1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế một số vấn đề lý luận và thực tiễn

97 221 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 9,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dự thảo này trở thành Điều VI của Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan GATT 1947, được nhiều nước coi như luật mẫu về chống bán phá giá để xây dựng pháp luật của nước họ về chống b

Trang 2

TR Ư Ờ N G ĐẠI HỌC LUẬT TR Ư Ờ N G Đ Ạ I HỌC T ổ N G H Ợ P

N G U Y ỄN T H Ị Q U Ỳ N H VÂN

PHÁP LUẬT VỂ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TÊ

Chuyên ngành: Luật K inh tê

M ã số: 60 38 50

LU Ậ N VĂN TH Ạ C SỸ L U Ậ T HỌC • • •

Người hướng dẫn khoa học

TS H oàng Phước H iệp G S.T S Jasm ine SC H M EID L E R

THƯ VIỆNĨRƯỜNG ĐẠI HOC LUẬT HÀ NỘI

HÀ N Ộ I - N Ă M 2004

Trang 3

L Ờ I C Ả M Ơ N

Tôi xin cảm ơn Bà Jasm in e S C H M E ID L E R , G iáo sư - T iến sỹ L u ậ t H ọc,

Đ ại học P aris II vì n h ữ n g chỉ d ẫn Bà đ ã n h iệ t tìn h tru y ề n thụ ch o tôi từ khi xây dựng đề cương lu ận văn N h ữ n g chỉ d ẫn ấy đ ã đ ộ n g viên, k h íc h lệ tôi rất n h iều đ ể h o à n th àn h lu ận văn này

T ôi xin cả m ơn th ầy hư ớng d ẫn , T iến sỹ H o àn g Phư ớc H iệp, V ụ trưởng V ụ

P háp lu ật Q u ố c tế, Bộ T ư p h áp vì sự tận tâ m và n h ữ n g lời k h u y ê n quý báu

th ầy đ ã g iàn h cho tôi tro n g việc đ ịn h hư ớ n g cũ n g n h ư thực h iệ n lu ận văn

Trang 4

M Ụ C L Ụ C

MỞ ĐẨU

CHƯƠNG I: MỘT s ố VẤN ĐỂ LÝ LUẬN c ơ BẢN CỦA PHÁP LUẬT Trang CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Phần I: Lịch sử hình thành và phát triển chê định pháp luật chống bán phá giá

trong thương mại quốc tê

1 Hoa K ỳ 01

2 Liên minh Châu  u 02

3 W T O 03

Phần II: Nhũng nội dung cơ bản của chế định pháp luật chống bán phá giá trong thương mại quốc tế 1 Khái niệm phá giá

a Định nghĩa thuật ngữ “bán phá giá” 06

b Định nghĩa “bán phá giá” trong điều ước quốc t ế 07

2 Khái niệm giá xuất khẩu và giá trị thông thường

a Khái niệm giá, giá cả và giá trị của hàng h ó a 08

b Khái niệm giá xuất khẩu và giá trị thông thường 09

c Xác định giá xuất khẩu và giá trị thông thường 09

3 Khái niệm biên độ phá g i á 11

4 Thiệt hại vật chất và quy tắc xác định thiệt hại vật chất

a Khái niệm thiệt hại vật chất .7. 12

b Xác định thiệt hại vật chất/Nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất SPTT 12 trong nước

c Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi bán phá giá và thiệt hại vật c h ấ t 12

5 Quy trình điều tra chống bán phá g i á

a Nộp đơn yêu cầu tiến hành điều tra chống bán phá giá 13

b Thu thập thông t i n 14

c Biện pháp áp d ụ n g 15

6 Thuế chống bán phá g i á

a Khái n iệ m 18

b Các hình thức thuế chống bán p h á 18

Phần III: Ý nghĩa kinh tê của việc bán phá giá 20

Trang 5

CHƯƠNG II: PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ THỰC TIỄN ÁP

DỤNG CỦA WTO VÀ MỘT s ố NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Phần A: Hiệp định Chống bán phá giá của WTO và Thực tiễn áp dụng

1 Xác định việc bán phá g iá 23

2 Xác định thiệt h ạ i 25

3 Ngành sản xuất SPTT trong nước 27

4 Nộp đơn yêu cầu tiến hành điều tra chống bán phá g iá 27

5 Thu thập thông t i n 28

6 Áp dụng biện pháp tạm th ờ i 29

7 Cam kết g iá 29

8 Áp dung thuế và thu thuế chống bán phá g iá 30

9 Truy thu th u ế 31

10 Rà s o á t 32

11 Thông báo công khai và giải thích các kết lu ậ n 32

12 Cơ chế khiếu kiện độc lậ p 33

13 Chống bán phá giá thay mặt nước thứ b a 33

14 Thành viên đang phát triể n 34

15 Uỷ ban chống bán phá g iá 34

16 Trao đổi và giải quyết tranh c h ấ p 34

// Thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO 1 Tổng quan tình hình giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá của W T O 35

2 Thực tiễn vụ việc Bangladesh vận dụng quy định của WTO trong vụ tranh 37 chấp với An Độ về việc áp dụng không đúng quy định thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm pin từ Bangladesh

Phần B: Pháp luật chống bán phá giá của EU và Thực tiễn áp dụng / Nội dung quy định pháp luật về chống bán phá giá của EU 41

1 Cơ quan điều tra chống bán phá g iá 41

2 Xác định phá giá và thiệt h ạ i 42

3 Thủ tục điều tra chống bán phá g iá 44

4 Cách tính thuế và truy thu th u ế 48

5 Rà soát (“điều khoản hoàng hôn”) 50

II Thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá của EU 51 1 S ơ lược tình hình điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá của EU 51

Trang 6

2 Thực tiễn vụ việc Văn phòng BEƯC kiện Uỷ ban Châu Âu ra trước Toà án 53 yêu cầu điều tra chống bán phá giá sản phẩm cotton chưa tẩy trắng nhập khẩu từ CHND

Trung Hoa, Ai Cập, ấn độ, Inđônêxia, Pakistan và Thổ Nhĩ Kỳ

Phần C: Pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ và Thực tiễn áp dụng / Nội clung quy định pháp luật về chống bán phá giá của Hoa Kỳ 61 1 Văn bản pháp quy về chống bán phá giá của Hoa K ỳ 61

2 Điều tra để áp dụng thuế chống bán phá g iá 62

3 Nguyên tắc xác định giá trị thông thường và giá xuất k h ẩ u 63

4 Áp dụng thuế chống bán phá giá 63

5 Thực tiễn điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá của Hoa K ỳ 64

// Thực tiễn áp dụng pháp luật vê' chống bán phá giá cùa Hoa Kỳ 65 Plìàii tích những đánh giá của Hoa Kỳ vê tính phi thị trường của nền kinh tế Việt Nam trong vụ việc Hoa Kỳ kiện Việt Nam bán phá giá cá tra, cá basa tại thị trường Hoa Kỳ CHƯƠNG III: MỘT s ố KIÊN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỂ CHồNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Phần I: Thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá 1 Tổng quan Hệ thống pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá và việc thực thi 72 pháp luật về chống bán phá g iá

a Về hệ thống văn bản pháp l ý 72

b Về thực tiễ n 73

2 Pháp lệnh Chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt nam - sự tiến bộ của 74 Hệ thống Pháp luật Việt Nam về chống bán phá g iá

a Phạm vi, đối tượng điều ch ỉn h 74

b Nội d u n g 74

c Một số nhận xét về sự tương thích của Pháp iệnh Chống bán phá giá hàng hóa 75 nhập khẩu vào Việt Nam với các quy định về chống bán phá giá của WTO 1 !

Phần II: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế 1 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam theo 79 hướng phù hợp với các quy định của WTO trong thương mại quốc t ế

a Hoàn thiện Chế định Pháp luật về chống bán phá g iá 79

b Về tổ chức bộ máy thực thi Pháp lệnh chống bán phá g iá 80

2 Về đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao năng lực của các thiết chế Nhà nước và 81 doanh nghiệp liên q u a n

Trang 7

a Các cơ quan quản lý nhà nước 81

b Các cơ quan nghiên c ứ u 82

c Đào tạo nguồn nhân lực ở các lĩnh vực liên q u a n 82

d Các doanh nghiệp 82

3 Về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Pháp luật về Chống bán phá g iá 83

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

L Ờ I M Ở Đ Ầ U

T rong bối cảnh nền kinh tế V iệt N am đang chuyển đổi theo hướng m ột nền kinh tế thị trường, các hoạt động thương m ại quốc tế do các doanh nghiệp Việt N am thực hiện ngày càng nhiều hơn và phức tạp hơn N hững tranh chấp quốc tế về thương m ại m à V iệt N am là m ột bên tham gia cũng tăng lên Chúng

ta có thể kể ra số lượng những cuộc điều tra chống bán phá giá đối với hàng hóa xuất xứ từ V iệt N am trong thương m ại quốc tế đ ã thường xuyên xảy ra vào những năm gần đây

Với tinh hình trên, việc thựchiện nghiên cứu về các hệ thống luật pháp

về chống bán phá giá tiêu biểu trong thương m ại quốc tế đã trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết V iệt N am cũng đã bắt đầu xây dựng hệ thống luật pháp về chống bán phá giá của quốc gia theo hướng phù hợp với các nguyên tắc của luật pháp quốc tế về chống bán phá giá

T rong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi sẽ đề cập đến m ột số vấn

đề sau đây:

- Chương 1 nêu N hững vấn đề lý luận chung về pháp luật chống bán

p h á giá trong thương m ại quốc tế

- Chương 2 nêu N ội dung chủ yếu và việc thực thi luật pháp chống bán phá giá W T O và của m ột số nước tiêu biểu

- Chương 3 nên M ột số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật V iệt

N am về chống bán phá giá trong thương m ại quốc tế

Đ ể đạt được các m ục tiêu nêu trên, chúng tôi phải sử dụng phương pháp phân tích m ộ t số văn bản quan trọng về chống bán phá giá để thực hiện m ột số nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- nghiên cứu về các nội dung cơ bản củ a pháp lu ật chống bán phá giá trong thương m ại quốc tế

- nghiên cứu các nội dung cụ thể của H iệp định chống bán phá giá của W TO và các quy định, luật lệ về chống bán phá giá của E U và

Trang 9

Hiệp định Chung về Thương mại và T huế quan (General A greem ent on Tariffs and Trade)

Tổ chức Thương mại Quốc Tế (International Trade Organization)

Tổ Chức Thương mại th ế giới (W orld Trade Organization)

Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (Dispute Settlement Body)

Quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp (Understanding on Rules and Procedures Governing the Settlement oí' Disputes)

Cơ quan xét xử Phúc thẩm của W TO (Appelate Body)

Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (European Econom ic Com m unity)Liên minh Châu Âu

(European Union)

Ưỷ ban Châu Âu (European Com m ission)Văn phòng Châu Âu của Liên minh những người tiêu dùng

(Bureau cPEurope de 1’Union des Consom m ateurs)Hiệp Hội Nuôi cá Da trơn Hoa Kỳ

(Catfish F arm er’s A ssociation)Doanh nghiệp N hà Nước Đầu tư Nước ngoài Trách nhiệm hữu hạn

Trang 10

N gân Hàng Trung ương

N gân Hàng Thương mại N hà Nước Tổng sản phẩm quốc nội

Gross Domestic Products

Trang 11

CHƯƠNG I

M Ộ T SỐ V Ấ N Đ Ể L Ý L U Ậ N c ơ B Ả N C Ủ A P H Á P L U Ậ T

C H Ố N G B Á N P H Á G IÁ T R O N G T H Ư Ơ N G M Ạ I Q U Ố C T Ế

I LICH SỬ HÌNH THẢNH VẢ PHẮT TRĩỂN CHẾ ĐINH PHÁP LUẰT CHỔNG

BẢN PHẢ GIẢ TRONG THƯƠNG MAI ouổc TẾ

Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của chế định pháp luật về chống bán phá giá, chúng ta có thể thấy Pháp luật về chống bán phá giá đã ra đời từ những năm đầu của thế kỷ trước, khi m à kinh tế thế giới đã phát triển nở rộ, giao thương đi lại dễ dàng Trên con đường xây dựng và hoàn thiện chế định pháp luật này, Hoa Kỳ là nước

đi tiên phong ban hành ra m ột bộ luật chống bán phá giá Tiếp theo đó, trong quá trình đàm phán thành lập Tổ chức thương mại quốc tế (ITO) sau Đại chiến Thế giới II, một điều luật về chống bán phá giá đã được Hoa Kỳ khởi xướng, là tiền đề cho điều VI về chống bán phá giá của GATT 1947 và Hiệp định chống bán phá giá của Tổ chức Thương mại Thế giới (W TO) sau này Các quy định về chống bán phá giá của EU cũng lẩn lượt ra đời

Trong phạm vi của luận văn này, tôi xin giới thiệu tóm tắt lịch sử hình thành và phát triển hai hệ thống pháp luật chống bán phá giá tiêu biểu của Hoa Kỳ và EU, và sự hình thành pháp luật chống bán phá giá của WTO

1 Hoa Kỳ:

Văn bản pháp luật về chống bán phá giá đầu tiên của H oa Kỳ là Luật chống phá giá năm 1916 Luật này buộc các bên bán phá giá hàng hóa nước ngoài tại Hoa Kỳ phải bồi thường tổn thất do họ gây ra trên cơ sở bản án của Tòa án Tối cao liên bang Tuy vậy, Luật chống bán phá giá năm 1916 yêu cầu các bên nguyên đơn phải chứng

m inh động cơ bán phá giá của đối phương là m ột quy định rất khó có khả năng thực thi Đây là lý do Nghị viện Hoa Kỳ ban hành m ột đạo luật mới thích hợp hơn vào năm

1921, đã giao trách nhiệm điều tra các hành vi bán phá giá và ấn định mức thuế chống bán phá giá cho Bộ N gân khố Hoa Kỳ (Departm ent o f Treasure)

Là thành viên của GATT, năm 1979, Nghị viện H oa Kỳ thông qua một đạo luật mới về thực thi các hiệp định thương mại (Trade A greem ent A ct), trong đó có quy định liên quan đến việc điều tra, áp dụng thuế chống phá giá Luật này chấp nhận Bộ luật chống phá giá của GATT năm 1967, ghi nhận lại toàn bộ Luật chống bán phá giá năm

1921 và chuyển giao cho Bộ Thương mại Hoa Kỳ đảm nhận nhiệm vụ điều tra bán phá giá

1

Trang 12

Pháp luật về chống bán phá giá của Hoa Kỳ sau đó còn được tiếp tục sửa đổi, bổ sung thông qua việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan Năm

1984, Luật thương mại và thuế quan (Trade and Tariff A ct 1984) đã được bổ sung Tiết

VI nhằm điều chỉnh các quy định liên quan đến cách tính toán tổng hợp lượng hàng nhập khẩu từ các nước là đối tượng bị điều tra và mức độ đe doạ về thiệt hại vật chất do việc bán phá giá hàng hóa nhập khẩu từ các nước nói trên m ang lại cho ngành hàng tương tự trong nước Mĩ Năm 1988, Luật về Tổng tắc Thương mại và Cạnh tranh (Omnibus Trade and Competitiveness Act 1988) đã được bổ sung các vấn đề liên quan đến tình tiết khủng hoảng thiệt hại vật chất và về sự đe dọa thiệt hại vật chất và một số quy định khác

Sau khi WTO ra đời trên cơ sở kết quả đàm phán của vòng Uruguay vào năm

1995, các quy định của Hoa Kỳ về chống bán phá giá phải tuân thủ theo Hiệp định về chống bán phá giá của WTO Trên cơ sở đó, Hoa Kỳ đã ban hành Quy định về chống bán phá giá và chống trợ cấp vào năm 1997, trong đó hướng dẫn tiến trình thực hiện về điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá

Bên cạnh các đạo luật chính về chống bán phá giá nêu trên, cần lưu ý Hoa Kỳ là một nước theo truyền thống án lệ nên để hiểu biết được thể chế pháp luật về chống bán phá giá thì không thể không tính đến các án lệ của Toà án và các quy định trước đây của Bộ Thương mại (DOC) và Uỷ ban Thương mại Quốc tế (ITC) về các vụ việc tương tự

2 Liên minh Châu Âu:

Từ năm 1948, vòng đàm phán GATT đã tăng cường các biện pháp chống lại các hiện tượng thương mại không lành mạnh Hiệp ước của Cộng đồng Châu âu đã đưa mục tiêu này vào k ế hoạch của Cộng đồng; và áp dụng cả với những nước không phải

là thành viên thông qua các chính sách thương mại chung (điều 113 Hiệp ước của Cộng đổng Châu Âu)

Do đã có những khác biệt sâu sắc giữa hệ thống luật pháp của các quốc gia của Cộng đồng Châu Âu, và ở 3 trong số các quốc gia thành viên của Cộng đồng Châu Âu lúc đó còn chưa hề có các biện pháp chống phá giá; chính sách chống phá giá của Cộng đồng được tãng cường m ột lần nữa, khi Hội đồng Châu Âu phê chuẩn một chương trình hoạt động vào năm 1962 nhằm thống nhất hóa các biện pháp tự vệ khác nhau hiện đang tồn tại trong hệ thống luật pháp của các nước thành viên Tiếp theo đó, một dự thảo Quy định về chống bán phá giá đã được Uỷ ban thông qua vào năm 1965

Năm 1967, Hiệp ước thực hiện điều VI của Hiệp định Chung về Thương mại và Thuế quan (GATT) đã được ký kết tại Genevơ, và ban hành ra "Bộ luật chống phá giá" Các bên ký kết bày tỏ nguyện vọng "tuân thủ các quy định của điều VI của Hiệp định Chung và soạn thảo các văn bản để áp dụng quy định này nhằm đem lại sự thống nhất hoá cao hơn giữa các nước cũng như đảm bảo việc thực hiện Hiệp ước."

Trang 13

Bộ luật chống phá giá này chính là cơ sở cho việc ban hành Quy định đầu tiên của Cộng đồng Châu Âu về chống phá giá số 459/68/CEE Quy định này sau đó được sửa đổi khá nhiều lần.

Sau đó, vòng đàm phán Tokyo thắng lợi vào năm 1979 với việc thông qua một

Bộ luật về Chống phá giá mới và m ột Hiệp định mới về các quy định của các điều VI, XVI và XXIII của Hiệp định chung và thực hiện chúng Quy định của Cộng đồng số 459/68/CEE do vậy được thay thế bởi Quy định số 3017/79/CEE của Hội đồng Châu

Âu ngày 20/12/1979 Quy định này sau đó được thay thế bởi Quy định số 2176/84/CEE của Hội đồng ngày 23 tháng 7 năm 1984

Tuy nhiên, cùng với những kinh nghiệm có được trong qúa trình áp dụng, Cộng đổng Châu Âu thấy rằng cần phải bổ sung Quy định trên để có thể kiểm soát tốt hơn các hành vi phá giá được ngụy trang bằng việc nhập khẩu vào Cộng đồng các bộ phận của sản phẩm để lắp ráp Đó là lý do m à Quy định số 1761/87/CEE của Hội đồng Châu

Âu về chống đưa hàng đi vòng (tournevis) được thông qua

- Năm 1988, Quy định số 2423/88/CEE ngày 11 tháng 7 năm 1988 của Hội đổng được ban hành thay thế cho các Quy định 2176/84/CEE và 1761/87/CEE, và đưa

ra m ột số định nghĩa và quy tắc cụ thể

Đối với những sản phẩm được điều chỉnh bởi Hiệp định CECA (than và thép),

u ỷ ban Châu Âu đã thông qua một Quyết định số 2424/88 ngày 29 tháng 7 năm 1988 nhắc lại tinh thần của Quy định số 2423/88 ngày 11 tháng 7 năm 1988 của Hội đồng

Đến lượt Quy định số 2423/88/CEE bị thay th ế bởi Quy định số 384/96/CE của Hội đồng ngày 22 tháng 12 năm 1995 Cho đến nay, qua nhiều lần sửa đổi, Quy định

số 384/96/CE vẫn đang có hiệu lực

- Ngoài các quy định căn bản nêu trên về vấn đề bảo vệ Cộng đồng chống lại việc nhập khẩu các sản phẩm là đối tượng của bán phá giá từ các nước ngoài Cộng đổng, cũng cần phải nhắc đến Quy định số 2641/84 về "tăng cường các chính sách thương mại chung, đặc biệt là trong hoạt động chống các hành vi thương mại không lành mạnh"; Quy chế về các nước có nền kinh tế phi thị trường

Năm 1984, Hội đồng cho rằng việc tăng cường các chính sách thương mại chung trong những lĩnh vực không được bảo hộ bằng hệ thống pháp luật hiện có là điều tối cần thiết Quy định số 2641/84 cho đến nay vẫn còn hiệu lực

Trong quá trình đàm phán để thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO), Hoa Kỳ đã trình Dự thảo các điều khoản về chống bán phá giá dựa trên cơ sở Luật

3

Trang 14

chống phá giá năm 1921 của Hoa Kỳ Dự thảo này trở thành Điều VI của Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan GATT 1947, được nhiều nước coi như luật mẫu về chống bán phá giá để xây dựng pháp luật của nước họ về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế:

"Các bên ký kết thừa nhận rằng phá giá, mà thông qua đó hàng hóa của một nước được nhập vào thị trường của một nước khác ở mức thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó, bị kết tội nếu như nó gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại vật chất cho một ngành công nghiệp đã được thiết lập tại lãnh thổ của một nước ký kết hoặc làm chậm trễ sự hình thành của ngành công nghiệp tại nước đ ó.” - Điều VI: 1 GATT 1947

Điều VI của GATT phê phán rằng phá giá sẽ gây ra thiệt hại, và tuy không cấm các hành vi phá giá, Điều VI cho phép các nước nhập khẩu thực hiện các biện pháp nhằm loại bỏ những hành vi phá giá gây thiệt hại Mục tiêu này cũng được tuân thủ một cách lôgíc bởi định nghĩa về phá giá như là sự phân biệt đối xử về giá cả được thực hiện bởi các công ty tư nhân GATT đề cập đến hành vi của các Chính phủ và do vậy không thể ngăn cấm phá giá bởi các công ty tư nhân Hơn nữa; các nước nhập khẩu có Ihể tìm thấy lợi ích của họ khi chống lại các hành vi phá giá; ví dụ như bởi những nhà công nghiệp của họ có thể có lợi từ các mức giá thấp

Tuy nhiên, mặc dù cho phép khả năng áp dụng các biện pháp hạn chế số lượng, luật lệ của GATT ghi nhận một cách chi tiết các tình huống có thé áp dụng các biện pháp chống phá giá m à các nước thành viên phải tuân thủ, tránh sự lạm dụng các biện pháp hạn chế số lượng

Kể từ năm 1947, việc chống phá giá đã được đặc biệt chú trọng tại GATTẠVTO trong các kỳ họp của họ Tiếp theo một nghiên cứu của Ban Thư ký GATT năm 1958

về các luật lệ về phá giá của quốc gia, m ột nhóm chuyên gia đã được hình thành và vào năm 1960 đã thống nhất về m ột số các cách hiểu chung về các thuật ngữ trìu tượng trong Điều VI

Bộ luật chống phá giá (The GATT Antidum ping Code - GATT/ADC) đã được thảo luận trong suốt vòng đàm phán Kenedy năm 1967 và được 17 nước ký kết cùng năm đó Bộ luật này tiếp thu có chọn lọc các quan điểm ở Điều VI của GATT 1947 và

bổ sung những quy định về tố tụng nhằm điều tra việc bán phá giá Bộ luật này được sửa đổi trong vòng đàm phán Tokyo (1973-1979), do GATT 1947 được sửa đổi Bộ luật của vòng đàm phán Tokyo có 25 nước ký kết, m à Cộng đồng Kinh tế Châu Âu được coi như 1 nước

Tại vòng đàm phán Urugoay thành lập Tổ chức Thương mại thế giới, mặc dù Bộ luật năm 1979 đã được dẫn chiếu trong Tuyên bố của các Bộ trưởng trong Vòng đàm phán Urugoay, và trước đó là tại các cuộc đàm phán của các bên ký kết GATT, kể cả

EC H ồngKông, Nhật bản, Hàn Quốc và Mỹ đã đề xuất các sửa đổi Bộ luật năm 1979

4

Trang 15

Các nước đã thông qua Hiệp định về việc thực hiện Điều VI của GATT 1994 (gọi tắt là Hiệp định về chống bán phá giá 1994) và đưa vào hệ thống các hiệp định đa biên về thương mại quốc tế, mặc nhiên có hiệu lực đối với các nước là thành viên của Hiệp định thành lập WTO kể từ ngày 01/01/1995.

Chúng ta đã vừa tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển của chế định pháp luật về chống bán phá giá của WTO cũng như của hai thị trường tiêu biểu trong thươngmại quốc tế là Hoa Kỳ và EU

Vậy những nội dung cơ bản của chế định Pháp luật chống bán phá giá như thếnào?

Những phần sau của luận văn này sẽ giải đáp câu hỏi trên bằng việc trình bày những nguyên tắc cơ bản của Chế định Pháp luật về chống bán phá giá nói chung, cũng

là nguyên tắc của các hệ thống pháp luật chống bán phá giá trên thế giới

Tuy nhiên, trong khuôn khổ hạn chế của luận văn này, tôi không có tham vọng

sẽ xử lý hết tất cả các vấn đề của chế định Pháp luật về chống bán phá giá, m à chỉ giới hạn nghiên cứu trong phạm vi sau đây:

- N ghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản của c h ế định pháp luật chống bán phá giá trong thương m ại quốc tế

- N ghiên cứu những quy định cơ bản của Pháp luật về chống bán phá giá trong thương m ại quốc tế của W T O , Liên m inh Châu  u và M ỹ

- Tìm hiểu m ột số vụ việc thực tiễn áp dụng Pháp lu ật về chống bán phá giá của W T O , L iên m inh C hâu  u và H oa Kỳ

- Đ ưa ra m ột số kiến nghị để xây dựng và hoàn thiện pháp luật V iệt N am về chống bán phá giá trong thương m ại quốc tế

5

Trang 16

II NHỮNG NÔI DUNG c ơ BẢN CỦA CHẺ ĐINH PHÁP LUÂT CHỎNG BẢN

PHẢ GIẢ TRONG THƯƠNG MAI o u ổ c TẾ

Trong mỗi hệ thống luật pháp về chống bán phá giá trên thế giới, chúng ta đều nhận thấy những nét đặc trưng riêng biệt của tổ chức hay nhà nước ban hành ra nó Nhưng cho dù có những quy định cụ thể khác nhau, mọi hệ thống luật pháp về chống bán phá giá đều được xây dựng trên những nội dung cơ bản chung nhất của chế định pháp luật về chống bán phá giá

Nội dung cơ bản của m ột chế định pháp luật là những quy định cốt yếu nhất, cần thiết nhất của chế định đó, m à thiếu nó thì chế định pháp luật đó không được hình thành và không thể thực thi được

Trong phần này, luận văn sẽ trình bày một cách tổng quát và phân tích các nguyên tắc cơ bản, nội dung chủ yếu của chế định pháp luật về chống bán phá giá, trên

cơ sở đó nghiên cứu Iihững quy định chi tiết, cụ thể về chống phá giá của một số hệ thống pháp luật tiêu biểu ở Chương II

1 Khái niệm bán phá giá:

Trong tiếng Việt, bán phá giá được định nghĩa là việc bán ồ ạt hàng hóa với giá

thấp hơn giá thị trường, thậm chí chịu lỗ, để tăng khả năng cạnh tranh và chiếm đoạt thị trường (Từ Đ iển Tiếng Việt trực tuyến, phiên bản ngày 18/3/2004 của Trung tâm Từ

Đ iển học Việt Nam)

Tuy nhiên, th u ật ngữ bán phá giá được sử dụng trong các văn bản pháp lý của V iệt N am có những điểm khác với định n g h ĩa thông thường nêu trên Pháp lệnh

C hống bán phá giá hàng h ó a nhập khẩu vào V iệt N am vừa được Q uốc H ội thông

qu a ngày 29/4 /2 0 0 4 không định n g hĩa trực tiếp khái niệm bán phá giá, nhưng theo

điều 2, khoản 2 thì “B iên độ p h á giá là khoảng cách chênh lệch có th ể tính được

giữa giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào V iệt N a m so với giá xuất khẩu hàng hoá đó vào V iệt N a m ” N hư vậy, bán p h á giá theo Pháp lệnh này phải được

hiểu là hiện tượng khi giá x uất khẩu m ột hàng h ó a vào V iệt N am thấp hơn giá thông thường của hàng hóa đó

Từ “dum ping” trong tiếng Anh có nhiều nghĩa, ví dụ như vứt bỏ những thứ không thích (to get rid o f smth you do not xvant) Trong đó, nghĩa được dùng trong thương mại là ‘Vỡ get rid o f goocls by selling them at a very low price, often in another

country” , có nghĩa là bán tống một hàng hóa ở mức giá rất thấp, thường là bán ra nước

6

Trang 17

khác (Từ điển O xíord Advanced Genie - Xuất bản lần thứ 6 - NXB O xíord UniversityPress 2000)

Từ điển Le Peút LaRousse illustré - N hà Xuất bản LaRousse VUEF 2002 đưa

ra khái niệm “dumping com m ercial” là hiện tượng thương mại khi bán một hàng hóa ở thị trường nước ngoài với mức giá thấp hơn mức hiện tại của thị trường trong nước

(pratique commevcial qui consiste à vendre une m archandise sur un marché étranger à

un pri.x inýerieur à celui pratiqué sur le marché intérieur).

Có thể thấy những cách hiểu thông thường của các ngôn ngữ khác nhau đều phản ánh không đầy đủ, nhưng đã nói lên phần nào đặc trưng của bán phá giá Đó là đặc trưng bán hàng ở một mức giá rất thấp, với mục tiêu chiếm đoạt thị trường mà thông thường là ở thị trường nước ngoài

Trong thương mại quốc tế, chúng ta đã biết đến m ột khái niệm bán phá giá kinh điển đã được công nhận từ những năm 40 của thế kỷ trước trong khuôn khổ của GATT

1947 và cho đến nay đã được sửa đổi, bổ sung và được tiếp tục ghi nhận tại Điều 2.1 của Hiệp định thực thi điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 (dưới đây gọi là Hiệp định về Chống bán phá giá của Tổ chức Thương mại thế giới) như sau:

“2.7 Trong phạm vi H iệp định này, m ột sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là

được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác thấp hơn trị giá thông thường

của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ m ột nước này sang m ột nước khác thấp hơn mức giá có th ể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường ”

N hư vậy ở đây có sự so sánh về giá ở hai thị trường khác nhau: thị trường nước nhập khẩu và thị trường nước xuất khẩu, cho dù giá bán ở thị trường tiêu thụ, tức là ở nước nhập khẩu, có thể không khác nhau, thậm chí có thể xảy ra trường hợp giá bán cao hơn giá của hàng hóa tương tự hiện đang được bán tại thị trường nước nhập khẩu Nhìn chung, các tài liệu quốc tế đều thống nhất hiện tượng “bán phá giá” xảy ra khi hàng hoá xuất khẩu được bán sang m ột nước khác với giá thấp hơn giá bán tại thị trường nội địa (của nước xuất khẩu)

Nói m ột cách đơn giản, khi so sánh giữa giá xuất khẩu với giá bán tại nội địa, nếu giá xuất khẩu thấp hơn giá nội địa tức là có sự bán phá giá Nhưng, để xác định phá giá, trước tiên chúng ta phải xác định được giá xuất khẩu và giá nội địa (hay còn gọi là giá trị thông thường) của hàng hóa bị nghi ngờ là bán phá giá

Vậy giá xuất khẩu và giá trị thông thường là gì?

7

Trang 18

Để có thể hiểu rõ các khái niệm giá xuất khẩu và giá trị thông thường được sử

dụng trong chế định Pháp luật về chống bán phá giá, trước hết chúng ta cần làm rõ một

số thuật ngữ có liên quan, gồm giá, giá cả và giá trị

Theo Đại Từ Điển Kinh tế thị trường - Viện Nghiên cứu và Phổ biến Tri thức

Bách Khoa Việt Nam xuất bản tại Hà Nội năm 1998, giá cả được định nghĩa là biểu

hiện bâng tiền của giá trị hàng hóa Các nước trên thế giới cũng thống nhất với khái

niệm này về giá cả của hàng hóa

Tương tự, các nước cũng có chung 1 khái niệm về giá Giá được coi là tất cả các khoản tiền đã chi ra để bán hàng, bao gồm giá gốc của hàng hóa cộng với các loại chi phí đã bỏ ra cho quá trình vận chuyển, quảng cáo, tiếp thị sản phẩm và lãi (Đại Từ Điển Kinh tế thị trường - Viện Nghiên cứu và Phổ biến Tri thức Bách Khoa - Hà Nộinăm 1998)

Tuy nhiên, lý thuyết kinh tế học của Việt Nam và của các nước tư bản chủ nghĩa lại khác nhau ở khái niệm giá trị của hàng hóa:

- Lý thuyết kinh tế học Việt Nam đưa ra khái niệm giá trị là lượng tiêu hao lao động của loài người nói chung kết tinh trong hàng hóa, không thể hiện được ra trên

hàng hóa, mà chỉ có thể thông qua quá trình trao đổi mà biểu hiện ra bằng tiền tệ (Đại

Từ Điển Kinh tế thị trường - Viện Nghiên cứu và Phổ biến Tri thức Bách Khoa - Hà Nội năm 1998)

- Theo khái niệm của kinh tế học Pháp, giá trị (la valeur) là giá m à tại đó một

vật có thể được trao đổi, bán và, đổi lại, là giá bằng tiền iprix seỉon lequeỉ un objet peut

être échangé, vendu et, en partie, son p rix en argent) (Từ điển Le Petit LaRousse

illustré - N hà X uất bản LaRousse V U EF 2002)

Người viết luận văn mong m uốn dẫn ra sự khác biệt về khái niệm giá trị của hàng hóa như trên, để diễn giải sự khác biệt trong quy định pháp luật của hệ thống luật pháp của các nước tư bản chủ nghĩa như EU, M ỹ và ngay cả của WTO với quy định của pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá, cụ thể như sau:

- Do quan niệm giá trị của hàng hóa là giá m à tại đó m ột vật được trao đổi, bán

mà luật pháp của WTO, của Hoa Kỳ và EƯ đều quy định so sánh giá xuất khẩu của

hàng hóa với giá trị thông thường của S P ĨT trong thị trường nước nhập khẩu để xác

định có bán phá giá hay không

- Ngược lại, do quan niệm giá trị là lao động kết tinh trong hàng hóa, nên Pháp lệnh về Chống bán phá giá của Việt Nam không thể đem giá xuất khẩu so sánh với giá

2 Khái niệm giá xuất khẩu và giá trị thông thường:

8

Trang 19

trị, m à quy định so sánh giá xuất khẩu với giả thông thường của hàng hóa tại thị trường

nước xuất khẩu để xác định có phá giá hay không

Tuy nhiên, để bình luận ngay tại phần này về quy định trên của Pháp lệnh chống bán phá giá Việt nam là hơi sớm Người viết xin trở lại vấn đề này ở chương III của luận văn, sau khi đã tìm hiểu toàn bộ các quy định của các hệ thống pháp luật của WTO và các nước tiêu biểu về chống bán phá giá

Trong Hiệp định về Chống bán phá giá của Tổ chức Thương mại thế giới không

có các định nghĩa trực tiếp đối với giá xuất khẩu và giá trị thông thường Tuy nhiên,thông qua quy định ở điều 2.2 của Hiệp đinh, chúng ta có thể hiểu như sau:

Giá xuất khẩu là giá mà nhà sản xuất nước ngoài thực t ế đ ã bán sản phẩm cho

nhà nhập khẩu đầu tiên ỏ nước nhập khẩu; hoặc là giá mà sản phẩm nhập khẩu dược bán lợi lần đầu tiên cho một người mua độc lập ở nước nhập khẩu khi mà giá bán cho

nhà nhập khẩu đầu tiên được đánh giá là không có độ tin cậy

Giá trị thông thường là giá có th ể so sánh được thực t ế đ ã trả hoặc s ẽ trả trong

diêu kiện thương mại bình thường cho m ột sản phẩm tương tự được đưa ra tiêu dùng tại nước xuất khẩu, bao gồm mọi khoản hạ giá hoặc giảm giá thực t ế áp dụng.

Tuy nhiên, tùy vào những trường hợp khác nhau m à giá xuất khẩu và giá trị thông thường được xác định theo những cách khác nhau

trả cho sản phẩm để xuất khẩu vào nước bị bán phá giá, đã bao gồm mọi loại thuế, mọi

sự hạ giá và giảm giá thực tế đã áp dụng Tuy nhiên, nhiều trường hợp giá thực tế được trả hoặc sẽ được trả cho sản phẩm không được các nhà xuất/nhập khẩu nói ra Đây là trường hợp phá giá kín Phá giá kín cũng xuất hiện khi có 1 thỏa thuận về đền bù giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu Trong những trường hợp này, giá xuất khẩu thực chưa được nêu rõ, và nó phải được xây dựng trên cơ sở giá mà tại đó hàng hóa đã nhập được bán lại lần đầu tiên cho một người m ua độc lập, hoặc nếu sản phẩm không được bán lại

ở nước mà nó nhập vào, thì trên bất cứ cơ sở hợp lý nào, có trừ đi tất cả các chi phí xảy

ra giữa hoạt động nhập khẩu với hoạt động bán lại, cùng với 1 mức lãi suất lề hợp lý

Tương tự, giá trị th ô n g thường của hàng hóa cũng được xác định theo các cách

khác nhau nếu chúng có nguồn gốc từ các nền kinh tế khác nhau (thị trường hoặc phi thị trường)

Trang 20

- Đối với các nước có nền kinh tế thị trường:

Giá trị thông thường được xác định bằng giá thực tế được trả hoặc sẽ được trả cho các quá trình hoạt động thương mại bình thường để sản phẩm được đưa ra tiêu dùng tại nước xuất khẩu, bao gồm mọi khoản hạ giá hoặc giảm giá thực tế áp dụng

Tuy nhiên, giá trị thông thường có thể được xác định theo cách khác nếu như:+ việc bán hàng ở thị trường trong nước thực hiện ở m ột số lượng quá nhỏ, không được coi là có tính đại diện; hoặc

+ việc bán hàng không được thực hiện trong điều kiện thương mại bình thường,

ví dụ như việc bán hàng trong nội bộ các tập đoàn công ty, việc bán hàng ở 1 thị trường

“đóng cửa” , việc bán hàng của 1 doanh nghiệp giữ vị trí độc quyền

Trong những trường hợp trên, việc so sánh giá phải được thực hiện đối với một trong các giá trị sau đây:

+ có thể sử dụng giá xuất khẩu của cùng một sản phẩm được xuất sang bất kể 1 nước thứ 3 nào Giá này có thể là giá xuất khẩu cao nhất, nhưng phải là giá có tính đại diện

+ cũng có thể sử dụng giá cấu thành của sản phẩm, tức là chi phí sản xuất sản phẩm, bao gồm các chi phí chung tại nước nguồn gốc, cộng thêm 1 lượng có thể chấp nhận được làm lợi nhuận

- Đối với các nước có nền kinh tế phi thị trường, tức là các nước m à hoạt động thương mại là do N hà nước điều tiết, giá trị thông thường được xác định trên cơ sở một trong các tiêu chí dưới đây:

+ giá mà tại đó một sản phẩm tương tự của một nước thứ ba có nền kinh tế thị

trường được bán trên thực tế cho tiêu dùng trong nước

+ hoặc giá cấu thành của m ột sản phẩm tương tự ở m ột nước có nền kinh tế thịtrường

+ khi cả giá của 1 nước thứ ba và giá cấu thành đều không đưa ra được m ột căn

cứ đầy đủ, thì sử dụng giá thực tế được trả hoặc sẽ được trả tại nước nhập khẩu cho sản phẩm tương tự, nhưng phải điều chỉnh thích đáng để bao gồm cả mức lợi nhuận hợp lý

- Ngoài ra, chúng ta có thể thấy rằng các hàng hóa là đối tượng của việc bán phá giá có thể không được nhập khẩu trực tiếp từ nước nguồn gốc, m à có thể được gửi từ một nơi khác Đây là trường hợp phá giá gián tiếp Trong trường hợp này, giá trị thông thường là giá thực tế được trả hoặc sẽ được trả của sản phẩm tương tự trên thị trường nước xuất khẩu hoặc nước nguồn gốc

• Trong khi xác định giá trị thông thường để xác định phá giá, chúng ta có nhắc

đến khái niệm sản p h ẩ m tương tự Sản phẩm tương tự là những sản phẩm giống hệt,

tức là giống về mọi m ặt với sản phẩm đem so sánh hoặc, trong trường hợp không có các sản phẩm như vậy, thì là một sản phẩm có các tính chất đặc biệt giống với tính chất của sản phẩm đem so sánh

10

Trang 21

3 Khái niệm biên độ phá giá:

Khi xác định được giá xuất khẩu và giá trị thông thường, chúng ta cần so sánh giữa 2 giá với nhau để xác định phá giá Biểu hiện khoản tiền mà giá trị thông thườngvượt cao hơn giá xuất khẩu, kết quả của việc so sánh giá xuất khẩu với giá trị thôngthường, gọi là biên độ phá giá Theo khái niệm phá giá, khi biên độ phá giá > 0, thì chúng ta kết luận là có bán phá giá

Tuy nhiên, để thực hiện một so sánh đúng, giá xuất khẩu và giá nội địa phải

được tính toán trên cùng 1 phương pháp tương đương về tính chất vật lý của sản phẩm,

về số lượng và về điều kiện bán hàng Thông thường, các giá này phải được so sánh tại cùng 1 giai đoạn thương mại (ví dụ như giai đoạn xuất xưởng) và ở những thời điểm gần nhau nhất có thể

Do ý nghĩa nêu trên, chúng ta phải lưu ý các y ế u tô có th ể kh iến giá trở thành

kh ô n g th ể so sá n h được, ví dụ:

- các điểm khác nhau về đặc tính vật lý giữa các sản phẩm

- các điểm khác biệt về kỹ thuật của các sản phẩm

- các khác biệt về số lượng

- các khác biệt về điều kiện bán hàng, tức là các điều kiện thanh toán nợ, các trường hợp bảo lãnh, bảo hiểm, các hình thức trợ giúp kỹ thuật, dịch vụ hậu mãi, các khoản hoa hồng và lương đã trả cho người bán hàng, nhà bao gói, vận chuyển

- các chi phí vận chuyển thấp và chi phí thuê tàu thuận lợi cho xuất khẩu

- các hoạt động của các cơ quan công quyền tạo điều kiện để sản xuất sản phẩm xuất khẩu thuận lợi hơn cho tiêu dùng trong nước

- các m iễn trừ, m iễn giảm hoặc cho nợ toàn bộ hay m ột phần các khoản thuế trực tiếp hoặc các khoản đóng góp cho an ninh xã hội được áp dụng cho hoạt động xuất khẩu

- các khoản khấu trừ đặc biệt trực tiếp áp dụng cho hoạt động nhập khẩu khi tính các khoản thu thuế trực tiếp

- việc miễn trừ hoặc m iễn giảm dưới danh nghĩa xuất khẩu m ột khoản thuế gián tiếp cao hơn mức đã thực hiện của các loại thuế này cho bán hàng trên trị trường nội

- việc m iễn trừ, miễn giảm hay cho nợ các khoản thuế có nhiều mức đã thu ở các giai đoạn trước trên các hàng hóa hoặc dịch vụ sử dụng cho hoạt động sản xuất các hàng hóa để xuất khẩu, m à mức m iễn giảm, cho nợ cao hơn mức đã áp dụng cùng loại thuế đó đối với hàng hóa bán tại thị trường nội địa

- sự khác biệt giữa các loại th u ế bắt buộc đối với hoạt động nhập khẩu và các loại thế gián thu

11

Trang 22

4 Thiệt hại vật chất và quy tác xác định thiệt hại vật chất

T h iệt hại vật chất của việc nhập khẩu một hàng hóa bị nghi ngờ bán phá giá

được xác định nếu việc nhập khẩu hàng hóa đó:

+ hoặc gây ra m ột thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất hiện có của nước nhập khẩu

+ hoặc đe doạ gây ra m ột thiệt hại như vậy

+ hoặc làm chậm trễ một cách đáng kể sự ra đời của m ột ngành sản xuất mới của nước nhập khẩu

Sự cần thiết phải có thiệt hại vật chất cho thấy rằng việc bán phá giá không thể

bị trừng phạt trừ khi nó gây ra những tác hại cho thương mại quốc tế và gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của ngành sản xuất tương tự của nước nhập khẩu

Để hiểu được khái niệm thiệt hại vật chất, chúng ta cần tìm hiểu thế nào là ngành sản xuất tương tự của nước nhập khẩu

N g à n h sản x u ấ t của nước nh ập kh ẩ u được hiểu là tập thể các nhà sản xuất của

nước nhập khẩu hoặc m ột nhóm người trong số họ có hoạt động sản xuất đóng góp một phần lớn trong hoạt động sản xuất sản phẩm có liên quan của nước nhập khẩu

SPTT trong nước

Thiệt hại vật chất được xác định dựa trên tổng hợp các yếu tố sau đây:

- Khối lượng những lần nhập khẩu là đối tượng của bán phá giá

- Giá nhập khẩu là đối tượng của bán phá giá

- ảnh hưởng đối với các ngành sản xuất có liên quan

Khả năng đe doạ gây ra thiệt hại vật chất chỉ có thể đặt ra trong m ột tình huống

cụ thể có khả năng chắc chắn sẽ dẫn đến m ột thiệt hại thực tế

Để đánh giá nguy cơ gây thiệt hại thực tế, có 3 yếu tố thường được xem xét:

- tỷ lệ tăng trưởng của hoạt động xuất khẩu vào nước là đối tượng của bán phá

- năng lực xuất khẩu hiện tại hoặc tiềm ẩn của nước nguồn gốc hoặc nước xuất khẩu, hoặc khả năng các hoạt động xuất khẩu này sẽ đưa vào nước nhập khẩu

- tính chất của sự trợ cấp và các ảnh hưởng có thể đối với sự vận hành của hoạt động thương mại

12

Trang 23

Nếu có hành vi bán phá giá, và cũng có thiệt hại vật chất, nhưng thiệt hại lại không phải do hành vi bán phá giá gây ra thì chưa đủ cơ sở để áp dụng các biện pháp chống bán phá giá với hành vi đó, đặc biệt là đối với những thủ tục đòi hỏi xác định biên độ thiệt hại trước khi ấn định biện pháp chống bán phá giá.

Điểm m ấu chốt chính là phải xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phá giá và thiệt hại vật chất Nếu những yếu tố khác, như khối lượng và giá nhập khẩu các sản phẩm, hay sự giảm cầu gây ra ảnh hưởng bất lợi cho hoạt động sản xuất nước nhập khẩu, thì những ảnh hưởng đó không thể bị xem xét cùng với hoạt động nhập khẩu bị nghi ngờ là bán phá giá Như đã phân tích tại mục 4.a trên đây, hành vi bán phá giá phải gây ra những thiệt hại vật chất cho ngành sản xuất trong nước thì mới có thể bị ngăn cản

Bằng chứng của quan hệ nhân quả giữa phá giá và thiệt hại có thể bao gồm các

dữ liệu liên quan tới:

- H àng nhập khẩu tăng thâm nhập vào thị trường

- Việc bán hàng sản xuất tại nước nhập khẩu bị thiệt hại do giá nhập khẩu thấp

- G iảm giá (hoặc không thể tăng giá) do cạnh tranh từ hàng nhập khẩu giá thấp

- Lợi nhuận của nhà sản xuất tại nước nhập khẩu giảm

Trong các phần trước của Chương này, luận văn đã nêu ra các nguyên tắc xác

định phá giá, thông qua xác định các yếu tố tiền đề là giá xuất khẩu và giá trị thông thường, thiệt hại vật chất và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phá giá và thiệt hại vật chất

Trong phần này, luận văn sẽ trình bày các nội dung cơ bản của quy trình, thủ tục xác định các yếu tố để xác định phá giá

Để xem xét, bắt đầu thủ tục xác định phá giá, thông thường phải có m ột đơn yêu cầu tiến hành điều tra đối với hàng hóa bị nghi ngờ là bán phá giá

Đơn yêu cầu tiến hành điều tra có thể được đệ trình bởi bất cứ cá nhân, pháp nhân dưới danh nghĩa môt nhà sản xuất của nước nhập khẩu, được phỏng đoán là bị tổn hại hay bị đe doạ bởi hoạt động nhập khẩu hàng hóa là đối tượng của phá giá

13

Trang 24

Đơn đề nghị điều tra chống bán phá giá phải chứa các yếu tố làm bằng chứng đầy đủ về việc bán phá giá và về thiệt hại vật chất do phá giá gây ra Do vậy, cũng là phù hợp khi các nguyên đơn giúp đỡ trong việc đánh giá sự tồn tại của thiệt hại mà họ được phỏng đoán là nạn nhân.

Các bằng chứng về phá giá và thiệt hại vật chất đưa ra trong đơn sẽ được Cơ quan có thẩm quyền xem xét Khi thấy rằng đơn kiện không có các bằng chứng đủ để xem xét mở thủ tục, thì đơn kiện bị từ chối và nguyên đơn được thông báo về việc này Trường hợp ngược lại, thủ tục điều tra sẽ được mở, và cơ quan thẩm quyền sẽ:

- thông tin công khai về việc mở thủ tục điều tra, cung cấp tóm tắt những thông tin đã nhận được và nêu rõ là tất cả những thông tin để được sử dụng đều phải được thông tin cho Cơ quan thẩm quyền;

- báo cho nhà xuất khẩu và nhập khẩu có liên quan, các đại diện của những nước xuất khẩu, cũng như các nguyên đơn;

- bắt đầu điều tra theo k ế hoạch

Trong quá trình điều tra, thu thập thông tin, Cơ quan điều tra và các bên tham gia đều có các quyền được phép thực hiện và những nghĩa vụ phải tuân thủ

C ơ qu a n điều tra, trong phạm vi của hoạt động điều tra, hoàn toàn có thể thu

thập hoặc yêu cầu những nhà nhập khẩu, xuất khẩu, sản xuất, thương nhân và các tổ

chức thương mại liên quan cung cấp tất cả những thông tin cần thiết dưới dạng các

b ả n g câu hỏ i, và có thể thẩm tra các tài liệu m à họ đưa ra N ếu có quá nhiều doanh

nghiệp có liên quan, cơ quan điều tra có thể điều tra theo phương pháp lấy mẫu

Khi m ột bên có liên quan hay m ột nước bị điều tra không cho tiếp cận với các thông tin cần thiết, hoặc không cung cấp trong 1 thời hạn thỏa đáng, hay gây cản trở

m ột cách đáng kể tới việc điều tra, thì Cơ quan điều tra có quyền đưa ra những kết luận ban đầu hoặc cuối cùng, tích cực hay tiêu cực, dựa trên cơ sở các thông tin cơ bản đãcó

Các quyền quan trọng của bên nguyên đơn và bị đơn là:

- Quyền được trình bày qu a n điểm với C ơ quan điều tra: Các bên có quyền

được thông báo với Cơ quan điều tra về quan điểm của m ình và được biết về các yếu tố trong vụ điều tra có thể sẽ liên quan đến họ Các cơ quan điều tra có thể nghe thông tin

từ nhũng bên họ liên quan, khi họ yêu cầu bằng văn bản trong 1 thời gian nhất định được công bố công khai, và bằng việc chứng minh rằng các bên này thực sự là những

14

Trang 25

bên có liên quan và có thể liên quan đến kết quả giải quyết, có lý do đặc biệt cho việc

phải nghe họ trình bày trực tiếp

- Q uyền được tiếp cận với th ô n g tin trong quá trình điều tra: Các bị đơn hay

đại diện của họ phải được tiếp cận với những sự kiện của vụ việc m à dựa trên đó Cơ

quan điều tra đã quyết định mở thủ tục giải quyết theo các quy định về bảo mật

Các nguyên đơn, các nhà xuất khẩu và nhập khẩu đã được khẳng định chắc chắn

là có liên quan và các đại diện của nước xuất khẩu đều có thể được biết về mọi thông

tin đã chuyển tới Cơ quan điều tra bởi các bên có liên quan trong vụ điều tra, trừ các tài

liệu nội bộ do cơ quan điều tra soạn thảo, hay các tài liệu có tính bí mật, nếu các thông

tin đó có thể được các cơ quan giải quyết sử dụng trong hoạt động điều tra, để sử dụng

các thông tin một cách thích đáng trong việc bảo vệ quyền lợi của họ

- Cuối cùng, cần phải nói rõ là những bên tham gia vào thủ tục giải quyết có thể

đề nghị cơ quan điều tra bảo m ật những thông tin m à họ đã cung cấp

Trong quá trình điều tra, các cơ quan điều tra có thể quyết định chấm dứt thủ

tục điều tra m à không có các thuế phá giá, hay không áp dụng các biện pháp chống phá

giá tạm thời

Nếu theo kết quả điều tra, ngành sản xuất của nước nhập khẩu không thể bị coi

là phải chịu một thiệt hại vật chất, cũng như các dấu hiệu của thiệt hại cũng đã được

xoá bỏ; hay nếu bộ phận thị trường do sản phẩm bị nghi ngờ là bán phá giá nắm giữ tại

thị trường nước xuất khẩu đã rất suy yếu tại thời điểm điều tra; hoặc khi người đệ đơn

ban đầu đã rút đơn; hoặc không m ột nhà sản xuất nào của nước nhập khẩu trả lời các

câu hỏi điều tra, hoặc các nhà sản xuất đã trả lời lại không đại diện cho ngành sản xuất

trong nước, thì được coi là không cần thiết phải có các biện pháp bảo vệ

sửa chữa các hoạt động bị chỉ trích và được chấp nhận:

Trang 26

+ chúng cho phép loại trừ việc phá giá đã có + chúng phải là các biện pháp có thể thẩm tra được

Cơ quan điều tra có thể đề nghị nhà xuất khẩu cam kết giá nhưng nhà xuất khẩu không bắt buộc phải cam kết

Tuy nhiên, với mọi nguyên do khác nhau, thì việc điều tra ban đầu thông thường vẫn là cần thiết để xác định xem liệu cam kết đã đưa ra có thể chấp nhận được hay không Trong một số trường hợp, việc chấp nhận cam kết thậm chí còn không dẫn đến chấm dút điều tra về thiệt hại, vì nếu điều tra kết luận không có thiệt hại, thì các cam kết sẽ tự động không còn giá trị, hoặc nếu điều tra kết luận rằng cam kết không đảm bảo được hiệu quả loại trừ hoàn toàn việc phá giá, thì các khoản thuế chống phá giá tồn

dư tùy theo tình hình thực tế sẽ được xây dựng

Trong trường hợp các cam kết bị tuyên bô' h ủ y bỏ hay bị vi p h ạ m , thì nước

nhập khẩu hoàn toàn có thể áp dụng các khoản thuế tạm thời trên cơ sở của vụ việc đã xảy ra trước khi chấp thuận cam kết

Ngược lại với trường hợp khi các biện pháp bảo vệ là không cần thiết hoặc khi phá giá đã được cam kết loại trừ, các biện pháp tạm thời có thể được áp dụng trong quá trình điều tra khi xác định được việc phá giá với các yếu tố bằng chứng đầy đủ về thiệt hại và cần đến một biện pháp bảo vệ ngay lập tức để tránh những thiệt hại không thể

khắc phục cho ngành sản xuất của nước nhập khẩu

Các biện pháp tạm thời sẽ đưa ra một đảm bảo ngang bằng với khoản thuế có thể sẽ được áp dụng Đảm bảo này được thực thi bởi các cơ quan thuế quan của nước nhập khẩu Các sản phẩm là đối tượng sẽ chỉ được đưa ra tiêu dùng tại nước nhập khẩu khi có đảm bảo này

Tuy nhiên, do là tạm thời, nên các biện pháp này phải có thời hạn áp dụng xác dinh mà thông thường là 6 tháng, và có thể được khẳng định chính thức, bãi bỏ hay sửa đổi sau thời hạn đó Biện pháp tạm thời cũng có thể được gia hạn, nếu việc kiểm tra toàn diện các vấn đề của đơn kiện chưa thể kết thúc và khi các nhà xuất khẩu và nhập khẩu đại diện cho m ột bộ phận quan trọng trong hoạt động trao đổi thương mại yêu

Căn cứ trên tầm quan trọng của thiệt hại đã xảy ra và trên biên độ phá giá đã xác định, Cơ quan giải quyết khiếu kiện xác định hoặc là hoàn trả các khoản thuế đã thu thỏng qua các biện pháp tạm thời hoặc sẽ thu nhận luôn Trong trường hợp này, các khoản thuế được thu toàn bộ 1 lần hoặc song song với các khoản thuế tối đa được áp dụng cố định

16

Trang 27

Thuê chống bán phá giá cô định

T h u ê ch ô n g bán p h á giá c ố định được áp dụng, có thể là sau khi phê chuẩn các

biên pháp tạm thời, hoặc có thể là áp dụng trực tiếp khi việc bán phá giá và sự thiệt hại được xác định, và khi các lợi ích của nước nhập khẩu cần đến những biện pháp này

T huế chống bán phá giá cố định cũng có thể được áp dụng đối với hà n g hóa lắp

ráp tại nước n h ậ p kh ẩ u , do các khoản thuế chống bán phá không thể phát huy tác

dụng khi mà hàng hóa là đối tượng của bán phá giá được đưa đi vòng qua 1 nước thứ

ba, hoặc khi nước xuất khẩu chuyển sang xuất từng bộ phận của sản phẩm để lắp ráp ngay tại thị trường nước nhập với các điều kiện nhất định chứng tỏ hàng hóa đó đang trốn tránh thuế để tiếp tục thực hiện phá giá

Cuối cùng, các nhà xuất khẩu, nhập khẩu, hay sản xuất trong nước có quyền

kh áng cáo đối với các biện p h á p ch ống bán p h á giá đã đưa ra, nếu các biện pháp này

có liên quan trực tiếp đến họ

đánh thuê

- Các loại thuế dù tạm thời hay cố định đều phải được thiết lập trên nguyên tắc không vượt quá biên độ phá giá đã dự đoán tạm thời hay đã xác định Thuế suất thấp hơn biên độ phá giá cũng có thể được áp dụng nếu như mức đó là đủ để loại bỏ thiệt

- Tính chất hồi tố của thuế chống bán phá giá:

Hiện tại thuế chống bán phá giá trên thực tế có thể được các nước áp dụng hiệu lực hồi tố Có 2 cách quy định khác nhau trong luật pháp của các nước liên quan đến tính chất hồi tố của thuế chống bán phá giá, là Kiểu tính thuế hồi tố theo Luật Hoa Kỳ,

và Kiểu tính thuế ấn định theo Luật EU

Khi một yêu cầu đã được lý giải thỏa đáng, hay khi nhận thấy rằng việc rà soát

là cần thiết, điều tra sẽ được mở lại Luật pháp của m ột số nước (ví dụ như Cộng đồng Châu Âu) thậm chí còn chấp thuận m ột lần điều tra thứ 3, nếu như điều này được lý giải đầy đủ

t h ư v ỉ ệ n

t r ư ờ n g Đ Ạ I H Ọ C L Ù Ậ Ĩ HÀ NỘI

PHONG Đ O C - - '1_

17

Trang 28

Sau cuộc điều tra mới, một quyết định sẽ được thông qua nhằm:

- khẳng định các biện pháp đã thực hiện hoặc sửa đổi các biện pháp chống phá giá đã áp dụng đối với các mức thuế, các sản phẩm hay các nhà xuất khẩu có liên quan;

- khẳng định thời hạn của các biện pháp hoặc ngược lại, gia hạn cho các biện pháp đó;

- chấp thuận những cam kết mới hoặc đánh thuế chống phá giá đối với một nhà xuất khẩu không tuân thủ các cam kết của họ

Đặc biệt, việc rà soát có thể được yêu cầu khi hết thời hạn áp dụng của các khoản thuế hoặc các cam kết, nếu nhận thấy rằng sự bãi bỏ các biện pháp này có thể lại tái diễn thiệt hại Trong trường hợp này, việc rà soát có thể đem lại kết quả là gia hạn các biện pháp chống phá giá Trong suốt thời gian rà soát, các biện pháp đã áp dụng sẽ được duy trì hiệu lực

T h u ế ch ố n g bán p h á giá: là một sắc thuế m à nước nhập khẩu đánh vào một

mặt hàng nhập khẩu được bán phá giá với mục đích ngăn cản sự tiếp diễn của việc bán

phá giá đó để tránh gây thiệt hại cho ngành sản xuất m ặt hàng tương tự ở trong nước.

+ thuế tuyệt đối

Trong các hình thức trên, thuế dưới hình thức % không có tính chất khuyên

khích nhà xuất khẩu nâng giá hàng hóa của mình lên để tránh phải trả m ột khoản thuế cao hơn Ngược lại, nhà xuất khẩu sẽ trả một khoản thuế thấp hơn nếu anh ta giảm giá hàng hóa xuống, và bằng cách này, hệ thống thuế có thể còn làm gia tăng phá giá

Thuế phá giá dưới hình thức m ột khoản tiền xác định có tính trung lập, vì nókhông thay đổi theo các mức giá, mặc dù tỷ lệ của thuế trên tổng giá bán là giảmxuống khi m à giá được nâng lên

Còn thuế tính bằng phần chênh lệch giữa giá trong biên giới nước nhập khẩu với

m ột mức cố định (tức là thuế thay đổi theo mức cố định này) lại cho phép nhà xuất khẩu không phải trả bất kỳ một khoản thuế nào nếu họ nâng giá hàng của mình lên đến

18

Trang 29

Iĩiức cố định nói trên, đồng thời loại trừ luôn phá giá, hoặc thiệt hại Với ý nghĩa này, loại thuế này có thể coi như hiệu quả hơn cả trong cả 3 loại trên.

Từ những tìm hiểu trên về hành vi bán phá giá, chúng ta có thể nói ngắn gọn bán phá giá là một hành vi thương mại không lành m ạnh, nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường một cách không bình đẳng Tuy không bị pháp luật cấm, nhưng đây là một hành vi thương mại cần phải được ngăn chặn

Vậy khi đã thực hiện được một so sánh đúng giữa hai giá và kết luận là đã

có bán phá giá, chúng ta luôn luôn phải đặt ra những biện pháp ngăn chặn nó?

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa kinh tế của việc bán phágiá

19

Trang 30

III Ỷ NGHĨA KINH TẼ CỦA VIÊC BẢN PHẢ GIẢ

Tác động của việc bán phá giá được đánh giá một cách đơn giản theo hình dưới đây Trước khi có việc hàng của nước khác được bán vào thị trường một nước với giá thấp hơn giá hiện hành, cung và cầu mặt hàng đó cân bằng ở điểm E, với giá P1 và lượng tiêu thụ Q l, hoàn toàn là hàng sản xuất trong nước Tuy nhiên, khi có nguồn hàng nước ngoài bán với giá thấp hơn là P2, lượng tiêu thụ tãng lên Q2, trong đó lượng hàng sản xuất trong nước giảm xuống chỉ còn Q'2, lượng hàng nhập khẩu là Q2-Q'2

Từ hình này cho thấy thặnạ dư của người tiêu dùng tăng thêm một lượng bằng diện tích hình thang ABDE, trong khi đó thặng dư của nhà sản xuất trong nước giảm

một lượng bằng diên tích hình thang ABCE Như vậy có thể thấy tác động của việc bán phá giá là: gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa nhưng lại mang lại lợi ích cho người tiêu dùng, v ề tổng thể, toàn xã hội được lợi bằng diện tích tam giác CDE

Xuất phát từ thành kiến cố hữu, việc "bán phá giá" thường được coi là có tác động tiêu cực, thường vì lý do làm giảm lợi nhuận của những người bán hàng khác hoặc gây thiệt hại cho các nhà sản xuất cùng một m ặt hàng của nước nhập khẩu, cho nên người ta thường tìm biện pháp để chống lại hành động này Tuy nhiên, cần phải có

sự phân tích thấu đáo bản chất của mọi trường hợp bán phá giá để xem có phải tất cả mọi hành động bán phá giá đều có hại hay không để từ đó có biện pháp đối phó thích

Có thể hình dung các trường hợp bán phá giá sau đây:

Thứ nhất, giá xuất khẩu thấp hơn giá thị trường nội địa nước xuất khẩu nhưng

vẫn cao hơn chi phí sản xuất;

Thứ hai, giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất và tất nhiên là thấp hơn giá thị

trường trong nước Trong trường hợp này còn có thể xảy ra một số tinh huống khác

20

Trang 31

nhau, tuỳ thuộc vào định nghĩa chi phí sản xuất: chi phí bình quân hay chi phí "chi phílề".

cao hơn chi phí sản xuất

Trường hợp này có thể xảy ra khi một hãng chiếm vị thế độc quyền hoặc gần như độc quyền ở thị trường nội địa xuất phát từ điều kiện tự nhiên hoặc do được hưởng lợi thế từ hàng rào thương mại, nhưng phải cạnh tranh ở thị trường nước xuất khẩu Trong trường hợp này, vì mục đích tối đa hoá lợi nhuận, hãng đó sẽ lợi dụng vị thế độc quyền của m ình để ấn định giá bán trong nước cao hơn, chừng nào thị trường

đó còn chấp nhận được Trong khi đó, do phải cạnh tranh ở thị trường nước xuất khẩu, hãng đó chỉ có thể bán với giá đang tồn tại ở thị trường đó Như vậy đã xảy ra việc bán phá giá như định nghĩa ở trên

Nếu việc bán phá giá này không làm giá ở thị trường nước nhập khẩu thay đổi (do cạnh tranh ở đây hoàn hảo), sẽ không làm ảnh hưởng đến lợi ích của nước nhập khẩu, và vì thế sẽ không cần thiết phải có biện pháp chống lại

Tuy nhiên, nếu việc bán phá giá này xảy ra với m ột lượng lớn và trong thời gian dài, làm giảm giá ở thị trường nước nhập khẩu, sẽ gây tác động đến lợi ích của nước nhập kháu Người tiêu dùng sẽ được lợi từ giá thấp, nhưng ngược lại các nhà sản xuất

và công nhân trong ngành công nghiệp đó sẽ bị thiệt hại vì lợi nhuận và lương bị giảm Lợi ích cuối cùng của nước nhập khẩu phụ thuộc vào việc lợi ích của người tiêu dùng

CÓ lớn hơn thiệt hại của người sản xuất và công nhân hay không

Ngay cả trong trường hợp về tổng thể nước nhập khẩu bị thiệt hại cũng khó có

lý do để áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa của hãng đó nhằm khắc phục thiệt hại bởi vì hãng đó có thể lập luận rằng do điều kiện thị trường của nước nhập khẩu là cạnh tranh, bất kỳ hãng nào cũng có thể tham gia thị trường đó và làm cho giá giảm xuống Tuy nhiên, để khắc phục thiệt hại, nước nhập khẩu có thể áp dụng các biện pháp được phép khác như tự vệ

• Trường hợp th ứ hai: Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất.

Trước hết, để hiểu được ý nghĩa kinh tế của việc bán phá giá thấp hơn chi phí, cần phân biệt các loại chi phí Thông thường, chi phí sản xuất được phân biệt theo 2

loại: chi p h í bình quân và chi p h í lề Chi p h í bình quân được tính bằng tổng tất cả các chi phí một hãng phải chịu chia cho lượng sản phẩm sản xuất ra Chi p h í lề là chi phí

phải bỏ ra để sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm Sự phân biệt này có ý nghĩa quan trọng trong ngắn hạn khi nhiều loại chi phí sản xuất là cố định, không phụ thuộc vào số lượng sản xuất, chỉ có m ột phần nhỏ chi phí sản xuất là thay đổi khi lượng sản xuất

21

Trang 32

thay đổi Chính chi phí lề là yếu tố quyết định trong việc định giá của một hãng trong thời gian ngắn hạn khi phải chịu chi phí nhất định để thâm nhập một thị trường.

Khi nhu cầu của thị trường bị giảm, kéo theo giá thị trường giảm, và các hãng

theo đó cũng phải giảm giá bán Nếu giá bán thấp hơn chi p h í bình q u â n , hãng đó sẽ

bi lỗ Tuy nhiên, khi một phần chi phí là cố định không phụ thuộc vào lượng sản xuất, mức độ lỗ sẽ phụ thuộc vào lượng hàng bán ra và vào mức chi phí lề Nếu giá bán vẫn cao hơn chi phí lề, hãng vẫn tiếp tục bán với hy vọng sau một thời gian ngắn thị trường

sẽ phục hồi, hoặc chỉ để giảm thiệt hại trước khi rút lui khỏi thị trường đó Đây là sự phán ứng rất bình thường của các hãng đối với sự thay đổi của thị trường, kể cả các hãng nước ngoài và hãng nội địa

Trong trường hợp này, việc áp dụng một biện pháp chống hàng nhập khẩu là bất hợp lý vì như vậy sẽ đối xử không công bằng giữa hãng nội địa và hãng nước ngoài Tuy nhiên, một nước vẫn có thể áp dụng các chính sách hỗ trợ cho các hãng nội địa giảm nhẹ thiệt hại dưới hình thức các biện pháp tự vệ

Cũng có những trường hợp các hãng bán với giá thấp hơ n chi p h í lề Trong các

trường hợp này không thể xem xét hành động của các hãng với mục tiêu là nhằm tối đa hoá lợi nhuận m à vì các mục tiêu khác

Chiếm lĩnh thị trường M ột hãng nước ngoài, với mục tiêu thiết lập vị thế độc

quyền ở thị trường nội địa, thực hiện chính sách bán sản phẩm của m ình với giá thấp hơn chi phí lề cho đến khi đẩy hết các đối thủ cạnh tranh khác ra khỏi thị trường mặt hàng đó Sau khi chiếm được thị trường, hãng đó lại nâng giá để khai thác lợi thế độc

lịuyén của mình Ngoài tác động làm cho các nhà sản xuất trong nước bị phá sản, hành

động này còn làm giảm lợi ích của toàn xã hội như trong trường hợp độc quyền khác,

và do vậy cần có biện pháp ngăn cản

Cạnh tranh giành thị phần M ột trong những biện pháp m arketing các hãng có

thể sử dụng để cạnh tranh nhằm tăng thị phần trên m ột thị trường là bán với giá thấp hơn chi phí lề trong m ột thời gian ngắn với hy vọng lượng hàng bán tăng trong tương lai với giá bình thường sẽ bù đắp phần lỗ

Bán thăm dò thị trường ở m ột quy mô xác định khi có các sản phẩm mới Bán

hạ giá (đại hạ giá) trong những khoảng thời gian xác định các sản phẩm lạc mode, lỗi

mode, cuối mùa nhằm thu lại vốn

Tóm lại, có rất nhiều trường hợp các hãng nước ngoài có thể xuất khẩu hàng của mình sang thị trường nước khác với giá thấp hơn giá nội địa và thậm chí thấp hơn cả chi phí sản xuất, nhưng không phải tất cả mọi trường hợp đều có thể áp dụng các biện pháp ngăn cản Trong nhiều trường hợp làm như vậy chỉ tạo ra m ột sự bảo hộ không cần thiết cho ngành sản xuất trong nước, làm giảm lợi ích của người tiêu dùng cũng nhu' của toàn xã hội

22

Trang 33

giá (tên đầy đủ: H iệp định thực thi Điều VI của H iệp định Chung về Thương M ại và

T h u ế quan năm 1994) đã có những qui định chặt chẽ và chi tiết hơn nhiều so với Điều

VI của GATT Theo Hiệp định này, nước nhập khẩu chỉ được áp dụng các biện pháp chống bán phá giá khi:

Hàng nhập khẩu bị bán phá giá;

Gây thiệt hại về vật chất cho ngành sản xuất SPTT trong nước; và

Có tồn tại quan hệ nhân quả giữa yếu tố thứ nhất và yếu tố thứ hai

Dưới đây, luận văn sẽ lần lượt trình bày tóm tắt nội dung quy định cơ bản của

Hiệp định Chống bán phá giá của WTO, và trình bày một vụ việc chống bán phá giá cụ

thể để minh hoạ cho các quy định của WTO

I NỔI DUNG C ơ BẢN CỦA HIẺP ĐINH CHONG BẢN PHẢ GIẢ CỦA WTO

Hiệp định Chống bán phá giá của W TO qui định rất chi tiết nguyên tắc xác địnhphá giá, cách tính biên độ phá giá và thủ tục điều tra phá giá như sau:

của sản phẩm tương tự khi tiêu thụ ở thị trường nước xuất khẩu

b N hư vậy, n g u yên tắc xác định p h á giá ở đây là:

23

Trang 34

Biên độ phá giá (BĐPG) = giá trị thông thường (GTTT) - giá xuất khẩu (GXK) Trong trường hợp BĐPG > 0, thì xác định là có phá giá.

• G TTT là giá nội địa của SPTT ở nước xuất khẩu.

Hoặc

GTTT = giá xuất khẩu SPTT sang nước thứ ba ; hoặc

GTTT = giá thành sản xuất + chi phí (hành chính, bán hàng, quản lý ch u n g ) trong những trường hợp được coi không có giá nội địa của SPTT ở nước xuất khẩu vì nhũng lý do sau:

SPTT không được bán tại thị trường nước xuất khẩu trong điều kiện thương mại thông thường; hoặc

có bán ở nước xuất khẩu nhưng trong điều kiện đặc biệt; hoặc

số lượng bán ra không đáng kể (< 5% số lượng SPTT bán ở nước nhập khẩu)

Trường hợp SPTT được xuất khẩu từ một nước có nền kinh tế phi thị trường (giá bán hàng và giá nguyên liệu đầu vào do Chính phủ ấn định) thì các qui tắc trên không được áp dụng để xác định GTTT

• G X K được tính là giá mà nhà sản xuất nước ngoài bán SPTT cho nhà nhập khẩu đầu tiên

Hoặc

GXK = giá m à sản phẩm nhập khẩu đươc bán lần đầu tiên cho một người mua độc lập ở nước nhập khẩu,

trong những trường hợp giá bán SPTT không tin cậy được do:

giao dịch xuất khẩu được thực hiện trong nội bộ công ty; hoặc

theo một thỏa thuận bù trừ nào đó

• So sánh GTTT và GXK:

Để so sánh m ột cách công bằng GTTT và GXK, Hiệp định qui định nguyên tắc

so sánh như sau:

So sánh hai giá này trong cùng điểu kiện thương mại (cùng xuất xưởng/bán

buôn/bán lẻ), thường lấy giá ở khâu xuất xưởng;

Tại cù n g m ộ t th ò i điểm hoặc thời điểm càng gần nhau càng tốt

Việc so sánh GTTT và GXK là cả một quá trình tính toán rất phức tạp, vì không phải bao giờ cũng có sẵn mức giá xuất xưởng của GTTT và GXK m à chỉ có mức giá bán buôn hoặc bán lẻ của SPTT ở thị trường nước xuất khẩu (GTTT+) và giá tính thuế hải quan, giá hợp đồng hoặc giá bán buôn/bán lẻ SPTT của nhà nhập khẩu (GXK+) nên

Trang 35

thường phải có một số điều chỉnh để có thể so sánh GTTT và GXK một cách công

và những yếu tố khác ảnh hưởng đến việc so sánh hai giá

V í dụ: khi lấy giá bán SPTT cho một người m ua độc lập ở nước nhập khẩu làm

GXK+ thì GXK sẽ được xác định bằng cách điều chỉnh như sau:

GXK = (GXK+) - (lợi nhuận) - (các loại thuế + chi phí phát sinh từ khâu nhập

khẩu đến khâu bán hàng)Cách so sánh:

Trung bình GTTT so với trung bình GXK; hoặc

G T T T (từng giao dịch) so với G X K (từng giao dịch); hoặc

Trung bình GTTT so với G XK (từng giao dịch)

(cách này chỉ được áp dụng khi GXK+ chênh lệch đáng k ể giữa những người mua, các vùng hoặc giữa các khoảng thời gian khác nhau)

Trường hợp SPTT được xuất khẩu sang nước nhập khẩu qua một nước trunggian (nước xuất khẩu):

G iá S P T T ở nước x u ấ t k h ẩ u (nước trung gian ) so với giá b á n S P T T từ nước

xuất khẩu sang nước nhập khẩu.

Nếu SPTT chỉ đơn thuần được chở từ nước sản xuất qua nước xuất khẩu thì:

Giá ở nước xuất xứ so với giá bán SPTT từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu.

2 Xác định thiệt hại

• Theo điều 3 của Hiệp định, thiệt hại được hiểu là:

Thiệt hại về vật chất đối với một ngành sản xuất SPTT trong nước (thiệt hại hiện tại); hoặc

Nguy cơ gây thiệt hại về vật chất đối với m ột ngành sản xuất SPTT trong nước (thiệt hại tương lai); hoặc

Làm trì trệ sự phát triển một ngành sản xuất SPTT trong nước (không có qui định cụ thể)

Trang 36

Như vậy, để xác định thiệt hại cần xem xét các nhân tố sau:

(i) Khối lượng hàng nhập khẩu bị bán phá giá: có tăng một cách đáng kể

không?

(ii) Tác động của hàng nhập khẩu đó lên giá SPTT: Giá của hàng nhập khẩu đó:

có rẻ hơn giá SPTT sản xuất ở nước nhập khẩu nhiều không?

có làm sụt giá hoặc kìm giá SPTT ở thị trường nước nhập khẩu không?

Khi sản phẩm thuộc diện điều tra được nhập khẩu từ nhiều nước: đánh giá gộp

tác động nếu BĐPG >= 2% GXK và khối lượng hàng nhập khẩu từ mỗi nước >= 3%

khối lượng nhập khẩu SPTT

Tác động của hàng nhập khẩu bị bán phá giá đối với m ột ngành sản xuất SPTT trong nước sẽ biểu hiện qua các yếu tố kinh tế có thể ảnh hưởng đến ngành sản xuất đó,

gồm những yếu tố sau (điều 3.4 - H iệp định chống bán phá giá của WTO):

- Nãng suất

- Thị phần

- Biên độ phá giá

- Giá nội địa ở nước nhập khẩu

- Suy giảm thực tế và nguy cơ suy giảm doanh số bán hàng

Tốc độ và khả năng tăng nhập khẩu trong tương lai;

Khả năng tăng năng lực xuất khẩu của nhà xuất khẩu dẫn đến khả năng tăng nhập khẩu;

Tinh hình hàng nhập khẩu làm sụt giá, hoặc ngăn sự tăng giá của SPTT ở nước nhập khẩu;

Số lượng tồn kho SPTT ở nước nhập khẩu

26

Trang 37

3 Ngành sản xuất SPTT trong nước

Theo điều 4.1 của Hiệp định, ngành sản xuất SPTT trong nước là toàn bộ các

n h à sản x u ấ t tro n g nước sản x u ấ t r a S P T T hoặc một số nhà sản xuất có sản lượng chiếm đa số tổng sản lượng SPTT trong nước

Hiệp định cũng cho phép một số trường hợp đặc biệt dẫn tới việc xác định cụ thể ngành sản xuất SPTT trong nước như sau:

Nhà sản xuất và nhà xuất khẩu/nhập khẩu có liên quan với nhau: ngành sản xuất SPTT trong nước là các n h à sản x u ấ t còn lại

Lãnh thổ nước nhập khẩu bị chia thành nhiều thị trường riêng: các n h à sản x u ất

ở mỗi thị trư ờ n g có thể coi là một ngành sản xuất riêng nếu:

+ bán toàn bộ hoặc phần lớn sản phẩm liên quan ra thị trường đó; và

+ nhu cầu của thị trường đó đối với SPTT nhập khẩu từ nước khác là không

đáng kể

4 Nộp đơn yêu cầu tiến hành điều tra chống bán phá giá

Hiệp định cũng quy định việc điều tra một sản phẩm bị nghi ngờ bán phá giá theo nguyên tắc chung đã nêu ở Chương I, tức là sẽ được tiến hành khi:

có đơn bằng văn bản của ngành sản xuất trong nước hoặc đại diện cho ngành sản xuất trong nước đề nghị điều tra phá giá; hoặc

không có đơn bằng văn bản của ngành sản xuất trong nước hoặc đại diện cho ngành sản xuất trong nước, nhưng cơ quan điều tra có đầy đủ bằng chứng về việc bán phá giá, thiệt hại vật chất và mối liên hệ nhân qủa giữa hai yếu tố này.Đơn đề nghị điều tra phá giá phải bao gồm những thông tin sau:

- Tên người nộp đơn, số lượng và giá trị của sản phẩm tương tự do người nộp đơn sản xuất trong nước Nếu đơn được nộp đại diện cho ngành sản xuất SPTT trong nước, thì đơn phải nêu danh sách tất cả các nhà sản xuất sản phẩm tương tự trong nước

và số lượng, giá trị của các sản phẩm tương tự do các nhà sản xuất này sản xuất;

- Mô tả sản phẩm đang bị nghi ngờ bán phá giá, xuất xứ hàng hóa, tên nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất nước ngoài;

- Giá sản phẩm liên quan khi tiêu thụ ở thị trường trong nước sản xuất hoặc nước xuất khẩu, hoặc giá m à sản phẩm liên quan được bán cho người m ua độc lập đầu tiên ở nước nhập khẩu;

- Số lượng nhập khẩu của sản phẩm đang bị nghi ngờ phá giá, ảnh hưởng của

việc nhập khẩu này lên giá sản phẩm tương tự ở thị trường nước nhập khẩu và ảnh

hưởng đối với ngành sản xuất SPTT trong nước

27

Trang 38

Các bằng chứng nêu trong đơn sẽ được Cơ quan điều tra xác minh tính chính xác và đầy đủ để xác định xem có đủ lý do hợp lệ để tiến hành điều tra chưa Cơ quan điều tra sẽ không tiến hành điều tra phá giá trừ khi xác định được rằng đơn xin điều tra

được nộp bởi ngành sản xuất SPTT trong nước hoặc đại diện cho ngành sản xuất SPTT trong nước, nghĩa là:

(i) sản lượng sản phẩm tương tự của các nhà sản xuất trong nước ủng hộ việc nộp

đơn phải lớn hơn sản lượng của các nhà sản xuất trong nước phản đối đơn; và(ii) sản lượng của các nhà sản xuất trong nước ủng hộ việc nộp đơn phải chiếm ít

nhất 25% tổng sản lượng sản phẩm tương tự của ngành sản xuất trong nước

Cuộc điều tra phá giá sẽ bị chấm dứt ngay lập tức nếu cơ quan điều tra xác địnhđược rằng:

i) biên độ phá giá nh ỏ hơn 2% giá xuất khẩu; hoặc

ii) số lượng nhập khẩu hàng bị nghi ngờ bán phá giá từ 1 nước bị nghi ngờ nh ỏ

hơn 3% tổng nhập khẩu sản phẩm tương tự ở nước nhập khẩu; trừ trường hợp nhiều nước cùng bị nghi ngờ và từng nước xuất khẩu có lượng hàng nhập khẩu dưới 3%, nhưng lượng hàng nhập khẩu của tất cả các nước xuất khẩu chiếm trên 7% tổng nhập khẩu sản phẩm tương tự ở nước nhập khẩu

Thủ tục hải quan vẫn được tiến hành trong khi điều tra phá giá Trừ trường hợp đặc biệt, m ột cuộc điều tra phá giá sẽ được tiến hành trong vòng 1 năm, và trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được quá 18 tháng

5 Thu thâp thông tin

Cơ quan điều tra sẽ gửi thông báo cho tất cả các bên có liên quan đề nghị cung cấp bằng văn bản mọi bằng chứng liên quan đến cuộc điều tra Thời hạn trả lời câu hỏi điều tra là 30 ngày và có thể được gia hạn thêm 30 ngày hoặc lâu hơn nếu cần thiết, và gửi nguyên văn đơn đề nghị điều tra cho các nhà xuất khẩu và cơ quan liên quan ở nước xuất khẩu và các bên quan tâm khi có yêu cầu

Trong phần này, nội dung của Hiệp định cũng quy định trùng với những nguyên tắc chung đã nêu ở Chương I, cụ thể như sau:

- Trong suốt quá trình điều tra, cơ quan điều tra sẽ tạo đầy đủ điều kiện cho các bên quan tâm bảo vệ quyền lợi của mình, gặp các bên có quyền lợi đối nghịch để trao đổi quan điểm và đưa ra thỏa thuận, có quyền trình bày các thông tin khác bằng miệng,

Trang 39

riêng do số nhà xuất khẩu, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc loại sản phẩm liên quan quá lớn thì cơ quan điều tra có thể giới hạn diện điều tra tới m ột số nhà sản xuất, xuất khẩu hay nhập khẩu, hoặc giới hạn ở một số loại sản phẩm nhất định bằng cách sử dụng mẫu thống kê, hoặc giới hạn ở tỷ lệ phần trăm lớn nhất của khối lượng hàng xuất khẩu từ nước liên quan.

- Việc chọn các nhà sản xuất, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu hoặc loại sản phẩm

để điều tra giới hạn sẽ được tiến hành trên cơ sở tham khảo ý kiến và có sự đồng ý của các nhà sản xuất, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu có liên quan

Trong trường hợp cơ quan điều tra giới hạn diện điều tra như nêu trên, họ vẫn có thể tính biên độ phá giá riêng cho các nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất mà ban đầu không được đưa vào diện điều tra nhưng đã cung cấp thông tin đúng thời hạn

6 Áp dụng biện pháp tạm thời

Biện pháp tạm thời có thể được áp dụng dưới các hình thức:

T huế tạm thời; hoặc

Đặt cọc khoản tiền tương đương với khoản thuế chống bán phá giá dự kiến;

hoặc

Cho thông quan nhưng bảo lưu quyền đánh thuế và nêu rõ mức thuế nhập khẩu thông thường và mức thuế chống bán phá giá dự kiến sẽ áp dụng

Trên thực tế, biện pháp tạm thời hay được áp dụng nhất là đặt cọc

Biện pháp tạm thời có thể được áp dụng trong các điều kiện sau:

i) cơ quan điều tra tiến hành điều tra theo đúng thủ tục, gửi thông báo và tạo điều

kiện cho các bên quan tâm cung cấp thông tin và trình bày ý kiến;

ii) có kết luận sơ bộ về việc xảy ra bán phá giá và dẫn đến thiệt hại cho ngành sản

xuất trong nước; và

iii) cơ quan điều tra kết luận rằng biện pháp tạm thời là cần thiết để ngăn chặn thiệt

hại trong quá trình điều tra

Biện pháp tạm thời chỉ được áp dụng sớm nhất là 60 ngày sau khi bắt đầu điều tra và sẽ được duy trì càng ngắn càng tốt, không được quá 4 tháng hoặc trong trường hợp cần thiết thì cũng không được quá 6 tháng Trường hợp cơ quan điều tra xác định được rằng khoản thuế thấp hơn biên độ phá giá đã đủ để khắc phục thiệt hại thì thời hạn áp dụng biện pháp tạm thời có thể là 6 tháng hoặc 9 tháng

7 Cam kết giá

Nếu m ột nhà xuất khẩu tự nguyện cam kết tăng giá lên hoặc ngừng xuất khẩu phá giá vào khu vực thị trường đang điều tra và được cơ quan điều tra nhất trí rằng biện

Trang 40

pháp này sẽ khắc phục được thiệt hại, việc điều tra có thể chấm dứt m à không cần áp dụng biện pháp tạm thời hoặc thuế chống bán phá giá Mức giá tăng không nhất thiết phải lớn hơn mà thường là nhỏ hơn biên độ phá giá nếu như đã đủ để khắc phục thiệt hại cho ngành sản xuất SPTT trong nước.

Cơ quan điều tra sẽ không chấp nhận cho các nhà xuất khẩu cam kết giá nếu thấy việc cam kết không khả thi, chẳng hạn như khi số lượng nhà xuất khẩu thực tế quá lớn Trong trường hợp này, cơ quan điều tra sẽ giải thích rõ lý do không chấp nhận cam kết giá với các nhà xuất khẩu

Nếu cơ quan điều tra chấp nhận việc cam kết giá thì cuộc điều tra phá giá và thiệt hại vẫn có thể được hoàn tất nếu nhà xuất khẩu m uốn như vậy và cơ quan điều tra đồng ý Trong trường hợp này, nếu điều tra đi đến kết luận là không có phá giá hoặc không gây thiệt hại thì việc cam kết giá sẽ đương nhiên chấm dứt, trừ khi kết luận trên được rút ra trong bối cảnh đã cam kết giá rồi Trường hợp này, cam kết giá sẽ được duy trì trong thời hạn hợp lý

Các cơ quan hữu quan của nước nhập khẩu có thể yêu cầu bất kỳ nhà xuất khẩu nào đã chấp nhận cam kết giá cung cấp thông tin định kỳ về việc thực hiện cam kết giá Trường hợp nhà xuất khẩu vi phạm cam kết giá, cơ quan điều tra có thể lập tức áp dụng biện pháp tạm thời trên cơ sở các thông tin mà họ có (best iníorm ation)

8 Áp dụng thuê và thu thuê chống bán phá giá

Cơ quan điều tra của nước nhập khẩu sẽ quyết định có đánh thuế chống bán phá

giá hay không và đánh thuế tương đương hay nhỏ hơn biên độ phá giá Trị giá thuế

chống bán phá giá áp dụng sẽ không được vượt quá biên độ phá giá.

Đối với m ột sản phẩm bị bán phá giá, cơ quan chức năng sẽ xác đ ịn h biên độ

phá giá riêng cho từng nhà xuất khẩu/sản xuất Thuế chống bán phá giá sẽ được áp

dụng cho từng trường hợp, trên cơ sở không phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu từ tất cả các nguồn được coi là gây thiệt hại, trừ trường hợp đã cam kết giá

Có 2 hình thức thu thuế chống bán phá giá:

K iểu tín h th u ế hồi tố: việc tính mức thuế được căn cứ vào số liệu của thời điểm trước khi điều tra (6 tháng - 1 năm) Sau khi điều tra, cơ quan chức năng bắt đầu áp dụng một mức thuế chống bán phá giá Sau khi áp dụng được m ột thời gian, nếu nhà nhập khẩu yêu cầu đánh giá lại mức thuế (do giá xuất khẩu tăng lên) thì cơ quan chức năng sẽ tiến hành xác định lại số tiền thuế phải nộp trong vòng 12 tháng, chậm nhất là

18 tháng ngay sau khi nhận được yêu cầu S au đó m ức th u ế m ới sẽ được á p dụng Việc hoàn thuế sẽ được thực hiện trong vòng 90 ngày sau khi xác định lại mức thuế cuối cùng phải nộp

30

Ngày đăng: 25/02/2020, 18:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w