19] Tại khoản 2 Điều 10 Công ước Paris 1883 về Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có nêu rõ: "Bắt kỳ hành vỉ cạnh tranh nào trái với các hoạt động thực tiễn trung thực trong lĩnh vực công nghiệ
Trang 28 — m
B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO • • • B ộ T ư PHÁP•
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LƯẶT HÀ NỘI• • • •
v ủ THỊ CẤM TÚ
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG
CỦA LUẬT CẠNH TRANH 2004
CHUYỀN NGÀNH : LUẬT KINH TÉ
MÃ SỐ : 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC s ĩ LUẬT HỌC• • • •
NGƯỜI HƯỚNG DÂN:
TS NGUYỄN THỊ VÂN ANH
T H Ư V » F f n
94-^7
HÀ NỘI - 2010
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn Tiến s ĩ Nguyễn Thị Văn Anh đã tận tình
giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xỉn được tỏ lòng tri ân tới các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Luật Hà Nội, những người thân trong gia đình, những người bạn đã ỉuôn ủng hộ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện luận văn.
Trang 4TIÉN THƯƠNG M Ạ I 6
1 Khái quát về cạnh tranh không lành mạnh và hoạt động xúc tiến thương
m ạ i 6
1 ì.K hải niệm, đặc điêm và các biêu hiện của cạnh tranh không lành mạnh 6 1.2 Khái niệm, đặc điềm và các hình thức của các hoạt động xúc tiến thương
m ạ i 12 1.3 Mối quan hệ giữa cạnh tranh không lành mạnh và hoạt động xúc tiến thương m ại 16
2 Lý luận chung về pháp luật hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnhvực xúc tiến thương m ạ i 17
2.1 Hệ thống pháp luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại 17 2.2 Đặc điêm của pháp luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại 21
3 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật đổi với hành vi cạnh tranh không lànhmạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại của một số nước trên thế g iớ i 22
3.1 Pháp luật cạnh tranh Pháp 22 3.2 Pháp luật cạnh tranh Trung Quốc 23
Chưong 2: THỤC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH KHÔNGo • • • •
QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH 2004 26
Trang 51 Thực trạng pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vựcquảng cáo thương mại 26
1.1 So sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình và hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác 27 1.2 Bắt chước một sản phẩm quảng cảo khác đê gây nhầm lẫn cho khách hàng 30 1.3 Đưa thông tin gian dổi hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về giá cả, sổ lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, cách thức sử dụng, phương thức sử d ụ n g 32 1.4 Các hoạt động quảng cáo khác mà pháp ỉuật có quy định c ẩ m 39
2 Thực trạng pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vựckhuyến mại 40
2.1 Tô chức khuyến mại mà gian dổi về giải thưởng 41 2.2 Khuyến mại không trung thực hoặc gâv nhầm ỉẫn về hàng hóa, dịch vụ để ìừa dối khách h à n g 43 2.3 Phân biệt đồi xử đổi với các khách hàng như nhau tại các địa bàn tô chức khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại 45 2.4 Tặng hàng hóa cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách hàng đôi hàng hóa cũng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng đê dừng hàng hóa của mình 47 2.5 Các hoạt động khuyến mại khác mà pháp luật cỏ quy định cấm 49
3 Quản lý nhà nước đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnhvực xúc tiến thương m ạ i 50
3.1 Thẩm quyền quản lý Nhà nước về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại 50 3.2 X ử lý hành vi vi phạm pháp ỉuật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương m ạ i 52
4 Đánh giá chung việc thực thi pháp luật về cạnh tranh không lành mạnhtrong lĩnh vực xúc tiến thương mại ở Việt Nam hiện nay 57
Trang 6Chương 3: MỘT SÓ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN, THỤC THI
CÓ HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HÀNH VI CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH v ự c x ứ c TIÉN THƯƠNG MẠI Ỏ VIỆT NAM 62
1 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật chống hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương m ạ i 62
1.1 Sửa đổi, bô sung một sổ quy định về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành m ạnh 62 1.2 Sửa đỏi, bỏ sung quy định về khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh 64 1.3 Bô sung hành vỉ cạnh tranh không ìành mạnh trong các hoạt động xúc tiến thương mại kh á c 67 1.4 Hoàn thiện thủ tục, trình tự xử ỉý các vụ việc cạnh tranh 68 1.5 Hoàn thiện quy định xử lý vi phạm pháp luật vê cạnh tranh không lành manh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại 68
2 Một số giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả pháp luật điều chỉnh các hành
vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương m ạ i 69
2.1 Hoàn thiện bộ máv tô chức và nâng cao năng lực cạnh tranh của cơ quan quản lý cạnh tranh 69 2.2 Nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng (VINATAS) 70 2.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp 71 2.4 Tuyên truyền, phổ biến pháp luật chổng cạnh tranh không lành mạnh cho doanh nghiệp, người tiêu dùng 71
KẾT LUẬN 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 7LÒÌ NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, từ nám 1960 (ở miền Bắc) và 1975 (ở miền Nam), cơ chế
kế hoạch hoá tập trung được thiết lập Trong điều kiện đó, thị trường tự do của những người sản xuất, buôn bán nhỏ vẫn hoạt động nhưng chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ, kinh tế tư nhân không được coi là bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân và luôn là đổi tượng cải tạo, thu hẹp, cần xoá bỏ Do đó, ở thời kỳ này không hề tồn tại khái niệm cạnh tranh cũng như xúc tiến thương mại Đại hội Đảng toàn quổc khoá VI (1986) đã đánh dấu một bước chuyển quan trọng, đối mới nền kinh tế theo hướng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Bên cạnh chính sách phát triển kinh
tế nhiều thành phần, nhà nước thực hiện đổi mới chính sách kinh tể vĩ mô, thực hiện chính sách tự do hoá thương mại, tự do giá cả Quyền tự do kinh doanh được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện chính là “chìa khoá mở cửa” cho thị trường cạnh tranh hoạt động Chính vì vậy, như một sự tất yếu, các hoạt động xúc tiến thương mại và hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã xuất hiện
Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, chúng ta chưa ban hành Luật cạnh tranh với tư cách là một đạo luật độc lập điều chỉnh các quan hệ cạnh tranh, nhưng cũng đã có một số quy phạm pháp luật nằm rải rác ở các văn bản pháp luật khác nhau điều chỉnh vấn đề này Với việc ban hành Luật cạnh tranh 2004 và Luật thương mại 2005 thì khuôn khổ pháp lý về cạnh tranh và xúc tiến thương mại nói chung cũng như cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại nói riêng đã được hoàn thiện đáng kể Tuy nhiên, một trong những vấn đề quan trọng được đặt ra sau khi ban hành hai luật này là các quy định về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại được điều chỉnh tại từng luật như thế nào? mối quan hệ giữa
1
Trang 8luật khung về cạnh tranh và luật chuyên ngành về xúc tiến thương mại được
giải quyêt ra sao? Cơ chê thực hiện pháp luật điêu chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại được đảm bảo đến đâu? Do đó, việc triển khai nghiên cứu đề tài “ Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại theo quy định của Luật cạnh tranh 2004”
là hết sức cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lĩnh vực cạnh tranh đã có một số công trình nghiên cứu như:
“ Pháp luật về kiểm soát độc quyền và cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam” của TS Đặng Vũ Huân (NXB Chính trị Quốc gia- Hà Nội, 2004);
“Thực hiện pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật Việt Nam” của ThS Lữ Lâm Uyên (ĐH Luật TP Hồ Chí Minh, 2006); “Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh” của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương; “Tăng cường năng lực pháp luật tại Việt Nam; Cải cách hệ thống pháp luật kinh tế- một số vấn
đề thực tiễn và lý luận cơ bản” của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương và chương trình phát triển Liên Hợp Quốc;
Trong lĩnh vực xúc tiến thương mại cũng đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu như: “ Xúc tiến thương mại lý thuyết và thực hành” của TS
Đỗ Thị Loan ( NXB Khoa học kỳ thuật - Hà Nội, 2006); “Pháp luật về xúc tiến thương mại - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của TS Nguyễn Thị Dung ( NXB Chính trị quốc gia- Hà Nội, 2007); “ Xúc tiến thương mại quốc
tế ( luận án tiến sĩ của Nguyễn Thu Hương- trường ĐH Kinh tế Quốc dân, 2003);
Các nghiên cứu nói trên tiếp cận, xem xét các nội dung của cạnh tranh
và xúc tiến thương mại dưới góc độ kinh tế học và khoa học pháp lý Có những công trình đã nghiên cứu một cách toàn diện pháp luật về cạnh tranh
Trang 9hoặc pháp luật vê xúc tiên thương mại cũng như nghiên cứu những khía cạnh, nội dung cụ thê của các chế định này Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu khoa học độc lập nào xem xét một cách tổng thể, toàn diện và chuyên sâu
về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi của đề tài này, tác giả không đi vào nghiên cứu toàn bộ các vấn đề pháp lý về cạnh tranh hay xúc tiến thương mại riêng biệt mà tập trung nghiên cứu một trong những nội dung giao thoa của hai lĩnh vực cạnh tranh và xúc tiến thương mại, đó là các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại theo quy định của Luật Cạnh tranh 2004
Do đó, những quy định có liên quan trong văn bản pháp luật khác như pháp luật Sở hữu trí tuệ không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp nghiên cứu có tính bao trùm khoá luận này là phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin Bên cạnh đó, còn sử dụng phương pháp so sánh với pháp luật thế giới trong việc điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh; phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê nhằm tạo nên cách tiếp cận đa chiều
5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
* Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tiếp cận nghiên cứu các vấn đề có
tính chất lý luận và thực tiễn của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại
3
Trang 10* Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài:• • • o
- Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh
và cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại
- Phân tích làm rõ nội dung pháp lý cơ bản của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại kết hợp cùng việc tìm hiểu thực trạng, qua đó rút ra những đánh giá chung việc thực thi pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại ở Việt Nam hiện nay
- Đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện và thực thi có hiệu quả pháp luật điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại
6 Những kết quả nghiên cứu mói đề tài
- Đề tài đã tổng hợp, phân tích các quy định pháp luật điều chỉnh những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại
- Đề tài đưa ra một số đánh giá về thực trạng pháp luật điều chỉnh hành
vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại
- Đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
- Chưong 1 : Những vấn đề lý luận về hành vi cạnh tranh không lành
mạnh và pháp luật điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại
- Chưong 2: Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc
Trang 11tiến thương mại theo quy định của Luật cạnh tranh 2004 và thực tiễn thi hành
- Chương 3: Một số giải pháp nhàm hoàn thiện, thực thi có hiệu quả
pháp luật điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
xúc tiến thương mại ở Việt Nam
5
Trang 12Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MANH VÀ PHÁP LƯẢT ĐIÊU CHỈNH HÀNH VI• •CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH • • vực xúc•
TIẾN THƯƠNG MẠI
1 Khái quát về cạnh tranh không lành mạnh và hoạt động xúc tiến thuong mại
1.1.Khái niệm • ' , đặc điểm và các biểu hiện của cạnh tranh không lành mạnh • • • O i
1.1.1 Khải niệm cạnh tranh không lành mạnh
Đê đưa ra được một định nghĩa chính xác, đây đủ vê cạnh tranh không lành mạnh là một điều không dễ, bởi nội hàm của nó luôn có sự thay đổi tuỳ thuộc vào nhận thức ở từng giai đoạn lịch sử và ở từng quốc gia về chuẩn mực giá trị xã hội cũng như sự thay đổi, tiến bộ của khoa học kỹ thuật Sự khó định nghĩa về cạnh tranh không lành mạnh còn bởi vì hình thức biểu hiện của
nó ngày càng tinh vi, xảo quyệt và phức tạp hơn
ơ giác độ khái quát, “cạnh tranh không lành mạnh ì à những hành vi cạnh tranh đi ngược lại các nguyên tắc xã hội, tập quán và truyền thống kỉnh doanh, xâm phạm lợi ích của các nhà kinh doanh khác, lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích của xã h ộ i” [23, tr 19]
Tại khoản 2 Điều 10 Công ước Paris 1883 về Bảo hộ quyền sở hữu trí
tuệ có nêu rõ: "Bắt kỳ hành vỉ cạnh tranh nào trái với các hoạt động thực tiễn trung thực trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh ”, cạnh tranh không lành mạnh là “những hành
vi cạnh tranh không trung thực, vi phạm những nguyên tắc cơ bản của đạo đức kinh doanh, được tiến hành trong quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nhằm hưởng lợi bất hợp pháp từ thành quả kinh doanh của người khác hoặc
2,ièm pha đối thủ cạnh tranh, giành giật khách hàng về phía mình” [6]
Trang 13Trong quá trình xây dựng các chê định của pháp luật cạnh tranh, nhiêu quôc gia trên thế giới cũng đưa ra các khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Đức năm 1909, tại Điều 1
đã ghi rõ: “Người nào trong các giao dịch kinh doanh mà thực hiện các hành
vi trái với thuần phong mỹ tục, thì có thể bị yêu cầu chấm dứt các hành vi vi phạm và bồi thường thiệt hại ” [24, tr.226]
Luật bảo vệ cạnh tranh của Bungari ban hành ngày 02/05/1991, tại khoảnl
-Điều 12 định nghĩa: "Cạnh tranh không lành mạnh ỉà hành vi hoặc biểu hiện tiến hành các hoạt động kinh tế trải với tiêu chuẩn thông thường về kinh doanh trung thực và gây hại hoặc có thể gây hại nhũng lợi ích của các đối thủ cạnh tranh trong các moi quan hệ với nhau hoặc với người tiêu dùng của
họ và các moi quan hệ giữa họ với người tiêu dùng" [28, tr.201]
Theo Điều 2 Luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Cộng hoà Nhân
dân Trung Hoa năm 1993: “Cạnh tranh không lành mạnh lừ hoạt động của doanh nghiệp trải với quy định của luật này, gây thiệt hại cho quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp khác, làm roi loạn trật tự kinh tế- xã hội ”
[28, tr.416]
Như vậy, hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã được pháp luật của nhiều quốc gia đề cập đến, mặc dù chưa có khái niệm nào mang tính triệt để nhất, tuy nhiên những khái niệm này cũng giúp ta phần nào đó hình dung được những điểm cơ bản của hành vi này
Ở Việt Nam, trước khi Luật Cạnh tranh 2004 ra đời cũng có một số văn bản pháp luật đề cập tới vấn đề cạnh tranh không lành mạnh, như: Điều 8, Điều 9 - Luật Thương mại 1997, Bộ luật hình sự 1999, Pháp lệnh quảng cáo
2001, Nghị định 24/2003/NĐ-CP ngày 13/03/2003; tuy nhiên, không có một văn bản nào đưa ra khái niệm về hành vi này Phải đến khi Luật Cạnh tranh
7
Trang 142004 được xây dựng thì mới có một khái niệm về cạnh tranh không lành
mạnh Theo khoản 4 Điều 3 của Luật này: “Hành vi cạnh tranh không lành
mạnh là hành vi của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các
chuẩn mực thông thường về đạo đức kỉnh doanh, gây thiệt hại đến lợi ích của
nhà nước, quyền và lợi ích họp pháp của doanh nghiệp khác hoặc của người
tiêu dùng" [2, tr.3]
Từ quy định pháp luật của một số nước trên thế giới và Luật cạnh tranh
Việt Nam cho thấy, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về hành vi cạnh
tranh không lành mạnh, tuy nhiên, tất cả các khái niệm đó đều có chung quan
điêm đây là hành vi không đẹp, vi phạm môi trường kinh doanh lành mạnh và
cần phải ngăn chặn kịp thời để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của doanh
nghiệp khác, của người tiêu dùng và của Nhà nước
1.1.2 Đặc điềm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo Luật cạnh tranh 2004 :
Thứ nhắt, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh do
các chủ thê kinh doanh trên thị trường thực hiện
Chủ thê thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các doanh
nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường, ơ đây, khái niệm
doanh nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm mọi tổ chức hay cá nhân
tham gia hoạt động tìm kiếm lợi nhuận một cách thường xuyên và chuyên
nghiệp, có tư cách thương nhân trên thị trường Trên một phạm vi rộng hơn,
các quy định về cạnh tranh không lành mạnh còn có thể áp dụng đối với hành
vi của nhóm doanh nghiệp hoạt động có tổ chức (hiệp hội) và cá nhân hành
nghề tự do (người bán hàng rong, bác sỹ, luật sư )
Thứ hai, hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải nhằm mục đích
cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là yếu tố sống còn của các doanh
Trang 15nghiệp Quy luật cạnh tranh cũng giống như những quy luật tồn tại và đào thải của tự nhiên, nó luôn khẳng định chiến thắng thuộc về kẻ mạnh, và đó cũng chính là quy luật của thương trường - hiệu quả hay là chết Do vậy, mục đích cạnh tranh là một trong những yếu tố bẳt buộc để xác định một hành vi của doanh nghiệp, hiệp hội có phải là hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không.
Thứ ba, hành vi không lành mạnh là hành vi trái với các chuẩn mực
thông thường về đạo đức kinh doanh
Chuẩn mực về đạo đức kinh doanh là một khái niệm mang tính trừu tượng, rất khó xác định, nó phụ thuộc vào quan niệm truyền thống kinh doanh của mỗi quốc gia hay từng vùng, miền Tuy nhiên, có thể hiểu đó là những hành
vi đi ngược lại với pháp luật, thông lệ, tập quán kinh doanh
Thứ tư, hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải gây thiệt hại hoặc có
thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của doanh nghiệp khác hoặc của người tiêu dùng
Theo Điều 4 - Luật Cạnh tranh 2004 thì doanh nghiệp được quyền tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật, Nhà nước bảo hộ quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh doanh Tuy nhiên, trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện quyền tự do cạnh tranh mà gây thiệt hại đến các chủ thể khác thì sẽ bị xếp vào nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh Những hành vi cạnh tranh không lành mạnh đó có thể sẽ gây ra những thiệt hại cho nhà nước như: tác động xấu đến thị trường, làm đảo lộn trật tự quản lý kinh tế ; cũng có thể ảnh hưởng đến các doanh nghiệp khác như: bị mất uy tín, giảm thị phần, giảm doanh thu và đối tượng bị thiệt hại cũng có thể là khách hàng như bị nhầm lẫn, mua hàng kém chất lượng, bị giảm sút về sức khoẻ, thậm chí thiệt hại về tính
m ạng Tuy nhiên, việc xác định thiệt hại là một vấn đề rất phức tạp và cần phải tuân theo những quy định của pháp luật
9
Trang 161.1.3 Biêu hiện của hành vi cạnh tranh không lành mạnh:
Theo quy định của Luật cạnh tranh 2004, cạnh tranh không lành mạnh được biểu hiện qua 9 hành vi sau:
Thứ nhất, hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn ( Điều 40) Hành vi này là
việc doanh nghiệp sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khấu hiệu kinh doanh, biếu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh
Thứ hai, hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh (Điều 41) Bí mật kinh
doanh không phải là bí mật thông thường mà nó có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó Bí mật kinh doanh được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được Việc một doanh nghiệp xâm phạm bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác thông qua việc tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh hoặc tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác sê gây những bất lợi trong cạnh tranh cho doanh nghiệp đó
Thứ ba, hành vi ép buộc trong kinh doanh ( Điều 42) Ép buộc trong
kinh doanh là hành vi đe doạ hoặc cưỡng ép khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch đối với doanh nghiệp đó, gây ra những tác động xấu đối với môi trường cạnh tranh, gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh đồng thời ảnh hưởng tới lợi ích của khách hàng Hành vi ép buộc trong kinh doanh bị cấm bao gồm hành vi đe doạ đối tác kinh doanh và khách hàng của doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh
và cưỡng ép đối tác kinh doanh và khách hàng của doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh
Trang 17Thứ tư, hành vi gièm pha doanh nghiệp khác ( Điều 43) Gièm pha
doanh nghiệp khác là hành vi cạnh tranh không lành mạnh tuơng đối phổ biến trong hoạt động kinh doanh Hành vi này có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau từ đơn giản đến phức tạp, có thể được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc đưa ra những thông tin không trung thực nhằm loại bỏ đổi thủ cạnh tranh hoặc kìm hãm sự phát triển kinh doanh của đối thủ cạnh tranh thông qua việc giảm lượng khách hàng sử dụng sản phấm của doanh nghiệp đó, nhưng phổ biến nhất là doanh nghiệp cạnh tranh thường tung ra những tin đồn thất thiệt về chất lượng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh khác, tạo sự nghi ngờ của khách hàng trong việc trong việc sử dụng các hàng hoá, dịch vụ của đối thủ của mình
Thứ năm, hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
khác (Điều 44) Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác có thể
là bất kế các hành vi trực tiếp hay gián tiếp nhằm vào đối thủ cạnh tranh gây cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác Bao gồm: hành vi nhằm cản trở hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác và những hành vi làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ sáu, hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh (Điều
45), bao gồm: quảng cáo so sánh nhàm hạ thấp chất lượng hàng hoá, dịch vụ của thương nhân khác; quảng cáo hàng hoá của mình trên cơ sở bắt chước mẫu quảng cáo của đối thủ cạnh tranh, lạm dụng uy tín của một sản phẩm khác cùng loại (bắt chước, lạm dụng uy tín); sử dụng sản phẩm quảng cáo hoặc những thông tin có thể gây nhầm lẫn lừa dổi khách hàng để dụ dỗ khách hàng (quảng cáo không trung thực)
Thứ bảy, hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh (Điều
46), bao gồm: tổ chức khuyến mại gian dối về giải thưởng; khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hoá, dịch vụ để lừa dối khách hàng;
11
Trang 18phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại; tặng hàng hoá cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hoá cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đang sử dụng để dùng hàng hoá của mình và các hoạt động khác mà pháp luật có quy định cấm.
Thứ tám, hành vi phân biệt đổi xử của hiệp hội (Điều 47), bao gồm:
hành vi từ chối doanh nghiệp có đủ điều kiện gia nhập hoặc rút khỏi hiệp hội nếu việc từ chối đó mang tính phân biệt đổi xử và làm cho doanh nghiệp đó bị bất lợi trong cạnh tranh và hạn chế bất hợp lý các hoạt động kinh doanh hoặc các hoạt động có liên quan tới mục đích kinh doanh của các doanh nghiệp thành viên
Thứ chín, hành vi bán hàng đa cấp bất chính (Điều 48), bao gồm các
hành vi: Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hóa ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng; Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia đế bán lại; Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp; Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham gia
1.2 Khái niệm, đặc điểm và các hình thức của các hoạt động xúc tiến thương mại
Xúc tiến thương mại là thuật ngữ xuất hiện trong kinh tế học từ những năm đầu của thế kỷ XX Trong tiếng Anh, “xúc tiến” (promotion) là sự khuyến khích, ủng hộ, sự khuyếch trương, thúc đẩy hay sự thăng tiến Vì vậy,
“trade promotion” không chỉ là xúc tiến thương mại mà còn có nghĩa là sự
Trang 19khuyếch trương thương mại, sự thúc đẩy thương mại.
Ỏ góc độ kinh tế, Viện Nghiên cứu thương mại- Bộ Thương mại cho rằng: “ Xúc tiến thương mại là tất cả các biện pháp có tác động khuyến khích phát triển thương mại”, được thực hiện bởi nhiều chủ thể như Chính phủ, các
tổ chức xúc tiến thương mại và thương nhân [20]
Theo Từ điển bách khoa toàn thư, Xúc tiến thương mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, triên lãm thương mại [35]
Khái niệm xúc tiến thương mại rất đa dạng, song chung quy lại thì đó là những hoạt động hồ trợ thiết yếu tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình sản xuất, phân phối lưu thông hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ nhàm thúc đấy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ để tăng hiệu quả hoạt động thương mại, đáp ứng nhu cầu giao thương ngày càng cao của
xã hội
Dưới phương diện pháp lý, “Xúc tiến thương mại” lần đầu tiên được định nghĩa tại khoản 5, Điều 5 Luật thương mại 1997: “ là hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ thương mại” Định nghĩa này tiếp tục được ghi nhận ở Khoản 10 điều 3 Luật thương
mại 2005: "Xúc tiến thương mại là hoat động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoả và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyển mại, quảng cáo, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, triền lãm thương mại" Theo quy định này, xúc tiến thương mại có những đặc điểm pháp lý chủ
yếu như sau:
Thứ nhất, về bản chất, xúc tiến thương mại là hoạt động thương mại, có tác dụng thúc đẩy cơ hội thực hiện các hoạt động thương mại khác như hoạt động mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ Hoạt động thương mại là hoạt
13
Trang 20động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm hoạt động sinh lời trực tiếp và gián tiếp Với đặc trưng tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hoá và cũng ứng dịch vụ thông qua hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại , xúc tiến thương mại thuộc nhóm hành vi thương mại không trực tiếp sinh lợi mà nó có tác dụng kích thích nhu cầu của khách hàng, tác động tới thái độ và hành vi mua sắm của khách hàng để thông qua đó thoả mãn nhu cầu lợi nhuận của thương nhân.
Thứ hai, chủ thể thực hiện xúc tiến thương mại chủ yếu là thương nhân Theo Điều 6- Luật thương mại năm 2005 quy định: thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Theo quy định này, chủ thể kinh doanh được coi là thương nhân khi có đủ ba dấu hiệu: (i) Là cá nhân hoặc tổ chức thành lập hợp pháp; (ii) hoạt động thương mại độc lập thường xuyên, trong đó, hoạt động thưong mại được hiêu là mọi hoạt động có mục đích sinh lời diễn ra trong các lĩnh vực mua bán hàng hoá, cung ứng dịch
vụ, đầu tư (iii) có đăng ký kinh doanh khi thực hiện các hoạt động thương mại Ngoài ra, chủ thể thực hiện xúc tiến thương mại còn có thể là cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên nhưng không phải đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật
Thứ ba, mục đích của hoạt động xúc tiến thương mại là nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thông qua các biện pháp thông tin thương mại, quảng cáo, triển lãm thương mại, nhằm giới thiệu, khuyếch trương cho thương nhân và hoạt động thương mại của họ để mang lại hiệu quả phát triển thương mại, bao gồm cả đầu tư
Theo quy định của pháp luật hiện hành, xúc tiến thương mại gồm có bốn hình thức là: khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày giới thiệu hàng hoá, dịch vụ thương mại
Trang 21Khuyên mại là hoạt động xúc tiên thương mại của thương nhân nhăm xúc
tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định, để từ đó tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy mạnh
mẽ việc bán hàng và cung ứng dịch vụ Khuyến mại là cách thức, biện pháp thu hút khách hàng thông qua việc dành lợi ích cho khách hàng, bao gồm lợi ích vật chất (tiền, hàng hoá) hay lợi ích phi vật chất (được cung ứng dịch vụ miễn phí)
Quảng cáo thương mại là hoạt động giới thiệu hàng hoá và dịch vụ thương
mại của thương nhân thông qua các phương tiện quảng cáo như báo chí, các
ấn phẩm, bảng, biên, băng, panô, áp phích gây sự chú ý đến khách hàng bàng hình ảnh, tiếng nói, chữ viết Quảng cáo đưa thông tin đến khách hàng
về chủng loại, tính năng, tác dụng, giá cả của hàng hoá, dịch vụ nhàm khuyếch trương, thu hút khách hàng, kích thích nhu cầu mua sắm và sử dụng dịch vụ của khách hàng
Truvg bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ là hành vi của thương nhân dùng hàng hoá, tài liệu về hảng hoá, dịch vụ để giới thiệu với khách hàng về hàng hoá, dịch vụ mà họ có khả năng cung cấp Trong hình thức xúc tiến thương mại này, phương tiện có ý nghĩa thông tin đến khách hàng chính là hàng hoá, dịch vụ và tài liệu về hàng hoá, dịch vụ đó Các hình thức trưng bày hàng hoá
có thế là mở phòng trưng bày, tổ chức giới thiệu hàng hoá thông qua các trung tâm xúc tiến thương mại, hội chợ triển lãm hoặc hoạt động giải trí,trưng bày giới thiệu hàng hoá,
Hội chợ, triển lãm thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại tập trung
trong một thời gian và tại một địa điểm nhất định để thương nhân trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ, tài liệu về hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ Hội chợ thương mại là hoạt động được tổ chức tại địa điểm, thời gian thích
15
Trang 22họp, là nơi người bán, người mua trực tiếp thực hiện hành vi mua bán hàng hoá và thiết lập các giao dịch thương mại Triển lãm có hình thái gần giống hội chợ nhưng mục đích của người tham gia triển lãm chủ yếu là để giới thiệu, quảng cáo và khai thác cơ hội giao dịch thương mại chứ không nhằm mục đích bán lẻ hàng hoá tại chỗ.
1.3 M ối quan hệ giữa cạnh tranh không lành mạnh và hoại động xúc tiến thương mại
Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có mối quan hệ tác động qua lại với các hoạt động xúc tiến thương mại Xúc tiến thương mại là mục đích của cạnh tranh và ngược lại, cạnh tranh là nguyên do của xúc tiến thương mại Trong nền kinh tế thị trường, khi nhiều thương nhân cùng có khả năng cune cấp những hàng hoá, dịch vụ có khả năng thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng, giá cả thì hình thành nên thị trường liên quan Trong thị trường
đó, có the xác định được thị phần của thương nhân đối với một loại hàng hoá dịch vụ nhất định thông qua tỉ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của thương nhân này với tổng doanh thu của các thương nhân kinh doanh loại hàng đó trên thị trường liên quan Việc tăng thị phần của một thương nhân đồng nghĩa với việc giảm thị phần của thương nhân khác, nên trạng thái cạnh tranh luôn tồn tại Để đáp ứng nhu cầu này, không chỉ có việc tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt với giá thành phù hợp mà việc chủ động tạo ra thị trường thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại cũng có ý nghĩa rất lớn Mặt khác, cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường thực sự trở thành nguyên nhân buộc doanh nghiệp phải chủ động chào bán hàng hoá, dịch vụ thông qua hình thức thông tin, tiếp thị để xúc tiến thương mại
Hoạt động xúc tiến thương mại là một trong những công cụ hữu hiệu để cạnh tranh, nhưng khi các hoạt động xúc tiến thương mại này vượt ra khỏi khuôn khổ pháp luật cho phép gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền
Trang 23và lợi ích hợp pháp của thương nhân khác hoặc của người tiêu dùng thì nó sẽ trở thành hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Có thể thấy, xúc tiến thương mại là một hoạt động mang bản chất cạnh tranh và tiềm ẩn nguy cơ phát sinh sự xâm hại đến cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường Do đó, việc nhận thức mổi quan hệ giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh và xúc tiến thương mại là cần thiết để qua đó áp dụng
cơ chế điều chỉnh pháp luật phù họp nhằm đảm bảo sự vận hành đầy đủ và hiệu quả của cơ chế cạnh tranh, bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp và người tiêu dùng
2 Lý luận chung về pháp luật hành vi cạnh ỉranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thuoìig mại
2.1 Hệ thống pháp luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại
Trước khi Luật cạnh tranh 2004 ra đời, nghị định 194/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 31/12/1994 đã có quy định về việc cấm quảng cáo sai chất lượng hàng hoá đã đăng ký, nói xấu người khác và hàng hoá của người khác (Điều 6) Tuy nhiên, vấn đề cạnh tranh mới chỉ được chính thức ghi nhận khi Quốc hội ban hành Luật Thương mại 1997 ngày 10/5/1997 Tại Điều 8 của Luật, những hành vi cạnh tranh không lành mạnh thông thường đã được liệt
kê và bị nghiêm cấm thực hiện như: đầu cơ lũng đoạn thị trường; bán phá giá cạnh tranh; gièm pha thương nhân khác; ngăn cản, lôi kéo, mua chuộc, đe doạ nhân viên hoặc khách hàng của thương nhân khác; xâm phạm quyền về nhãn hiệu hàng hoá, các quyền khác về sở hữu công nghiệp của thương nhân khác Bên cạnh đó, để bảo vệ người tiêu dùng, Luật thương mại 1997 cũng
có những quy định nhàm chống cạnh tranh không lành mạnh Khoản 3 Điều 9 quy định: cấm thương nhân nâng ép giá gây thiệt hại cho người sản xuất, người tiêu dùng; gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng; quảng cáo dối trá;
T H Ư V I F f ]
I r !•> A I r \ '
17
Trang 24khuyến mại bất hợp pháp Đặc biệt, Luật thương mại lần đầu tiên luật hoá nguyên tắc về quyền cạnh tranh hợp pháp của thương nhân trong hoạt động thương mại, đồng thời nghiêm cấm các hành vi cạnh tranh gây tổn hại đến lợi ích quốc gia và lợi ích của người khác Luật cũng quy định cơ quan chịu trách nhiệm quản lý thương mại, trong đó có hoạt động xúc tiến thương mại là Bộ thương mại Điều này tao ra sự trùng lặp về thẩm quyền của hai ngành thương mại và thông tin đối với hoạt động quảng cáo.
Bên cạnh đó, bộ luật hình sự 1999 cũng có quy định về tội quảng cáo gian dối (Điều 168): “ Người nào quảng cáo gian dối về hàng hoá, dịch vụ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết
án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng”
Tại điều 5 Pháp lệnh quảng cáo 2001 cũng có quy định cấm các hành vi quảng cáo gian dổi; lợi dụng quảng cáo để xúc phạm danh dự, uy tín hoặc xâm phạm quyền, lợi ích họp pháp của tổ chức, cá nhân; cấ m quảng cáo nói xấu, so sánh hoặc gây nhầm lẫn với cơ sở sản xuất, kinh doanh, hàng hoá, dịch vụ của người khác; dùng danh nghĩa, hình ảnh của tố chức, cá nhân khác
để quảng cáo mà không được sự chấp thuận của tổ chức, cá nhân đó (Điều 3 Nghị định 24/2003/NĐ- CP)
Khi Luật cạnh tranh 2004 ra đời, hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại được quy định tại chương III Tuy nhiên, Luật Canh tranh chỉ điều chỉnh hai hành vi canh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại là quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh (Điều 45) và khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh (Điều 46)
Ngoài ra, cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại còn được quy định trong các văn bản pháp luật khác
Tại Luật thương mại 2005, Điều 100 quy định: Các hành vi bị cấm trong
Trang 25hoạt động khuyến mại, trong đó, Khoản 5 quy định cấm Khuyến mại thiếu trung thực hoặc gây hiểu lầm về hàng hoá, dịch vụ để lừa dối khách hàng;
khoản 8: cấm "Hứa tặng, thưởng nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng”', khoản 9: cấm “Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh" Điều 109 của Luật này quy định Các quảng cáo thương mại bị cấm, trong đó, khoản 6 cấm “Ouảng cảo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng ho á, dịch vụ của mình với hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ cùng loại của thương nhân
kh á c”; khoản 7 cấm “Quảng cáo sai sự thật về một trong các nội dung số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiêu dáng, xuất xứ hànọ, hỏa, chủng loại, bao bì, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của hàng hoá, dịch vụ khoản 8 cấm “ Quảng cảo cho hoạt động kỉnh doanh của mình bằng cách sử đụng sản phàm quảng cáo vi phạm quyền sở hữu trí tuệ; sử dụng hình ảnh của tổ chức, cá nhân khác đê quảng cáo khỉ chưa được tổ chức, cá nhân đó đồng ỷ khoản 9 cấm “ Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của pháp luật”.
Bên cạnh đó, các quy định điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại còn được đề cập tại một số các Nghị định như: Nghị định số 175/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10 tháng 10 năm
2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xúc tiến thương mại (nay được thay thế bằng Nghị định 06/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2008); Nghị định sổ 116/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 09 năm 2005 quy định chi tiết thi hành một sổ điều của Luật cạnh tranh; Nghị định số 120/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30 tháng 09 năm 2005 quy định về xử
lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh; Nghị định số 37/2006/NĐ- CP của Chính phủ ngày 04 tháng 04 năm 2006 quy định chi tiết thi hành Luật thương mại 2005 về hoạt động xúc tiến thương mại; Nghị định 56/2006/NĐ-
19
Trang 26CP ngày 06/06/2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hoá- thông tin
Như vây, pháp luât điều chỉnh canh tranh không lành mạnh đươc quy định trong nhiều văn bản pháp luât khác nhau, do đó, cần xem xét nguyên tắc
áp dụng pháp luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại
Tại Điều 5 Luật cạnh tranh 2004 quy định về nguyên tắc áp dụng luật:
“Áp dụng luật này, các luật khác cổ liên quan và điều ước quốc tế: 1- Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật này với quy định của ìuật khác
về hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh thì áp dụng quy định của Luật này; 2- Trường họp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kv kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó” Theo cách diễn giải của
Điều 5 về mối quan hệ giữa Luật cạnh tranh với các văn bản pháp luật khác, bao gồm pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế thì trong mối quan hệ với các văn bản pháp luật quốc gia, Luật cạnh tranh là “luật riêng” còn trong mối quan hệ với điều ước quốc tế thì Luật cạnh tranh là “luật chung” Đây thực chất là việc giải quyết mối quan hệ giữa luật chung và luật chuyên ngành, theo đó, các nhà làm luật xem xét các văn bản mặc dù có cùng một cấp độ hiệu lực nhưng văn bản nào sẽ được ưu tiên áp dụng đối với cùng một vấn đề đang được xem xét Xác định Luật cạnh tranh được áp dụng ưu tiên so với các văn bản pháp luật khác là nhàm mục đích bảo đảm việc điều chỉnh thống nhất
và có hiệu quả các vi phạm về cạnh tranh bằng Luật cạnh tranh Tuy vậy, quy định này chưa phù hợp với nguyên lý chung về hiệu lực và trình tự ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, về mối quan hệ giữa luật chung là luật chuyên ngành Điều này sẽ gây khó khăn khi cần phải áp dụng các quy định pháp luật về cạnh tranh đối với các quan hệ cạnh tranh đặc thù của ngành
Trang 27về tính chất, các quy định pháp luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại không mang tính
“ hướng dần” mà thuộc loại pháp luật “ngăn cản”, mang tính chất “can thiệp”
Do đó, đổi với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại, Luật cạnh tranh không tạo ra sức cạnh tranh mới trong nền kinh
tế mà chủ yếu ngăn cản những hành vi cạnh tranh, trái đạo đức, tập quán kinh doanh, xâm hại tới lợi ích của các doanh nghiệp khác với động cơ cạnh tranh, qua đó, tìm cách tạo cho mình những lợi thế cạnh tranh “không đáng có”
về đối tượng áp dụng, theo Điều 2 Luật cạnh tranh, pháp luật điều
chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại
được áp dụng đổi với; "Tổ chức, cá nhản kinh doanh (sau đây gọi chung ỉ à doanh nghiệp) bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch
vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam ” Tổ
chức kinh doanh được hiểu chủ yếu là các loại hình doanh nghiệp, bao gồm: Doanh nghiệp Nhà nước, Công ty trách nhiệm hữu Ịaạn, Công ty cổ phần, Họp tác xã, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Cá nhân kinh doanh được hiểu là các cá nhân thực hiện hoạt động kinh doanh bao gồm cả cá nhân kinh doanh có đăng ký kinh doanh và cá nhân kinh doanh không có đăng ký như cá
21
Trang 28nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng
3 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thưoTig mại của một số nước trên thế giới
3.1 Pháp luật cạnh tranh Pháp
Pháp - quê hương của cách mạng tư sản cũng chính là quốc gia đầu tiên quy định pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh Văn bản pháp luật của Pháp không có một quy định nào liệt kê các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, mà luật cạnh tranh Pháp được cụ thể hoá thông qua các án lệ Án
lệ của Pháp coi quảng cáo là một dạng của cạnh tranh không lành mạnh (thông thường là so sánh về chất lượng và giá cả) Gần đây, Pháp lệnh 2001-
741 ngày 23/08/2001 (đã được pháp điển hoá trong Bộ luật bảo vệ người tiêu dùng tại Điều L.121-8) đã cho phép doanh nghiệp thực hiện quảng cáo so sánh, song với điều kiện hết sức chặt chẽ Điều luật quy định: “Mọi thông điệp quảng cáo có nội dung so sánh hàng hoá hoặc dịch vụ bằng cách chỉ rõ đối thủ cạnh tranh hoặc sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, chỉ được coi là hợp pháp khi: (i) Nó không mang tính lừa dối hoặc có nội dung tạo ra sự nhầm lẫn; (ii) Nó hướng đến hàng hoá hoặc dịch vụ đáp ứng nhu cầu giống nhau hoặc có mục đích giống nhau; (iii) Nó so sánh một cách khách quan một hoặc nhiều đặc tính chủ yếu, đặc trưng, có thề kiểm soát được và đại diện cho các
Trang 29hàng hoá hoặc dịch vụ, mà giá cả được coi là một bộ phận cấu thành của các yếu tố đó” Như vậy, tại Pháp, về nguyên tắc quảng cáo so sánh là bị cấm, nhưng vẫn có thể coi là hợp pháp khi đáp ứng được điều kiện nhất định Trong trường hợp quảng cáo so sánh nhằm chuẩn bị cho một đợt khuyến mại đặc biệt thì việc quảng cáo đó phải chỉ rõ ngày bắt đầu cung ứng hàng hoá hoặc dịch vụ khuyến mại, trong một số trường họp còn phải nêu rõ giới hạn của đợt khuyến mại đó (giới hạn hàng hoá tồn kho) và các điều kiện áp dụng đặc biệt khác Điều L 121-9 Bộ luật bảo vệ người tiêu dùng đã bổ sung thêm một số quy định: (i) quảng cáo so sánh không được thu lợi bất chính nhờ núp bóng vào sự nối tiếng của một nhãn hiệu, một nhãn mác hay dấu hiệu nhận dạng khác của một doanh nghiệp cạnh tranh với mình hoặc núp bóng vào tên gọi xuất xứ hàng hoá cũng như là chỉ dẫn địa lý đang được pháp luật bảo vệ của một sản phẩm cạnh tranh với mình; (ii) kéo theo việc nói xấu nhãn mác, thương hiệu của doanh nghiệp cạnh tranh; (iii) tạo ra sự nhầm lẫn giữa người được quảng cáo và đối thủ cạnh tranh hoặc giữa các nhãn hiệu hàng hoá, hoạt động hay tình trạng của doanh nghiệp đuợc quảng cáo với doanh nghiệp cạnh tranh; (iv) giới thiệu hàng hoá, dịch vụ như một sự bắt chước hoặc nhái lại một hàng hoá, dịch vụ đang được bảo hộ.
3.2 Pháp luật cạnh tranh Trung Quốc
Luật chống cạnh tranh không lành mạnh của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được kỳ họp Quốc hội thông qua ngày 02/09/1993, trong đó, có chương 2 quy định về các hoạt động cạnh tranh không bình đẳng Với 11 điều khoản, có 2 điều luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh không bình đẳng trong lĩnh vực xúc tiến thương mại:
Doanh nghiệp không được sử dụng quảng cáo hay các hình thức khác để đưa thông tin sai trái, gây nhầm lẫn về mặt chất lượng, thành phần, hoạt động, công dụng, nhà sản xuất, tuổi thọ, nguồn gốc của hàng hoá Người làm
23
Trang 30quảng cáo không được hoạt động với tư cách đại lý trong việc thiết kế, sản xuất và đưa ra những quảng cáo sai trái khi họ biết, hoặc cần phải biết, thông tin trong quảng cáo là sai trái (Điều 9) Có thể thấy, trong Luật cạnh tranh của Trung Quốc chỉ cấm hành vi quảng cáo đưa thông tin sai trái, gây nhầm lẫn cho khách hàng mà không cấm quảng cáo bắt chước hay quảng cáo so sánh Theo Điều 7- Luật quảng cáo Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thì việc sử dụng các từ mang tính chất khẳng định như “tiêu chuẩn quốc gia”, “tiêu chuẩn cao nhất” hay “tốt nhất” bị cẩm Như vậy, quảng cáo so sánh không bị xếp vào nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh Bên cạnh đó, pháp luật cạnh tranh Trung Quốc lại có quy định cấm người làm quảng cáo cố tình đưa ra quảng cáo sai trái khi họ biết hoặc cần phải biết thông tin trong quảng cáo là sai trái Quy định này sẽ giúp những người trực tiếp làm quảng cáo có ý thức hơn trong việc xây dựng quảng cáo vừa bảo đảm mục đích chính của quảng cáo là thu hút khách hàng, thúc đẩy hoạt động mua bán hàng hoá, vừa chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo.
Tại điều 13 của luật này cũng quy định: người sản xuất kinh doanh không được thực hiện những loại hình bán hàng sau có giải thưởng kèm theo: 1 bán hàng với giải thưởng kèm theo bằng phương pháp gian lận trong việc quảng cáo về sự tồn tại của giải thưởng hoặc cổ ý chọn người trúng giải trước; 2 xúc tiến bán những mặt hàng phẩm cấp thấp nhưng lại định giá cao bằng cách quảng cáo về giải thưởng kèm theo; 3 bán hàng kèm giải thưởng dưới hình thức xổ số trong đó giải thưởng cao nhất vược quá 5000 nhân dân tệ Điều luật này điều chỉnh hành vi cạnh tranh không bình đẳng trong lĩnh vực khuyến mại Tại điều luật này, Luật cạnh tranh Trung Hoa đã đề ra quy định cấm hoạt động xúc tiến bán những mặt hàng phẩm cấp thấp nhưng lại định giá cao bàng cách quảng cáo về giải thưởng kèm theo, đây là 1 quy định rất cần thiết vì thực tế hành vi này diễn ra khá phổ biến, song luật cạnh tranh của Việt Nam
Trang 31chưa đề cập tới.
Từ nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia trên, có thể nhận thấy các quốc gia này đều cho rằng cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại là hành vi có tác động tiêu cực và gây hậu quả lớn về mặt kinh tế Chính vì thế mỗi quổc gia đều có những quy định điều chỉnh hành vi này Thông qua việc tìm hiểu các qui định của một số nước điển hình, có thể rút ra được một số những kinh nghiệm cho pháp luật Việt Nam trong việc điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại
25
Trang 32Chương 2: THỤC TRẠNG PHÁP LUẬT VÈ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH • vực xúc • TIÉN THƯƠNG MẠI THEO•
QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH 2004
1 Thực trạng pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại
Theo Điều 4 Pháp lệnh quảng cáo, quảng cáo là giới thiệu đến người tiêu dùng về hoạt động kinh doanh, hàng hoá, dịch vụ bao gồm dịch vụ có mục đích sinh lời và dịch vụ không có mục đích sinh lời giúp họ giới thiệu sản phẩm đến với khách hàng một cách nhanh chóng, đồng thời, quảng cáo chính là phương tiện để mở rộng thị trường sản phẩm Đối với người tiêu dùng, hoạt động quảng cáo cung cấp cho người tiêu dùng những thông tin cơ bản về tình hình thị trường, hàng hoá, dịch vụ, từ đó nâng cao khả năng lựa chọn của họ đối với các sản phẩm trên thị trường Do vậy, có thể nói hoạt động quảng cáo thực sự có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và đối với các doanh nghiệp nói riêng Các doanh nghiệp thực hiện quảng cáo thông qua sản phẩm quảng cáo Sản phẩm quảng cáo là những thông tin bằng hình ảnh, hành động, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng chứa đựng nội dung quảng cáo Phương tiện để đưa sản phẩm quảng cáo đến với khách hàng rất đa dạng như các phương tiện thông tin đại chúng, phương tiện truyền tin, các xuất bản phẩm, các loại bảng, biển, panô, áp phích Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà quảng cáo đem lại, còn nhiều mặt hạn chế, một trong số đó chính là hoạt động cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo Theo quy đinh của Luật cạnh tranh 2004, hành vi quảng cáo nhàm cạnh tranh không lành mạnh được biểu hiện dưới các hình thức sau:
Trang 331.1 So sảnh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình và hàng hỏa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác.
Quảng cáo so sánh là việc các doanh nghiệp trong quá trình quảng cáo
đã đưa ra những thông tin có nội dung so sánh với sản phâm của doanh nghịêp khác “Nhìn chung, quảng cáo so sánh thường mang lại những bất lợi cho hàng hoá, dịch vụ bị so sánh, vì thế pháp luật quảng cáo của đa sổ các nước trên thế giới đều cấm quảng cáo so sánh nhàm mục đích cạnh tranh không lành mạnh “Luật quảng cáo của Singapore năm 1976 (sửa đối năm 2003) là một trong số rất ít Luật cho phép quảng cáo so sánh nhưng đòi hỏi người quảng cáo phải tôn trọng những nguyên tắc cơ bản về cạnh tranh lành mạnh và không tạo ra khả năng đánh lừa người tiêu dùng Luật quảng cáo của Trung Quốc còn cấm sử dụng các từ mang tính chất khẳng định như “tiêu chuẩn quốc gia”, “tiêu chuẩn cao nhất” hay “tốt nhất” ” (quy định tại Điều 7- Luật quảng cáo Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa)” [25, tr 197] Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm những hoạt động quảng cáo so sánh gây tổn hại đến cạnh tranh lành mạnh
Trên thực tế, hành vi quảng cáo so sánh được biểu hiện qua ba trườnghợp:
Quảng cáo so sánh bằng là hình thức so sánh mang tính dựa dẫm bàng việc
cho rằng sản phẩm của mình cũng tốt hay có chất lượng ngang bằng như sản phẩm cùng loại đã có uy tín trên thị trường của doanh nghiệp khác Phương thức này tuy không phổ biến vì nó chỉ dành cho những doanh nghiệp chưa có
uy tín, không tự tin về chất lượng sản phẩm của mình, nhưng nó cũng đủ gây ảnh hưởng đến sự phát triển không bình thường của môi trường cạnh tranh
Quảng cảo so sánh hơn là hình thức quảng cáo cho rằng sản phẩm của
người quảng cáo có chất lượng tốt hơn, cung cách phục vụ, hình thức tốt hơn sản phẩm của doanh nghiệp khác Hình thức quảng cáo này có thể nhằm
27
Trang 34đến mục tiêu hạ thấp uy tín của sản phẩm cùng loại của doanh nghiệp khác trên thị trường liên quan nhằm đề cao vị thế của mình.
Quảng cáo so sánh nhất là hình thức quảng cáo khẳng định vị trí sổ một
của sản phẩm của mình trên thị trường bàng cách cho rằng chất lượng, mẫu
mã, phương thức cung ứng của mình là tốt nhất hoặc khẳng định rằng không
có bất cứ sản phấm cùng loại nào trên thị trường có được những tiêu chuẩn nói trên như sản phẩm của mình Trên thực tế các nội dung so sánh tuyệt đổi xuất hiện rất nhiều trong các mẫu quảng cáo, thậm chí đã trở thành quen thuộc như “ dầu gội trị gầu tốt nhất”, “ bột giặt có tác dụng tẩy trắng tốt hơn bột giặt thường gấp 3 lần”, “ sản phẩm hàng đầu thế giới”
Điều 45 Luật cạnh tranh 2004 cấm mọi vi quảng cáo so sánh mà không quan tâm đến việc sự so sánh đó là so sánh bằng, so sánh hơn hay so sánh nhất Hành vi bị coi là quảng cáo so sánh nhằm cạnh tranh không lành mạnh khi thoả mãn hai dấu hiệu sau:
Thứ nhất, dấu hiệu của sự so sánh là các thông tin mà sản phẩm quảng cáo đưa ra không chỉ nói về sản phẩm được quảng cáo mà còn đề cập đến sản phẩm cùng loại của doanh nghiệp khác (sản phẩm bị so sánh), khẳng định sản phẩm được quảng cáo có chất lượng, mẫu mã, cung cách phục vụ ngang bằng hoặc tốt hơn sản phẩm bị so sánh Sản phẩm được quảng cáo và sản phẩm bị so sánh phải là những sản phẩm cùng loại và các thông tin trong quảng cáo khi nói đến hai sản phẩm cùng loại của hai doanh nghiệp khác nhau thì mới bị coi là quảng cáo so sánh Sản phẩm bị so sánh phải là sản phẩm do doanh nghiệp khác sản xuất hoặc kinh doanh Nếu nội dung quảng cáo so sánh các sản phẩm cùng loại do doanh nghiệp thực hiện việc quảng cáo kinh doanh như: so sánh sản phẩm mới và sản phẩm trước đây để cho khách hàng thấy được tính năng của sản phẩm mới thì việc quảng cáo đó không bị coi là quảng cáo so sánh
Trang 35Thứ hai, hành vi quảng cáo so sánh phải là so sánh trực tiêp với sản
phâm cùng loại của doanh nghiệp khác Tuy nhiên, Luật cạnh tranh 2004 cũng như các văn bản hướng dẫn không định nghĩa thế nào là so sánh trực tiếp Do vậy, có thể có nhiều cách hiểu về sự trực tiếp trong việc so sánh So sánh trực tiếp có thể là việc doanh nghiệp vi phạm điểm mặt, chỉ tên sản phẩm và doanh nghiệp cụ thể mà nó muốn so sánh đến (còn gọi là xâm phạm trực tiếp đến đổi thủ cụ thể) Nếu hiểu theo cách này thì những quảng cáo so sánh với những thông tin chung chung như: “Nước rửa bát Sunlight có
Vitamin E không làm khô da như nưó’c rửa bát thông thuồng”, “Lifeboy sạch hơn xà bông thưò’ng, diệt 99,9% vi khuẩn”, “VIM tẩy sạch những chỗ tưởng không thể tẩy rửa được mà những nước vệ sinh khác không thể”
không xác định cụ thể là sản phẩm nào, của ai có thể sè không bị coi là vi phạm Tuy nhiên, sự so sánh có thể sẽ là trực tiếp nếu như những thông tin đưa ra làm cho khách hàng có khả năng xác định được loại sản phâm, nhóm doanh nghiệp bị so sánh mà không cần phải gọi tên doanh nghiệp cụ thể nào Với khái niệm so sánh trực tiếp này, hành vi vi phạm sẽ không chỉ giới hạn đối với những trường hợp thông tin đưa ra cụ thể tên sản phẩm và doanh nghiệp mà sản phẩm quảng cáo nói đến, mà còn có thể là những trường hợp thông tin không cụ thể nhưng vẫn trực tiếp xâm hại đến đối thủ cạnh tranh khác
Một số biểu hiện của sự so sánh trong quảng cáo bằng những thông tin chung chung hoặc bằng những hình ảnh mờ mờ, sản phẩm quảng cáo cũng đã hình thành trong ý thức của người tiêu dùng ý định so sánh với sản phẩm của một nhóm doanh nghiệp xác định Có thể dễ dàng bắt gặp trong các chương trình quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng những kiểu quảng cáo so sánh đưa thông tin mập mờ Sự so sánh với sản phẩm “ thông thường”
là sản phẩm nào cụ thể? Ai là người kiểm nghiệm? đều hoàn toàn không có cơ
29
Trang 36sở Có lẽ, thực chất của những quảng cáo này chẳng qua chỉ là họ muốn gieo vào tâm lý người tiêu dùng ràng sản phẩm của họ có ưu thế hơn hẳn sản phẩm của các đôi thủ cạnh tranh Những hành vi này so với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác mức nguy hại có thể không lớn bằng, song, chúng đã ít nhiều tạo cho người tiêu dùng những suy nghĩ không chính xác về những sản phẩm cùng loại, từ đó, ảnh hưởng trực tiếp tới các doanh nghiệp và tới môi trường cạnh tranh lành mạnh.
1.2 Bắt chước một sản phẩm quảng cảo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng
Sản phẩm quảng cáo là những thông tin bằng hình ảnh, hành động, âm thanh, màu sắc, ánh sáng chứa đựng nội dung quảng cáo Bắt chước sản phẩm quảng cáo là việc dùng các thông tin, hình ảnh, âm nhạc, màu sắc, chừ viết giong với sản phấm của doanh nghiệp khác đã công bổ trước đó với mục đích gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc, xuất xứ, chất lượng của sản phâm được quảng cáo Hoạt động bắt chước một sản phẩm quảng cáo rất dễ gây nhầm lẫn với sản phẩm bị bẳt chước, dẫn đến định hướng sai hành vi mua bán của khách hàng nên bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh Tuy nhiên, hành vi bắt chước đó phải đi kèm với mục đích gây nhầm lẫn cho khách hàng hoặc gây ra hậu quả là gây nhầm lẫn cho khách hàng mới có thể bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh Ví dụ như cách đây không lâu trên ti vi xuất hiện một sản phẩm quảng cáo khá ấn tượng của Công ty sữa Dutch Lady: Tại một sân chơi, các bé đang vui đùa thì bất ngờ có một con quái thú xuất hiện, tất cả bỏ chạy tán loạn, duy chỉ có hai em bình thản lôi sữa Firsti ra uống và bồng chốc trở thành những chiến binh đánh con bại con quái vật Với hiệu ứng hoạt hình 3D tiên tiến kết họp với âm thanh cực kỳ sống động và vui nhộn thì quảng cáo này đã rất thành công khi nhắm tới các bé, bởi hầu hết các bé đều yêu thích siêu nhân Sau đó không lâu, cũng trên ti vi xuất hiện một đoạn quảng cáo của Công ty sữa Vinamilk,
Trang 37cũng là các bé bị tấn công bởi một con quái vật và cũng đưa hộp sữa có chữ Vinamilk ra uống và trở thành dũng sĩ hạ gục con khủng long chín đầu Có thể thấy rằng việc bắt chước này ít nhiều sẽ gây ra nhầm lẫn cho khách hàng khi cùng giống nhau ở một ý tưởng quảng cáo.
Trên thực tế, có thể thấy loại hình quảng cáo bắt chước phổ biến nhất là quảng cáo trên bao bì sản phẩm Các loại sản phẩm nhái bao bì xuất hiện trên thị trường với sổ lượng lớn gây thiệt hại cho người tiêu dùng Bên cạnh quy định về quảng cáo so sánh, điều 40- Luật cạnh tranh 2004 còn có quy định về chi dẫn gây nhầm lẫn, theo đó cấm doanh nghiệp sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tố khác theo quy định của Chính phủ để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh “ Thực tế xử lý các loại bao bì bắt chước cho thấy rõ ranh giới giữa bắt chước tuyệt đối và bắt chước tương đối Trong trường hợp sản phẩm có bao bì giống hệt nhau, cơ quan có thẩm quyền sẽ coi đó là hàng giả, có thể dẫn đến truy tố hình sự Pháp luật cạnh tranh không xử lý vấn đề hàng giả, do đó chỉ giới hạn xem xét hành vi sử dụng bao bì tương tự gây nhầm lẫn cho khách hàng” [17, trl 26]
Những biểu hiện không lành mạnh hướng đến đối thủ cạnh tranh của quảng cáo bắt chước thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, lợi dụng không chính đáng thành quả đầu tư của người khác
Đây là khái niệm chỉ hành vi của một đối thủ cạnh tranh hoặc một chủ thể tham gia thị trường thực hiện với ý định khai thác trực tiếp thành tựu công nghiệp hay thương mại của người khác cho doanh nghiệp của mình mà cơ bản không xuất phát từ thành tựu của doanh nghiệp đó Thành tựu bị bắt chước có thể là công nghệ, sản phẩm, cũng có thể là uy tính của doanh nghiệp, danh tiếng của nhãn hiệu Tuy nhiên, việc khai thác hay “ chiếm đoạt” thành quả
31
Trang 38của người khác thường chỉ bị coi là bất chính trong những trường hợp cụ thể nếu tạo ra nhầm lẫn.
Thứ hai, giảm bớt tính độc đáo của đối tượng bị bắt chước Các sản phẩm
quảng cáo được đầu tư thích đáng, trải qua thời gian sẽ tạo ra khả năng nhận biết trong nhận thức người xem quảng cáo Do vậy, khi bắt chước một sản phấm quảng cáo, quảng cáo mới sẽ làm rối loạn nhận thức sẵn có của người xem, làm mối liên hệ trong nhận thức của họ giữa sản phẩm quảng cáo với một loại hàng hoá, dịch vụ hay một thương nhân nhất định Sự giảm bớt này diễn ra trong cả một quá trình, dù ngắn hay dài thì kết quả của nó vẫn làm mất lợi thế của người chủ mẫu quảng cáo bị bắt chước
Thứ ba, bắt chước mù quáng Đây là trường hợp đặc biệt, tính bất chính
thể hiện ở chồ không có sự nghiên cứu, đầu tư, sáng tạo của người bắt chước Sản phẩm sao chép không chỉ lặp lại các đặc điểm, đặc trưng mang tính kỹ thuật cần thiết của sản phấm mẫu, mà còn bao gồm cả những đặc điếm mỹ thuật hay trang trí, là những đặc điểm hoàn toàn có thể biến đổi, thay thế
Việc bắt chước quảng cáo và lợi dụng uy tín không chỉ gây hại cho một thương nhân ở chỗ quyền sở hữu sản phẩm quảng cáo của người đó bị vi phạm, mà quan trọng hơn là hành vi này do một đối thủ cạnh tranh tiến hành,
sẽ giúp đối thủ đó mạnh hơn trên thị trường, cạnh tranh với mình tốt hơn và như vậy, gián tiếp gây hại một lần nữa Hơn nữa, hoạt động bắt chước một sản phẩm quảng cáo rất dễ gây nhầm lẫn với sản phẩm bị bắt chước, dẫn đến định hướng sai hành vi mua bán của khách hàng, ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranh lành mạnh
1.3 Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về giá cả,
số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, cách thức sử dụng, phương thức sử dụng
Trung thực là yếu tố hàng đầu đối với hoạt động quảng cáo nhằm đảm
Trang 39bảo quyền lợi của người tiêu dùng, đồng thời bảo đảm môi trường kinh doanh lành mạnh Tuy nhiên, lợi dụng sự thiếu hiểu biết của khách hàng, các doanh nghiệp vẫn mặc sức dùng những lời lẽ đầy hoa mỹ, những lí lẽ hết sức thuyết phục nhàm lấy lòng tin của khách hàng mà không hề căn cứ vào một cơ sở nào.
Quảng cáo gian dối có thể hiểu là việc đưa ra thông tin sai sự thật trong nội dung quảng cáo về một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó Cách thức thực hiện của hành vi quảng cáo gian dối cũng rất đa dạng, hành vi này có thể được thực hiện bàng việc sử dụng tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, hình ảnh trên các loại phương tiện quảng cáo như báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử; các xuất bản phẩm như băng hình, đĩa hỉnh; hoặc thông qua hội chợ triển lãm, các tấm panô, băng rôn, các màn hình lớn đặt ở nơi công cộng Gian dối hay gây nhầm lẫn có thể hiểu là tạo ra một ấn tượng sai về hàng hoá, dịch vụ được quảng cáo Hành vi lừa dối, đủ thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào, cũng chống lại một nguyên tắc cơ bản đặt ra cho mọi giao dịch thưong mai hay dân sự nói chung, đó là nguyên tắc trung thực Do vậy, sự cấm đoán thực hiện hành vi này vừa có ý nghĩa bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, vừa có ý nghĩa bảo vệ quyền lợi của đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, hành vi quảng cáo gian dối là dạng hành vi vi phạm phổ biến nhất thường gặp trong hoạt động quảng cáo
Tại khoản 3 Điều 45 Luật cạnh tranh 2004 đã quy định cấm:“ Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hoá, người hàng hoá, người sản xuất, nơi sản xuất, người gia công, nơi gia công; hoặc cách thức sử dụng, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành; hoặc các thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn khác” Tuy nhiên, pháp luật cạnh tranh và các văn bản có liên quan khác đều không làm rõ
33
Trang 40những cách thức biêu hiện của hành vi quảng cáo gian dôi hoặc gây nhâm lẫn Bên cạnh loại quảng cáo gian dối, gây nhầm lẫn đơn giản thông thường, trên thực tế có tồn tại nhiều dạng quảng cáo làm sai lệch nhận thức cho người xem như:
Thứ nhất, quảng cáo bỏ sót thông tin gây nhầm lẫn cho khách hàng Hiện nay trên thực tế có rất nhiều loại thực phẩm chức năng không có tác dụng thay thế thuốc điều trị nhưng lại được “thần thánh hoá” lên thành những
“siêu thuốc” chữa bách bệnh Đa sổ thực phẩm chức năng hiện nay được sản xuất thành viên nhộng, trình bày dạng rời đựng trong chai, lọ hoặc trong vỉ với bao bì, mẫu mã có màu sẳc bắt mắt nếu lần đầu tiên nhìn thấy nhiều người
sẽ nghĩ đó là thuốc, chứ không phải là thực phâm chức năng và trên các sản phầm này đa phần đều không hề có dòng chữ "sản phẩm này không phải thuốc chữa bệnh" theo quy định Trên địa bàn Hà Nội đã từng rộ lên câu chuyện về nước ép Noni (được phân phối bởi Công ty TNHH NoniViNa), bởi trong tờ rơi nhà phân phối quảng cáo nước ép Noni có tác dụng làm giảm, chữa trị đến gần 32 loại bệnh Các tư vấn viên của công ty còn quảng cáo, đây
là loại nước uống không chỉ có tác dụng chống lại ung thư, giảm bệnh tim mạch, giảm triệu chứng bệnh đái đường, viêm khớp, bệnh về sinh lý, giảm các cơn đau tim, chữa bệnh bàng cách tìm ra các tế bào bệnh và tự chữa trị, bệnh trầm cảm, chống viêm nhiễm, chống bệnh truyền nhiễm, giảm cân Và
đã được sử dụng thành công trong hỗ trợ điều trị các chứng nghiện heroin, cocaine, nicotine, alcohol, giảm liều dùng ma túy Nhưng sự thực, “thần dược” Noni chỉ là nước trái cây ép từ trái nhàu Noni, nó hoàn toàn không phải
là thuốc và không cho kết quả như nhà phân phối đã quảng cáo với người tiêu dùng, khiến họ tiền mất, bệnh vẫn mang
Các loại bún, phở, mì đóng gói đều là những loại thức ăn nhanh mang tính tiện lợi cao Thế nhưng dù là loại mì nào, dù cho có được quảng cáo ra rả là