh thành viên Bảo lãnh phát hành là hoạt động hỗ trợ cho tổ chức phát hành chứng khốn trong việc phân phối chứng khốn, giúp cho tổ chức phát hành chuẩn bị các điều kiện tài chính và thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật và các cơ quan tổ chức và quản lý thị truờng (Uỷ ban chứng khốn Nhà nước) như: điều chỉnh lại cơ cấu, chuẩn bị hổ sơ xin phép phát hành và nghiên cứu, đánh giá thời điểm cho việc bán chứng khốn được tiến hành nhanh chĩng, cĩ hiệu quả Khi tham gia vào một đợt phát hành chứng khốn, nhà bảo lãnh phát hành chứng khốn thường áp dụng một trong các hình thức: Bảo lãnh vĩi cam kết chắc chán, bảo lãnh với cố gắng cao nhất hoặc bảo lãnh với phương ihức tất cả hoặc khơng
+ Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: là phưimg thức bảo lãnh mà nhà bảo lãnh phát hành cam kết mua lại tồn bộ hoặc một phân chứng khốn phát hành để bán lại trên thị trường, hoặc nhà bảo lãnh phát hành cam kết mua la- tồn bộ số chứng khốn khơng được phân phối hết
+ Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: là phương thức bảo lãnh mà nhà bảo lãnh phát hành cam kết phân phối chứng khốn đèit^mức tối đa Số chứng khốn khơng phân phối hết sẽ được trả lại cho tổ chức phát hành
4- Bảo lãnh theo phương thức tất cả hoặc khơng: là phương thức mà nhà bảo lãnh phát hành cam kết phân phối tồn bộ chứng khốn hoặc một phần số chứng khốn phát hành, trong trường hợp khơng phân phối hết thì tồn bộ số
Trang 28T h iịc trạ n iị P h á p lu ậ t vê th ị trư ờ n 1Ị chưn<ị kh o ả n s ơ c ấ p ỏ V iệ t N a m và p h ư ơ n g hướniị hoàn thiện.
chứng khoán đã cam kết kể cả số chứng khoán đã phân phối sẽ được trả lại cho tổ chức phát hành
Dù là hình thức bảo lãnh phát hành nào, nhà bảo lãnh phát hành cũng là người trung gian kết nối giữa người bán chứng khoán (tổ chức phát hành) và người mua chứng khoán (các nhà đầu tư) trên thị trường sơ cấp ở Việt nam, trong giai đoạn đầu hình thành TTCK, do số lượng các tổ chức bảo lãnh chưa nhiều, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán còn mới mẻ, và để bảo đảm cho việc phân phối chứng khoán ra công chúng được thực hiện một cách thuận lợi Nghị định số 48/1998/CP ngày 11/7/1998 của Chính phủ về chứng khoán và TTCK quy định tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết bảo ỉãnh phát hành với tổ chức phát hành theo hình thức thứ nhất - bảo lãnh với cam kết chắc chắn
4 Về nghĩa vụ công bỏ thông tin trên thị trường sơ cấp.
Khi thực hiện việc phát hành chứng khoán ra công chúng, các tổ chức phát hành phải có nghĩa vụ công bố những thông tin cơ bản vè đợt phát hành chứng khoán đó Luật và những quy chế của Sở giao dịch chứng khoán thường quy định nghiêm ngặt nghĩa vụ công khai thông tin thường xuyên
N hững thòng tin công bố trên thị trường sơ cấp chủ yếu được thể hiện trong
bộ hồ sơ xin đăng ký phát hành chứng khoán ra công chúng
Nghĩa vụ công bố thông tin của tổ chức phát hành chứng khoán ra công chúng trên thị trường sơ cấp là việc đảm bảo cho công chúng đầu tư có điều kiện tiếp cận thông tin một cách đầy đủ nhất về tổ chức phát hành và chứng khoán phát hành lần đầu ra công chúng Thông thường, tổ chức phát hành ký kết hợp đổng với tổ chức bảo lãnh phát hành để giúp tổ chức phát hành xây dựng hồ sơ xin phép phát hành chứng khoán M ột trong những thông tin cơ bản phải đưa ra công chúng trước khi phát hành chứng khoán là bản cáo bạch Bản cáo bạch là một tài liệu quan trọng trong đó chứa đựng những thông tin
về tổ chức phát hành và chứng khoán của tổ chức này dự kiến phát hành ra
Trang 29T h ự c tr a n g P h á p lu ậ t vê th ì trư ờ n g c h ứ n v k h o á n s ơ c ấ p á V iệ t N a m vù ph ư ơ rm h ư ơ n ” h o à n th iện
công chúng, những thông tin về lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh, tình trạng tài chính của tổ chức phát hành, mối quan hệ của tổ chức phát hành với các tổ chức có liên quan, các hoạt động về chào bán chứng khoán, phương thức về chào bán chứng khoán, số lượng, giá cả chứng khoán dự kiến phát hành ra công chúng, trình tự thực hiện phát hành chứng khoán ra công chúng, các vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư
N ghĩa vụ công bố thông tin của tổ chức phát hành trên thị tiường sơ cấp phải được thực hiện m ột cách công khai, kịp thời và có hiệu quả về những thông tin liên quan đến việc hình thành giá cả chứng khoán và những thông tin cần thiết đủ để giúp cho các nhà đầu tư đưa ra những quyết định đầu tư phù hợp nhằm duy trì m ột TTCK công khai, công bằng, minh bạch và có trật
tự với mục tiêu hàng đầu là bảo vệ quyền lợi của các chủ thể đầu tư Tuy nhiên, để thực hiện nghĩa vụ cơ bản này, tổ chức phát hành phải gánh thêm chi phí đáng kể khi thực hiện m ột đợt phát hành chứng khoán ra công chúng
Trang 30T h ự c tr ạ n g P h á p lu ậ t v ề th ị trư ờ n g ch ứ n g k h o á n s ơ c ấ p ở V iệ t N a m vù ph ươniỊ h ư ớ n g h o à n thiện.
Phần 3
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ
CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA TTSC.
TTSC là m ột bộ phận không thể tách rời trong cơ cấu của TTCK, vì vậy các chủ thể cơ bản tham gia TTSC đồng thời cũng là những chủ thể tham gia các hoạt động trên thị trường thứ cấp trừ những chủ thể là các định chế pháp
lý được hình thành do nhu cầu tất yếu và đặc trưng riêng của từng loại thị trường, ví dụ như Sở Giao dịch chứng khoán được hình thành là do nhu cầu phục vụ cho các hoạt động giao dịch m ua bán chứng khoán sau khi đã được phát hành trên thị trường sơ cấp
Thực hiện các chức năng cơ bản của thị trường phát hành, các chủ thể của thị trường sơ cấp tham gia với địa vị là chủ thể thực hiện những hành vi
cơ bản liên quan đến hoạt động phát hành chứng khoán như quản lý, đầu tư, phát hành và bảo lãnh phát hành chứng khoán
1 Chủ thể quản I>.
Chủ thể quản lv thị trường sơ cấp phải là cơ quan quản lý Nhà nước có chức năng điều hành, quản lý và giám sát thị trường sơ cấp Tuy nhiên, thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp là hai bộ phận có mối quan hộ mật thiết và liên quan chặt chẽ với nhau tạo nên cơ cấu của TTCK Vì vậy, chủ thể quản lý đối với thị trường sơ cấp đồng thời cũng thực hiện chức năng quản lý đối với thị trường thứ cấp (thực hiện những chức năng quản lý dưới những góc độ khác nhau) và đây chính là chủ thể quản lý của TTCK
Trang 31T h ự c tr ụ n g P h á p lu ậ t v é th ị trư ờ n g ch ứ n g k h o á n s ơ c ấ p ở V iệ t N a m vù p h ư ơ n g h ư ớ n g h o à n th iện
Hầu hết ở các nước cơ quan quản lý về chứng khoán và TTCK được thành lập sau khi có thị trường chứng khoán, khi mà Nhà nước thấy rằng cần phải có luật pháp và cơ quan giám sát của Nhà nước về hoạt động phát hành
và kinh doanh chứng khoán nhằm bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư và bảo đảm cho sự bình ổn của thị trường Cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và TTCK có thể là độc lập hoặc kiêm nhiệm tuỳ theo cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính của mỗi nước khác nhau, tuy nhiên những chức năng cơ bản của các cơ quan quản lý này đều có những nét tương đồng Đến nay, đa số các nước có TTCK đều thành lập cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và TTCK theo hình thức độc lập, là cơ quan được thành lập có chức năng chuyên ngành đối với chứng khoán và TTCK Cơ quan này thường có tên gọi Uỷ ban chứng khoán Quốc gia hoặc các tên gọi khác tương tự như u ỷ ban quản lý chứng khoán EMỹ, Canada, M alaysia ) hay Cục chứng khoán liên bang (Đức, SNG, Philipin ), có thể được tổ chức dưới hình thức một hội đồng có sự tham gia của m ột số Bộ có liên quan và thưừng được đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Q uốc hội, Tổng thống hoặc Chính phủ (như trường hợp Mỹ, Đức, Pháp,
úc, T rung Quốc, Ba Lan ) Thành viên của Hội đổng làm việc theo chế độ kiêm nhiệm với nhiệm kỳ có thòd hạn nhất định
Bên cạnh đó, cơ quan quản lý Nhà nước theo huih thức kiêm nhiệm có
sự khác biệt nhất định so với hình thức quản lý độc lập Những cơ quan quản
lý kiêm nhiệm không có cơ cấu tổ chức quản lý riêng mà nó được tổ chức dưới hình thức như m ột bọ phận chuyên trách nằm trong những cơ quan có liên quan đến TTCK, nhằm đảm nhiệm một phần chức năng về chứng khoán
và TTCK đồng thòi phụ thuộc vào chính chức năng của những cơ quan đó Ví
dụ như: ở Nhật Bản, cơ quan quản lý Nhà nước về TTCK như một vụ nằm trong Bộ Tài chính; ở Vương Quốc Anh, cơ quan này nằm trong Bộ Thương
m ại và công nghiệp; còn ở Thái Lan, trước đây cơ quan này được đặt trong
N gân hàng Trung ương và Ngân hàng trung ương lại trực thuộc Bộ Tài chính
Trang 32T h ự c tran iỊ P h á p lu ậ t vê' th ị trư ờ n g th ứ n iị k h o á n s ơ c ấ p ớ V iệ t N a m vù p h ư ơ n g h ư ớ n g h o à n th iên
Nếu như so sánh hai hình thức quản lý trên ở các nước khác nhau thì có thể thấy mô hình quản lý độc lập vẫn có ưu thế nhiều hơn vì hoạt động quản
lý được thực hiện thống nhất tuy rằng cần phải có bộ máy tổ chức với chi phí cao, và hiện nay mô hình này được coi như là khuôn mẫu của đại đa số các nước có TTCK Trong các nước tổ chức cơ quan quản lý về chứng khoán và TTCK theo mô hình độc lập, u ỷ ban chứng khoán Mỹ trực thuộc Thượng viện Hoa Kỳ là cơ quan độc lập nhất và được coi là cơ quan quản lý TTCK tốt nhất thế giới Trong khi đó, hầu hết những nước có cơ quan quản lý theo hình thức kiêm nhiệm thể hiện những hạn chế nhất định dù có ưu điểm là gọn nhẹ, giảm chi phí quản lý, nhưng mô hình này chỉ có thể phát huy hiệu quả khi có một trình độ cao về quản lý hoặc có sự ổn định của các hoạt động chứng khoán trên thị trường
Cơ cấu của Uỷ ban chứng khoán của các nước nhìn chung thường có từ
10 đến 15 vụ, cục tuỳ thuộc vào mỗi nước khác nhau để thực hiện các chức năng giám sát, quản lý và phát triển thị trường Uỷ ban chứng khoán Hàn Quốc có 15 vụ, 6 văn phòng địa phương và hơn 500 phân viên; Ưỷ ban chúng khoán Thái Lan có ] 1 vụ ban vói 600 nhân viên; Uỷ ban chứng khoán Pháp,
A ustralia, M alaysia cũng có quy mô tương tự M ỗi vụ hay cục sẽ thực hiện những hoạt động phù hợp và cùng phối hợp với nhau để hỗ trợ cho hoạt động của TTCK
Và mặc dù u ỷ ban chứng khoán có thể có hình thức, cơ cấu tổ chức và hoạt động khác nhau tuỳ theo điều kiện cơ bản của mỗi nước nhưng u ỷ ban chứng khoán thường thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cơ bản là:
- Xây dựng các văn bản pháp luật về chứng khoán và giao dịch chứng khoán để Chính phủ trình Quốc hội, uỷ ban thường vụ Quốc hội (hoặc cơ quan tương đương) ban hành
- Trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các ván bản hướng dẫn thi hành luật về chứng khoán, giao dịch chứng khoán; quy chế
Trang 33T h ự c trụ n ỵ P h á p lu ậ t vè th ị trư ơ n g ch ú n g k h o á n s ơ c ấ p ở V iệ t N u m vả p h ư ơ n g h ư ớ n ỵ h o à n th iện
hoạt động của các tổ chức đầu tư, bảo lãnh, tư vấn, môi giới, kinh doanh và phát hành chứng khoán; quy chế Sở, Trung tâm giao dịch chứng khoán và quy chế hoạt động của các tổ chức có liên quan
- Nghiên cứu để xuất với Chính phủ các cơ chế, chính sách để triển khai, hoàn thiện và phát triển TTCK, hiện đại hoá từng bước TTCK
- Cấp, đình chỉ, thu hồi giấy phép hoạt động của các tổ chức và cá nhân
có hoạt động liên quan tới phát hành và giao dịch chứng khoán
- Quy định các thủ tục, điều kiện, hổ sơ tài liệu, lệ phí liên quan đến niêm yết, quảng cáo, thông tin, mua bán giao dịch chứng khoán
- K iểm tra, giám sát hoạt động giao dịch, kinh doanh, tư vấn và phát hành chứng khoán, áp dụng các biện pháp để bảo vê lợi ích của người đầu tư
- Thực hiện các hoạt động hợp tác Quốc tế
2 Chủ thể đầu tư:
Chủ thể đầu tư chứng khoán là những ‘'người” có nhu cầu đầu tư bằng cách m ua đi, bán lại các chứng khoán trên thị trường chứng khoán nhằm mục đích sinh lời
Chủ thể đầu tư tham gia thị trường sơ cấp theo nhiều dạng khác nhau bao gồm các tổ chức hoặc cá nhân được đầu tư chứng khoán theo pháp luật, thực hiện các hành vi giao dịch, m ua bán chứng khoán trực tiếp hoặc gián tiếp với người phát hành chứng khoán nhằm thu lợi tức từ các khoản tiết kiệm và đầu tư của mình
Thông thường, các chủ thể đầu tư chứng khoán tham gia vào thị trường
sơ cấp muốn thực hiện các hành vi mua bán chứng khoán thông qua một loại chủ thể khác có chuyên môn đảm nhiệm thay mình, các chủ thể đó là các nhà môi giới chứng khoán m à phổ biến là các công ty đầu tư Các công ty đầu tư
Trang 34T h ư c tr ụ n g P h a p k iậ t vê th i trư ờ n g ch ứ n g k h o á n s ơ c ấ p ở V iệ t N a m vả phươriíỊ hươtiỊỊ h o à n th iện
chứng khoán này sẽ thực hiện vai trò của mình theo hợp đổng với các nhà đầu
tư để thực hiện việc mua bán chứng khoán của họ Tuy nhiên, các nhà đầu tư
có thể thực hiện việc đầu tư bằng cách mua chứng khoán cho chính mình, ở
V iệt nam hiện nay, TTCK còn đang trong giai đoạn hlnh thành và phát triển, còn chưa qua kiểm nghiệm thực tế, các nhà môi giới đầu tư hay các công ty đầu tư chứng khoán còn ít lại mới được thành lập, chưa thực hiện được chức năng của mình một cách có hiệu quả thì hoạt động đầu tư vào chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu của Chính phủ hay của doanh nghiệp) của các nhà đầu tư vẫn được thực hiện một cách trực tiếp
Các tổ chức hay cá nhân tham gia đầu tư vào thị trường sơ cấp thông qua nhiều hình thức khác nhau Các nhà đầu tư có tổ chức mà điển hình là các công ty cổ phần không chỉ là các tổ chức phát hành cổ phiếu, trái phiếu mà còn có thể trở thành một nhà đầu tư trên thị trường thổng qua các hoạt động
m ua chứng khoán vói nhiều mục đích khác nhau: có thể nhằm mục đích mở rộng phạm vi hoạt động của tổ chức mình hay thổn tính m ột doanh nghiệp khác hoặc ch đơn giản là tìm kiếm lợi nhuận Còn các cá nhân tham gia đầu tư chứng khoán trên thị trường sơ cấp thông thường thông qua các tổ chức trung gian như quỹ hỗ trự, quỹ đáu tư
Các ngân hàng thương mại và các trung gian tài chính ngoà chức năng
là các trung gian môi giới, tư vấn và kinh doanh chứng khoán còn tham vào thị trường sơ cấp với tư cách là chủ thể đầu tư (m ột cách trực tiếp) thông qua các hình thức cơ bản như bảo lãnh phát hành Các tổ chức phi ngân hàng như hiệp hội cho vay, quỹ tiết kiệm, quỹ đầu tư cũng tham gia một cách tích cực trong nhiều lĩnh vực trên thị trường sơ cấp Các tổ chức này có khả năng thu hút vốn để đầu tư vào các loại chứng khoán trên thị trường Các công ty tài chính là các cổng ty độc lập hoặc do ngân hàng thành lập ra để tham gia vào các hoạt động khác nhau trên thị trường sơ cấp thể hiện vai trò của nhà đầu tư thông qua các hoạt động như kinh doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành, tư vấn, m ôi giới chứng khoán
Trang 35T h ự c tr ạ n g P h á p lu ậ t v é th i trư ờ n g diừn<ị k h o á n s ơ c ấ p ỏ V iệ t N a m vù p h ư ơ n g h ư ớ n q h o à n th iện
Theo pháp luật về chứng khoán và TTCK (NĐ48/1998/CP) ở Việt nam hiện nay, khi tham gia vào TTCK với tư cách là một nhà đầu tư, các nhà đầu
tư có tổ chức hay nhà đầu tư cá nhân đều phải thực hiện hành vi đầu tư của
m ình thông qua các trung gian môi giới là công ty chứng khoán, phải trả phí hoa hồng cho nhà môi giới giao dịch, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước và phải tuân thủ các báo cáo về các giao dịch đầu tư chứng khoán của mình
Các chủ thể đầu tư chứng khoán có quyền lựa chọn chứng khoán để đầu tư nhưng đồng thời phải có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của pháp luật
và chịu trách nhiệm trước Pháp luật về hoạt động đầu tư của mình
để bán lại với giá cao hơn cho các nhà đầu tư; cũng có thể bảo đảm với chủ thể phát hành rằng toàn bộ hoặc một phần chứng khoán dự định phát hành sẽ được bán hết, nếu không bán hết sẽ có trách nhiệm mua hết số chứng khoán còn lại Trong những trường hợp như vậy, nhà bảo lãnh phát hành giữ một vai trò quan trọng trong việc phân phối chứng khoán, đảm bảo cho hoạt động phát hành chứng khoán của các chủ thể phát hành đạt hiệu quả cao nhất bằng cách thu xếp bán hoặc phát hành chứng khoán ra công chúng Bởi vậy, chủ
Trang 36T iìư c tr a n ụ P h á p lu ậ t vé thi trư ờ n g < liứnÍỊ k lio á n s ơ c ấ p Ờ V iệ t N a m vù phưurĩiị h ướ ng huùn ịhi.én.
thể phát hành trong những trường hợp nhất định có sự tham gia của các tổ chức bảo lãnh phát hành
Chủ thể phát hành chứng khoán phải là tổ chức có tư cách pháp nhân (có vốn điều lệ tối thiểu, có bộ máy điều hành, quản lý đủ năng lực, có ngành nghể kinh doanh phù hợp theo quy định của Pháp luật) Tổ chức phát hành chứng khoán có bộ máy tổ chức hoạt động dưới dạng công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn Điều này được lý giải bởi chủ thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp là doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá còn Bộ tài chính là các cơ quan thay m ặt Chính phủ phát hành trái phiếu Chính phu Chủ thể phát hành được quyền lựa chọn các hình thức phát hành và người bảo lãnli phát hành, nhưng đồng thời phải có nghĩa vụ tuân thủ các điều kiện cơ bản quy định về hoạt động phát hành chứng khoán và nghĩa vụ công bố thông tin đối với đợt phát hành chứng khoán mà quan trọng nhất là Bản cáo bạch, trong
đó ghi rõ các thông tin quan trọng nhất của đợt phát hành như: phương thức phát hành, điều kiện cơ bản về chủ thể phát hành, số lượng chứng khoán dự kiến phát hành, chủ thể bảo lãnh, tỷ lộ các cổ đông tạo điều kiện cho các chi, thể đầu tư có điều kiện lựa chọn các loại chứng khoán đầu tư thích hợp
Trang 37T h ự c tr ạ n g P h á p lu ậ t v é th ị trư ơ n g ch ứ n g k h o á n s ơ c a p ỏ V iệ t N a m và p h ư ơ n g hướniỊ h o à n th iện
cơ hội cho các doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, giúp Nhà nước giải quyết nguồn vốn cho ngân sách Nhà nước thông qua việc phát hành trên thị trường trái phiếu Chính phủ để huy động vốn cho đầu tư phát triển phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội hiện nay và những năm tới của đất nước Nó cũng tạo điều kiện cho các nhà đầu tư bằng cách giúp cho họ lựa chọn các phương tiện đầu tư thích hợp và có hiệu quả
Trang 38T h ự c tr ạ n g P h á p lu ậ t v ề th i trư ờ n g ch ứ n g k h o á n s ơ c ấ p ở V iệ t N a m vù ph ư ơ ìĩíỊ hư ơrví h o à n th iện
PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN ở VIỆT NAM
1 Nhu cầu vốn của nền kinh tẽ và thực trạng thị trường phát hành cổ phiéu, trái phiếu ở Việt nam hiện nay.
Sau hơn mười năm thực hiện đường lối đổi mới của Đ ảng và N hà nước, nền Linh tế V iệt nam đã đạt những tiến bộ hết sức quan trọng trên cơ sở ổn định chính trị - xã hội, đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao lạm phát bị đẩy lùi, đời sống của nhân dân được nâng cao, nền kinh tế bắt đầu có tích luỹ cho đầu
tư phát triển Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đến năm 2020 và phấn đấu đưa nước ta về cơ bản trở thành m ột nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, đảm bảo nhịp độ tăng trưởng bình quân GDP ở mức 7-8% năm , thực hiện công hiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta phải hướng vào giải quyết quan hệ có tính nhân quả giữa tiết kiệm - đầu tư - tăng trưởng Bởi vậy, để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công, việc huy động vốn để đầu tư phát triển là vấn đề cần được quan tâm trú trọng
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách và giải pháp nhằm huy động vốn cho đầu tư phát triển Tuy nhiên, các nguồn vốn huy
Trang 39T h ự c tr ạ n g P h á p lu ậ t vê th ị trư ờ n g ch ứ n g k h o á n s ơ c ấ p ở V iệ t N a m vả p h ư ơ n g ỉuíớniỊ h o à n th iện
động được từ trong nước chủ yếu là vốn ngắn hạn, không thể đáp ứng nhu cầu các nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế Chính vì vậy, để có thể giải quyết nhu cầu vốn trung và dài hạn cho tăng trưởng kinh tế nhanh và bển vững, khắc phục nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới, cần phải có các chính sách huy động tối đa mọi nguồn lực tài chính trong nước, biến các nguồn vốn nhàn rỗi thành vốn đầu tư hoạt động sinh lời
và thu hút vốn đầu tư nước ngoài bằng nhiều hình thức như phát hành trái phiếu, cổ phiếu, mở rộng các quỹ đầu tư
Ở V iệt nam hiện nay, đang trong thời kỳ đầu của thực hiện công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước Do đó, nhu cầu về von cho nền kinh tế là rất lớn
nếu chỉ huy động thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), ODA, hay thông qua hệ thống Ngân hàng và hệ thống kho bạc thì không thể đáp ứng nổi Vì vậy, phát hành chứng khoán thông qua TTCK sẽ là một phương thức hữu hiệu để giải quyết vấn đề này
Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy, thị trường cổ phiếu, trái phiếu ở Việt nam hiện nay đang ở trong giai đoạn sơ khai với quy mô của thị trường vẫn còn nhỏ bé, số lượnỵ cổ phiếu, trái phiếu ít Trong cơ cáu chứng khoán phát hành ở Việt nam hiện nay bao gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu ngân hàng, trái phiếu doanh nghiệp Nhà nước, trái phiếu và cổ phiếu công ty, trong
đó thời hạn của trái phiếu (chủ yếu là cua Chính phủ) phát hành trên thị trưcmg còn neắn, phát hành nhằm mục đích chủ vếu là cân đổi ngân sách tạm thời trước mắt, phát hành đợt sau để trả đợt trước, thời hạn chu chuyển của đồng tiền thu được từ đợt phát hành chỉ thích ứng với loại vốn lưu động, chưa đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn
Vì vậy, để khắc phục tình trạng trên, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, đòi hỏi phải có những biện pháp hữu hiệu để tạo hàng hoá cho TTCK Việt nam đang thực hiện nhiều giải pháp, song trong đó một giải pháp hữu hiệu nhất là tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp N hà nước
Trang 40T h ự c tr ạ n ạ P h á p lu ậ t vè th ỉ trư ờ n g chiiiĩiỊ k h o á n s ơ c ấ p à V iệ t N a m v a p h ư ơ n g hướnu h o à n thiên.
2 Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước - giải pháp hữu hiệu tạo các chủ thể phát hành chứng khoán tiềm năng trên TTSC.
Từ những năm đầu của thập kỷ 80, khi mà nền kinh tế của Việt nam lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng Kinh tế tăng trưởng với một tỷ
lệ rất thấp trong khi lạm phát tăng vọt tói mức 3 con số (1986: 487%; 1988: 390% ) Cho đến đầu những năm 1990, nền kinh tế vẫn tiếp tục chịu những hậu quả nặng nề của chế độ bao cấp Lạm phát tuy có giảm nhưng vẫn ở mức
2 con số (1990: 67,5% ), nền kinh tế có tăng trưởng chút ít nhưng bấp bênh,
nợ nước ngoài triền miên trong khi các nguồn viện trợ bị cắt giảm đáng kể Phần lớn các xí nghiệp làm an thua lỗ kéo dài, đời sống của một bộ phận lớn người lao động lâm vào hoàn cảnh hết sức khó khăn, cả nước có tới 12.000 doanh nghiệp N hà nước với một tình trạng chung là trình độ quản lý yếu kém, tài sản m anh m ún, chia cắt, cơ cấu chồng chéo dẫm đạp lên nhau, công nghệ lạc hậu, hiệu quả sử dụng đồng vốn thấp, công nhân không đủ việc làm, hàng ngàn tỷ đồng vốn nợ đọng không giải quyết được
Trước thực trạng hết sức khó khăn đó, Điirig và Chính phủ đã có chủ trương đổi mới nền kình tế nhằm chuvển nền kinh tế k ế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quàn lý của Nhà nước Cuộc cải cách đã kéo theo hàng loạt những thay đổi tích cực trong đó chủ trương sap xếp lại các doanh nghiệp N hà nước, đổi mới quản lý các xí nghiệp quốc doanh là một khâu then chốt, cơ bản, có tính quyết định trong đường lối đổi mới của Đảng
và Chính phủ Đ ây là một “cuộc cách m ạng” đỏí với quá trình hình thành và phát triển của các doanh nghiệp Việt N am và đã thu dược những kết quả hết sức khích lệ Từ trên 12.000 doanh nghiệp năm 1990, đến tháng 6 năm 1994
cả nước còn 6.300 doanh nghiệp, giảm về số lượng nhưng tăng về quy mô (vốn bình quân từ 3,3 tỷ đồng năm 1990 tăng lên khoảng 10 tỷ đồng năm 1994) Trình độ quản lý đã được chấn chỉnh một bước, tài chính doanh nghiệp dần dần được cải thiện Bước đầu, việc sử dụng đổng vốn đã có hiệu quả Sản phẩm của m ột số xí nghiệp đã có mặt trên thị trường quốc tế Trong cuộc cải