thấy rõ một điều là họ đang cố gắng tìm cách phô diễn những xúc cảm của mình bằng những hình thức nghệ thuật có nhiều tìm tòi đổi mới.” [191] Đồng quan điểm ấy, Yến Nhi trong bài viết Mỹ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ MINH TÂM
THƠ VIỆT NAM NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng mình Các số liệu, dẫn chứng sử dụng trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã công
bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi tự tìm hiểu một cách trung thực, khách quan, phù hợp với đối tƣợng nghiên cứu Các kết quả này chƣa từng đƣợc công bố trong bất kì nghiên cứu nào khác
Nghiên cứu sinh
Trần Thị Minh Tâm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, xin trân trọng cảm ơn GS.TS Lê Văn Lân đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo từ khi người viết làm luận văn thạc sĩ cho đến bản luận án này Nếu không có sự hướng dẫn tận tâm của thầy, bản luận án này chắc chắn không thể hoàn thành
Xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Văn học, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn đã chỉ bảo, giúp đỡ người viết trong quá trình hoàn thành luận án
Sau cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh ủng hộ, động viên để
người viết hoàn thành luận án này./
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của luận án 7
6 Cấu trúc của luận án 7
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9
1.1 Những đánh giá chung về thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI 8
1.2 Những nhận định về đặc điểm thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI 12
1.3 Những nhận định về tác giả, tác phẩm tiêu biểu 19
Chương 2 KHÁI QUÁT THƠ VIỆT NAM NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI 41
2.1 Lực lượng sáng tác 41
2.1.1 Các thế hệ nhà thơ 41
2.1.2 Các hoạt động thơ của lực lượng sáng tác 46
2.2 Quan niệm thơ những năm đầu thế kỷ XXI 49
2.2.1 Cách tân là vấn đề cấp thiết của thơ 50
2.2.2 Sự vận động và đổi mới quan niệm nghệ thuật về thơ 53
2.3 Các khuynh hướng sáng tạo tiêu biểu 62
2.3.1 Khuynh hướng bảo tồn các giá trị thơ truyền thống 64
2.3.2 Khuynh hướng cách tân trên cơ sở truyền thống 68
2.3.3 Khuynh hướng cách tân thơ triệt để 71
Chương 3 NHỮNG CHUYỂN ĐỘNG CỦA NỘI DUNG THƠ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI 80
3.1 Cảm hứng dân tộc lịch sử 80
3.1.1 Biển đảo quê hương, chủ đề nổi bật nhất trong cảm hứng lịch sử dân tộc đầu thế kỉ XXI 82
3.1.2 Lịch sử và truyền thống dân tộc 86
3.2 Dòng thơ thế sự ngày càng chiếm vị trí chủ đạo 91
3.2.1 Thơ phản ánh hiện trạng xã hội trong thời đại kỹ trị và toàn cầu hóa 92
Trang 53.2.2 Trở về với các giá trị truyền thống như một giải pháp chống lại sự tha hóa 96
3.2.3 Niềm tin và hy vọng 101
3.3 Tình yêu và khát khao nhục cảm 103
3.3.1 Tình yêu - chủ đề vĩnh cửu 104
3.3.2 Khát khao nhục cảm 106
3.4 Đi tìm cái tôi 108
3.4.1 Cái tôi cá thể 109
3.4.2 Cái tôi bản thể 112
3.5 Đi vào vùng mờ tâm linh, vô thức, đậm chất siêu thực 115
Chương 4 ĐA DẠNG HÓA NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN 121
4.1 Mở rộng đường biên thể loại 121
4.1.1 Cách tân thể thơ truyền thống 123
4.1.2 Tự do hóa hình thức thơ 127
4.2 Hệ thống ngôn ngữ 133
4.2.1 Ngôn ngữ giản dị, trong sáng, hàm súc 134
4.2.2 Xu hướng gia tăng ngôn ngữ đời thường, trần tục 140
4.2.3 Thử nghiệm chất liệu biểu đạt ngoài ngôn ngữ 143
4.3 Hệ thống hình ảnh 149
4.3.1 Hình ảnh đời thường, trần tục 150
4.3.2 Hình ảnh lạ hóa mang màu sắc siêu thực 152
4.4 Hướng tới đa giọng điệu 155
4.4.1 Giọng độc thoại – giãi bày chiếm vị trí chủ đạo 155
4.4.2 Các giọng điệu khác 159
KẾT LUẬN 165
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 168
TÀI LIỆU THAM KHẢO 169
PHỤ LỤC 181
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thơ là thể loại có lịch sử lâu dài, trở thành hình thức nghệ thuật hầu như ai cũng biết đến Cho dù những năm gần đây thơ không đạt được thành tựu như tiểu thuyết và cũng không được độc giả chào đón mặn nồng như trước nhưng thơ vẫn là phương tiện hữu hiệu nhất bộc lộ đời sống tâm hồn của con người thời nay, vẫn là một thể loại không thể không quan tâm trong nghiên cứu, phê bình văn học
Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, đất nước mở cửa hòa nhập với thế giới; các lý thuyết, trường phái thơ từ thế giới bên ngoài tràn vào khuấy động nền thơ trong nước tạo tiền đề cho sự phát triển một giai đoạn thơ mới Bước vào thế kỷ XXI, bắt đầu từ năm bản lề năm 2000, một không gian văn học mới được mở ra: không gian văn học mạng với nhiều website, blog văn học ra đời, việc truyền bá cũng như tiếp cận tác phẩm trở nên dễ dàng Môi trường mạng còn là nơi gặp gỡ giao lưu giữa văn học trong nước và ngoài nước, là diễn đàn trao đổi học thuật sôi nổi Môi trường văn hóa như vậy làm nảy sinh cách cảm, cách nghĩ, cách thể hiện mới Nhiều người làm thơ ấp ủ hoài bão sáng tạo và thử nghiệm những lối thơ khác
lạ Vậy sau gần hai thập kỷ (tính từ năm 2000) thơ Việt đã có bước phát triển như thế nào, liệu có thể làm nên một cuộc cách mạng thơ như đầu thế kỉ trước? Đó là câu hỏi cần lời giải đáp
Có một điều không thể phủ nhận: thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI phát triển trong sự đa dạng, phức tạp Một mặt, lối thơ trữ tình giàu nhạc tính vẫn được ưa dùng như một quán tính, mặt khác là những cách tân thơ quyết liệt từ thể tài đến ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu Các cuộc tranh luận thơ cách tân hay không cách tân cũng gay gắt chẳng kém tranh luận thơ cũ, thơ mới ở đầu thế kỷ trước Ngay cả giới phê bình cũng có những đánh giá trái chiều về sự phát triển của thơ giai đoạn này Một giai đoạn thơ đa dạng, phức tạp như vậy đáng được quan tâm nghiên cứu
Mỗi chặng đường thơ cần được tổng kết và đánh giá kịp thời để có cái nhìn toàn cảnh và khách quan những thành tựu và hạn chế của nó Gần hai thập kỷ của thế kỷ mới đã trôi qua, cần có cái nhìn khái quát sự vận động của thơ giai đoạn này,
Trang 7từ đó có cơ sở so sánh, đánh giá nó với các giai đoạn thơ khác Tuy nhiên nhận định
về một nền thơ đang lưu chuyển là một việc mạo hiểm và nhiều thử thách Mạo hiểm là bởi có nhiều thứ chưa được định hình, nhiều đặc điểm chưa được ổn định và còn tiềm tàng nhiều bất ngờ mà người nghiên cứu chưa lường đến Thử thách là bởi phạm vi quá rộng, nhất là trong thời kỳ bung nở ồ ạt tác phẩm thơ với rất nhiều khuynh hướng, thử nghiệm Việc đi sâu vào biện giải từng trào lưu, khuynh hướng, đánh giá thành tựu, hạn chế của giai đoạn thơ vẫn còn đang vận động, lưu chuyển này là việc làm rất khó, cần phải có thêm độ lùi thời gian Chúng tôi chỉ đặt ra mục tiêu bằng cái nhìn khách quan và bao quát, vẽ lên những nét cơ bản về diện mạo cũng như khái quát một số đặc điểm về nội dung và nghệ thuật biểu hiện của thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI (tính từ năm 2000 đến năm 2015)
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ là một dòng thơ còn đang chuyển động, do đó chưa có nhiều đánh giá khách quan khái quát cũng như những nghiên cứu chuyên sâu Người viết đã khảo sát và bao quát một thực tiễn sáng tác rộng lớn
để phác thảo diện mạo cũng như đặc điểm của giai đoạn thơ này để bổ sung phần nào vào chỗ trống trong nghiên cứu về thơ đương đại trong tiến trình văn học sử Qua việc khảo sát, nghiên cứu diện mạo, đặc điểm thơ những năm đầu thế kỷ XXI, chúng tôi có cơ sở so sánh thơ giai đoạn này với thơ các giai đoạn trước đặc biệt là giai đoạn đổi mới thơ cuối thế kỷ XX, để xem thơ những năm đầu thế kỷ XXI chỉ là một vệt kéo dài của thơ cuối thế kỷ XX hay là đã có được những sự thay đổi đột phá của một nền thơ mới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu trên, luận án đặt ra những nhiệm vụ cụ thể như sau: Khái quát những nét chung của thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI qua việc khảo sát lực lượng sáng tác và sự vận động của quan niệm nghệ thuật; tình hình đổi mới thơ và những khuynh hướng sáng tạo chính của thơ giai đoạn này
Tìm hiểu những đặc điểm nổi bật về nội dung cũng như nghệ thuật của thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI
Trang 8Từ đó đưa ra những đánh giá khách quan những thành tựu cũng như những hạn chế của thơ giai đoạn này
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
được tuyển chọn như Thơ trên Sông Hương (tuyển chọn 2003-2013) [133], Thơ
mười năm đầu thế kỷ XXI [134], các tập thơ nhận được các giải thưởng văn học uy
tín, một số hiện tượng thơ gây chú ý trên thi đàn đầu thế kỷ Bên cạnh đó luận án có
mở rộng đến tác phẩm không thuộc giai đoạn này để phục vụ cho việc so sánh các giai đoạn thơ với nhau Luận án không khảo sát thơ hải ngoại nhưng tham khảo một
số trào lưu có ảnh hưởng khá đậm đến thơ trong nước như thơ Tân hình thức Ngoài
ra, luận án chỉ giới hạn tư liệu khảo sát ở mảng sáng tác dành cho người lớn, không tìm hiểu về văn học thiếu nhi, một bộ phận quan trọng trong diện mạo văn học nước nhà
Về tác giả, luận án tập trung vào những tên tuổi gây được dấu ấn nhất định với giới nghiên cứu, phê bình cũng như độc giả thông qua những bài viết, nhận định, đánh giá mà người viết tập hợp được Tất nhiên, với một số lượng tác phẩm
đồ sộ và đội ngũ sáng tác đông đảo, việc lựa chọn tác phẩm, tác giả nào là tiêu biểu
để khảo sát là việc làm có tính chất tương đối
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài của luận án là một vấn đề văn học sử, do đó chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau đây:
Trang 9- Phương pháp xã hội học
Phương pháp xã hội học có nhiệm vụ tìm hiểu các mối quan hệ giữa văn học với xã hội, giúp hiểu được những khía cạnh ngoại văn học có liên quan mật thiết đến bản chất của hiện tượng văn học, từ đó hiểu rõ bản chất của hiện tượng văn học hơn Việc nghiên cứu diện mạo, đặc điểm thơ đầu thế kỷ XXI phải được đặt trong bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong nước cũng như thế giới thời kỳ này
để lý giải các khuynh hướng vận động của các trào lưu thơ
- Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thi pháp thể loại
Để đưa ra được những đặc điểm của thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, không thể không phân tích tác phẩm theo đặc trưng thi pháp thể loại
- Phương pháp hệ thống
Mỗi một tác phẩm, mỗi một thể loại hay mỗi một giai đoạn văn học đều là một tiểu hệ thống cấu trúc thẩm mĩ có những logic sáng tạo riêng Phương pháp hệ thống sử dụng trong luận án này nhằm nghiên cứu hệ thống đề tài, chủ đề, hệ thống nghệ thuật biểu hiện trong thơ Việt Nam đầu thế kỉ XXI, mối quan hệ giữa các yếu
tố trong hệ thống, cũng như mối quan hệ giữa các hệ thống ấy
Ngoài ra chúng tôi sử dụng các thao tác bổ trợ sau:
- Thao tác thống kê
Thao tác thống kê cần thiết khi khảo sát các tuyển tập, các tập thơ trên những tiêu chí nhất định để làm căn cứ khách quan khi đưa ra những kết luận về diện mạo, đặc điểm của giai đoạn thơ
- Thao tác so sánh
Diện mạo, đặc điểm của thơ đầu thế kỷ XXI chỉ có thể được làm rõ trong sự
so sánh với diện mạo và đặc điểm của các giai đoạn thơ trước đó để thấy được đâu
là những đặc điểm có tính kế thừa, tiếp nối, đâu là những đặc điểm riêng có của thơ giai đoạn này
- Thao tác phân tích, tổng hợp
Để đưa ra được những kết luận về diện mạo, đặc điểm của thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, không thể không phân tích các trào lưu, khuynh hướng
Trang 10tiêu biểu, những vấn đề về nội dung cũng như hình thức biểu hiện của thơ giai đoạn này, từ đó tổng hợp, rút ra những nhận định khái quát
5 Đóng góp của luận án
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu khái quát tổng thể giai đoạn thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI, dựng lại tương đối đầy đủ diện mạo và quá trình vận động của giai đoạn thơ này
Tìm ra đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI, từ đó làm rõ thêm nhiều thành tựu của thơ giai đoạn mà cho đến nay vẫn chưa được đánh giá đúng mức
Những nhận định về diện mạo và đặc điểm của thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI là tài liệu có tính chất tham khảo để những người quan tâm, nghiên cứu sâu hơn về các tác giả, các trào lưu thơ hiện nay
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận án được triển khai qua bốn chương:
- Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
- Chương 2: Khái quát thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI
- Chương 3 Những chuyển động của nội dung thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI
- Chương 4 Đa dạng hóa nghệ thuật biểu hiện
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Thơ đầu thế kỷ XXI đang vận động, do đó hầu như chưa có công trình khảo cứu chuyên sâu về nó Có chăng, nó chỉ xuất hiện thoáng qua trong các công trình nghiên cứu về thơ sau 1975 hoặc thơ sau đổi mới 1986 Tuy nhiên các tiểu luận, các bài viết nhỏ bàn về thơ đầu thế kỷ XXI đăng trên tạp chí chuyên ngành, diễn đàn văn nghệ, blog, website văn học lại vô cùng phong phú Qua nghiên cứu tư liệu chúng tôi thấy có 3 xu hướng nghiên cứu: thứ nhất là những đánh giá chung về thơ giai đoạn này; thứ hai là những nhận định về một số đặc điểm nội dung, nghệ thuật của giai đoạn thơ, và thứ ba là những nghiên cứu về tác giả hoặc tác phẩm cụ thể
1.1 Những đánh giá chung về thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI
Đánh giá thơ đầu thế kỷ XXI cho đến nay còn có nhiều ý kiến trái chiều
Trong kỷ yếu hội thảo Thơ Việt hiện đại nhìn từ miền Trung [124], nhiều ý kiến tỏ
ra bi quan “thơ đang có vấn đề và cần đổi mới nó” (Hữu Thỉnh), “tình trạng vè hóa thơ, cũ hóa, văn xuôi hóa thơ” (Nguyễn Trọng Tạo), “thơ của chúng ta èo uột, làng nhàng, thiếu bứt phá, thiếu thăng hoa” (Nguyễn Hoàng Đức), “Cái khó mà thơ lâm phải hiện nay là thời kỳ giáp hạt tư tưởng, sự khủng hoảng của nó cũng do đó mà ra.” (Vũ Quần Phương), “thơ đang mất chỗ đứng trong ồ ạt của cạnh tranh thị trường… Nhiều bài thơ nhợt nhạt, quanh quẩn, ngô nghê, được viết với một trạng thái vô cảm… thơ Việt đang trong cơn bĩ cực trên cả hai phương diện chủ quan và khách quan” (Lê Thành Nghị), “Sự kiện thơ mất giá như thế diễn tiến qua nhiều năm” (Nguyễn Chí Hoan) Nghĩa là diện mạo thơ nhợt nhạt, cũ kỹ, không có gì đáng để bàn
Nhưng ở chiều ngược lại, Đông Hà lại cho rằng thơ nói riêng và văn chương đầu thế kỷ XXI nói chung có diện mạo đa màu sắc: “nhìn một cách khái quát, văn chương Việt đang mang một diện mạo đa màu sắc Có thứ văn chương giải trí, văn chương giãi bày, văn chương dưỡng già, văn chương phô diễn và văn chương nghề nghiệp” [dẫn theo Lê Minh Phong, 150] Đồng quan điểm, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa Inrasara còn cho rằng thơ đương đại đang vận động và phát triển không
Trang 12ngừng, nhưng phê bình hiện đại thì không theo kịp sự phát triển của thơ để làm nhiệm vụ cầu nối giữa thơ và công chúng: “Các nhà thơ đương đại không viết khi
đã xác định con đường, hay nói theo giọng thời thượng - khi đã "tìm thấy mình", mà vừa viết vừa tự khám phá chính mình… Họ viết - thế thôi Liên tục chuyển động và thay đổi Không nhiều nhà phê bình nhận ra điều đó Rất ít nhà phê bình theo kịp sự chuyển động của họ Không theo kịp, nhà phê bình mãi ở lại căn chòi mĩ học cũ để nhìn về thơ đương đại, nhận định và phán xét nó Tiếc thay!” [71]
Về xu hướng phát triển thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI, nhiều người cho rằng,
thơ đang vận động với nhiều xu hướng, khuynh hướng với nhiều trào lưu và trường
phái Trong bài viết Ba khuynh hướng vận động của thơ Việt Nam đương đại,
Nguyễn Thanh Tâm căn cứ trên những biểu hiện về mặt quan niệm thơ, cách kiến tạo thi ảnh, các phương tiện cấu trúc thi giới, những ứng xử với ngôn ngữ, những động hình của tư duy và mỹ cảm nhận định thơ Việt Nam sau 1975 vận hành theo
ba khuynh hướng lớn: Khuynh hướng bảo tồn những giá trị thơ truyền thống/ Khuynh hướng cách tân/ Khuynh hướng cách tân trên cơ sở kế thừa truyền thống Khuynh hướng cách tân lại có thể chia ra hai hướng chuyển động - cách tân về nội dung thể tài, thi hứng và cách tân về hình thức ngôn ngữ thi ca Nhưng đồng thời Nguyễn Thanh Tâm cũng nhận thấy việc chia thành ba khuynh hướng như vậy chỉ
có tính chất tương đối vì “tác giả của khuynh hướng này có lúc, có chỗ lại giao thoa, thâm nhập vào khuynh hướng khác, không phải là những khuôn hình cố định, bất biến” Ngoài cách chia này, theo tác giả còn có thể chia khuynh hướng phát triển của thơ theo nhiều tiêu chí khác nữa Từ góc độ thể loại, có thể thấy thơ Việt sau
1975 rẽ làm hai nhánh: phát huy thế mạnh của các thể loại đã có/ sáng tạo hình thức thể loại mới Từ phương pháp sáng tác, thi pháp có thể thấy sự hiện diện của thơ cổ điển, lãng mạn, tượng trưng, siêu thực, tân cổ điển, Từ góc độ người tiếp nhận lại
có thể nhận thấy hai hiện trạng: thơ dành cho đại chúng (văn học phổ thông) và thơ chỉ dành cho những tầng lớp tinh tuyển - thơ khó Từ lý thuyết hệ hình lại có thể nhận ra dấu vết của kiểu thơ thuộc hệ hình Tiền hiện đại/ Hiện đại/ Hậu hiện đại [174]
Inrasara nhìn ở góc độ các trào lưu văn học thì chia thơ Việt đầu thế kỷ XXI
ra 5 trào lưu chính: Thơ “cổ truyền”, thơ tân hình thức (new formalism poetry, thơ
Trang 13nữ quyền luận, thơ thị giác (visual poetry) trong đó thơ trình diễn (poetry performance) là một nhánh nổi bật, trào lưu thơ hậu hiện đại” [70]
Trong các trào lưu thơ đó, trào lưu hậu hiện đại nhận được sự quan tâm của đông đảo giới phê bình cũng như bản thân các nhà thơ Sự xuất hiện của thơ hậu hiện đại vào cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI khiến cho phê bình văn học sôi động hẳn lên Cuộc trao đổi - đối thoại về chủ nghĩa hậu hiện đại trên phương diện lý thuyết và biểu hiện thực tế của nó trong văn học Việt Nam tạo thành một sự kiện đáng chú ý trên một số diễn đàn, gồm cả báo mạng internet và báo viết Báo điện tử
Tổ quốc có các bài viết: “Câu chuyện về một kiểu cắt nghĩa xã hội” (Lã Nguyên),
“Văn chương Hậu hiện đại, nhìn từ góc độ sáng tác” (Lê Anh Hoài), “Đối thoại về con đường đi vào văn chương hậu hiện đại Việt Nam” (Inrasara), “Một cái nhìn về
thực tiễn văn chương hậu hiện đại” (Phùng Gia Thế) Tạp chí Hồng Lĩnh cũng đăng
loạt bài: “Tiếp nhận những cách tân của chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại” (Hoàng
Ngọc Hiến), “Về lối viết hậu hiện đại trong văn học ta” (Hà Quảng) Bản tin Lý
luận phê bình văn học nghệ thuật số 10/2009 có bài: “Nhận biết về chủ nghĩa hậu
hiện đại trong nghệ thuật” (Hồ Sĩ Vịnh) Đến cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, nhận diện phê bình văn học hậu hiện đại (trong đó có nhận diện, phê bình thơ hậu hiện đại) ở nước ta tạo thành một vệt đậm và gây chú ý cả các tác giả ở hải ngoại Nhìn chung các ý kiến đánh giá về thơ hậu hiện đại có thể quy về ba nhóm Nhóm thứ nhất kịch liệt phản đối loại thơ này Nhà nghiên cứu Nguyễn Hoà thì cho rằng: “hậu hiện đại là một cái áo quá rộng cho một cơ thể còm” và đề xuất “hãy đi hết hiện đại đã rồi hãy nghĩ đến hậu hiện đại” [58] Nhà phê bình Đỗ Ngọc Yên thì cho thơ cách tân (hiện đại, hậu hiện đại) chỉ là một mớ hỗn độn “nhân danh cách tân nhiều người đã cho ra đời một thứ chẳng biết gọi là gì: văn nói, ghi chép, nhật ký, chỉ biết rằng nó giống như món “óc sống” khiến công chúng không thể nào tiêu hóa nổi” [216] Ở phía bên kia, Inrasara là người nhiệt thành ca ngợi thơ hậu hiện đại:
“Thơ hậu hiện đại là trò chơi địa phương của những kẻ tự nguyện sáng tác ngoài lề trong thời đại toàn cầu hóa Với tinh thần phá chấp triệt để qua tầm nhìn rộng mở và thái độ dân chủ tuyệt đối, thế hệ nhà thơ hậu hiện đại hôm nay là kẻ sáng tạo tiền vệ đang đổi mới thơ Việt, đổi mới cách viết và cách đọc, qua đó thúc đẩy công cuộc
Trang 14giải lãnh thổ hoá deterritorialize, giải quốc gia hoá denationalize và giải địa phương hóa delocalize văn học Họ đang có đó, như một hiện tượng” [71] Thậm chí Inrasara còn kỳ vọng thơ hậu hiện đại có thể “làm một cuộc cách mạng cho thơ Việt” [71] Một số nhà nghiên cứu thì có cái nhìn toàn diện hơn, một mặt họ thừa nhận những sáng tạo thơ theo lối hiện đại và hậu hiện đại là những nỗ lực đáng được trân trọng trong hành trình cách tân thơ Việt, có những tác phẩm thực sự giá trị; mặt khác họ phê phán những sáng tạo cực đoan đang phá hoại giá trị thẩm mĩ
của thơ ca Nguyễn Thanh Tâm trong bài viết Bắt mạch thơ hiện nay một mặt “quả
quyết rằng thơ hiện nay có nhiều sự cách tân, và sự thật có nhiều cách tân có giá trị,
có không ít bài thơ, tập thơ hay được công chúng đánh giá cao” nhưng mặt khác tác giả cũng chỉ ra hiện trạng cũng còn nhiều người nhân danh sáng tạo, cách tân đẩy thơ đến cực đoan, bế tắc “Có bài thơ như là tiếng chửi, tục tĩu không chịu được Có bài thơ ù lì, tăm tối như hũ nút, tịnh không một tín hiệu dẫn đường nào đến ánh sáng nghệ thuật Nhân danh vô thức, tiềm thức, nhân danh sự tạo nghĩa của ngôn từ trong những ngẫu hợp bất định, những tác giả này cho ra đời những văn bản “vô nghĩa lý”, siêu hình hết mức Lại có những bài thơ đầy tính hận thù, hậm hực với tư tưởng chính trị, văng đủ thứ trong thơ, lôi tuột tất cả ra vỉa hè, xuống lòng đường để tung
hô thứ triết lý sống hết sức tầm thường” [172]
Về lực lượng sáng tác, nhiều nhà nghiên cứu ghi nhận vai trò của các nhà thơ trẻ Trong bài viết Cách tân nghệ thuật và thơ trẻ đương đại, Lưu Khánh Thơ
nhận thấy nỗ lực làm mới của thơ trẻ: “Có thể thấy rằng thơ trẻ đang cố gắng để
khác các thế hệ đi trước Cái mạnh của lớp trẻ hôm nay là họ đang tạo ra một không
khí dân chủ trên thi đàn với nhiều giọng điệu, nhiều khuynh hướng Họ được tự do
trong cảm xúc, trong các cách thể hiện Hầu như đối với họ không có điều gì là cấm
kỵ, không có điều gì phải né tránh Dễ nhận thấy một điều rằng, những người làm thơ trẻ hôm nay hướng sự chú ý của mình vào việc khai thác tâm trạng cá nhân Họ tinh tế, nhạy bén với những cảm xúc riêng tư, đơn lẻ nhưng ít khi mở ra, vươn tới những vấn đề xã hội rộng lớn Những vấn đề quan thiết của đời sống cộng đồng ít
có tác động đến những bài thơ của họ Nhìn vào những người làm thơ trẻ hôm nay,
Trang 15thấy rõ một điều là họ đang cố gắng tìm cách phô diễn những xúc cảm của mình bằng những hình thức nghệ thuật có nhiều tìm tòi đổi mới.” [191]
Đồng quan điểm ấy, Yến Nhi trong bài viết Mỹ cảm nghệ thuật mới trong
thơ trẻ cũng khẳng định vai trò đổi mới thơ của các nhà thơ trẻ: “Thơ đương đại có
nhiều thay đổi để tiến gần đời sống, cập nhật đời thường với tâm lý con người bây giờ Trong không khí bộn bề của sự tìm tòi đổi mới, nhiều tác phẩm của tác giả trẻ tạo những nét riêng khó nhầm lẫn, gây được nhiều ấn tượng sâu sắc với công chúng yêu thơ, tạo một vẻ đẹp mới về cách xây dựng hình tượng.” [122]
1.2 Những nhận định về đặc điểm thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI
Nghiên cứu về thơ sau 1975 (trong đó bao gồm cả giai đoạn thơ đầu thế kỷ XXI), một trong những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm là chỉ ra những đặc điểm nổi bật về nội dung cũng như nghệ thuật của thơ giai đoạn này Tác giả
Nguyễn Đăng Điệp trong bài viết Thơ Việt Nam sau 1975 - một cái nhìn toàn cảnh
chỉ ra các khuynh hướng nổi bật về nội dung, chủ đề của thơ Việt Nam sau 1975 như: Xu hướng viết về chiến tranh qua những khúc ca bi tráng về số phận của dân tộc/ Xu hướng trở về với cái tôi cá nhân, những lo âu của đời sống thường nhật/ Xu hướng đi sâu vào những vùng mờ tâm linh, đậm chất tượng trưng, siêu thực/ Xu hướng hiện đại (và hậu hiện đại) Về nghệ thuật, Nguyễn Đăng Điệp cũng chỉ ra sự biến đổi về thể loại và ngôn ngữ trong thơ sau 1975 Thể loại biến đổi theo ba khuynh hướng: Sự nới lỏng cấu trúc các thể thơ truyền thống; Thơ tự do và thơ văn xuôi; Sự nở rộ của trường ca Về ngôn ngữ, tác giả khẳng định đã có những động hình ngôn ngữ mới với một số loại hình ngôn ngữ nổi bật như: Ngôn ngữ đậm chất đời thường; Ngôn ngữ giàu chất tượng trưng; Những trò chơi ngữ nghĩa trong thơ; Ngôn ngữ thân thể trong thơ [35, tr.56 - 82]
Đặng Thu Thủy trong chuyên khảo Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỷ
80 đến nay những đổi mới cơ bản đã chỉ ra những đổi mới thơ trên những phương
diện cơ bản Về quan niệm thơ, tác giả cho rằng các nhà thơ sau đổi mới đã nhận thức lại về những giới hạn và tiềm năng của thơ ca Thơ không còn những khả năng
kì diệu, những sứ mệnh cao cả, mà với các thi sĩ thời nay làm thơ như một cách để giải tỏa tâm trạng, để phiêu lưu trong cuộc chơi thú vị với ngôn từ hoặc thơ chỉ là
Trang 16một trò chơi Tác giả cũng chỉ ra sự đổi mới về cảm hứng thơ, đó là xu hướng nhận thức lại về lịch sử xã hội từ góc nhìn phi sử thi, phản lãng mạn; nhận thức về những giới hạn của xã hội nhìn từ “bề sau, bề sâu”; xu hướng trở về của cái tôi cá nhân, cá thể với khát vọng hướng đến một tình yêu trần thế và xu hướng đi sâu khai thác thế giới tâm linh, vô thức Tác giả cũng chỉ ra những đổi mới về nghệ thuật như sự mở rộng biên độ thể loại, kết cấu linh hoạt và hiện đại, ngôn ngữ dụng công và thả phóng; hình ảnh cực thực, siêu thực, ẩn dụ và biểu tượng; tạo giọng và xóa giọng [195]
Lê Thành Nghị trong Thơ và công chúng thơ hôm nay thì cho rằng những
thay đổi của thơ hôm nay có thể gom lại trên ba hướng chính Một là những tìm tòi thay đổi nghiêng về mặt hình thức, cụ thể là nghiêng về ngôn ngữ biểu hiện, đó là những trò chơi ngôn ngữ, không quan tâm đến ngữ nghĩa hoặc là sáng tạo những ngữ nghĩa mới cho ngôn từ Hai là những cố gắng đổi mới thơ về giọng điệu từ điệu ngâm, điệu hát sang điệu nói Ba là, xu hướng đưa vào thơ những câu nói thường [124]
Công trình nghiên cứu công phu nhất về thơ đầu thế kỷ XXI cho đến thời
điểm này, theo chúng tôi, có lẽ là tiểu luận Thơ cách tân và thi pháp nghệ thuật mới
của Nguyễn Vũ Tiềm đăng trên website của Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh Trong tiểu luận, tác giả nhận định thơ cách tân Việt đầu thế kỷ XXI đã hình thành
và từng bước định hình trong 4 dòng chảy chính: Hiện thực đa chiều & huyền ảo; Phản biện, dự báo & thức tỉnh; Chia sẻ nỗi đời & nỗi đau; Folklore – humor & ngoại biên Bên cạnh đó theo tác giả, thơ cách tân Việt đầu thế kỷ XXI có 10 đặc điểm sau đây: Thơ cách tân tháo dỡ tất cả các khung hình cũ để chỉ còn khoảng trời mênh mông trên trang giấy; thơ cách tân thể hiện bản chất cuộc đời như nó vốn có theo cảm xúc và suy tưởng của nhà thơ Bút pháp trước đây nghiêng về cảm xúc, tả chân giờ nghiêng về ý tưởng, suy tưởng; Thơ cách tân, trừ lục bát, còn phần lớn thơ
tự do đã bỏ hết vần, chỉ còn nhịp điệu tiết tấu; Thơ cách tân dường như không đáp ứng yêu cầu dễ đọc, dễ thuộc và rất khó ngâm ngợi, chỉ dành cho nghĩ ngợi, nhiều
va đập và “sinh sự” phá vỡ vỏ bọc khô cằn bảo thủ; Chất văn xuôi cùng với nhiều chi tiết đời sống tràn vào, ngôn ngữ đời thường tham gia vào thơ nhiều hơn; Thơ cách tân tạo nhiều khoảng trống, nhiều vụn vỡ tự nhiên; nhiều tình huống bất ngờ, xác lập tương quan mới trong kết cấu ngôn từ và kiến trúc hình ảnh, hình tượng,
Trang 17biểu tượng; Ẩn dụ đơn, ẩn dụ kép sử dụng với mật độ cao hơn; Phản đề, nghịch lý được sử dụng trong thơ cách tân nhiều hơn; Thơ cách tân thường thiết kế đa tuyến, phức điệu, đa cực hơn; Thơ cách tân không khuôn vào một hướng mà mở ra nhiều hướng liên tưởng, không chỉ có một mà nhiều cách cảm và hiểu [202] Tuy nhiên, tiểu luận của Nguyễn Vũ Tiềm chỉ bàn đến dòng thơ cách tân chứ không phải tất cả các dòng thơ của giai đoạn thơ này Mặt khác những nhận định của tác giả mới chỉ
là những gợi ý mang tính gợi mở chứ chưa phải là những kết luận rút ra từ sự khảo cứu chuyên sâu
Hà Quảng trong bài viết Nghĩ về thơ Việt đương đại cho rằng mở rộng biên
độ cảm xúc và đối tượng thẩm mỹ là nhu cầu thiết yếu của thơ hiện nay “Cái mới của thơ trước hết đó là cách cảm xúc mới của con người Việt Nam đương đại, nổi bật là xúc cảm của nhà thơ trước cuộc sống hiện tại, một cuộc sống sôi nổi trong một đất nước độc lập đang trên đường phát triển, hội nhập trong một thế giới không còn chia cách Từ cái xúc cảm mới mẻ này nó kéo theo những mới mẻ khác của đặc trưng nghệ thuật, của thi pháp mà truyền thống chưa có” Việc mở rộng biên độ cảm xúc trong thơ gắn liền với việc mở rộng phạm vi đối tượng thẩm mỹ Đề tài của thơ không còn độc tôn cho những vấn đề thời sự chính trị, những vấn đề gắn với thông tấn báo chí, thơ có thể đề cập đến mọi vấn đề của đời sống con người miễn là với
“cái nhìn của thơ” để tái hiện chân lý cuộc sống Về nghệ thuật, tác giả khẳng định thơ đương đại đang cách tân về các hình thái tổng hợp thẩm mỹ, các thủ pháp nghệ thuật để nâng cao hiệu ứng cảm xúc “Loại thơ thiên về thanh, vần, điệu về cái nhịp nhàng đưa đẩy dần được thay bằng những thi phẩm bộn bề tự do mang âm hưởng
đời sống Hình tượng nghệ thuật thơ đa dạng và mới mẻ Nhà thơ ít chú ý đến các
biện pháp đơn lẻ mà định hướng vào “hình tượng tổng thể” của toàn bài thơ Hình tượng thơ đương đại thường là một phức thể kết hợp nhiều yếu tố, nhiều biện pháp,
từ miêu tả hiện thực một cách cụ thể - lịch sử, thể hiện cuộc sống như vốn có, tiến một cấp chấp nhận các yếu tố tượng trưng, ước lệ, kỳ ảo, đến bây giờ các thủ pháp tổng hợp thẩm mỹ của văn học đặc biệt là thơ đã tiến thêm một bước vào địa hạt tâm linh, vô thức” Về ngôn ngữ, thơ đương đại nói chung “lấy việc hoà nhập đời thường làm tiêu chí, sử dụng vốn từ vựng không câu nệ bác học hay dân dã, kể cả từ
Trang 18địa phương, từ tục” Về cú pháp “các tác giả sử dụng các dấu chấm, phẩy, viết hoa, sang dòng… rất phóng khoáng Có khi cả bài là một câu, lại có khi nhiều câu trong một dòng Lối vắt dòng tạo đột biến trong cảm xúc, các khoảng lặng gây sự chú ý kéo dài…” Nhiều nhà thơ thử nghiệm lối viết hậu hiện đại như kết cấu đa tầng, hình tượng kỳ ảo - huyễn tưởng, cắt dán - lắp ghép, tục hoá và giễu nhại… Nhiều thủ pháp tân kỳ mới nhập vào từ nền thơ phương Tây, tuy chỉ tồn tại như những
khúc dạo đầu nhưng cũng có nhiều hứa hẹn [157]
Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu về thơ Việt Nam sau 1975 dưới
những góc độ cụ thể Lê Hồ Quang tìm hiểu về Tư duy thơ Việt Nam sau 1975 qua
sáng tác của một số tác giả thế hệ Đổi mới để thấy được sự thay đổi của cái tôi trữ
tình trong thơ thời kỳ này Đó là cái tôi ấy luôn ý thức về mình trong tư cách kẻ hành nghề sáng tạo; cái tôi luôn được ý thức như một thế giới tinh thần cá nhân hết sức đa dạng, phong phú trong đó đặc biệt đề cao tiếng nói bản năng, vô thức, tâm linh Sự thay đổi đó kéo theo những thay đổi về hình thức biểu hiện, đó là việc phổ biến kiểu kết cấu mở; sử dụng nhiều hơn các chất liệu đời thường và các chất liệu
“siêu thực” [155]
Về nội dung, thể tài, nhiều ý kiến cho rằng, thơ đầu thế kỷ XXI thiên về
hướng nội, tiêu biểu như nhận định của Đoàn Ánh Dương trong bài viết Văn học
trẻ: lịch trình và những định hướng: “Văn học trẻ từ đầu thế kỷ 21 ít cất lên tiếng
nói đại diện cho lý tưởng tập thể, mà chủ yếu khẳng định cái tôi cá thể của mình, từ nhu cầu xác lập căn cước cho mình Việc ít phải chứng nghiệm các hậu quả chiến tranh và hòa nhập nhanh chóng vào quá trình toàn cầu hóa khiến cho những biểu hiện văn học của giới trẻ Việt Nam ngày càng khác lạ với truyền thống văn học được kiến tạo bởi ông cha họ Màu sắc giáo huấn, phúng gián nhường chỗ cho các sắc màu khác, được dệt bởi những nhận thức và trải nghiệm mới, khi văn học hiện diện như một sân chơi tinh thần mà luật chơi dân chủ của nó chấp nhận tất cả các ý hướng dấn thân, ngẫu hứng, phá phách… của những cái tôi tự trị” [26]
Đồng quan điểm trên, Yến Nhi trong bài viết Thơ Việt trên đường hội nhập
cũng khẳng định đặc điểm của thơ hiện nay là thiên về hướng nội, tuy nhiên tác giả nhấn mạnh thơ đương đại Việt Nam thiên về hướng nội, không có nghĩa là nó chỉ
Trang 19toàn hướng nội mà muốn giới thuyết ở phương diện nó “mạnh” hơn, thành công hơn phía kia - thơ hướng ngoại, thơ thông tấn, thơ tự sự… mà thôi Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra một đặc điểm mới về nội dung của thơ thời kỳ này đó là sự thay đổi
về cảm xúc: “Cảm xúc mới là động lực của cách tân Lòng yêu nước vẫn là một nội dung quan trọng, nhưng những chủ đề đạo lý, thế sự cũng như những vấn đề riêng
tư cá nhân ngày càng được lưu ý Thơ thời nay thể hiện đầy đủ, toàn vẹn tình cảm con người, không có địa hạt bỏ qua hoặc né tránh, vẻ đẹp của Cái Tôi nhân bản
trong Thơ hiện đại cũng chính là vẻ đẹp của Cái Ta nhân loại” [123]
Hình thức nghệ thuật thơ cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI cũng được nhiều
người quan tâm tìm hiểu Trong bài viết Mỹ cảm nghệ thuật trong thơ trẻ, Yến Nhi
nhận định: “Về nghệ thuật, thơ đương đại đang đổi mới trên hai phương diện, một
về việc đổi mới thủ pháp xây dựng hình tượng, hai về sự đổi mới thể tài cùng kỹ
thuật tạo tác câu chữ” Sáng tác một bài thơ, tác giả ít chú ý các biện pháp đơn lẻ
mà định hướng vào “hình tượng tổng thể” bao trùm toàn bài thơ Hình tượng trong thơ đương đại ngoài việc vượt khỏi lối kết cấu tuyến tính duy cảm với những chi tiết nặng tính cụ thể - lịch sử truyền thống, để biểu đạt trọn vẹn sâu sắc các chiêm nghiệm, các suy tư, tình cảm về đời sống, thông qua các thông điệp mà tác giả gửi tới bạn đọc, hình tượng thơ đương đại thường là một phức thể kết hợp nhiều yếu tố, nhiều biện pháp cả thực lẫn ảo, từ ý thức đến vô thức, từ khả giải đến bất khả giải…, những thủ pháp nghệ thuật mà trước đây rất dè dặt [122]
Trong luận án tiến sĩ Sự thâm nhập của chất văn xuôi vào thơ Việt Nam
đương đại, Nguyễn Thanh Tâm lại nghiên cứu thơ sau 1986 dưới góc nhìn thi pháp
thể loại Tác giả đã phân tích những biểu hiện của chất văn xuôi trên các phương diện: Hình thể câu văn xuôi trong thơ; Ngôn ngữ và giọng điệu văn xuôi trong thơ; Kết cấu tự sự trong thơ; Nhân vật kiểu văn xuôi trong thơ và nghệ thuật lưu giữ kí
ức thể loại và hiệu ứng thẩm mĩ của sự thâm nhập chất văn xuôi vào thơ đương đại
Từ những phân tích trên, tác giả rút ra kết luận sự gia tăng chất văn xuôi là một đặc điểm của thơ Việt Nam đương đại [133] Đồng tình với quan niệm này, Nguyễn Chí
Hoan trong bài viết Thơ đương đại và sự trở lại của tính chất truyện kể nhận định:
“Cú pháp của thơ đương đại đặc trưng bằng tính chất truyện kể của các biểu tượng
Trang 20và bằng tính phức tạp của các lớp ngữ nghĩa chồng chéo lên nhau – một tính phức tạp rõ ràng phản ánh hay phản ứng tính phức tạp của từ vựng nền văn hóa hiện đại chồng chất chủ nghĩa khoa học với chủ nghĩa thần bí-tâm linh, pha trộn tinh hoa và đại chúng, bị ép chặt vào nhu cầu giải trí đồng thời buộc phải vươn vào tầng trí tuệ, v.v.” [124]
Dưới góc nhìn văn hóa học, Trần Ngọc Hiếu đã vận dụng lý thuyết trò chơi
để nghiên cứu một số hiện tượng thi ca đương đại trong luận án Lý thuyết trò chơi
và một số hiện tượng thơ Việt Nam đương đại Tác giả đã chỉ ra trò chơi là một
khuynh hướng trong thơ Việt đương đại đồng thời khảo sát một số mô hình trò chơi trong thơ giai đoạn này như: Trần Dần và những biến hóa trên mô thức đồng dao;
Lê Đạt và sự kiến tạo thi pháp trên mô thức câu đố; Nói vè và chế nhại – trò chơi
carnival trong thơ đương đại [56] Trong một bài viết khác Cuộc nổi loạn của ngôn
từ trong thơ đương đại – ghi nhận qua một số hiện tượng, Trần Ngọc Hiếu chú ý
đến ngôn ngữ thơ nhận thấy có những sự thể nghiệm lớn trong việc sử dụng ngôn ngữ trong thơ đầu thế kỷ XXI Nguyên nhân của hiện tượng này là do “đến những năm cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI, ý hướng muốn vượt thoát cái khung đã trở nên chật chội của Thơ mới đã trở thành một bức xúc, một “khát vọng khẩn thiết” (chữ mượn của Hoài Thanh) ở nhiều cây bút trẻ Nỗi bức xúc, khẩn thiết đó nhiều khi được giải toả bằng những hành động sáng tạo có tính chất cực đoan” Và hệ quả
là xuất hiện một cuộc nổi loạn về ngôn từ - chất liệu chính để tạo thơ Đó là việc sử dụng tràn lan những con số, kí hiệu thay cho từ ngữ cụ thể; hoặc ngôn từ phơi mặt trên trang giấy, trơ tráo phô trương sự vô nghĩa; ý nghĩa của từ, các quy tắc văn phạm - những đơn vị nền móng để một cộng đồng ngôn ngữ thêu dệt nên những huyền thoại của mình - bị giễu nhại không thương tiếc; hay sử dụng ngôn từ thô tục, bụi bặm, chợ búa,… [55]
Trần Quang Đạo trong Cấu trúc thơ trẻ sau 1975 tìm hiểu cấu trúc thơ trẻ
sau 1975 trên hai phương diện câu thơ và bài thơ Tác giả đã chỉ ra điểm khác biệt
về cấu trúc câu thơ của thơ trẻ sau 1975, đặc biệt là từ sau 1987 là câu dài ngắn không theo trật tự của chữ, không viết hoa đầu dòng, không tuân thủ ngữ pháp
Trang 21truyền thống (trật tự ngữ pháp bị đảo lộn); sử dụng nhiều động từ, giảm thiểu sử dụng từ trung tính Nhiều bài thơ có cấu trúc theo trật tự giấc mơ [28]
Trần Thiện Khanh thì tìm hiểu Cấu trúc nhịp thơ và quan hệ của nó với
đổi mới thơ Ðối với thơ cổ điển tính thống nhất của cấu trúc nhịp điệu do thể loại
qui định, còn ở thơ hiện đại tính thống nhất của nó lại do cái nhìn, cảm xúc của nhà thơ tạo thành Thơ hiện đại tạo ra nhịp điệu của ngữ cảnh Ngữ cảnh trữ tình đổi thay thường xuyên, nên nhịp thơ tất yếu biến đổi theo Chỉ đến thơ hiện đại mới có nhịp của chủ thể – biểu hiện cá tính của chủ thể Thật khó xác định được mức độ tối thiểu và tối đa của nhịp thơ hiện đại Thơ hiện đại tự do trong cách tổ chức câu thơ, tổ chức nhịp thơ Nhịp thơ hiện đại với tư cách một hệ thống nguyên tắc tổ chức dòng thơ luôn được biểu hiện thành các thao tác cấu trúc sinh động một tác phẩm [75]
Nhận xét về nhịp điệu thơ đương đại, Đoàn Ánh Dương cho rằng thơ đương đại là sự hòa giải các kiểu thơ cổ và thơ lãng mạn “Thơ đương đại do được điều hoà bởi nhịp điệu nên mang trong nó cả mầm mống của thơ cổ và thơ lãng mạn Tuy vẫn có những đối lập gắt gao (như thơ cổ trọng vần còn thơ hiện đại thì xoá nhoà vai trò của vần, thơ lãng mạn trọng sự phô bày thì thơ hiện đại thiên về ngụ ý) nhưng trong một cấu trúc thẩm mỹ khác, ít nhiều có thể coi thơ hiện đại là một chỉnh hợp chập đôi của hai kiểu thơ đã có” [27]
Từ các nhận định về đặc điểm của thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI có thể thấy phần nhiều các ý kiến còn tản mát, đề cập đến một hoặc một vài khía cạnh nội dung hoặc nghệ thuật của thơ thời kì này Tiểu luận của Nguyễn Vũ Tiềm đề cập tương đối toàn diện đặc điểm của thơ đầu thế kỷ XXI nhưng sự khái quát không cao, phần lớn các nhận định xuất phát từ chủ quan của tác giả chưa có sự phân tích, lý giải thấu đáo
Những nhận định trong các công trình nghiên cứu trên có tác dụng gợi mở hướng nghiên cứu về thơ đầu thế kỷ XXI Nhưng qua các công trình đó người ta vẫn chưa thấy được những nét riêng biệt về diện mạo, đặc điểm của thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI; chưa nhìn ra được những đặc sắc riêng chỉ có ở thơ giai đoạn này
so với giai đoạn cuối thế kỷ XX
Trang 221.3 Những nhận định về tác giả, tác phẩm tiêu biểu
Tuy chưa có công trình khảo cứu chuyên sâu về Thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI nhưng công trình, bài viết nghiên cứu về tác giả, tác phẩm tiêu biểu của giai đoạn này rất phong phú, tỉ lệ thuận với số lượng tác giả cũng như khối lượng tác phẩm đồ sộ của giai đoạn này Thống kê hết tất cả các bài viết, công trình nghiên cứu về tác giả, tác phẩm thơ đầu thế kỷ XXI là điều không thể, do vậy chúng tôi sẽ điểm qua những nhận định về các tác giả, tác phẩm gây được sự chú ý nhiều nhất của dư luận cũng như giới phê bình
Nguyễn Quang Thiều có lẽ là hiện tượng thơ tạo được nhiều dấu ấn nhất từ
thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại đây Hội thảo Thơ Việt Nam hiện đại và Nguyễn
Quang Thiều (do Viện Văn học tổ chức ngày 28/6/2012) có nhiểu ý kiến đánh giá
cao vị trí của Nguyễn Quang Thiều đối với nền thơ đương đại
Nguyễn Đăng Điệp trong Đổi mới thơ Việt Nam đương đại nhìn từ trường
hợp Nguyễn Quang Thiều ca ngợi tinh thần sáng tạo tuyệt đối ở Nguyễn Quang
Thiều “Có lẽ yếu tố đầu tiên tạo nên sự khác biệt trong thơ Nguyễn Quang Thiều là
ý thức khai tử những thói quen và thái độ đoạn tuyệt những diễn ngôn đã ngả màu mòn sáo Sự lựa chọn ấy nguy hiểm và cô đơn Nhưng bằng linh cảm nghệ thuật và tinh thần dấn thân, Nguyễn Quang Thiều hiểu rõ, chấp nhận điều đó Chỉ có thế, tất
cả mới THỨC DẬY ĐỂ CHÀO ĐÓN MỘT GIỌNG NÓI (tác giả viết hoa)”;
“Không cần cường điệu, có thể khẳng định dứt khoát: tính đến thời điểm này, những cách tân nghệ thuật của Nguyễn Quang Thiều vào những năm đầu 90 của thế
kỷ XX là những cách tân tạo được hiệu ứng nghệ thuật sâu đậm nhất trong thơ Việt sau 1975” Cội nguồn của sự cách tân đó là do xuất phát từ những cơn mơ hoang tưởng của Nguyễn Quang Thiều Người đọc khó tiếp cận thơ Nguyễn Quang Thiều
là bởi nhà thơ ly khai sự độc sáng và chối bỏ những điểm nhấn Cơ chế tạo thi ảnh Nguyễn Quang Thiều là xây dựng liên tiếp các chuỗi ẩn dụ và trình hiện nó trong
hình hài của những câu thơ đậm chất văn xuôi mang tính hoán dụ Về biểu tượng,
nổi bật nhất trong hệ thống biểu tượng trong thơ Nguyễn Quang Thiều là lửa, cánh đồng, dòng sông và phụ nữ [34]
Trang 23Thi pháp Nguyễn Quang Thiều: Nhìn từ dòng thơ cần giải thích giá trị là
một tiểu luận công phu của Đỗ Quyên Trước hết tác giả khẳng định thơ Nguyễn
Quang Thiều là sáng tác “có vấn đề”, gây ám ảnh và âm ỉ, sự hiểu và cảm cần con
mắt thứ ba Sở dĩ có nhiều ý kiến trái chiều về thơ Nguyễn Quang Thiều là bởi
nguyên nhân bên trong: Thơ Nguyễn Quang Thiều như một dạng nghệ thuật bấp bênh, bấp bênh giữa quan niệm thẩm mỹ cổ điển và hiện đại; bấp bênh về thể loại thơ và văn xuôi; bấp bênh về văn bản tác phẩm và dịch phẩm; bấp bênh về văn bản tác phẩm và nhân thân văn học của tác giả Về nội dung và thi pháp thơ Nguyễn Quang Thiều, Đỗ Quyên cho rằng “nếu chỉ xét chung chung thì hệ thống chủ đề, nội dung hiện thực và ý nghĩa tư tưởng ở thơ Nguyễn Quang Thiều không đặc sắc” chỉ dựa vào một số đề tài kinh điển: Thân phận con người; sự sống chết và tồn tại; hạnh phúc và bất hạnh; hiện hữu và tương lai… Cái đặc sắc của Nguyễn Quang Thiều nằm ở phương diện thi pháp Nguyễn Quang Thiều không cách tân thể loại, mà biến dạng thể loại đã có Không có ranh giới hình thức thể loại là một đặc điểm nhận thấy rõ ở các trang thơ, bài thơ, trường ca; thậm chí trong mỗi đoạn, câu thơ Thơ Nguyễn Quang Thiều ít tứ nhưng ngôn ngữ hình ảnh, với phương tiện văn xuôi hóa mang chở số lượng hình ảnh lớn và lạ Về nhịp điệu, Nguyễn Quang Thiều và các nhà thơ của bút pháp nhịp điệu đã văn xuôi hóa nhịp thơ tự do mà Nguyễn Đình Thi
và Thanh Tâm Tuyền khai phá, mở đường Về giọng điệu, giọng thơ trữ tình không còn mang tính chủ quan nữa Nó trần thuật hơn là kết luận Nó giãi bày, thuyết phục hơn là lôi kéo, động viên [162]
Mai Văn Phấn trong tiểu luận Hiện tượng Nguyễn Quang Thiều và lộ trình
cách tân khẳng định Nguyễn Quang Thiều là một trong những thi sĩ tiên phong của dòng chảy thơ cách tân đương đại trong nước Nhận định ấy được minh chứng qua
nhiều luận chứng “Bóng dáng thời đại và thi pháp là hai vấn đề lớn, mang tính quyết định để định danh định tính thơ Nguyễn Quang Thiều trong lộ trình cách tân
thi pháp Thơ ông (Nguyễn Quang Thiều) tỏa sáng và khuynh loát trong nhiều đề
tài với những cách biểu hiện khác nhau, với nhiều cung bậc cảm xúc vượt khỏi phạm vi cảm hứng hiện thực và cả siêu thực” Không gian thơ Nguyễn Quang Thiều
luôn động chuyển, biến hóa bất ngờ Mỗi câu thơ, hoặc đoạn thơ chỉ là một phần
Trang 24nhỏ không hoàn thiện của thi ảnh Nguyễn Quang Thiều Thơ Nguyễn Quang Thiều
ít chú trọng vào những điểm “nhói sáng” của cảm thức mà dần trải ra trong chiều dài và độ sâu của thi ảnh Những đứt gãy, rời rạc, như không có liên kết liên tiếp,
tạo ra độ giãn cách giữa những nhóm hình ảnh được làm sáng lên trong không gian thẫm tối, tạo độ tương phản rõ rệt, gây ấn tượng mạnh cho người đọc, trước hết dẫn
dắt chính tác giả rồi tới vào trạng thái tê dại, như lạc mê cung Hiện thực đời sống
trong thơ Nguyễn Quang Thiều hiện lên phức tạp và đa diện, từ mặt người, mặt ma
quỷ, mặt súc vật, mặt gỗ… [141]
Chu Văn Sơn lại khám phá ra cảm quan tôn giáo đậm nét dưới lớp vỏ nghệ
thuật đậm tính sử thi trong thơ Nguyễn Quang Thiều trong tiểu luận Nguyễn Quang
Thiều và khuynh hướng sử thi tôn giáo Thể chất sử thi, cảm quan tôn giáo “cả hai
dường như song sinh, thậm chí, đồng thể trong cảm quan thơ Nguyễn Quang Thiều… Trong cơ chế sáng tạo của Thiều, nếu phía này chi phối linh hồn, nhan sắc của thi ảnh, hình tượng, thi tứ, thi liệu, thì phía kia chi phối tầm vóc, chiều kích, biên độ của chúng để tạo nên từng sinh thể nghệ thuật nói riêng, toàn bộ thế giới nghệ thuật Thiều nói chung.” [166]
Nguyễn Thị Hiền trong bài viết Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang
Thiều phát hiện ra cái tôi trữ tình trong thơ của Nguyễn Quang Thiều là cái tôi của
những đối cực nằm chông chênh trên đường biên của tuyệt vọng cuối cùng và hy vọng đầu tiên; là sự giằng xé giữa tinh thần và thể xác; đồng thời cũng là cái tôi khát vọng kiếm tìm cái đẹp trong cả sự dung tục cũng như sự linh thiêng, tìm kiếm đời sống trong cái chết, sự tái sinh từ trong lụi tàn [51]
Hồ Thế Hà lại đi tìm mẫu gốc trong thơ Nguyễn Quang Thiều, đó là Làng
Chùa; là đất, đất đai hay châu thổ niềm sầu xứ (nostalgie) khôn nguôi, cứ kéo dài
mãi trên hành trình yêu thương và hoài vọng - cổ mẫu gợi nhiều ám ảnh; là nấm mộ
- biểu tượng về mặc cảm chết (complexe de mort) liên quan đến thế giới hiện sinh,
những ám ảnh về sự ra đi, sự tan rã vào đất đai, cây cỏ và hư vô [43]
Về tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều, Trường ca Châu thổ (Nxb Hội nhà
văn năm 2010) là tập trường ca gây nhiều chú ý, không chỉ ở kích thước đồ sộ của
nó mà đây còn là tuyển thơ của hành trình sáng tác Nguyễn Quang Thiều – gương
Trang 25mặt cách tân thơ đáng chú ý nhất của thơ đương đại Đào Duy Hiệp trong Cấu trúc
thơ Châu thổ của Nguyễn Quang Thiều đặc biệt ấn tượng với “chủ âm bóng tối”
trong tập thơ, từ đó tác giả đi vào tìm hiểu cấu trúc của bóng tối, thế giới “bóng tối”
cùng những phận người của nó; không gian thơ và ngữ pháp thơ trong Châu thổ
Qua biện pháp thống kê, so sánh, Đào Duy Hiệp chỉ ra sự lấn át của bóng tối so với
ánh sáng Tác giả phân tích thế giới “bóng tối” trong Châu thổ qua hai hình ảnh:
nhà thơ và người bà; người mẹ - thế giới phụ nữ trong “bóng tối” [53]
Cũng nghiên cứu về Châu thổ nhưng Nguyễn Thị Loan quan tâm đến thế giới tâm linh trong Nguyễn Quang Thiều: Miền tâm linh ngập tràn Châu thổ Miền
tâm linh đó thể hiện ở những khía cạnh: Nguyễn Quang Thiều đã lắng nghe những
đổ vỡ sâu sắc trong đời sống tâm linh văn hóa trước mỗi bước đi của kỷ nguyên đô thị hóa, công nghiệp hóa; ở màu sắc nghi lễ thiêng liêng của đời sống tâm linh không gắn với tôn giáo nào và không xa lạ với con người Chiều sâu tâm linh trong thơ Nguyễn Quang Thiều được thể hiện qua những giấc mơ đầy nhân bản luôn khao khát kiếm tìm một thế giới thanh khiết và bình an [96]
Nguyễn Thị Minh Tâm thì ấn tượng với Không gian văn hóa nguồn cội
trong "Châu thổ" của Nguyễn Quang Thiều Theo tác giả có hai lớp không gian cơ
bản trong Châu thổ: một đời sống làng Chùa ở phần dương với những hoạt động
dương gian và một đời sống làng Chùa ở phần âm với những hoạt động u hiển của
nó Đời sống phần dương của làng Chùa mở ra mênh mang với một miền đất nguyên sơ Không gian nghệ thuật ấy đã chi phối đến các yếu tố nghệ thuật của
Châu thổ Cách cảm nhận đời sống nghiêng về tâm linh đã tạo nên một không khí
trầm mặc, một giọng điệu rưng rưng bao trùm lấy không gian nghệ thuật của cả tập thơ Những hình ảnh thuộc về không gian làng Chùa vừa gần gũi vừa mơ hồ, nó hiện lên qua hình dung, cảm nhận hơn là miêu tả Mọi màu sắc và đường nét dường như nhòa nhạt đi, nhường chỗ cho cảm giác, âm thanh, ý niệm [171]
Một tác giả nhận được sự quan tâm của dư luận cũng như giới phê bình
không kém là Mai Văn Phấn Nhiều người đánh giá rất cao vị trí của Mai Văn
Phấn trong nền thơ Việt Nam đương đại Theo Văn Giá: “Sang chặng sau cùng này (từ năm 2000 đến nay), Mai Văn Phấn đã có được một mùa màng nặng hạt Nhiều
Trang 26bài thơ được coi là đỉnh cao của thơ Mai Văn Phấn, đồng thời cũng là những thi phẩm sáng giá trong nền thi ca đương đại” [128, tr.527]
Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đã mạnh dạn khẳng định rằng: “Nếu có nhà thơ nào đó đang lặng lẽ luôn tự đổi mới thơ mình và phá vỡ các nhịp điệu mòn cũ trong các thể nghiệm thơ hôm nay, theo tôi, người đó phải là Mai Văn Phấn Từ trữ - tình – cổ - điển, anh “bay” thẳng một mạch vào hậu - hiện - đại, rồi từ đó “lao” vào vòng xoáy đầy ấn tượng của thơ - cách - tân” [128, tr.420]
Nhà thơ Đỗ Quyên trong bài tham luận gửi đến Hội thảo thơ Mai Văn Phấn
và Đồng Đức Bốn có viết: “Những sáng tạo của Mai Văn Phấn đã đặt ông vào vị trí những nhà thơ hàng đầu của nền thơ đương đại Việt Nam” [128, tr.130]
Trần Thiện Khanh lại đặc biệt đề cao vị trí tiên phong trong tinh thần cách tân thơ của Mai Văn Phấn: “Có thể nói, Mai Văn Phấn thuộc số ít nhà thơ có tham vọng tạo dựng cho thi ca một diện mạo mới từ và trong nhịp điệu đời sống hiện đại Ông cổ súy cho sự đa dạng về khuynh hướng sáng tác, cởi mở và chấp nhận mọi sự thể nghiệm chuyển đổi” [128, tr.501]
Một số nhà nghiên cứu dành mối quan tâm đặc biệt cho sự chuyển biến trên các bình diện nội dung và nghệ thuật trong suốt hành trình thơ Mai Văn Phấn Nhà văn Văn Chinh cho rằng: Hành trình thơ Mai Văn Phấn là hành trình của sự trở về với bộ đôi song bước: ở bình diện nội dung, đó là “sự trở về với bản thể hồn nhiên, trở về với bản lai diện mục của nhân sinh diễn ra âm thầm nhưng quyết liệt hơn nhiều” [128, tr.524] và ở bình diện nghệ thuật, đó là “quá trình vùng thoát khỏi các bãi lầy của các trường phái nghệ thuật để trở về với truyền thống, với cổ điển” [128, tr.524] Còn Nguyễn Hoàng Đức lại đề cập đến sự thay đổi bút pháp thơ Mai Văn Phấn qua các giai đoạn sáng tác: “ Phải nói, anh đã thể nghiệm rất nhiều bút pháp thơ từ cổ điển đến các khuynh hướng thơ hiện đại thế kỷ hai mươi và thơ văn xuôi Tất cả đều được cày xới, chiêm nghiệm, chìm đắm đến nhuần nhị Đọc thơ anh, có cảm giác bình thản như một nhạc công đã tu luyện thành thạo và dễ dàng biểu diễn những khúc nhạc khó nhẹ như lông hồng” [37, tr.35]
Văn Giá chỉ ra cái khó trong việc tiếp cận thơ Mai Văn Phấn: “Thế giới thơ
Mai Văn Phấn khá bề bộn Bề bộn về số lượng: 370 bài (Thơ tuyển Mai Văn Phấn,
Trang 27Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2011) Bề bộn về ý tưởng Bề bộn về thi ảnh Bề bộn cả
về thể điệu: lục bát, đường luật, tự do, thơ văn xuôi, trường ca Lại đi qua ba quãng tính từ những bài thơ đầu tiên cho đến hôm nay Thế nên, để gọi ra được “khuôn mặt” nhà thơ Mai Văn Phấn với tất cả những nét đặc sắc riêng quả là một thử thách đối với bất cứ ai” [128, tr.528]
Một số tác giả khác lại quan tâm nghiên cứu ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn
Họ đều thống nhất ở quan điểm cho rằng, Mai Văn Phấn đã tạo ra được một cách diễn đạt hoàn toàn mới và ở một góc độ nào đó ông đã tạo được một thứ ngôn ngữ thơ mới (sự xóa nhòa ranh giới giữa ngôn ngữ thơ, ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ đời thường)
Hồ Thế Hà trong bài viết Thơ tạo sinh nghĩa Mai Văn Phấn đã có một cách
tiếp cận khá mới mẻ từ thế giới hình tượng và ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn Tác giả này cho rằng: “Mai Văn Phấn đang xóa nhòa ranh giới giữa văn xuôi và thi ca mà vẫn được gọi là ngôn ngữ thi ca (langue poétique), nghĩa là anh luôn thay đổi hệ ngôn từ để chúng làm tiền trạm cho cảm xúc và suy nghĩ của mình để không trở nên
xa lạ với mọi người” [128, tr.227]
Bên cạnh đó, lại có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến những hình ảnh mang tính biểu tượng trong thơ Mai Văn Phấn Họ đã chỉ ra rằng: hình ảnh cây cỏ, ban mai, ngọn lửa, đất đai, ánh sáng và người tình là những hình ảnh có sức ám ảnh lớn và xuất hiện lặp đi lặp lại trong thơ Mai Văn Phấn Văn Giá nhận định: “Trong rất nhiều thi ảnh bề bộn ở thơ Mai Văn Phấn, có ba hình ảnh cô đọng nhất, chụm nhất nên trở thành tiêu biểu nhất: Đất đai, Ánh sáng và Người tình (được gọi là Em) Cả ba hình ảnh này đều nằm trong sự quy chiếu của lẽ phồn sinh và hóa sinh bất định với tất cả sự sống động của chúng” [128, tr.534-535]
Một nhóm tác giả khác lại tập trung khai thác những nét đặc sắc trong địa hạt thơ tình của Mai Văn Phấn Họ đều thống nhất ở quan điểm cho rằng, Mai Văn Phấn đã làm mới đề tài tình yêu muôn thuở bằng nội lực phong phú, phóng dật và rất độc đáo của riêng mình Nguyễn Hoàng Đức đã từng nhận định: “Tình yêu trong thơ Mai Văn Phấn không đơn giản là chiếc giường hoan lạc Mà đó là một quá trình như nụ ra hoa, rồi hoa ra quả Những nụ hôn có thể hiện lên như khao khát của hiện
Trang 28tại, những khao khát đó bắt nguồn từ hang thẳm cô đơn, đòi sống, đòi yêu và đòi gieo hạt Rồi cuối cùng đòi được giang tay đón hài nhi chào đời từ giữa cơn đau tràn đầy hạnh phúc Một cơn đau vĩ đại như sự trở dạ của Càn – Khôn muốn làm nên một cuộc sinh thành khai thiên lập địa” [128, tr.360] Còn nhà thơ Đỗ Quyên lại xem xét thơ tình yêu của Mai Văn Phấn ở một góc độ khác: “ Anh luôn chuyển hình tượng thành các trạng thái của tình ái và tâm thức linh nghiệm Trạng thái, chứ không phải tình cảm Đọc thơ của người – đang – yêu này, thêm một lần ta hiểu hai chữ thanh tân nơi tình yêu đôi lứa Cống hiến mới của nhà thơ là đã thanh tân hóa cái địa hạt tưởng khô cũ, giáo điều: Đó là tâm linh và siêu thoát” [128, tr.188]
Nhã Thuyên tiếp cận thơ Mai Văn Phấn dưới góc độ rất lạ: sinh thái học
qua bài viết Khí quyển thơ-sinh thái của Mai Văn Phấn: Thơ, bầu trời và những
linh hồn Với góc tiếp cận này, tác giả đã phân tích hai biểu tượng lớn cũng đồng
thời là hệ sinh thái trong thơ Mai Văn Phấn: những linh hồn trong bầu trời Về phương diện nghệ thuật, Nhã Thuyên cũng phát hiện ra cấu trúc thơ Mai Văn Phấn: thơ như một cấu trúc sinh thái, từ nhan đề các tập thơ, từ cách trình bày, sự trở đi trở lại của một số chủ đề cơ bản, một số không gian thơ, mối liên hệ giữa tác giả và vùng đất máu thịt của anh Và cuối cùng là đi đến mục đích sáng tác thơ của Mai Văn Phấn: thơ là để bám rễ vào mặt đất, trở về với đất đai, đồng quê như nguồn cội của sự sinh [197]
Ngô Hương Giang, Nguyễn Thanh Tâm trong chuyên luận Mai Văn Phấn
và hành trình thơ vào cõi khác nghiên cứu hiện tượng Mai Văn Phấn dưới góc độ
nhân học và văn hóa học Chuyên luận chú giải thơ Mai Văn Phấn, như là cách thức giải quyết vấn đề tư liệu cũng như làm thế nào để hiểu đúng tư liệu của một người thơ; Nghiên cứu trường hợp Mai Văn Phấn dưới cái nhìn nhân học vi mô qua các giai đoạn hiện thực khách quan; Thơ Mai Văn Phấn trong dòng chảy thơ Việt Nam đương đại, là chương có ý nghĩa tổng kết một hành trình thơ của một cá nhân cụ thể trong khuynh hướng chung của nền thơ Việt Nam; là quá trình vượt qua chính mình của người thơ để đưa thơ tồn tại trong cuộc đời như một thực thể sinh động [42]
Các sáng tác gần đây của Mai Văn Phấn khi xuất hiện đều thu hút nhiều sự
chú ý của dư luận Năm 2009, hai tập thơ Hôm sau, và Đột nhiên gió thổi xuất bản
Trang 29cùng một thời điểm đã nhận được nhiều quan tâm của giới phê bình như: Hiện thực
giả định và hiện thực tâm tưởng trong hai tập thơ mới của nhà thơ Mai Văn Phấn
(Dương Kiều Minh); Động hình của tư duy và mĩ cảm trong tập thơ “Hôm sau”
của Mai Văn Phấn (Nguyễn Thanh Tâm); Những ảnh hưởng khuynh hướng siêu thực trong tập thơ “Hôm sau” của Mai Văn Phấn (Vũ Thị Thảo); Mai Văn Phấn, Hai tập thơ, Hai mảng màu hiện thực (Lê Vũ); Cấu trúc ngôn ngữ và hình ảnh trong tập thơ “và đột nhiên gió thổi” của Mai Văn Phấn (Đào Duy Hiệp);… Theo
các tác giả, cái độc đáo trong hai tập thơ của Mai Văn Phấn đó là đã tạo dựng một không khí thơ khác lạ, hiện thực được nói đến là “hiện thực được giả định Sự giả định được thực hiện trong cách thức xếp đặt và phương pháp giải thích của bài thơ Trong nó thu nạp và phát huy các yếu tính tự trào, tự giễu trong lối giễu nhại và phóng dụ” (Dương Kiều Minh) Hiện thực giả định đó là kết quả của “Sự hoài nghi
và chối từ trật tự, mĩ cảm cũ hướng tới một thế giới mà ở đó mọi khả năng đều có thể xảy ra Sự trực nhận của cảm giác xui khiến tư duy phủ nhận những khuôn thước cũ đã chật hẹp, lỗi thời, những chuẩn mực đã méo mó, không còn khả năng định vị” (Nguyễn Thanh Tâm)
Tập thơ Bầu trời không mái che (xuất bản năm 2010) của Mai Văn Phấn
(giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam) làm dấy lên những dư luận khác nhau Đỗ
Hoàng trong bài viết Bầu trời không mái che – yếu kém sáng tạo cho rằng đây là
một lối thơ vô lối, tắc tỵ, hũ nút, dở dơi, dở chuột, không hiểu ra làm sao Nhưng cũng có nhiều ý kiến cho rằng đây là một sáng tạo đột phá của Mai Văn Phấn
Dương Kiều Minh trong bài viết Cuộc trở về tâm không trong tập Bầu trời không
mái che của nhà thơ Mai Văn Phấn cho rằng xuyên suốt cả tập thơ là hành trình đi
đến Tâm không: “Bầu trời không mái che của nhà thơ Mai Văn Phấn được bao phủ
bởi không gian và ánh sáng từ cuộc trở về tĩnh lặng đến cái đích của Tâm không và
tái sinh ở một đời sống mới với tinh thần Vẫn hiểu nhau dù quên tiếng nói/ Đã yêu
Hiến dâng Đã sống” [104] Lê Vũ trong bài viết Bầu trời không mái che của Mai Văn Phấn cũng có cảm nhận tương tự “Thơ rơi nghiêng về nẻo tâm linh Hiện thực
chuyển động theo những con đường bí mật nên một ô trống, cái màu trắng của ngã
tư, của cụ già… là những mật mã mở ra nhiều phương vị tương tự những làn sóng
Trang 30điện từ chồng chéo đan xen… Bầu trời không mái che, ba phần chia biệt nhưng là
một thể thống nhất trong cái nhìn đậm màu sắc tâm linh của Mai Văn Phấn về thế giới mà nổi lên là mối quan hệ giữa thiên nhiên và người, giữa động và tĩnh, giữa sinh và tử, giữa tình và dục Thiên nhiên sinh thành tạo tác nhưng cũng là môi trường hủy diệt; cái tiểu ngã chan hòa với đại ngã để nhận ra mình; tình yêu thăng hoa trong lạc thú huyền nhiệm Vũ trụ, hoa cỏ, con người là đồng nhất thể trong một chiêm ngắm, nhập hòa vào nhau trong vô biên và vô cùng thời gian Mai Văn Phấn
đã gói lại tất cả ý niệm của mình bằng kỹ thuật đồng hiện, chuyển dịch không/ thời gian: ánh sáng & bóng tối, quá khứ với hiện tại, pha trộn những nhát cắt ngày sống với nhịp điệu đêm nồng nàn… đồng thời chuyển dịch cái nhìn của cái tôi: khi thành kính, khi hưng phấn, khi lơ mơ, khi nghẹn ngào, khi mệt mỏi, lọ mọ chán với buồn,
cả ngờ vực sợ hãi, phân vân” [214]
Tập thơ thả của Mai Văn Phấn sử dụng thể thơ ba câu là một cách học tập
sáng tạo thể thơ Haiku truyền thống của Nhật Bản đã tạo ra được sự thú vị đối với
giới phê bình cũng như độc giả Nguyễn Chí Hoan trong bài viết Thả và cười thấy
thấp thoáng giữa các hàng chữ “một nụ cười kiểu nụ cười Bayon bốn mặt” Liêu Thái thì cảm nhận “cả một tập thơ là một vòng tròn của sự thả, buông bỏ và để mọi
sự phát triển theo qui luật tự nhiên của nó, kể cả tư tưởng và chữ nghĩa” (“thả”,
Đóa Hoa Vô Thường và Thập Mục Ngưu Đồ)
Dương Kiều Minh cũng là tên tuổi không thể không nhắc đến trên thi đàn
Việt cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI Tọa đàm Thơ Dương Kiều Minh trong diễn
trình đổi mới thơ đương đại do khoa Viết văn - Báo chí, Trường Đại học Văn hóa
Hà Nội tổ chức sáng ngày 15/5/2012 tập hợp nhiều ý kiến đánh giá về những nỗ lực
đổi mới thơ và vị trí của Dương Kiều Minh trên thi đàn: Cảm nhận thơ Dương Kiều
Minh ( Bích Thu), Dương Kiều Minh có cuộc đời giấu bao nhiêu ánh sáng ( Bình
Nguyên Trang), Những mùa thu ám ảnh trong cõi lửng lơ (Đặng Thân), Dương
Kiều Minh : “Thuở niềm tin chưa có trên đời” (Khánh Phương), Nhà thơ Dương Kiều Minh – Bông hoa kèn nở ngang tàn mùa hạ (Lê Thị Bích Hồng), Thơ Dương Kiều Minh mang hơi xuân từ những cánh đồng (Mai Văn Phấn), Dương Kiều Minh – Thi sỹ của những thôi thúc và quyễn rũ từ khoảng trống đời người (Ngô Kim
Trang 31Đỉnh), Thơ Dương Kiều Minh – vẻ đẹp của ngôn từ giản dị (Nguyễn Phan Quế Mai), Nhà thơ Dương Kiều Minh với những thi tầng minh triết Phương Đông (Nguyễn Việt Chiến), Ngày xuống núi, đôi điều cảm nhận (Ngô Xuân Diện),
Dương Kiều Minh lá vàng kiếp kiếp rơi mờ hoàng hôn ( Trần Anh Thái), Thơ Dương Kiều Minh ngọn lửa đêm hàn (Văn Chinh), Dương Kiều Minh – Thơ của số phận (Đoàn Ánh Dương), Một khoảng trống sau: “Mùa xuân gấp gấp” (Vi Thùy
Linh), Dương Kiều Minh với thể thơ văn xuôi (Lưu Khánh Thơ), Nhà thơ Dương
Kiều Minh: Thơ đi giữa đời không lấm bụi (Nguyễn Sỹ Đại), Dương Kiều Minh vẫn còn hơi ấm từ củi lửa (Nguyễn Ngọc Phú), Dương Kiều Minh tràn ngập âm thanh mê đắm và khoái cảm (Nguyễn Linh Khiếu)…[129]
Nguyễn Bích Thu khẳng định: Hành trình thơ Dương Kiều Minh là hành trình đau đáu tìm đường đi và trải nghiệm, trong đó nổi bật là những ưu tư đậm chất thế tục về thân phận con người Điều đó tạo nên trong thơ ông cảm thức về thời gian rất rõ nét (được ý thức như một phúng dụ về trạng thái nhân sinh) Đây cũng là
lý do để Dương Kiều Minh lựa chọn hai cách thể hiện hình thức thơ phù hợp nhất nhằm diễn tả những cảm thức và trạng thái ấy: thơ tự do và thơ văn xuôi
Nhà thơ Bằng Việt đã khẳng định tầm vóc thơ Dương Kiều Minh, không chỉ
ở sự bề thế của số lượng thi tập, mà còn ở những tìm tòi, cách tân táo bạo của ông
để đem đến sự mới mẻ cho thơ ca Đó là sự biểu hiện một cái tôi kiêu hãnh, tự giải phóng mình ra khỏi những ràng buộc, cái tôi dám ngẩng cao đầu nói về bản thể, khẳng định bản thể Đó là cách suy nghĩ vừa sâu sắc, vừa rộng mở phóng khoáng của thế hệ nhà thơ sau 1975 mà Dương Kiều Minh là một bằng chứng sinh động.Và với ý nghĩa đó, ông đã lập nên một chiến công, thậm chí, là một kỳ tích vào hành trình đổi mới thơ đương đại
Lưu Khánh Thơ hướng sự chú ý của mình tới một đặc điểm độc đáo khác của thơ Dương Kiều Minh Đó là sự xuất hiện ở tần số cao những bài thơ văn xuôi
trong hai tập thơ sau này của ông là Tựa cửa và Tôi ngắm mãi những ngày thu tận
Đây là một biểu hiện khác của nỗ lực cách tân thơ ca, đồng thời thể hiện ý thức muốn bung phá của cái tôi bản thể khỏi những chật hẹp của sự ràng buộc Đánh giá
về kết quả của những nỗ lực và đổi mới thơ Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang
Trang 32Thiều, Trần Anh Thái, Chu Văn Sơn, nhà văn Văn Chinh đã gặp gỡ nhau ở một số phát hiện thú vị, căn cốt nhất, đó là vẻ đẹp trong sáng và thuần khiết của thơ Dương Kiều Minh Nguyễn Quang Thiều say sưa nói về một miền ngập tràn ánh thiên thanh trong thơ Dương Kiều Minh, về niềm hạnh phúc của mỗi một đời người, một đời thơ khi được tắm mình trong miền tinh khiết của thiên nhiên, đất đai, cây cỏ, ở
đó con người không còn phải phiền muộn, phải giày vò về bất cứ điều gì Hiểu theo nghĩa đó, con đường cách tân thơ mà Dương Kiều Minh đã đi qua, chính là con đường trở về miền thanh khiết, trong trẻo, để gắn bó và sống trọn mình cho nó Trần Anh Thái cho rằng Dương Kiều Minh không phải là người tìm tòi về hình thức Câu chuyện thơ Dương Kiều Minh là câu chuyện về vẻ đẹp thuần khiết trong sáng, câu chuyện về bản thể con người, câu chuyện của sự tồn tại Đó là một tinh thần hoàn toàn tự do, vượt lên tất cả mọi ràng buộc và sự hư vô của các giá trị vật chất Chu
Văn Sơn khẳng định sự liên tục, bền bỉ trong hành trình cách tân thơ của tác giả Củi
lửa Trong hành trình rất dài đó, ông đã đem đến sự mới mẻ cho thơ từ ý thức trữ
tình tới những khuynh hướng đổi mới về hình thức Tác giả bài viết đã chỉ ra đặc điểm riêng biệt của cái tôi Dương Kiều Minh: Sự hoài vọng về thế giới ấu thơ trong trẻo, linh thiêng Thơ ông chỉ hay khi viết về miền đó Nếu bất chợt (hoặc cố ý) lấn sang địa hạt khác, chất Dương Kiều Minh lập tức bị mai một Ở những tìm tòi hình thức, thơ Dương Kiều Minh có sự kết hợp giữa vẻ đẹp của họa phái ấn tượng phương Tây và những bức tranh thủy mặc phương Đông Điều đó tạo nên một thứ ngôn ngữ mờ nhòe cùng xu hướng đặc trưng trong thơ ông: xu hướng xa vắng hóa không gian và chập chờn hóa thời gian Đặc điểm mang dấu ấn phong cách này thể
hiện rõ nhất trong tập Củi lửa, tập thơ đầu tay của Dương Kiều Minh Văn Chinh
khẳng định vẻ đẹp thuần khiết của thơ Dương Kiều Minh Đó là cái đẹp mà ông luôn khao khát tìm kiếm, cái tạo nên dấu vết bản ngã cứng cỏi, kiêu hãnh nhưng nhiều khi cũng đầy hụt hẫng, bất lực, là căn cớ tạo nên ngọn lửa ấm áp trong thơ chống lại sự giá lạnh trong đời Dương Kiều Minh
Dưới góc độ thi pháp, Đỗ Ngọc Yên nói về cảm thức thời gian trong thi pháp thơ Dương Kiều Minh Đó là sự kết hợp của thời gian vật chất (những cảm
Trang 33giác về mùa) và thời gian ảo (vận động qua tâm linh sáng tạo), và với Dương Kiều Minh, chỉ thơ mới đủ năng lượng để kết nối hai thế giới ấy
Một tác giả nữa trong những năm gần đây cũng rất thu hút sự chú ý của giới
phê bình, đó là Trần Nhuận Minh Các bài viết về thơ Trần Nhuận Minh được
tuyển tập trong 02 cuốn sách tập hợp tất cả các bài phê bình về thơ Trần Nhuận
Minh trong những năm gần đây, bao gồm: Trần Nhuận Minh và ba lần định vị cho
thơ (Nxb Văn học, 2009) và Trần Nhuận Minh và một hướng tìm diện mạo mới cho thơ (Nxb Hội nhà văn, 2015)
Theo đánh giá chung của các nhà nghiên cứu thì điểm nổi bật trong thơ Trần
Nhuận Minh đó là cảm hứng thế sự đậm nét Tác giả Phong Lê trong bài viết Trần
Nhuận Minh ba lần định vị cho thơ đã thấu suốt quan niệm sáng tác này của nhà
thơ Theo ông, Trần Nhuận Minh đã “bám chặt và áp mặt vào đời để gợi thức và
đánh động lương tâm” [130, tr.11] Mai Quốc Liên khi Đọc thơ Trần Nhuận Minh
đã phát hiện thấy ẩn chứa đằng sau mỗi vần thơ là “một tâm hồn thành thực, chân quê, nhưng lại tích hợp bao tầng văn hóa xưa nay đã nhạy cảm làm sao trước dư chấn của thời đại mình đang sống” [130, tr.39] Đó chính là lí do khiến thơ ông đi đến được cái chân thực, cái đích thực và dò ra cái “rốn bể” của thơ là nỗi niềm chính mình Tác giả còn khẳng định: “Thi pháp cuối cùng và cao nhất của thơ, là chỗ nó chở cuộc đời nhẹ như không thơ, không cần đến câu chữ nữa” [130, tr 43-
44] Hữu Tuân trong bài viết Giọt phù sa vạn dặm thì nhận xét: “Sức nặng của thơ
Trần Nhuận Minh chính là ở chỗ, niềm ưu ái đối với cuộc sống, đối với con người, chất đời thường được lồng trong triết lý nhân sinh” [105, tr.48] Trần Nhật Thu
trong bài Câu thơ như mảnh hồn người, đã viết: “Thơ Trần Nhuận Minh có những
bài, những câu, đẹp đến nao lòng, nhưng lại có những bài, những câu, đau đến xé lòng Có lẽ anh không thể viết khác được, khi mà anh muốn “áp tải sự thật – Đến
những bến cuối cùng”… [130, tr.230] Nguyễn Xuân Đức khi viết bài Thơ Trần
Nhuận Minh, đã đánh giá cao giá trị cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Trần Nhuận
Minh Ông nhận định, Trần Nhuận Minh “không đứng ngoài quan sát một cách duy
lí mà tự hòa đồng để cảm nhận số phận của mỗi kiếp người Có thể nói anh không chỉ sống có một kiếp người” [130, tr.130]
Trang 34Về đặc trưng thi pháp Trần Nhuận Minh, Trần Minh Thái chỉ ra một số khía cạnh “Trần Nhuận Minh vận dụng nhuần nhuyễn nhiều lối thơ… tạo cho thơ anh chứa đựng sự chắt lọc tinh tế của thơ Đường, sự hóm hỉnh tinh túy của hồn thơ dân tộc, cái humour của người Anh, cái mạnh mẽ dồn dập của thơ đương đại Tính hài hước trong thơ Trần Nhuận Minh vừa gần với lối nói đùa thân mật, hóm hỉnh của nhân dân, vừa phảng phất cái hài hước trí tuệ của người châu Âu,… Tính triết lý biểu hiện qua các úc cảm sâu lắng về thiên nhiên, con người và cuộc sống Các câu kết của bài thơ thường tạo ra sự đột biến và bùng nổ” [130, tr 237 -238]
Trong các sáng tác của Trần Nhuận Minh, Bản Xô nát hoang dã được giới phê bình đánh giá cao Tác giả Đặng Văn Sinh viết bài Khát vọng về một tình yêu
thần thánh đã chỉ ra rằng “Hình tượng quán xuyến trong toàn bộ tác phẩm là cái tôi
trữ tình biến động, lúc hữu hình, lúc vô ảnh, lúc là hiện thực khách quan, lúc chỉ là
giả tưởng” Bên cạnh đó, tác giả bài viết còn nhận thấy trong Bản Xô nát hoang dã
“thế giới hình tượng ở đây, là thế giới lưỡng phân, hai mảng sáng tối thường phân tầng và luôn được xem xét trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của triết học cổ
phương Đông” [163] Nghiên cứu Bản Xô nát hoang dã từ góc độ thiền học, tác giả
Nguyễn Văn Sơn cho rằng tác phẩm đã “phản ánh năng lực tư duy nghệ thuật hết sức nhạy cảm trong việc khéo léo lựa chọn hình thức thể hiện hình tượng nghệ thuật
và chất liệu ngôn ngữ thi ca” Tất cả để nhằm thể hiện tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt
là tư tưởng giác ngộ, nhận biết về vũ trụ nhân sinh
Ngoài ra một số tập thơ khác của Trần Nhuận Minh cũng được nhiều người
quan tâm như 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh, Miền dân gian mây trắng với các bài viết Khúc đàn bầu thân phận của Vũ Quần Phương, 45 khúc đàn bầu của kẻ vô
danh, đánh thức những miền tiềm thức lạ của Vũ Ngọc Thảo, Thi pháp ca dao trong Miền dân gian mây trắng của Hữu Tuân,…
Nguyễn Bình Phương không chỉ là một tiểu thuyết gia tài năng mà còn là
một gương mặt thơ độc đáo nhận được sự quan tâm không ít của giới phê bình Đầu
tiên phải kể đến bài viết Thi ca và cuộc kiếm tìm có tên Nguyễn Bình Phương của tác giả Dương Kiều Minh trên báo Công an Nhân dân tháng 12/2009 [105] Là một
trong số những người đầu tiên đọc và biết đến thơ Nguyễn Bình Phương, Dương
Trang 35Kiều Minh đã cảm nhận và nắm bắt được phần nào hồn thơ Nguyễn Bình Phương Ông đã chỉ ra cảm xúc tinh tế, “phong vị thơ rất riêng đầy trẻ trung”, lối viết sáng tạo thể nghiệm cái mới trong ngòi bút Nguyễn Bình Phương ngay từ những năm 90 của thế kỉ XX Ông đặc biệt chú ý đến thế giới của những hình ảnh tưởng tượng độc đáo gợi ấn tượng mạnh, của cái thực hòa lẫn với cái ảo, của cái tôi cô đơn, hiện sinh Và Dương Kiều Minh gọi hành trình sáng tác thơ của Nguyễn Bình Phương là một “cuộc kiếm tìm”, kiếm tìm cái mới “tựa “luồng gió lao rừng rực” về những miền bí ẩn của đời sống, của cuộc đời và của thiên nhiên trải ra vô tận trước sự chiêm ngưỡng, chiêm nghiệm của con người” Bên cạnh Dương Kiều Minh, Nguyễn Việt Chiến là nhà phê bình có sự quan tâm đặc biệt đến đời sống thơ đương đại Việt Nam Trong tuyển tập những tác giả và tác phẩm thơ đương đại tiêu biểu
mà ông sưu tầm - Thơ Việt Nam- tìm tòi & cách tân (1975-2005) có riêng một bài
viết về Nguyễn Bình Phương Nguyễn Việt Chiến đã có những đánh giá đúng đắn
về nỗ lực sáng tạo của Nguyễn Bình Phương: “anh là một trong những nhà thơ sớm nhất đã âm thầm “khởi cuộc” khai phá những “miền đất mới” trong thơ đương đại Việt Nam cuối thế kỉ XX” [8, tr.202] Thế giới thơ độc đáo với những hình ảnh mới
mẻ, với cách sử dụng ngôn ngữ sáng tạo của Nguyễn Bình Phương cũng được Nguyễn Việt Chiến tri nhận sâu sắc: “Trong thơ Nguyễn Bình Phương, ta thường gặp một đời sống khác, một thế giới khác, một ngôn ngữ thi ca, một miền thẩm mĩ khác với đời sống thực tại xung quanh ta và chính những điều ấy đã khơi gợi sức liên tưởng, đã mở ra một cách nhìn sâu hơn vào những chiều kích khác nhau của đời sống tâm hồn con người” [8, tr.203] Người thực sự thâm nhập vào thế giới thơ Nguyễn Bình Phương và khắc họa lại hành trình đầy say mê nhưng cũng đầy thử
thách ấy là Lê Hồ Quang với bài viết Đọc thơ Nguyễn Bình Phương trên Tạp chí
Thơ số 8-2011, Nxb Hội nhà văn Việt Nam Lê Hồ Quang cho rằng: “việc “đọc”
thơ Nguyễn Bình Phương là một hành trình tìm đường vào cõi lạ đầy nhọc nhằn, với nhiều cảm giác bất an, nghi hoặc Nhưng dù có lúc cảm thấy mê man, đuối sức trên hành trình phiêu lưu vào thế giới ấy, ta vẫn khó phủ nhận vẻ đẹp đầy ma mị của
nó Nó đánh thức và mở ra những đường biên ranh giới khác, độc sáng, trong cách
ta tri giác về thế giới” Mai Văn Phấn thì lại ấn tượng với cơ chế xây dựng hình ảnh
Trang 36trong thơ Nguyễn Bình Phương qua bài viết Không gian “mặt phẳng cong” trong
thơ Nguyễn Bình Phương: “Những hình ảnh xuất hiện đầu tiên trong một bài thơ
của Nguyễn Bình Phương thường dung dị, gần gũi người đọc đến độ tạo cảm giác đang chạm vào đồ vật bất kỳ trong đời sống hàng ngày… Quen đấy mà chỉ dạo vài bước thôi, chúng ta sẽ được chứng kiến một trong những hình ảnh quen thuộc kia bỗng nhiên biến hóa khác thường, không thể dự đoán” Và tác giả gọi đó là cách “bẻ cong” bề mặt hiện thực của Nguyễn Bình Phương [140]
Tập thơ Buổi câu hờ hững (giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội năm 2012) là
thi phẩm đáng chú ý nhất của Nguyễn Bình Phương trong những năm đầu thế kỷ XXI đánh dấu một sự chuyển mình của Nguyễn Bình Phương Đoàn Minh Tâm
trong bài viết Buổi câu hờ hững – một hồn thơ tinh quái Nguyễn Bình Phương nhận
thấy tập thơ đậm “những xúc cảm mang dấu ấn thiền” và đó thực chất là “những phút lắng đọng của một hồn thơ “tinh quái” đang bước vào giai đoạn “phát hiện lại
chính mình” mà thôi” Trong Buổi câu hờ hững- những suy tưởng bên kia ẩn dụ,
Nguyễn Thanh Tâm quan tâm đến cơ chế ẩn dụ cùng với những suy tưởng mà
Nguyễn Bình Phương thể hiện qua những ẩn dụ ấy Nhã Thuyên trong Phía khác
của mặt trăng nhận ra những thay đổi trong lối viết của Nguyễn Bình Phương Nếu
như ở các tập thơ trước, Nguyễn Bình Phương đã hiện thực hóa một châm ngôn viết của mình: “sống là viết vào đời câu cách ngôn bí ẩn” bằng cách nói những điều mê
dụ, những huyền hoặc, như những nhà tiên tri, những thầy bói thì đến Buổi câu hờ
hững, dường như Nguyễn Bình Phương đang nhìn lại mình với một đầu óc duy lý
hơn, thấy rõ hơn nhu cầu bày tỏ mình, chiêm ngắm mình, u hoài về sự phôi pha, tàn phai, bệnh tật, làn da mai mái, mái tóc bạc màu… Anh cũng “đời thực” hơn, đề cập nhiều hơn tới các vấn đề thường nhật, về đời sống công chức, danh vọng, quan chức, hay mở rộng mảng đề tài “tham vọng” hơn, về số phận người lính, người dân châu thổ sông Hồng, như thể có ý hướng một thứ thơ “tham dự” vào đời sống cộng đồng, một phản tư của phẩm chất trí thức Vì thế, thơ Nguyễn Bình Phương mất đi
vẻ mê dụ vốn có, và thêm nhiều trống trải, nhiều suy tư
Dù sáng tác không nhiều, nhưng chỉ với một tập thơ Những kỷ niệm tưởng
tượng, Trương Đăng Dung vẫn trở thành một hiện tượng thơ đầu thế kỷ XXI Hơn
Trang 37một năm kể từ khi tập thơ ra đời đã có hơn ba mươi bài phê bình viết về tập thơ –
một hiệu ứng thẩm mĩ xã hội hiếm thấy trong đời sống xã hội đương đại – như: Lời
tựa tập thơ Những kỉ niệm tưởng tượng (Đỗ Lai Thúy), Thời gian và phận người trong thơ Trương Đăng Dung (Nguyễn Đăng Điệp), Đọc Những kỷ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung (Inrasara), Tái ám ảnh về một bài thơ ám ảnh (Đỗ
Quyên), Trên đường đến với Những kỉ niệm tưởng tượng (Nguyễn Thanh Tâm), Vật
chứng trước thời gian (Lê Hồ Quang), Ám ảnh thời gian trong thơ Trương Đăng Dung (Hoàng Thị Quỳnh Anh), Nhà thơ Trương Đăng Dung – trôi chảy cùng dòng sông thời gian để truy vấn tồn tại người (Trần Ngọc Lan), Cảm thức lạc lõng trong tập thơ Những kỷ niệm tưởng tượng (Hoài Nam), Nỗi buồn nhân thế trong thơ Trương Đăng Dung (Nguyễn Trong Đức), Cảm thức cô đơn trong thơ Trương Đăng Dung (Hồ Tấn Nguyên Minh), Thất bại của cái chết trong thơ Trương Đăng Dung (Mai Thị Liên Giang), Đọc “liên văn bản” Trương Đăng Dung qua Những kỉ niệm tưởng tượng (Nguyễn Hữu Sơn), Những kỉ niệm tưởng tượng hay ám ảnh hiện sinh của Trương Đăng Dung (Hoàng Đăng Khoa), Thời gian và sự tồn tại nhân bản trong thơ Trương Đăng Dung (Trần Thị Ngọc Lan), Trương Đăng Dung – thơ như
là một diễn ngôn (Phan Tuấn Anh), Thơ Trương Đăng Dung trong cảm nhận của tôi (Giáng Vân), Hiện thực là cái nằm sau hiện thực (Nguyễn Thanh Tuấn),… Các
bài viết đều đánh giá rất cao tập thơ trên cả phương diện nội dung lẫn nghệ thuật Nhiều nhà phê bình nhận thấy bao trùm cả tập thơ là nỗi ám ảnh thời gian Đỗ Lai Thúy gọi thơ Trương Đăng Dung là “thơ thời gian”, đó không phải là thời gian bên ngoài, thời gian tuyến tính, mà là thời gian bên trong gắn với “những khắc khoải về kiếp người ngắn ngủi” (Nguyễn Trọng Đức), đặc trưng của thời gian trong thơ Trương Đăng Dung là “ngoài việc đề cao tính chủ quan và bên trong thân thể, còn
là xu hướng xóa nhòa đường biên của lịch sử, giãn nới các chiều kích thời đại và qua đó làm đồng đại hóa những thời đại khác nhau, với những suy tư tồn tại, trăn trở thân phận và nỗi đau truyền kiếp như những mẫu thức chung của nhân loại” (Phan Tuấn Anh) Nguyễn Đăng Điệp khái quát nội dung của tập thơ như sau: “Trở
đi trở lại trong Những kỷ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung là tiếng cựa
mình của thời gian, của tình yêu và cái chết, là nỗi bất an trước một thực tại phi lý
Trang 38Đó là một thế giới ngập đầy hiện sinh trong cái nhìn trắc ẩn của một kẻ sớm tự nguyện đứng về phe nước mắt” Bởi vậy, giá trị của thơ Trương Đăng Dung là ở chỗ “có khả năng làm đầy nơi người đọc những cảm - giác - sống, tâm - tình - thời - đại” (Hoàng Đăng Khoa)
Thơ Trương Đăng Dung cũng được đánh giá cao ở ngôn ngữ và hình ảnh Ngôn ngữ không cầu kì nhưng “vừa giàu tính biểu tượng, lại vừa giàu sức gợi cảm” (Nguyễn Trọng Đức), “trong một vỏ ngôn ngữ cực kỳ thuần khiết, mạch lạc, thơ Trương Đăng Dung lại chứa đầy sự huyền bí Sự huyền bí, biến ảo giữa cái có và cái không, cái hư và cái thực, sự trộn lẫn, hoán đổi giữa những thời gian khác nhau, không gian khác nhau trong những dòng chảy của đời người, của lịch sử tạo nên hấp dẫn lôi cuốn trong không gian thơ của thi sĩ (Giáng Vân) Điểm độc đáo trong cách xây dựng hình ảnh của Trương Đăng Dung là “những hình ảnh và biểu tượng thơ mơ hồ, hư ảo, lắp ghép, xoay chiều, nghịch dị, phi logic để hướng đến xóa nhòa ranh giới giữa không gian, thời gian và thiết lập một hình thái mới, hình thái không-thời gian - một hợp chất mới, lạ, phức tạp, bất khả phân chia (Nguyễn Thanh Tuấn)
Inrasara là một nhà thơ dân tộc thiểu số có dấu ấn đậm nét trên thi đàn
đương đại, là nhà thơ dân tộc thiểu số đầu tiên của Việt Nam nhận được giải thưởng
ASEAN – giải thưởng thơ mang tầm khu vực (năm 2005 với tập thơ Lễ tẩy trần
tháng Tư) Sức hấp dẫn của thơ Inrasara đầu tiên đến từ không gian văn hóa Chăm
rất riêng đậm đặc trong thơ ông cùng với tình yêu tha thiết với quê hương, xứ sở
Hoàng Quảng Uyên trong bài viết Yêu Inrasara đã đưa ra nhận định: “Người Chăm
đã để lại cho đời những tháp Chăm, văn hóa – nghệ thuật (và cả lịch sử) của người Chăm đã tụ cả lại nơi những ngọn tháp ấy và chính Tháp nắng, Tháp hoang, Tháp
lạnh đã nâng nhà thơ Inrasara bay cao trên bầu trời thi ca” (Một mình trong cõi thơ,
Nxb Văn hóa Dân tộc, 2000) Phan Hoàng nêu cảm nhận “Mỗi lần nghĩ đến Inrasara là tôi nghĩ ngay đến ngôi tháp Chàm bí ẩn đơn độc giữa nắng cháy cất lên
tiếng hát riêng mình” (Inrasara - tháp Chàm giữa nắng đơn ca)
Không chỉ đem đến cho thơ Việt không gian văn hóa Chăm đầy mới lạ, Inrasara được đánh giá cao ở cả những cách tân nghệ thuật Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, điểm độc đáo của thơ Inrasara đó là sự kết hợp giữa cội nguồn văn hóa
Trang 39Chăm và tâm thức thơ hiện đại Mai Văn Phấn trong bài viết Nhà thơ Inrasara,
người khai hoang ánh sáng cho rằng Inrasara đã khởi đầu con đường sáng tạo bằng
việc kết hợp nhuần nhuyễn và hài hòa giữa thơ tự do hiện đại với những tinh hoa của văn học Chăm và Việt để làm nên một diện mạo thơ mới, trong đó, đặc biệt là cách tân ngôn ngữ Trần Xuân An, Vũ Nho đồng quan điểm ấy khi cho rằng thơ Inrasara “là thứ tiếng Việt hiện đại ôm chứa tâm hồn Chăm từ nghìn xưa cho đến
hôm nay” (Trần Xuân An, Inrasara làm sáng tên cho năm đóa hoa Champa của
riêng anh) Inrasara đã tạo ra “những khúc ca đỉnh tháp” bằng ngôn ngữ của mình,
bằng ngôn ngữ Chăm điêu luyện, bằng ngôn ngữ Việt đầy xúc cảm (Vũ Nho, Thơ
Inrasara – những khúc ca đỉnh tháp, báo Thơ, số 16, 10.2004)
Với hai tập thơ được dư luận chú ý gần đây là Chất vấn thói quen (2012) và
Bước gió truyền kỳ (2016), Phan Hoàng là gương mặt nhận được nhiều chú ý trong
số các nhà thơ phía Nam Tập thơ Chất vấn thói quen (Giải thưởng Hội Nhà văn
Thành phố Hồ Chí Minh và Tặng thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, năm 2012), khi xuất hiện trên văn đàn đã tạo sự xôn xao trong đời sống văn học với hàng chục bài
viết đăng tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng: Chất vấn thói quen &
hành trình sáng tạo thơ Phan Hoàng - Trần Hoài Anh Thay đổi cảm hứng bầu trời
- Nguyễn Quyến, Bốn ấn tượng về Chất vấn thói quen - Trần Phò; Một xuất phát
mới trong thơ Phan Hoàng - Đặng Huy Giang; Giọng thơ hào sảng rất riêng - Trần
Nhã Thụy; Lao vào mọi dòng xoáy biển đời, chất vấn thói quen - Hoàng Thuỵ Anh;
Những cơn bão ký tự ấm trong thơ Phan Hoàng - Phạm Ngọc Hiền; Suy nghiệm từ cuộc sống trút vào thơ - Trần Huy Minh Phương; Thơ Phan Hoàng tiếng kêu thảng thốt của những nền tảng văn hóa xã hội đương thời - Hoa Nip; Cơn bão ký tự mới -
Vũ Thanh Hoa; Cuộc chiến khắc khoải mười năm vật vã cơn bão chữ - Quang
Hoài,… Tập thơ được đánh giá cao bởi tư duy mới mẻ, sẵn sàng “lột xác để từ bỏ những thói quen cũ, cái nhìn cũ, tư duy cũ, một điều cốt tử trong hành trình sáng tạo thi ca, cũng như các lĩnh vực sáng tạo khác trong đời sống xã hội” (Trần Hoài Anh);
“Chính thói quen mới mang tên Chất vấn thói quen đã làm nên một Phan Hoàng khác biệt hơn, mới mẻ hơn, hiện đại hơn” (Đặng Huy Giang) Chất vấn thói quen
Trang 40chính là tuyên ngôn nghệ thuật của Phan Hoàng và tuyên ngôn này nhận được sự đồng tình của nhiều nhà thơ đương đại
Nếu Chất vấn thói quen gây ấn tượng bởi tư duy nghệ thuật mới thì trường
ca Bước gió truyền kỳ nhận được sự quan tâm bởi cảm hứng dân tộc và tính sử thi đậm nét Có thể kể ra đây các bài viết: Những bước gió trong trường ca của Phan
Hoàng - Hoàng Thụy Anh; Bước gió truyền kỳ thổi hồn đất nước - Hoàng Hường; Gió đã thổi trong thơ - Đặng Huy Giang; Tổ quốc qua “Bước gió truyền kỳ” của Phan Hoàng - Phan Thủy; Cảm hứng sử ca trong trường ca Bước gió truyền kỳ -
Phạm Ngọc Hiền; Biểu tượng “Gió” trong “Bước gió truyền kỳ” của Phan Hoàng – Cao Hồng; Bước gió truyền kỳ của Phan Hoàng - Cho lý lẽ của sinh tồn - Nguyễn Chí Hoan; Bước gió truyền kỳ - bước chân mở cõi - Nguyễn Vũ Tiềm Các bài viết
đánh giá cao trường ca này ở chỗ “là trường ca ôm trùm vấn đề rộng lớn nhưng không sa đà vào kể và tả mà coi trọng nghĩ và cảm; mỗi phần hay toàn cục đều được kết thúc mở” (Nguyễn Vũ Tiềm) Qua biểu tượng gió “tác giả đã dẫn người đọc đi vào thế giới cảm xúc cùng những suy tư về văn hóa, lịch sử và vận mệnh của dân tộc một cách tự nhiên trên tinh thần tự cảm hóa” và vì vậy, nhà thơ “đã vượt qua giới hạn của lối tư duy tụng ca về những vấn đề đại tự sự một cách đơn giản, sáo rỗng” (Cao Hồng)
Bên cạnh các nhà thơ thành danh từ cuối thế kỷ trước, đầu thế kỷ XXI xuất hiện nhiều gương mặt trẻ đáng chú ý trong đó phải kể đến những cái tên như Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Văn Cầm Hải, Nguyễn Phong Việt…
Vi Thùy Linh nổi lên như là một hiện tượng văn học đầu thế kỉ XXI và dĩ
nhiên cô nhận được nhiều sự quan tâm của công chúng cũng như giới phê bình, có
thể kể ra các bài viết tiêu biểu: Thơ Vi Thuỳ Linh - một khát vọng trẻ (Nguyễn Thuỵ Kha); Thơ Linh (Phạm Xuân Nguyên); Vi Thùy Linh - giữa những quyền lực của lời (Nguyễn Thanh Tâm ); Thơ Vi Thùy Linh, những trận bạo động chữ (Ngô Văn Giá),
Thơ nữ: Giới là một vấn đề (Nhã Thuyên); Hiện tượng Vi Thùy Linh (Nguyễn Huy
Thiệp), Thơ Vi Thùy Linh – những trận bạo động tình? (Nguyễn Trọng Bình), Vi
Thùy Linh - thi sĩ của ái quyền (Chu Văn Sơn); Màu yêu trong đồng tử thơ Linh
(Nguyễn Đăng Điệp); “Sex” làm nên “thương hiệu” Vi Linh (Lê Thị Huệ); Vi Thùy