1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những điều kiện pháp lý cơ bản để tổ chức và vận hành thị trường chứng khoán OTC tại việt nam

76 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 7,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với nhung ưu thế riêng cua thị trường chứng khoán OTC, đặc biệt là tính linh hoạt trong thực hiện các giao dịch, thị trường này sẽ một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừ

Trang 1

N G U Y Ề N H O À N G V Â N

NHŨNG ĐIỂU KIỆN PHẤP LÝ c ơ BẲN ĐỂ T ổ CHỨC VÀ

VẬN HÀNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN OTC

TẠI VIỆT NAM

HA NỘI 2006

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 3

1 Một số vấn đề lý luận về thị trường chứng khoán O T C 4

7.7 Khái niệm thị trường chứng khoán O T C 4

1.2 Nhữnq đặc điểm cơ bản của thị trường chứng kìioán O T C 5

ỉ 3 So sánh thị trường chứng khoán OTC với cúc loại thị trường chứng khoán k h á c 8

2 Những điều kiện pháp lý cơ bản để tổ chức và vận hành thị trường chứng khoán OTC .7. 12

1.2.1 Điều kiện đối với hàng hoá giao dịch trên thị trường chứng khoán O T C 13

1.2.2 Điều kiện đối với thành viên của thị trường chứng khoán OTC 14

J 2.3 Điều kiện về cơ c h ế vận hành của thị trường chứng khoán OTC 16 1.2.4 Điều kiện về thông tin trên thị trường chứng khoán O TC 17

1.2.5 Điều kiện về quản lý thị trường chứng khoán O T C 18

Chương II Kinh nghiệm tổ chức và vận hành thị trường chứng khoán OTC của một số nước trên thế giới 20

2.1 Hàng hoá giao dịch trên thị trường chứng khoán OTC 20

2.7.7 Chứng khoán đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán OTC . 20

2.1.2 Đăng ký chứng khoán giao dịch trên thị trường O TC 24

2.2 Thành viên của thị trường chứng khoán O T C 26

2.2.1 Thành viên không phải là nhà tạo lập thị trường 26

2.2.2 Thành viên là nhà tạo lập thị trư ờ n g 27

2.3 Cơ chế vận hành của thị trường chứng khoán O T C 30

2.3.1 Hệ thống giao d ịc h 30

2.3.2 Cư c h ế thanh to á n 34

2.4 Thông tin trên thị trường chứng khoán O TC 35

2.4.1 Thông tin về các công ty có chứng khoán giao dịch trên th trường chứng khoán O T c 35

2.4.2 Thông tin về đặt giá mua, bán chứng khoán và khối lượng chứng khoán đã giao d ịc h 35

2.4.3 Thông tin về công ty chứng khoán đối với khách h à n g 37

2.5 Ọuản lý thị trường chứng khoán OTC 38

2.5.1 Cấp quản lý nhà n ư ớ c 38

2.5.2 Cấp tự q u ả n 40

Chương III Một số kiến nghị về những điều kiện pháp lý cơ bản để tổ chức và vận hành thị trường chứng khoán OTC tại Việt Nam 42

Trang 4

3.1.2 Sự cần thiết phải xây dựng thị trường chứng khoán OTC ở m ệt

khoán O T C 57 3.2.3 Cần có qui định vê những điều kiện dối với chứng khoán được phép giao dịch trên thị trường chứng khoán O T C 60 3.2.4 Xác lập các điều kiện đ ể trở thành thành viên của thị trường chứng khoán O T C 62 3.2.5 Yêu cầu pháp lý về minh bạch thông tin trên thị trường chứng

khoán O T C 63

Kết luận 67 Danh múc tài liêu tham khảo 68

Trang 5

LỜI N Ó I ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.

Sự ra đời của thị trường chứng khoán ở Việt Nam cho thấy Việt Nam

đã bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường Bước sang tuổi thứ 6, thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam

đã phát huy một số tác dụng tích cực, là một kênh huy động vốn và phân bổ nguồn vốn quan trọng trong nền kinh tế; hỗ trạ, thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước vv Tuy nhiên, cho tới nay thị trường chứng ' khoán Việt Nam vẫn còn ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển; các doanh nghiệp Việt Nam lại chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa hội đủ tiêu chuẩn để niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung Vấn đề đặt ra là cần xây dựng thị trường cho các loại chứng khoán chưa đủ điều kiện niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung, tức là xây dựng thị trường chứng khoán OTC tại Viẹl Nain Với nhung ưu thế riêng cua thị trường chứng khoán OTC, đặc biệt là tính linh hoạt trong thực hiện các giao dịch, thị trường này sẽ một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp mới được thành lập ở Việt Nam có khả năng huy (ỉộng các nguồn vốn trung hạn và dài hạn trên thị trường chứng khoán, mặt khác cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư mua, bán chứng khoán của các doanh nghiệp trên Hơn nữa, sự ra đời của thị trường chứng khoán OTC sẽ bổ sung sự thiếu hụt của thị trường chứng khoán tập trung, đồng thời sẽ thu hẹp thị trường chứng khoán tự

do đã hình thành một cách tự phát, ngoài sự kiểm soát của nhà nước Đây là thị trưừng mang tính rủi 1'0 rất cao, gây ra nhiều bất lợi cho nhà đầu tư và cho

cả xã hội do tình trạng thiếu thông tin đã làm cho thị trường này trở thành môi trưong nuôi dưỡng những hành vi gian lận nhằm kiếm lờ’ trên sự thiệt hại của các nhà đầu tư Nghiên cứu về thị trường chứng khoán OTC và nhũng điều kiện pháp lý cơ bản, cần thiết cho sự hình thành và phát triển của thị trường

chứng khoán OTC là vấn đề cấp bách ở Việt Nam hiện nay.

Trang 6

2 Tình hình nghiên cứu đề tài.

Trên thế giới, thị trường chứng khoán OTC và pháp luật điều chinh thị trường này đã được hình thành từ lâu ở Việt N am hiện nay, việc nghiên cứu

ve thị trường chứng khoán OTC cũng như xây dựng pháp luật điều chỉnh thị trường chứng khoán OTC vẫn là vấn đề còn mới mẻ, đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của đông đảo các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau như:

TS Đào Lê Minh (2002), Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán; TS Phạm Thị Giang Thu (2004), Một số vấn đề về pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam ; TS Trần Cao Nguyên (2001), Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng và phát triển thị trường OTC Việt Nam , Đề tài khoa học cấp Bộ (Mã số đăng ký: 06-UBCK-2001); vv Nhìn chung các tác giả nói trên đã đề cập những khía cạnh khác nhau của thị trường chứng khoán OTC Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa có đề tài nào nghicn cứu những đieu kiện pháp lý cơ bán cho việc tổ chức và vận hành thị trường này ở Việt Nam

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài.

Ở Việt Nam hiện nay thị trường chứng khoán OTC đang trong giai đoạn manh nha hình thành nhưng hầu như chưa có sự điều chỉnh của pháp luật Bản luận văn này không đề cập mọi vấn đề liên quan đến thị trường chứng khoán OTC mà tập trung nghiên cứu một những nôi dung chủ yếu sau:

- Những vấn đề lý luận chung về thị trường chứng khoán OTC

- Sự cần thiết của thị trường chứng khoán OTC tại Việt nam và phương hướng xây dựng thị trường chứng khoán OTC tại Việt nam Để làm được điều

đó, bản luận văn nghiên cứu nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh thị trường chứng khoán OTC của một số nước trên thế giới, những nước đã thành công trong việc xây dựng thị trường chứng khoán OTC

Trang 7

- Những điều kiện pháp lý cơ bản cho tổ chức và w n hành thị trường chứng khoán OTC tại Việt nam nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển của thị trường OTC có tổ chức tại Việt nam.

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài.

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và duy vật

lị h sử của triết học Mác - Lê nin kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh nhằm làm rõ bản chất, vị trí, vai trò của đối tượng nghiên cứu và tìm ra những giải pháp phù hợp

5 Mục đích, nhiệm vu của việc nghiên cứu đề tài.

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thị trường chứng khoán OTC nhằm nhận diện những khái niệm, các đặc điểm của thị trường chứng khoán OTC và phân biệt thị trường này với các thị trường chứng khoán khác

- Nghiên cứu thực trạng thị trường chứng khoán tại Việt Nam thông qua

đó đề ra phương hướng xây dựng thị trường chứng khoán OTC tại Việt Nam trên cơ sở tìm hiểu thị trường chứng khoán OTC của một số nước trên thế giới

- Nghiên cứu, kiến nghị những điều kiện pháp lý chủ yếu cho việc tổ chức và vận hành thị trường chứng khoán OTC ở Việt Nam hiện nay

6 Cơ cấu của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương I Khái quát về thị trường chứng khoán OTC và những điều kiện pháp lý cơ bản để tổ chức và vận hành thị trường chứng khoán OTC

Chương II Kinh nghiệm tổ chức và vận hành thị trường chứng khoán ỌTC của một số nước trên thế giới

Chương III Một số kiến nghị về những điều kiện pháp lý cơ bản để tổ chức và vận hành thị trường chứng khoán OTC tại Việt Nam

Trang 8

C H Ư Ơ N G I K H Á I Q U Á T VỀ THỊ TRƯ Ờ NG CHỨNG KHOÁN OTC VÀ N H Ũ N G Đ IỂU KIỆN PH Á P LÝ c ơ BẢN Đ Ể T ổ CHỨC

VÀ V Ậ N HÀNH TH Ị TRƯ ỜNG C H Ú N G K H O Á N OTC

1 M ột số vấn đề lý luận về thị trường chứng khoán OTC

1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán OTC

Thị trường chứng khoán OTC (hay còn gọi là thị trường OTC) là thị trường chứng khoán xuất hiện rất sớm ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển OTC, viết tắt của cụm từ: “over the counter” , theo nghĩa tiếng Việt

là “qua quầy” , hàm ý chỉ các chứng khoán được bán thẳng qua quầy của các ngân hàng hoặc các công ty chứng khoán mà không phải thông qua các trung gian môi giới để đưa ra đấu giá tập trung tại một địa điểm Theo phương thức này, người mua và người bán chứng khoán sẽ thỏa thuận giá trực tiếp với nhau không thông qua công ty chứng khoán để đấu giá với những người mua người bán khác trên thị trường

Cho đến ngày nay thị trường OTC đã không ngừng hoàn thiện, phát triển và trở thành một hệ thống thị trưừng với những đặc trưng riêng của mình khác hẳn với hình thức sơ khai ban đầu Tuy nhiên, một số đặc trưng cơ t in của thị trường OTC như: thỏa thuận giá song phương, giao dịch phi tập trung

và có sự tham gia của nhà tạo lập thị trường thì vẫn được giữ nguyên như ban đầu Sự thay đổi quan trọng làm biến đổi cơ bản, sâu sắc hệ thống thị trường OTC ngày nay so với hình thức nguyên thủy của nó là sự phát triển từ hình thái tự do không có tổ chức đến hình thái có tổ chức quản lý (đặc biệt là sự quản lý nhà nước) và sự chuyển biến từ hình thức giao dịch truyền thống thủ công sang hình thức giao dịch qua mạng máy tính điện tử hiện đại

Hệ thống thị trường OTC hiện nay, xét về góc độ quản lý, đã tách ra khỏi hệ thống thị trường hoạt động tự do nằm ngoài quỹ đạo quản lý nói chung để hình thành một hệ thống thị trường được tổ chức và quản lý chặt chẽ của nhà nước và các tổ chức tự quản, v ề phương thức giao dịch trên thị trường

Trang 9

OTC được đặc trưng bời hình thức thỏa thuận giá song phương giữa một bên

mua và một bên bán chứng khoán mà không thông qua đấu giá tập trung giữa

nhiều bên mua và nhiều bên bán như đối với thị trường giao dịch tập trung tại

các sở giao dịch Hình thức này về cơ bản vẫn được duy trì cho đến nay nhưng

kỹ thuật đàm phán, thương lượng và chia sẻ thông tin đã được phát triển và

hoàn thiện Từ hình thức mua bán nguyên thủy là “thẳng qua quầy”, trực tiếp

gặp nhau “mặt đối mặt” đã chuyển sang thương lượng, thỏa thuận giá qua điện

thoại và đến nay là giao dich qua mạng máy tính điện tử diện rộng hiện đại

Chính vì vậy người ta còn gọi thị trường OTC hiện đại ngày nay là “thị trường

m ạng”

Như vậy, cùng với quá trình phát triển của thị trường OTC cũng có sự

thay đổi nhất định Một cách khái quát nhất, có thể hiểu thị trường OTC là thị

trường có hình thức thỏa thuận giá song phương giữa bên mua và bên bán và

giao dich này dien ra tại bất kỳ một địa điểm nào thuân lợi cho ha bôn mua và

bán

1.2 Những đặc điểm cơ bản của thị trường chứng khoán OTC

1.2.1 Thị trường OTC có cơ c h ế xác lập giá thông qua thỏa thuận giữa bên mua và bên bán.

Việc thỏa thuận giá được thực hiận giũa các nhà kinh doanh chứng khoán với khách hàng hoặc giữa các nhà kinh doanh chứng khoán với nhau Giá được hình thành từ thương lưựng song phương giữa một bên mua và một bên bán do vậy tùy thuộc vào từng nhà kinh doanh chứng khoán mà tại một thời điểm có thể hình thành nhiều mức giá khác nhau đối với một loại chứng khoán, điều này khác với thị trường tập trung tại sở giao dịch, do đấu giá tập trung nên chỉ có một mức giá tại một thời điểm Tuy nhiên do cơ chế báo giá qua mạng máy tính điện íử ở thị trường OTC hiện đại ngày nay nên đã có cơ chế cạnh tranh giá công khai giữa các nhà kinh doanh chứng khoán Nhờ đó

Trang 10

nhà đầu tư chỉ việc lựa chọn giá tốt nhất trong các báo giá của các nhà tạo lập thị trường để đặt mua hoặc đặt bán chứng khoán.

1.2.2 Thị trường OTC có hỉnh thức tổ chức giao dịch mua bán ph i tập trung.

Khác với thị chứng khoán trường tập trung, thị trường chứng khoán OTC không có sàn giao dịch cụ thể để bên mua và bên bán gặp gỡ và thực hiện giao dịch Trong khi mọi giao dịch xác lập giá trên thị trường chứng khoán tập trung đều được diễn ra tại một địa điểm, thường là Sở giao dịch, thì giao dịch trên thị trường OTC lại diễn ra tại nhiều địa điểm, ở bất kv nơi nào thuận lợi cho việc thương lượng, xác lập giá giữa bên mua và bên bán Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển cua công nghệ thông tin thì thuật ngữ “tập trung” không còn dùng để chỉ địa điểm tập trung như trước đây

mà còn dùng để chỉ địa điển hay phương thức xác lập giá của thị trường Đối với tl tr'tfờng OTC thì việc xác lập giá có thể diễn ra tại nhiều địa điểm khác nhau, thậm chí có thể là địa điểm vô hình qua các phương tiện thông tin nhưng đối với thị trường tập trung thì địa điểm xác lập giá duy nhất là sở giao dịch chứng khoán Do đó thị trường OTC còn được gọi là thị trường phi tập trung

J 2.3 Thị trường OTC có sự tham gia vận hành cua các nhà tạo lập thị trường.

Trên thị trường OTC, ngoài các thành viên tham gia vớ: tư cách là nhà môi giới và tự doanh chứng khoán còn có thành viên giữ vai trò quan trọng đó

là nhà tạo lập thị trường Chức năng chủ yếu cúa nhà tạo lập thị trường là tạo nên tính thanh khoản cho chứng khoán mà họ là người tạo lập thị trường thông qua việc thường xuyên nắm giữ một lượng chứng khoán nhất định mà họ đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường và liên tục đưa ra giá chào mua và giá chào bán, đồng thời sẵn sàng mua và bán lại chứng khoán này cho khách hàng Như vậy, hoạt động tạo lập thị trường có vai trò tạo nên tính thanh khỏan cho chứng khoán, là động lực thúc đẩy sự hoạt động của thị trường OTC

Trang 11

1.2.4 Thị trường OTC hiện đại được tổ chức qua mạng máy tính điện

tử diện rộng.

Thị trường OTC hiện đại sử dụng mạng máy tính điện tử c* ện rộng để liên kết tất cả các đối tác tham gia thị trường do vậy thị trường OTC hiện đại còn được gọi là “thị trường mạng” [16 Tr 230] Mạng máy tính điện tử được các đối tác tham gia sử dụng để đặt lệnh giao dịch, đàm phán, truy cập thông tin ,w đồng thời cũng tạo điều kiện để việc quản lý thị trường được tiến hành thuận tiện

1.2.5 Chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC chủ yếu là các chứng khoán của các công ty vừa và nhỏ, công ty mới được thành lập hoặc các công ty công nghệ cao.

Các chứng khoán giao dịch trên OTC thông thường là các chứng khoán chưa đủ điều kiện niêm yết trên thị trường tập trung hoặc có độ rủi ro cao hơn

so với chứng khoán trên thị trường tập trung Tính rủi ro cao hơn thể hiện mức

độ kém ổn định hơn do doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ, mới đi vào hoạt động hay kinh doanh ở các ngành nghề mới hoác ngành công nghệ cao chứa đựng nhiều rủi ro Chứng khoán có độ rủi ro cao thông thường có lãi cao hơn

so với các chứng khoán có độ rủi ro thấp do vậy các nhà đầu tư loại chứng khoán này thường là người am hiểu, có khả năng đánh giá tiềm năng phát triển của doanh nghiệp và tự mình đầu tư Các loại chứng khoán này thường gắn với hình thức giao dịch thỏa thuận còn các loại chứng khoán ít rủi ro thường được niêm yết và giao dịch trên sở giao dịch

1.2.6 Thị trường OTC được tổ chức quản lý chặt chẽ.

Thị trường OTC thường được quản lý bởi cơ quan quản lý nhà nước và

tổ chức tự quản Ở các quốc gia có thị trường chứng khoán OTC, cơ quan quản

lý thị trường chứng khoán nói chung cũng trực tiếp quản lý thị trường OTC và thường là u ỷ ban chứng khoán Ngoài ra, thị trường chứng khoán OTC còn chịu sự quản lý của tổ chức tự quản, thường là Hiệp hội kinh doanh chứng

Trang 12

khoán Việc tổ chức quản lý chặt chẽ thị trường OTC nhằm mục tiêu chung là đảm bảo sự ổn định và phát triển của thị trường, đảm bảo lợi ích của nhà đầu

tư trên thị trường

1.2.7 Thị trường OTC thường có cơ chí' thanh toán linh hoạt.

Thị trường OTC có cơ chế thanh toán kết hợp giữa phương thức thanh

toán bù trừ đa phương thống nhất như thị trường tập trung với hình thức thanh toán linh hoạt đa dạng giữa người mua và người bán Xuất phát từ cơ chế xác lập giá thỏa thuận dẫn đến việc thanh toán trên thị trường OTC cũng có thể được thực hiện theo hình thức thỏa thuận về thời hạn và hình thức/thanh toán nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia

1.3 So sánh thị trường chứng khoán OTC với các loại thi trường chứng khoán khác

1.3.1 Thị trường chứng khoán OTC và th ị trường chứng khoán tập trung.

Điểm giống nhau của hai loại thị trường chứng khoán này là đều được

tổ chức, quản lý chặt chẽ bởi các cơ quan chức năng trên cơ sở các văn bản pháp luật về chứng khoán So với thị trường chứng khoán tập trung, thị trường OTC có ưu thế về tính linh hoạt trong việc xác lập giá cũng như thanh toán, đồng thời việc thoả thuận song phương về giá đã tiết kiệm được thời gian cho việc thực hiện giao dịch Đặc biệt đối với thị trường OTC hiện đại ngày nay, các đối tượng tham gia thị trường có thể tiếp cận thị trường một cách thuận tiện, nhanh chóng, chia sẻ thông tin một cách tối đa; đổng thời các nhà quản

lý cũng có thể giám sát tốt thị trường Mặt khác, nhờ cổ hoạt động của các nhà tạo lập thị trường, tính thanh khoản của chứng khoán trên thị trường OTC thường cao hơn so với thị trường tập trung Tuy nhiên, hình thái thi trường OTC hiện đại có nhược điểm là chi phí đầu tư ban đầu thường rất lớn để xây dựng hạ tầng kỹ thuật phù họp và yêu cầu người tham gia có trình cao độ trong việc khai thác thị trường Trong khi đó, hình thái thị trường OTC thủ

Trang 13

công truyền thống có nhược điểm là khó quản lý, khó có cơ chế hữu hiệu bảo

vệ nhà đầu tư Lý do là tại một thời điểm thường có nhiều mức giá khác nhau trên thị trường nên có thể dẫn đến việc xác lập giá không công bằng trên thị trường.Tuy nhiên chúng có một số điểm khác nhau cơ bản như sau:

Thị trường OTC Thị :rường tập trungĐịa điểm xác lập giá là phi tập trung Địa điểm xác lập giá tập trung tại sở

Tổ chức tự quản thường là Hiệp hội

kinh doanh chứng khoán

Chứng khoán giao dịch trên thị trường

thường có độ rủi ro cao

Chứng khoán giao dịch trên thị trường thường có độ rủi ro thấp

Cơ chế thanh toán đa dạng về thời gian

Trang 14

1.3.2 Thị trường chứng khoán OTC và thị trường chứng khoán tự do.

Hai loại thị trường chứng khoán này có điem giống nhau là địa điểm xác lập giá phi tập trung và cơ chế xác lập giá thông qua thương lượng thỏa thuận Những điểm khác nhau cơ bản của chúng được thể hiện trên các mặt sau:

Thị trường OTC Thị trường chứng khoán tự doĐược tổ chặt chẽ Không có tổ chức

Có sự quản lý của nhà nước và Tổ chức

tự quản

Không có sự quản lý của nhà nước

và Tổ chức tư quảnThỏa thuận giá qua mạng máy tính

điện tử

Thỏa thuận giá trực tiếp, thủ công

Có sự tham gia của nhà tạo lập thị

tổ chức quản lý bởi cơ quan quản lý nhà nước Xuất phát từ tính “tự do” mà thị trường tự do có độ linh hoạt cao hơn thị trường chứng khoán OTC Mọi chủ thể tham gia thị trường tự do không phải tuân theo bất kỳ quy tắc tổ chức thị trường nào Quy mô thị trường ngày càng phát triển thì thị trường chứng khoán tự do càng thể hiện những hạn chế như sự lạm dụng thị trường, tình trạng lừa đảo về giá cả, tình trạng bưng bít thông tin, w Để hạn chế những khiếm khuyết đó, cần phải đưa thị trường chứng khoán tự do vào khuôn khổ quản lý mà đặc biệt là vào sự quản lý của nhà nước nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia thị trường cũng như sự phát triển ổn định của thị trường chứng khoán

Trang 15

1.3.3 Thị trường chứng khoáìi OTC và thị trường chứng khoán giao dich trực tuyến.

Giao dịch trực tuyến qua Internet đang là hoạt động phổ biến đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán trên thế giới Thị trường giao dịch trực tuyến được gọi là ECNs (Electronic Communication Networks) hoặc ATSs (Automated Trading Systems) - là những thuật ngữ dùng để chỉ hệ thống giao dịch điện tử qua Internet Hệ thống giao dịch này là sản phẩm của sự phát triển công nghệ thông tin Hệ thống giao dịch chứng khoán trực tuyến “được cung cấp bởi các công ti môi giới trực tuyến: Online brokers (gọi tắt là CTMGTT), cho phép các nhà đầu tư truy cập Internet để trực Ịiếp đặt lệnh mua hoặc bán chứng khoán của công ty niêm yết trên website của CTMGTT

và sẽ phải trả một khoản phí nhất định cho C TM G TT’[40 Tr 62]

Sự phát triển của Internet đã làm tăng hiệu quả của việc thực hiện các giao dịch chứng khoán, thúc đấy nhanh tiến độ tiếp cận và công bố thông tin Các nhà đầu tư không phải đến các công ty chứng khoán mà vẫn có thể đặt lệnh mua hoặc bán trực tiếp trên Internet một cách nhanh chóng và theo dõi thông tin trong tài khoản của mình cũng như các thổng tin về các loại chứng khoán mà mình đang sở hữu hoặc các chứng khoán đang được lưu hành trên thị trường như bản cáo bạch, báo cáo tài chính và các thông tin cần thiết khác vào bất cứ thời điểm nào Internet là công cụ giao dịch điện tử toàn cầu giúp các thị trường, nhà kinh doanh và nhà đầu tư bỏ qua yếu tố khác biệt về biên giới, múi giờ đồng thời tạo điều kiện cho nhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ thuận lợi hơn trong việc tiếp cận với các dịch vụ chứng khoán Việc giao dịch chứng khoán qua Internet “gắn liền với những rủi ro” [25 Tr 37] như: Khó khăn trong việc kiểm chứng thông t n, nhà đầu tư có thể bị lộ thông tin về tài khoản,vv

Trang 16

So với thị trường chứng khoán OTC thì trường chứng khoán giao dịch trực tuyến có một số điểm khác biệt như sau:

chứng khoán

Giao dịch qua mạng máy tính nội bộ

giữa các thành viên thị trường OTC

Giao dịch trực tiếp trên Internet

Có sự quản lý của nhà nước và Tố chức

Loại chúng khoán của các công ty vừa

và nhỏ, công ty công nghệ cao

Các loại chứng khoán niêm yết trên trang Web của công ty môi giới trực tuyến

trường chứng khoán OTC.

Theo Từ điển tiếng Việt thì điều kiện có nghĩa là “Cái cần phải có để cho một cái khác có thể có hoặc có thể xảy ra” [24 Tr 321] Trong mối quan

hệ giữa nguyên nhân và kết quả và mối quan hệ giữa khả năng và hiện thực thì

“điều kiện có vai trò tác động đến nguyên nhân để tạo ra những kết quả nhất đ'nh” [30 Tr 174], đồng thời điều kiện cũng đóng vai trò tác động để “khả năng trở thành hiện thực” [30 Tr 188] Để cho thị trường OTC hình thành và hoạt động thì cần có rất nhiều điều kiện tác động đến như: những điều kic n về kinh tế, về pháp lý, về văn hóa về khoa học công nghệ, vv Trong đó điều kiện pháp lý là một trong những điều kiện giữ vai trò quan trọng nhất Bản luận văn này chỉ xin nêu ra một số điều kiện pháp lý cơ bản, có ảnh hưởng quyết định tới sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán OTC

Trang 17

1.2.1 Điều kiện đối với hàng hoá giao dịch trên thị trường chửng khoán OTC

Hàng hóa giao dịch trên thị trường là một yếu tố quan trọng duy trì sự tồn tại và phát triển của thị trường Hàng hoá trên thị trường chứng khoán chính là chứng khoán được giao dịch trên thị trường Chứng khoán là một loại hàng hoá đặc biệt Chất lượng hàng hoá chứng khoán có ý nghĩa quyết định đến sự ổn định và phát triển của thị trường chứng khoán nói chung và thị trường chứng khoán OTC nói riêng Chính vì vậy, chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC phải đáp đáp ứng được những điều kiện nhất định

Xuất phát từ đặc điểm của thị trường OTC, chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC chủ yếu là chứng khoán của các công ty vừa và nhỏ, công ty mới được thành lập hoặc công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao Các loại chứng khoán này thường có độ rủi ro cao do vậy việc quy định các điều kiện mà chứng khoán phải thoả mãn để được giao dịch trên thị trường này có

ý nghĩa quan trọng Tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể mà ở mỗi quốc gia những điều kiện này có thể khác nhau nhằm đảm bảo chất lượng chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC Pháp luật về chứng khoán của các nước thường đề ra những điều kiện như: Thời gian hoạt động tối thiểu của tổ chức phát hành chứng khoán được phép giao dịch giao dịch trên thị trường OTC phải đạt mức tối thiểu là bao nhiêu năm; Tổng giá trị tài sản của tổ chức phát hành để chứng khoán được phép giao dịch trên thị trường OTC; Lợi nhuận của tổ chức phát hành trong các năm liền trước năm đăng ký giao dịch chứng khoán trên thị trường OTC; Số lượng tối thiểu nhà tạo lập thị trường cho chứng khoán muốn giao dịch trên thị trường O T C ;w

Những điều kiện nêu trên nhằm đảm bảo chứng khoán được giao dịch trên thị trường OTC là những loại chứng khoán tốt, đảm bảo độ tin cậy đối với nhà đầu tư đồng thời đảm bảo cho thị trường hoạt động một cách ổn định Để đảm bảo hàng hoá chứng khoán có chất lượng cao thì thông tin phải được

Trang 18

cung cấp công khai, kịp thời, đầy đủ và có độ chính xác cao Việc không cung cấp đầy đủ thông tin sẽ gây thiệt hại cho nhà đầu tư, làm nhà đầu tư thiếu tin tưởng vào thị trường chứng khoán và do vậy sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của thị trường.

1.2.2 Điều kiện đối vói thành viên của thị trường chứng khoán OTC

Thành viên của thị trường OTC là các công ty chứng khoán được cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán cấp giấy phép hoạt động và thường là thành viên của Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Thành viên của thị trường OTC bao gồm hai loại thành viên đó là thành viên tham gia với tư cách là nhà tạo lập thị trường và thành viên tham gia không phải là nhà tạo lập thị trường

- Thành viên không phải là nhà tạo lập thị trường:

Thành viên không phải là nhà tạo lập thị trường tham gia thị trường OTC thông thường với hai tư cách là nhà tự doanh và nhà môi giới chứng khoán

Với tư cách là nhà môi giới chứng khoán, các thành viên tiến hành hoạt động kinh doanh chứng khoán bằng cách làm đại diện thu xếp giao dịch cho khách hàng để tiến hành giao dịch thông qua thị trường OTC và hưởng hoa hồng Trong tiếng Anh, nhà môi giới (broker) thường được dùng để chỉ một công ty chứng khoán hơn là để chỉ một nhân viên môi giới Người môi giới không mua bán chứng khoán cho mình mà là người nối kết và giúp thực hiện yêu cầu của người mua, người bán Tài sản (chứng khoán) và tiền được chuyển dịch qua lại từ khách hàng bán sang khách hàng mua Trong quá trình đó nhà môi giới không đứng tên tài sản giao dịch Trong trường hợp này khách hàng

ỉà người giao dịch đứng tên tài sản và phải chịu trách nhiệm đối với những hậu quả kinh tế của việc thực hiện các giao dịch đó Thông qua hoạt động môi giới nhà môi giới đóng vai trò làm trung gian, cầu nối giữa người mua và người bán chứng khoán đổng thời cung cấp cho khách hàng báo cáo nghiên cứu,

Trang 19

những tư vấn và khuyến nghị đầu tư, w nhằm giúp khách hàng có nhữne quyết định kịp thời, hiệu quả nhất.

Với tư cách là nhà tự doanh chứng khoán, các thành viên tiến hành hoạt động kinh doanh chứng khoán bằng cách tự tiến hành các giao dịch mua và bán chứng khoán cho chính mình, hay nói cách khác là họ mua hay bán bằng chính tài khoản của chính họ Để hoạt động tự doanh, các công ty chứng khoán phải có đủ số vốn nhất định theo quy định của pháp luật nhằm mục đích đảm bảo cho các công ty chứng khoán thực sự có vốn và dùng vốn đó để kinh doanh Bên cạnh yếu tố về vốn thì con người cũng là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công trong hoạt động tự doanh do vậy nhân viên thực hiện hoạt động tự doanh phải đáp ứng trình độ chuyên môn nhất định

Các công ty chứng khoán sau khi nhận được lệnh mua hoặc bán chứng khoán của khách hàng, công ty chứng khoán có thể thực hiện lệnh đó cho khách hàng bằng chứng khoán trong tài khoản của mình và khi đó họ tham gia giao dịch với tư cách là nhà tự doanh Công ly chứng khoán cũng cỏ thể tham gia thị trường với tư cách là nhà môi giới bằng cách làm trung gian tìm kiếm, thỏa thuận và mua bán chứng khoán của các thành vièn khác trên thị trường cho khách hàng Khi pháp luật cho phép công ty chứng khoán vừa thực hiện hoạt đông môi giới vừa thực hiện hoạt động tự doanh thì (ỉễ phát Sinh xung đột Lợi ích giữa công ty chứng khoán và khách hàng vì công ty sẽ có xu hướng đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của khách hàngcó thể tham gia với hai tư cách trên cùng một giao dịch

- Thành viên tham gia thị trường với tư cách là nhà tạo lập thị trường:Thành viên tham gia thị trường với tư cách là nhà tạo lập thị trường giữ vai trò rất quan trọng trên thị trưừng OTC Nhà tạo lập thị trường - được gọi là

“market maker” [62]- là người thực hiện chức nàng duy trì thị trường cho một loại chứng khoán nhất định

Trang 20

Nhà tạo lập thị trường trước hết phải đăng ký là thành viên của thị trường chứng khoán OTC; phải có một lượng vốn nhất định và phải luôn nắm giữ một lượng lớn chứng khoán mà mình đăng ký là nhà tạo lập thị trường; đồng thời phải liên tục đưa ra giá chào mua, chào bán và sẵn sàng mua, bán loại chứng khoán đó với số lượng và mức giá đã chào bán hoặc mua Do chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC thường có độ rủi ro cao, có tính thanh khoản thấp, vì vậy nhằ tạo lập thị trường giữ vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra tính thanh khoản cho loại chứng khoán mà mình làm nhà tạo lập bằng cách vừa tạo ra cung vừa tạo ra cẩu cho loại chứng khoán đó Để thực hiện được vai trò này thì nhà tạo lập thị trường thường là các nhà buôn chứng khoán chuyên nghiệp, có khả năng am hiểu và phân tích tốt thị trường chứng khoán Đối với thị trường OTC hiện đại thì các nhà tạo lập thị trường phải có khả năng nắm bắt, xử lý thông tin nhanh và phải trang bị hệ thống công nghệ thông tin đủ mạnh để thuận tiện cho việc thu thập thông tin và thực hiện giao dịch Thu nhập chính của nhà tạo lập thị trường là khoản chênh lệch giữa giá mua và giá bán chứng khoán, phẩn cổ tức mang lại của số chứng khoán trong

“kho” và phí hoa hồng khi thực hiện chức năng môi giới

Nhà tạo lập thị trường có vai trò chủ yếu như: Tăng tính linh hoạt của thị trường cũng như tăng tính thanh khoản đối với loại chứng khoán mà mình

là nhà tạo lập thị trường; Tăng khả năng thực hiện giao dịch một loại chứng khoán do sự cạnh tranh về giá cả đặt ra giữa các nhà tạo lập thị trường khác nhau đối với cùng loại chứng khoán đó; Thu hũt sự quan tâm của các Iihà đầu

tư tới một loại chứng khoán không niêm yết trên thị trường tập trung,w Các nhà tạo lập thị trường sẽ cạnh tranh lẫn nhau để đưa ra báo giá tốt nhất

1.2.3 Điều kiện về cơ chế vận hành của thị trường chứng khoán O T C

Hệ thống giao dịch là “hệ thống nhận lệnh - dẫn lệnh - tập hợp và phối kết lệnh - hình thành giá và khối lượng giao dịch”[ l l Tr 36] Như vậy, hệ thống giao d ch là hệ thống nhận, gửi, kết nối và xử lý các giao dịch trên thị

Trang 21

trường chứng khoán Thị trường chứng khoán OTC hiện đại được vận hành thông qua hệ thống mạng máy tính điện tử diện rộng Các giaơ'dịch dưới dạng

dữ liệu điện tử được các thành viên thị trường chứng khoán OTC gửi tới hệ thống giao dịch thông qua hệ thống mạng máy tính điện tử được kết nối trực tiếp từ hệ thống máy chủ của đầu não của thị trường OTC tới hệ thống máy tính của các thành viên thị trường trên toàn quốc

Thông qua hệ thống giao dịch các thành viên của thị trường OTC gửi các thông tin dưới dạng dữ liệu điện tử qua hệ thống mạng máy tính để chào bán chứng khoán, tìm kiếm, đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán chứng khoán Đồng thời thông qua đó thực hiện công bố thông tin về kết quả giao dịch, các báo giá và các Ihông tin thị trường khác tới các thành viên cũng như công chúng đầu tư

Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước mà có thể sử dụng các hệ thống giao dịch khác nhau Hệ thống giao dịch khác nhau sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác lập giao dịch giữa các bên tham gia (.ung như việc thực hiện các giao dịch, phưưng thức thanh toán và vấn đề quản lý thị trường O T C ,w

Do vậy việc lựa chọn hệ thống giao dịch giữ vai trò rất quan trọng

Cơ chế thanh toán: là quá trình chuyển giao tiền và chứng khoán vào tài khoản của kliách hàng Như vậy, thanh toán thể hiện một phần quá trình thực hiện hợp đồng mua bán chứng khoán Việc quy định rõ về cơ chế thanh toán

sẽ lao nên cơ sở pháp lý quan trọng giúp các bên thự£ hiện tốt hợp đồng mua bán chứng khoán

1.2.4 Điều kiện về thông tin trên thị trường chứng khoán OTC

Thông tin trên thị trường chứng khoán giữ một vai trò rất quan trọngtrong quá trình hoạt động và phát triển của thị trường chứng khoán Thông tintrên thị trường chứng khoán OTC ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý và lợi ích củanhà đầu tư, đến tính công khai, minh bạch của thị trường Một trong nhữngnguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường chứng khpán là ngnyên tắc^côni;

THƯ VI ỆN

ĨRỰÒJMG ĐẠI H Ọ C LŨẬT h a n ô i

Trang 22

khai thông tin Nguyên tắc này đòi hỏi các chủ thể tham gia thị trường phải công bố thông tin đầy đủ, kịp thời, trung thực.

Trên thị trường OTC các công ty chứng khoán là thành viên thị trường OTC phải tiến hành cung cấp thông tin giao dịch như báo cáo giao dịch, thông báo cho khách hàng vị thế của họ đối với các giao dịch đó, tỷ lệ hoa

h ồ n g ,w Đặc biệt đối với nhà tạo lập thị trường họ luôn luôn phải đưa ra giá chào mua và giá chào bán cũng như khối lượng chứng khoán sẩn sàng mua đối với loại chứng khoán mà mình làm nhà tạo lập thị trường Do vậy ngoài nghĩa vụ công bố thông tin như các thành viên khác thì nhà tạo lập thị trường phải có nghĩa vụ công bố thông tin đối với loại chứng khoán mà mình là nhà tạo lập thị trường như: Báo giá chắc chắn, báo giá tham khảo, khối lượng chứng khoán giao dịch, v v

Ngoài việc cung cấp thông tin bởi các thành viên thị trường OTC, các công ty có chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC cũng có nghĩa vụ công

bo thông tin để đảm bảo ràng nhà đầu tư trên thị trưòng OTC có thể nhận được các thông tin đầy đủ, kịp thời, trung thực về tình hình công ty có chứng khoán giao dịch trên thị trường Những thông tin này là cơ sở quan trọng giúp nhà đầu tư có thể đánh giá chính xác được mức độ tốt, xấu của hàng hoá(chứng khoán) lưu hành trên thị trường này từ đó có thể đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn Mặt khác, thông tin của công ty có chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC cũng là cơ sở để các công ty chứng khoán tư vấn cho khách hàng các loại chứng khoán nhằm thoả mãn tốt nhu cầu của khách hàng từ đó nâng cao chất lượng của hoạt động môi giới

1.2.5 Điều kiện về quản lý thị trường chứng khoán OTC

Thông thường thị trường chứng khoán OTC được tổ chức quản lý theo 2 cấp đó là cấp quản lý nhà nước và cấp tự quản

Câp quản lý nhà nước do cơ quan nhà nước có chức năng quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán thực hiện như Uv ban chứng khoán nhà nước

Trang 23

Cơ quan nhà nước này nhân danh nhà nước trực tiếp thực hiện hoạt động quản

lý dựa trên cơ sở các Luật chứng khoán và các luật có liên quan Hoạt động quản lý nhà nước trên thị trường chứng khoán OTC là cở sở pháp lý quan trọng để các các tổ chức tự quản ban hành các quy chế quy định việc tổ chức

và vận hành thị trường chứng khoán OTC Nội dung hoạt động quản lý nhà nước của cơ quan nhà nước đối với thị trường chứng khoán OTC như: Ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về thị trường chứng khoán OTC; Cấp, đình chỉ, thu hồi các loại giấy phép liên quan đến việc phát hành, đăng ký giao dịch trên thị trường OTC; Thanh tra, giám sát và xử lý các vi phạm trên th, trường chứng khoán OTC.VV

Bên cạnh sự quản lý của cơ quan nhà nước, các tổ chức tự quản giữ một vai trò rất quan trọng đối với thị trường OTC để thống nhất các nguyên tắc hoạt động cho các thành viên và tổ chức quản lý, giám sát lẫn nhau giữa các thành viên nhằm tạo ra mỏt môi trường kinh doanh tốt nhất cho hoạt động kinh doanh của các thành viên thị trường đồng thời tăng cường tính hấp dẫn của hoạt động đầu tư chứng khoán Các tổ chức tự quản thưừng cụ thể hoá các quy định của pháp luật thông qua việc đề ra các quy tắc, quy chế, tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp và giám sát việc thực hiện các quy tac, quy chế, tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp đó đối với các thành viên của tổ chức Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất Các quy tắc, quy chế, tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp này là căn cứ để đánh giá mức độ công bằng, minh bạch của hoạt động kinh doanh chứng khoán của các công ty chứng khoán và những người hành nghề kinh doanh chứng khoán Đồng thời các tổ chức tự quản cũng phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc xây dựng chính sách và pháp luật phát triển thị trường chứng khoán; w

Trang 24

CHƯƠNG II KINH N G H IỆM T ổ CHỨC VÀ VẬ N H À N H

TH Ị TRƯ ỜNG CHÚNG K H O Á N O TC CỦA M Ộ T s ố NƯỚC

TR ẼN TH Ế G IỚI 2.1 Hàng hoá giao dịch trên thị trường chứng khoán OTC.

2.1.1 Chứng khoán đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán OTC

Thị trường chứng khoán OTC Mỹ là mô hình thị trườnơ chứng khoán OTC điển hình NASDAQ là thị trường chứng khoán OTC vận hành qua mạng máy tính điện tử diện rộng, do Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Mỹ(NASD) thành lập từ năm 1971 Chứng khoán được giao dịch trên NASDAQ rất đa dạng nhưng “chủ yếu là chứng khoán của các công ty mới thành lập, công ty vừa và nhỏ, công ty công nghệ cao”[16 Tr 236] đã được đăng ký theo Luật giao dịch chứng khoán năm 1934 Để chứng khoán được giao dịch trên thị trường NASDAQ, tổ chức phát hành phải đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu mà Hiêp hội kinh doanh c h ứ n g khoán Mỹ(NASD) đặt ra như: Tổng giá tri tài sản công ty; Vốn và lợi nhuận; Số cổ phiếu do công chúng nắm giữ; Số lượng cổ đông; Số lượng nhà tạo lập thị trường đã đăng ký hoạt động cho loại chứng khoán này; Số năm hoạt động của tổ chức phát hành,vv Các loại chứng khoán này được chia ra thành những bảng giao dịch khác nhau tuỳ theo chất lượng của chứng khoán

Ngoài ra, đối với các chứng khoán chưa đủ điều kiện đăng ký giao dịch trên Sở giao dịch và thị trường NASDAQ còn được Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Mỹ(NASD) cũng cung cấp dịch vụ báo giá điện tử qua mạng NASDAQ cho các loại chứng khoán trên Thị trường giao dịch các loại chứng khoán đó được gọi là thị trường OTC BB (OTC Bullentin Board) [23 Tr 53] Việc quy định như vậy nhằm tạo điều kiện cho các loại chứng khoán của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tham gia giao dịch trên thị trường này

Trang 25

Bảng 2.1: Các tiêu chuẩn đối với chứng khoán giao dịch trên thị trường NASDAQ quốc gia (NNM) [15 Tr 16].

Điều kiện Niêm yết lần đầu Niêm yết bổ sung

p/a 1 p/a 2 p/a 3 p/a 1 và 2 p/a 3Tài sản hữu hình

thuần

6 triệu USD

18 triêu USD '

thuế (năm tài chính

cùng hoặc hai

trong 3 năm tài

chính cuối cùng)

1 triêu USD

N/A N/A N/A N/A

Số cổ phiếu đang

lưu hành ra công

chúng

1.1 triệu 1.1 triệu 1.1 triệu 750 1.1 triệu

Thời gian hoạt

18 triêu USD ‘

20 triêu USD '

5 triêu USD

15 triêu USD ‘

Trang 26

số lượng chứng khoán của công ty đang lun hành, ý kiến của kiểm toán về báo cáo tài chính của công ty.

Năm 1983, Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Nhật bản (JSDA) đã đưa

ra các biện pháp để nới lỏng tiêu chuẩn đăng ký nhằm tạo điều kiện cho các công ty vừa và nhỏ dễ ràng hơn trong việc tham gia thị trường vồn và tạo điều kiện để thị trường cung cấp nhiều sản phẩm hấp dẫn các nhà đầu tư Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Nhật ban (JSDA) đã quy định 2 tiêu chuẩn áp dụng đối với các tổ chức có chứng khoán đăng ký giao dịch trên thị trường JASDAQ Tiêu chuẩn I gồm các tiêu chí về tài sản và lợi nhuận tối thiểu hàng năm, ý kiến của kiểm toán,vv Tiêu chuẩn II gồm các yêu cầu về tỷ trọng vốn hoá tối thiểu trên thị trường tại thời điẻm đăng ký, số năm hoạt động tối thiểu

và tỷ lệ chi phí cho việc nghiên cứu và phát tr iể n ,w [23 Tr 57]

Năm 2000, Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Nhật bản (JSDA) lại thay đổi các tiêu chuẩn đăng ký nhằm tạo điều kiện cho các công ty mạo hiểm có

cơ họi đăng kv giao dịch trên thị trường JASL)AQ nhằm tạo điêu kiện cho các công ty trong tương lai có khả năng phát triển tốt, lợi nhuận tiềm năng cao chỉ cần đáp ứng được các yêu cầu quy định trong tiêu chuẩn I thì được đăng ký giao dịch trên thị trường JASDAQ Quy định này nhằm tạo điều kiện cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao tham gia thị trường JASDAQ

Ngoài ra, các chứnơ khoán không đủ điều kiện giao dịch trên thị trường JASDAQ và thị trường tập trung tại sở giao dịch cũng được hỗ trợ giao dịch qua mạng JASDAQ, tương tự như thị trường NASDAQ Mỹ Thị trường giao dịch cho những chứng khoán này được gọi là "thị trường bảng xanh" theo mô hình thị trường bảng hồng của Mỹ Tuy nhiên, khác với thị trường bảng hồng của Mỹ, các báo cáo kế toán của các công ty có chứng khoán giao dịch phải được kiểm toán viên độc lập hoặc công ty kiểm toán được cấp giấy chứng nhận xác nhận[23 Tr 66] Quy định này nhằm cung cấp cho nhà đầu tư có được những thông tin trung thực về loại chứng khoán này

Trang 27

Ở Hàn Quốc, thị trường chứng khoán OTC truyền thống được thành lập năm 1987 nhằm hỗ trợ giao dịch chứng khoán cho các công ty vừa và nhỏ Năm 1996, Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Hàn quốc (KSDA) quyết định

tổ chức lại thị trường này theo mô hình NASDAQ bằng cách thành lập thị trường mạng máy tính điện tử KOSDAQ nhằm tạo điều kiện cho các công ty mạo hiểm, công ty công nghệ cao, quỹ tương hỗ và các công ty vừa và nhỏ không đủ điều kiện niêm yết trên thị trường tập trung có thể huy động vốn trực tiếp [16 Tr 240] Các công ty niêm yết trên'thị trường KOSDAQ phải đáp ứng một số tiêu chuẩn cơ bản như: Tỷ lệ phát hành ra công chúng, mức vốn điều lệ tối thiểu, ý kiến của kiểm toán, w Các tiêu chuẩn đăng ký được quy định khác nhau giữa công ty mạo hiểm và công ty thường và công ty nước ngoài

Bảng 2.2: Tiêu chuẩn niêm yết đối với công ty thường và công ty nước ngoài [23 Tr 74]

Lĩnh vực Các tiêu chí chung

Thời gian thành lập 03 năm trở lên

Vốn điều lệ 500 triệu won hoặc nhiều hơn

Khả năng sinh lời Có thu nhập lãi trong năm hoạt động gần nhất trước đó

Tỷ lệ nợ trên vốn Dưới 1,5 lần so với tỷ lệ nợ trung bình của ngành

Tỷ lệ phân phối cổ

phiếu

Công ty trong nước: Trên 30% tổng số cổ phiếu đang lưu hành thuộc sở hữu ít nhất của 500 nhà đầu tư thiểu số Công ty nước ngoài: 50.000 chứng chỉ cổ phiếu thuộc sở hữu của ít nhất 100 nhà đầu tư nhỏ

ý kiến kiểm toán Chấp nhận toàn bộ hay từng phần

Chuyển nhượng cổ

phiếu

Không quy định giới hạn việc chuyển nhượng cổ phiếu trong điều lệ công ty hay trong bất kỳ quy định nội bộ nào

Mệnh giá 100, 200, 500, 1000, 2500 hoặc 5000 won

Ngoài ra, các chứng khoán không đáp ứng đủ điều kiện giao dịch trên thị trường KOSDAQ và sở giao dịch được tạo điều kiện giao dịch trên thị trường theo mô hình OTC-BB của Mỹ được gọi là “Thị trường thứ ba” Tuy

Trang 28

nhiên, các báo cáo tài chính năm gần nhất của các công ty có chứng khoán giao dịch phải được kiểm toán viên độc lập chấp thuận[15 Tr 53]

Như vậy, tuỳ theo pháp luật của mỗi nước mà chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC có quy định khác nhau Tuy nhiên, qua việc nghiên cứu chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC của một số nước nêu trên chúng ta thấy điểm chung đó là:

Thứ nhất: Chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC chủ yếu là các chứng khoán của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp mới được thành lập hoặc các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao

Thứ hai: Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể mà mỗi quốc gia có thể quy định những tiêu chuẩn khác nhau đối với từng loại chứng khoán nhằm đảm bảo chất lượng chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC

Thứ ba: Các chứng khoán không đáp ứng đủ điều kiện giao dịch trên thị trường OTC và sở giao dịch được tạo điều kiện 2Ìao dịch trên thị trường theo

mô hình OTC-BB của Mỹ,

Thứ tư: Các tổ chức phát hành chứng khoán phải đáp ứng được thời gian hoạt động tối thiểu, lợi nhuận các năm trước, báo cáo tài chính được kiểm toán,vv nhằm đảm bảo chứng khoán giao dịch trên thị trường có chất lượng cao

2.1.2 Đăng ký chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC

Tại Mỹ, chứng khoán muốn đăng ký giao dịch trên NASDAQ phải thoả mãn các yêu cầu về đăng ký giao dịch theo Luật chứng khoán Ngoài ra tổ chức phát hành chứng khoán đăng ký giao dịch trên NASDAQ phải nộp các báo cáo tài chính đã được kiểm toán và các chứng từ khác cho Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Mỹ(NASD) Chứng khoán siao dịch trên NASDAQ phải

có ít nhất hai nhà tạo lập thị trường có khả năng và đồng ý đưa báo giá trên hệ thống

Trang 29

Tại Nhật bản, chứng khoán muốn đăng ký giao dịch trên thị trường JASDAQ phải đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định của Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Nhật bản (JSDA) và phải đăng ký với Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Nhật bản (JSDA) Một số công ty thành viên của Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Nhật bản (JSDA) được gọi là “công ty chứng khoán thu xếp việc phát hành IPO” sẽ kiểm tra các điều kiện về một công ty phát hành [23 Tr 57] Nếu công ty thấy đáp ứng đủ tiêu chuẩn thì công ty sẽ thay mặt tổ chức phát hành nộp hồ sơ đó lên Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Nhật bản (JSDA) để Hiệp hội xem xét, chấp thuận cho đăng ký giao dịch.

Tại Hàn Quốc, chứng khoán muốn đăng ký giao dịch trên KOSDAQ, công ty phát hành phải được bảo lãnh bởi một tổ chức bảo lãnh phát hành Công ty chứng khoán bảo lãnh sẽ kiểm tra và gửi Đơn đăng ký sơ bộ cho Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Hàn Quốc (KSDA) cùng các giấy tờ liên quan Nếu được chấp nhận Hồ sơ đăng ký, tổ chức phát hành phải gửi Hồ sơ đăng ký cho ự ỷ ban Giám sáĩ chứng khoán (F»SS) đồng thời phát hành trên 5Ự% tổng

số lượng cổ phiếu ra công chúng cho trên 500 cổ đông nhỏ[23 Tr 71] Sau khi phát hành ra công chúng, tổ chức phát hành và công ty bảo lãnh phát hành cùng nhau gửi Đơn xin đăng ký giao dịch chính thức cùng mọi giấy tờ liên quan cho Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Hàn Quốc (KSDA)[23 Tr.71] Nếu thấy đủ điều kiện thì Hiệp hội sẽ cấp phép cho giao dịch loại chứng khoán đó

Như vậy, mặc dù các nước có quy định khác nhau về trình tự đăng ký chứng khoán nhưng việc đăng ký trước hết là trách nhiệm của công ty phát hành chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC Ngoài ra, một số nước còn quy định phải được sự chấp thuận của công ty chứng khoán giữ vai trò bảo lãnh hoặc kiểm tra điều kiện phát hành nhằm đảm bảo chất lượng của chứng khoán cũng như tính đại chúng của công ty đăng ký chứng khoán giao dịch trên thị trường chúng khoán OTC

Trang 30

2.2 Thành viên của thị trường chứng khoán OTC

Trên thị trường chứng khoán OTC, các thành viên của thị trường có thể tham gia với vai trò là nhà tạo lập thị trường hoặc thành viên không phải là nhà tạo lập thị trường

2.2.1 Thành viên không phải là nhà tạo lập thị trưòng

Tại thị trường Mỹ, Luật giao dịch chứng khoán năm 1934 điều chỉnh việc giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung và cả trên thị trường OTC Thành viên của thị trường OTC có thể là cá nhân hoặc tổ chức Tuy nhiên thành viên của thị trường này chủ yếu là các côns ty chứng khoán, tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán trên thị trường với hai vai trò cơ bản là môi giới và tự doanh chứng khoán Các công ty chứng khoán đều có thể trở thành thành viên của Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Mỹ(NASD) và được phép hoạt động trên thị trường OTC với tư cách nhà tự doanh và môi giới chứng khoán Các công ty này có tư cách pháp nhân, được thành lập dưới hình thức công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần Đe được kinh doanh chứng khoán, các công ty chứng khoán phải đáp ứng tiêu chuẩn mà Uỷ ban chứng khoán Mỹ quy định và phải đãng ký hoạt động với

Uỷ ban chứng khoán và gia nhập Hiệp hội kinh doanh chúng khoán Mỹ(NASD)[42 Tr 31]

Trong quá trình kinh doanh, công ty môi siới và tự doanh phải tuân thủ một số giới hạn như: Không được phép hành nghề khi chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn chuyên môn, kinh nghiệm và chưa được đào tạo; không được thực hiện các giao dịch bằng các thủ đoạn lôi kéo, dụ dỗ, lừa gạt khách hàng và có hành vi gian lận; không được tiết lộ thông tin về khách hàng nếu chưa được phép; không được sử dụng hoặc lạm dụng các thông tin chưa được phổ biến;vv

Trang 31

Ở Nhật bản, Điều 28 Luật chứng khoán và giao dịch chứng khoán Nhật bản 1948 quy định “Không một người nào ngoài công ty cổ phần đã được Bộ trưởng Tài chính cấp giấy phép có thể tiến hành việc kinh doanh chứng khoán” Như vậy, hình thức tổ chức của công ty chứng khoán phải là công ty

cổ phần Các côríg ty chứng khoán Nhật bản phải đuợc Bộ trưởng tài chính cấp giấy phép hoạt động mới có thể tiến hành việc kinh doanh chứns khoán trừ nhũng trường hợp bị cấm như Công ty cổ phần có tài sản ròng không đủ tiêu chuẩn theo quy định; Công ty cổ phần bị thu hồi đăng ký chưa quá 5 năm, vv

Ở Hàn quốc, Điều 28 Luật chứng khoán và giao dịch chứng khoán Hàn quốc 1976 quy định chủ thể kinh doanh chứng khoán phải là “công ty cổ phần được Bộ Tài chính và kinh tế cấp phép” đồng thời phải có vốn lớn hơn mức vốn mà Chính phủ quy định

2.2.2 Thành viên là nhà lạo lập thị trường

Thành viên là nhà tạo lập thị trường trước hết phải là thành viên thịtrường OTC Tại thị trường OTC Mỹ, một côns ty (hay một cá nhân) muốn làm nhà tạo lập thị trường cho một chứng khoán cụ thể trên OTC cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu đo Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Mỹ(NASD) đặt ra Một số điều kiện chủ yếu như: Phải đăns ký làm thành viên của Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Mỹ(NASD); Đáp ứng yêu cầu về vốn ròng tối thiểu

Sau khi đã trở thành nhà tạo lập thị trườns cho một loại chứng khoán nào đó trên thị trường OTC, nhà tạo lập thị trườn2 phải thực hiện những nghĩa

vụ của người tạo lập thị trường mà Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Mỹ(NASD) quy định như [23 Tr 32]:

- Liên tục cung câp báo giá hai chiều cho chứng khoán mà mình là nhàtạo lập thị trường

Trang 32

- Có khả năng và sẵn sàng thực hiện giao dịch ít nhất là một đơn vị giao dịch thông thường theo báo giá;

- Bảo đảm báo giá hợp lý so với giá thị trường hiện tại của chứngkhoán;

- Tuân thủ giới hạn chênh lệch giá tối đa cho phép;

- Báo cáo dữ liệu siao dich hàng tháng và các thông tin khác theo yêucầu của Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Mỹ(NASD);

- Báo cáo khối lượng giao dịch hàng ngày của loại chứng khoán mà mình chịu trách nhiệm tạo thị trường

Khi công ty chứng khoán nhận các lệnh đặt mua của khách hàng, công

ty tiếp xúc với những người tạo lập thị trường khác để lựa chọn các giá chào bán thấp nhất Trên thị trường NASDAQ, Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Mỹ(NASD) có quy định, một loại chứng khoán phải có ít nhất 2 nhà tạo lập thị trường đồng ý làm nhà tạo lập thị trường cho chứng khoán đó mới được đưa vao giao dịch

Ngoài ra, Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Mỹ(NASD) cũng quy định những trường hợp mà nhà tạo lập thị trường bị mất quyền làm nhà tạo lập thị trường, bị cấm đưa ra các báo giá trên hệ thống báo giá NASDAQ khi nhà tạo lập thị trường gặp khó khăn tài chính hay tình hình hoạt động kinh doanh có chiều hướng xấu có thể gây nguy hại cho các nhà đầu tư hoặc bị đình chỉ hay khai trừ khỏi tư cách thành viên của Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Mỹ(NASD) hoặc sở giao dịch chứng khoán quốc gia [23 Tr 33]

Các nhà tạo lập thị trường phải liên tục cung cấp báo giá hai chiều theo quy định của Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Mỹ(NASD) Có nhiều loại báo giá trên thị trường, ví dụ: Báo giá chắc chắn, Báo giá chắc chắn có điều chỉnh, Báo giá đặc biệt, Báo giá tham khảo,vv

Tại thị trường Nhậl bản, tháng 12/1998, một hệ thống các nhà tạo lập thị trường hoàn chỉnh tươnơ tự như thị trường NASDAQ đã được đưa vào hoạt

Trang 33

động nhằm tăng tính thanh khoản cho chứng khoán của các công ty vừa và nhỏ Cũng tương tự như trên thị trường NASDAQ, các nhà tạo lập thị trường trên thị trường JASDAQ có những nhiệm vụ như: Nhận lệnh mua hoặc bán chứng khoán tại mức giá mà họ báo trên thị trường và thực hiện các giao dịch đỏ; phải liên tục đưa ra các báo giá trên thị trườns; vv -

Tại Hàn Quốc, trên thị trường KOSDAQ, nhà tạo lập thị trường cũng được đưa vào sử dụng Tuy nhiên, nhà tạo lập thị trường trên KOSDAQ hoạt động với tư cách là nhà bảo lãnh và chỉ thực hiện hiện nhiệm vụ tạo lập thị trường trong vòng 1 tháng cho chứng khoán mà mình bảo lãnh trong thời hạn

6 tháng kể từ ngày chứng khoán được niêm yết trên KOSDAQ[23 Tr 81]

Như vậy, qua nghiên cứu pháp luật của một số nước chúng ta thấy thành viên của thị trường chứng khoán OTC chủ yếu là các công ty chứng khoán Để trở thành thành viên của thị trường chứng khoán OTC trước hết các công ty chứng khoán phải được cơ quan nhà nước quản lý thị trường cấp giấy phép hoạt động trong lĩnh vực môi giới hoặc tự doanh Ngoài ra, để trở thành thành viên thị trường chứng khoán OTC thì các tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu còn phải được tổ chức tự quản thị trường chấp nhận là thành viên của thị trường OTC Đối với công ty chứng khoán giữ vai trò là nhà tạo lập thị truờng cho một loại chứng khoán cụ thể thì ngoài việc là thành vién thị trường chửng khoán OTC, nhà tạo lập thị trường phải đáp ứns những những điều kiện nhất định như:

- Phải đáp ứng những tiêu chuẩn mà cơ quan quản lý thị trường đặt ra

- Phải đáp những điều kiện về vốn tối thiểu

- Phải thực hiện những nghĩa vụ của nhà tạo lập thị trường như cung cấp báo giá, thực hiện giao dịch, báo cáo giao dịch, w

Trang 34

2.3 Cơ chẽ vận hành của thị trường chứng khoán OTC

2.3.1 Hệ thống giao dịch

Thị trường OTC Mỹ là mô hình thị trường OTC điển hình, được phát triển từ thị trường tự do truyền thống với giao dịch qua thương lượng giá trực liếp và siao dịch bằng điện thoại Từ năm 1971, Hiệp hội kinh 'doanh chứng khoán Mỹ(NASD) cung cấp hệ thống thị trường báo giá điện tử tự động NASDAQ Thị trường NASDAQ vận hành thông qua hệ thống mạng máy tính điện tử két nối các nhà tạo lập thị trường, các công ty chứng khoán thành viên khác trên thị trường OTC và các nhà quản lý Thị trường này được vận hành bởi một hệ thống các nhà tạo lập thị trường và các nhà môi giới thông qua phươns tiện sử dụng màn hình hiển thị điện tử để hiển thị các báo giá của các nhà tạo lập thị trường, giao dịch và trao đổi thông tin thị trường Các công ty chứng khoán là thành viên của Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Mỹ(NASD)

đã đăna ký sử dụng hệ thống này sẽ có trạm đầu cuối kết nối với hệ thống nhằm tiếp cận được các báo giá chào mua, chào bán qua hệ thống từ đó có thể lựa chọn báo giá tốt nhất trong số các báo giá hiển thị để thỏa thuận và thực hiện giao dịch

Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Mỹ(NASD) còn tổ chức thị trường NASDAQ thành hai bộ phận thị trường quốc gia NNM (NASDAQ National Market system) và thị trường NASDAQ thông thường, đồng thời cung cấp nhiều dịch vụ báo giá của NASDAQ như: Hệ thống thực hiện lệnh nhỏ của thị

trường SOES (Small Oder Execution System), Dịch vụ xác nhận giao dịch tự

động (ACT - Automated confirmation system), w [15 Tr 25-26]

Ngoài ra, đối với thị trường ngoài NASDAQ, Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Mỹ(NASD) còn cung cấp dịch vụ báo giá điện tử qua mạng NASDAQ cho chứng khoán không đủ điều kiện niêm yết trên thị trường tập trung và thị trường NASDAQ Hệ thống báo giá điện tử này được gọi là báo giá trên Bảng tập san OTC (còn được gọi là OTC BB - OTC Bullentin Board],

Trang 35

thường được gọi là “Những trang hồng” điện tử cho những chứng khoán ngoài NASDAQ Các báo giá trên các trang hồng này chỉ là báo giá có tính chất tham khảo không phải là các giá giao dịch thực sự.

Đối với thị trường OTC Nhật bản, thị trường OTC truyền thống hoạt động từ năm 1963; sau đó Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Nhạt bản (JSDA) tìm cách hỗ trợ giao dịch OTC và thành lập công ty chứng khoán OTC Nhật bản (tiền thân của công ty dịch vụ JASDAQ) và đưa vào hệ thống giao dịch đấu lệnh tương tự như hệ Ihống giao dịch của sớ giao dịch chứng khoán Năm

1991, Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Nhật bản (JSDA) đã xây dựng hệ thống JASDAQ, vận hành hệ thống giao dịch khớp lệnh tự động và hệ thống thông tin có thể công bố những thông tin báo giá và thông tin về kết quả thoả thuận Tháng 12/1998, Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Nhật bản ỢSDA) đã đưa vào hoạt động một hệ thống nhà tạo lập thị trường hoàn chỉnh tương tự như NASDAQ nhằm tạo tính thanh khoản của chứng khoán

Ngoài ra, đến tháng 7/1997, Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Nhật bản (JSDA) đã cho phép các công ty chứng khoán mời chào khách hàng mua, bán loại chứng khoán không đủ điều kiện niêm yết trên các sở giao dịch và thị trường JASDAQ nhưng phải báo cáo với Bộ Tài chính Thị trường giao dịch những loại chứng khoán này được gọi là "thị trường bảng xanh", theo mô hình thị trường bảng hồng của Mỹ [23 Tr 66]

Như vậy, hệ thống giao dịch trên thị trường OTC có thể phân chia thành hai hệ thống giao dịch đó là hệ thống giao dịch theo cơ chế đấu lệnh và hệ thống giao dịch theo cơ chế đấu giá với các nhà tạo lập thị trường Ví dụ như thị trường JASDAQ Nhật Bản sử dụng kết hợp hệ thống giao dịch đấu giá với

hệ thống giao dịch đấu lệnh Còn thị trường Hàn Quốc sử dụng hệ thống giao dịch đấu lệnh trên thị trường KOSDAQ

Nếu thị trường OTC sử dụng hệ thống đấu lệnh, các lệnh đặt mua hoặc bán được đặt tập trung thông qua các công ly chứng khoán vào máy chủ của

Trang 36

thị trường OTC và lệnh này được khớp trên cơ sở các ưu tiên của thị trường về giá, khối lượng, gian th ờ i,w

Mô hình 2.1: Hệ thống giao dịch theo cơ chế đấu lệnh đơn thuần

Báo cáo giao dịch

Báo cáo giao

Hệ thống giao dịch trung tâm

Quy trình thực hiện lệnh:

(1) Nhà đầu tư A đặt lệnh mua 100 chứng khoán A với giá 10.000 đồngtại công ty chúng khoán A đồng thời Nhà đầu tư B cũng đật lệnh bán 100 chứng khoán A với giá 10.000 đồng tại công ty chứng khoán B Hai công tyđều nhập dữ liệu vào hệ thống giao dịch trung tâm thông qua máy tính tạicông ty

(2) Hệ thống giao dịch trung tâm xử lý và khớp lệnh Sau khi lệnh được thực hiện, hệ thống sẽ tự động truyền báo xác nhận gian dịch tới hai công ty chứng khoán

(3) Công ty chứng khoán báo cáo giao dịch cho nhà đầu tư

Nói đến thị trường OTC hiện đại là nói đến hệ thống giao dịch theo cơchế đấu giá với các nhà tạo lập thị trường Đây là hệ thống tiêu biểu với những đặc tính ưu việt, đặc biệt là tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán, và rất thích hợp cho thị trường OTC

Trang 37

Mô hình 2.2: Hệ thống giao dịch theo cơ chế đấu giá với các nhà tạo lập

Quy trình thực hiện lệnh:

(1) Nhà môi giới A - người nhận lệnh từ khách hàng của mình đặt lệnh

cho nhà tạo lập thị trường A - là người đưa ra mức báo giá tốt nhẩt trên hệ

thống giao dịch OTC

(2) Khi nhận lệnh từ nhà môi giới A chuyển tới, nhà tạo lập thị trường

A lập tức thoả thuận với nhà môi giới A dựa trên mức giá mà mình đưa ra,

đồng thời ký hợp đồng và công bố thông tin có liên quan trên hệ thống giao dịch trung tâm OTC Khi lệnh của nhà môi giới A không thể khớp với mức báo giá mà nhà tạo lập thị trường A đưa ra, nhà tạo lập thị trường A sẽ lưu lệnh đó cho đến khi báo giá của mình khớp được với lệnh của nhà môi giới A

(3) Khi nhà môi giới A có được kết quả thoả thuận, nhà môi giới A sẽ đồng thời chuyển kết quả tới khách hàng của mình và cho hệ thống OTC

Trang 38

- Thanh toán vào ngày kế tiếp sau ngày giao dịch (T +l).

- Giao dịch có thời hạn thanh toán do người bán quyết định: có thể kéo dài tối đa tới 60 ngày kể lừ ngày giao dịch Loại thanh toán này thường được

áp dụng khi người bán không thể chuyển giao chứng khoán trong thời hạn của các hình thức thanh toán khác Những người bán muốn áp dụng hình thức thanh toán này thường phải chấp nhận mức giá bán thấp hơn cho người mua

- Thời hạn thanh toán do người mua quyết định: Hình thức này cho phep người mua được nhận chứng khoán vào một thời hạn cụ thể

Tại Nhật, chứng khoán trên thị trường OTC được chuyển giao và thanh toán vào ngày thứ 4 kể từ ngày diễn ra giao dịch (T+4).Ngoài ra, thanh toán còn được thực hiện trên cơ sở thương lượng giữa các bên [23 Tr 64]

Tại Hàn Quốc, việc thanh toán được thực hiện trên cơ sở 2 ngày làm việc từ khi thực hiện giao dịch [23 Tr 79]

Như vậy, thị trường OTC có hình thức giao dịch thoả thuận giá diễn ra rất đa dạng, do đó cơ chế thanh toán trên thị trường này cũng rất đa dạng Các giao dịch thoả thuận trên thị trường OTC thường là trực tiếp giữa khách hàng với công ty chứng khoán hoặc giữa các công ty chứng khoán với nhau, do đó vịêc thanh toán và chuyển giao chứng khoán nsoài các hình thức quy định chung có thể thực hiện theo sự thoả thuận giữa hai bên như bù trừ song phương, thanh toán theo từng giao dịch, thanh toán theo thoả th u ậ n ,w

Ngày đăng: 25/02/2020, 21:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm