Tuy vậy, vẫn có một số nhà khảo cổ học đã phát hiện những liên hệ giữa hai nền văn hóa này, ví dụ đã có học giả so sánh và nghiên cứu một số di vật cùng được tìm thấy và xuất hiện nhiều
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRƯƠNG KHẢ HÂN (ZHANG KEXIN)
SO SÁNH VĂN HÓA PHÙNG NGUYÊN
VÀ VĂN HÓA TAM TINH ĐÔI (TỨ XUYÊN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRƯƠNG KHẢ HÂN (ZHANG KEXIN)
SO SÁNH VĂN HÓA PHÙNG NGUYÊN
VÀ VĂN HÓA TAM TINH ĐÔI (TỨ XUYÊN)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số: 60220113
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lâm Thị Mỹ Dung
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn Cô GS.TS Lâm Thị Mỹ Dung, người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn Nếu thiếu sự giúp đỡ của cô Dung, tôi chắc chắn không thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp thuận lợi được
Tôi xin cảm ơn các thầy cô của khoa Việt Nam học và tiếng Việt tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn Các cán bộ của Bảo tàng Nhân học và các bạn đồng nghiệp của tủ sách TS Nishimura đã giúp đỡ tôi và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh
Hà Nội, tháng 12 năm 2018 Học viên thực hiện
Trương Khả Hân
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: VĂN HÓA PHÙNG NGUYÊN 4
1.1 Môi trường sinh thái 4
1.1.1 Điều kiện địa lý 4
1.2 Khái quát về văn hóa Phùng Nguyên 5
1.2.1 Quá trình phát hiện và nghiên cứu 5
1.2.2 Niên đại 7
1.3 Đặc điểm của văn hóa Phùng Nguyên 7
1.3.1 Loại hình di tích 7
1.3.2 Đặc trưng di vật 10
1.4 Kinh tế xã hội 33
1.4.1 Về đời sống kinh tế sản xuất 33
1.4.2 Nông nghiệp 36
1.4.3 Thủ công nghiệp 38
1.5 Kiến trúc thượng tầng 42
Chương 2: VĂN HÓA TAM TINH ĐÔI (TỨ XUYÊN) 46
2.1 Môi trường sinh thái 46
2.1.1 Điều kiện địa lý 46
2.1.2 Điều kiện khí hậu 47
2.2 Khái quát về di chỉ Tam Tinh Đôi 47
Trang 52.2.1 Di chỉ Tam Tinh Đôi 47
2.2.2 Tầng văn hóa và niên đại 51
2.2.3 Loại hình di tích 52
2.3 Đặc điểm của văn hóa Tam Tinh Đôi 53
2.3.1 Tên gọi của văn hóa 53
2.3.2 Phân bố 54
2.3.3 Đặc trưng văn hóa 55
2.3.4 Một số tranh luận về văn hóa Tam Tinh Đôi 56
2.4 Kinh tế xã hội 56
2.4.1 Nông nghiệp 57
2.4.2 Thủ công nghiệp 58
2.5 Kiến trúc thượng tầng 59
2.5.1 Kết cấu tổ chức xã hội 59
2.5.2 Tôn giáo và tín ngưỡng 61
Chương 3: SO SÁNH VĂN HÓA PHÙNG NGUYÊN VÀ VĂN HÓA TAM TINH ĐÔI 65
3.1 Khái quát về tình hình giao lưu văn hóa 65
3.2 So sánh hai nền văn hóa 73
3.3 So sánh một số di vật cụ thể 75
3.3.1 Nha chương 75
3.3.2 Qua làm bằng đá ngọc 80
Trang 63.3.3 Vòng tay hình ống có gờ nổi 81
3.3.4 Phù hiệu đá 82
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 91
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Cb Chủ biên
ĐHQG Hà Nội Đại học Quốc gia Hà Nội
GS.TS Giáo Sư Tiến Sĩ
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 1: So sánh một số di vật của Tứ Xuyên (Trung Quốc) và Việt Nam 68 Bảng 2: So sánh một số đồ ngọc thuộc thời đại đồng thau - thời đại đồ sắt
giữa Tứ Xuyên (Trung Quốc) và Việt Nam 70
Bảng 3: So sánh một số đồ gốm thuộc thời đại đồng thau - thời đại đồ sắt giưã
Tứ Xuyên (Trung Quốc) và Việt Nam 71
Bảng 4: So sánh một số đồ đồng thuộc thời đại đồng thau - thời đại đồ sắt
giữa Tứ Xuyên (Trung Quốc) và Việt Nam 72
Bảng 5: So sánh đối chiếu văn hóa Tam Tinh Đôi và văn hóa Phùng Nguyên.
73
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
Quê hương tôi là tỉnh Tứ Xuyên, nằm ở phía Tây Nam Trung Quốc, một tỉnh nổi tiếng về ẩm thực cay tê và gấu trúc Nói đến lẩu Tứ Xuyên, hoặc nước Thục thời kỳ Tam Quốc, các thầy cô giáo và các bạn chắc hẳn đã nghe Bồn địa Tứ Xuyên cũng giống như nhiều vùng khác trên thế giới, có lịch sử thú vị, lâu dài và phong phú
Sau khi tiếng Việt và Việt Nam học trở thành chuyên ngành của tôi, tôi
có nhiều cơ hội để tìm hiểu, học tập thêm những tri thức như văn hóa, địa lý, lịch sử của đất nước Việt Nam Tôi cũng chưa bao giờ nghĩ rằng, tuy có khoảng cách rất xa, quê hương mình đã có mối liên hệ với Việt Nam khá lâu rồi Trên lớp Khái Lược Việt Nam, lần đầu tiên tôi được nghe câu chuyện về hoàng tử nước Thục (chính là An Dương Vương) dẫn tộc người di chuyển đến vùng đât (miền Bắc Việt Nam ngày nay) và xây dựng thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội Vì vậy, tuy chỉ là một truyền thuyết (đã được nhiều học giả chứng thực thiếu tính chân thật do có sự chênh lệch lớn về thời gian và không
có tài liệu vật chất hỗ trợ), nhưng đã khiến tôi muốn tìm hiểu về tình hình giao lưu văn hóa giữa vùng Tứ Xuyên và vùng miền Bắc Việt Nam thời cổ xưa Văn hóa Phùng Nguyên và văn hóa Tam Tinh Đôi chính là hai nền văn hóa chứa các dấu tích giao lưu văn hóa sớm nhất giữa hai vùng này
Ở Đồng bằng Sông Hồng và Bồn địa Tứ Xuyên cách đây ba bốn nghìn năm trước cư dân đã có lối sống như thế nào? Văn hóa của cư dân hai vùng
Trang 10này có những gì giống nhau, những gì khác nhau? Tôi rất muốn tìm hiểu về những điều huyền diệu trong đó
Tất nhiên, nếu thiếu tư liệu khảo cổ học chứng thực, tất cả suy đoán vẫn chỉ là sự suy diễn thiếu căn cứ Vì vậy, nhân dịp viết bài luận văn tốt nghiệp, tôi chọn đề tài này để nâng cao hiểu biết, cũng là để giải đáp nghi vấn của mình Lịch sử nghiên cứu về quan hệ giữa văn hóa Tam Tinh Đôi và văn hóa Phùng Nguyên có ít tài liệu, bất kế bằng tiếng Việt hay là tiếng Trung Ở Việt Nam, các học giả chủ yếu tập trung vào nghiên cứu Văn hóa Phùng Nguyên,
đã đạt được nhiều thành quả xuất sắc; ở Trung Quốc, các học giả chủ yếu tập trung vào nghiên cứu văn hóa cổ Thục nói chung và văn hóa Tam Tinh Đôi nói riêng, và rất nhiều vấn đề về văn hóa Tam Tinh Đôi đều chưa có một ý kiến nhất trí, đến bây giờ vẫn chưa có một bộ tác phẩm uy tín nào để giới thiệu văn hóa Tam Tinh Đôi một cách rõ ràng
Tuy vậy, vẫn có một số nhà khảo cổ học đã phát hiện những liên hệ giữa hai nền văn hóa này, ví dụ đã có học giả so sánh và nghiên cứu một số di vật cùng được tìm thấy và xuất hiện nhiều đặc điểm chung như nha chương, bát bồng gốm, công cụ đá và một số đồ trang sức bằng đá
Do số lượng các tác phẩm học thuật cùng chủ đề rất hạn chế, hơn nữa, khảo
cổ học không phải là chuyên ngành của tôi, vì vậy đã gây ra nhiều khó khăn trong quá trình tôi tiến hành nghiên cứu và so sánh để hoàn thành luận văn Chương 1 chủ yếu khái quát về văn hóa Phùng Nguyên như loại hình di
Trang 11tích, quá trình khai quật và nghiên cứu, đặc trưng di vật, sự phân bố của văn hóa Phùng Nguyên, cũng như tóm tắt lại xã hội kinh tế của văn hóa Phùng Nguyên Nội dung chính của chương 2 là khái quát những thông tin về văn hóa Tam Tinh Đôi như quá trình khai quật và nghiên cứu, loại hình di tích, niên đại, tầng văn hóa, phân bố, đặc trưng văn hóa, tình hình xã hội kinh tế và tôn giáo tín ngưỡng Chương 3 tập trung so sánh những đặc điểm văn hóa giữa văn hóa Phùng Nguyên và văn hóa Tam Tinh Đôi, đồng thời khái quát tình hình giao lưu văn hóa giữa vùng Tứ Xuyên và miền Bắc Việt Nam thời
cổ Cuối cùng là rút ra một số kết luận về sự khác biệt và sự giống nhau giữa hai nền văn hóa này
Trong quá trình viết luận văn tôi đã áp dụng những phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp phân loại, phương pháp lịch sử, phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp nghiên cứu liên ngành, phương pháp khảo sát thực địa v.v Tôi cũng đã tham khảo một số tác phẩm khoa học bằng tiếng Việt, tiếng Trung giới thiệu về văn hóa Phùng Nguyên và văn hóa Tam Tinh Đôi, một số luận văn đã được công
bố trên tạp chí học thuật, và đi tham quan khảo sát nhà bảo tàng Tam Tinh Đôi
để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Trang 12
Chương 1: VĂN HÓA PHÙNG NGUYÊN 1.1 Môi trường sinh thái
1.1.1 Điều kiện địa lý
Bắc Bộ Việt Nam được chia thành vùng đồng bằng và vùng núi, địa thế tây
bắc cao, đông nam thấp Đồng bằng Sông Hồng là đồng bằng chính, địa thế thấp, bằng phẳng, có nhiều hồ ao, ruộng đất phì nhiêu, dân số đông đúc Sông Hồng là một con sông lớn nhất của Bắc Bộ Việt Nam, bắt nguồn từ Đại Lý, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, đây cũng là một trong những con sông có lượng nước nhiều nhất trên thế giới Sông Hồng góp phần quan trọng trong sinh hoạt đời sống cũng như trong sản xuất lao động Phù sa giúp cho đồng ruộng thêm màu mỡ, đồng thời bồi đắp và mở rộng vùng châu thổ ở vùng duyên hải thuộc hai tỉnh Thái Bình, Nam Định Nguồn cá bột của sông Hồng đã cung cấp
giống đáng kể cho nghề nuôi cá nước ngọt ở đồng bằng Bắc Bộ [18, tr.158] 1.1.2 Điều kiện khí hậu
Bắc Bộ quanh năm có nhiệt độ tương đối cao và ẩm, nền khí hậu chịu ảnh hưởng từ lục địa Trung Hoa chuyển qua và mang tính chất khí hậu lục địa Toàn vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm quanh năm với 2 mùa rõ rệt
hè, đông Đồng thời hàng năm chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam Nhiệt độ trung bình năm tăng dần từ phía bắc xuống phía nam và có khí hậu giao hoà, là đặc trưng của khu vực đồng bằng Bắc Bộ và ven biển
Trang 13Có điều kiện khí hậu nhiệt đới, tài nguyên động vật, thực vật của Bắc Bộ Việt Nam rất phong phú và đa dạng, hệ thống sinh thái phức tạp, tạo ra sự ảnh hưởng rõ rệt đối với hoặt động săn bắn của cư dân, cũng khiến nông nghiệp vùng này mang đặc điểm khác biệt với vùng nông nghiệp khác Tùy theo sự phát triển của nông nghiệp trồng lúa, lương thực sản xuất đứng vai trò quan trọng trong cuộc sống kinh tế, lúa gạo chính 2 mùa đến 3 mùa một năm [18, tr.158]
1.2 Khái quát về văn hóa Phùng Nguyên
1.2.1 Quá trình phát hiện và nghiên cứu
Di chỉ văn hóa Phùng Nguyên đã được phát hiện ở Phú Thọ, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hà Nội, Hải Phòng và một vài nơi khác trong lưu vực sông Hồng (Hình 1) Tính đến năm 1998, có khoảng 55 địa điểm đã được phát hiện có dấu vết văn hóa đồng dạng với các di chỉ Phùng Nguyên, trong đó có 3 địa điểm có di cốt người (Hình 2,3) Ở những nơi đây, trong tất cả các hiện vật khảo cổ khai quật được thuộc nền văn hóa này, ngoài ít mẩu xỉ đồng, hiện tại chưa hề tìm thấy bất kỳ công cụ bằng đồng nào Công cụ bằng đá phổ biến và chiếm ưu thế tuyệt đối Đồ trang sức bằng các loại đá, đá bán quý, ngọc được tìm thấy nhiều, đặc biệt là các vòng đá Ngoài đồ đá, cư dân Phùng Nguyên
đã biết chế tạo đồ gốm đặc sắc từ khâu làm đất, tạo dáng cho đến hoa văn trang trí
Có thể lấy năm 1959, năm phát hiện di chỉ Phùng Nguyên và đầu năm
Trang 141971, năm tổ chức nghiên cứu thời Hùng Vương lần thứ IV là mốc mở đầu và kết thúc lịch sử nghiên cứu nền văn hóa này Công cuộc nghiên cứu văn hóa Phùng Nguyên đã đạt được những thành tựu xuất sắc Tư liệu phát hiện và nghiên cứu về văn hóa Phùng Nguyên đã dày hàng ngàn trang Vị trí ý nghĩa
và khoa học của văn hóa Phùng Nguyên là rất lớn đối với lịch sử Việt Nam nói chung và khảo cổ học Việt Nam nói riêng
Di chỉ Phùng Nguyên được khai quật nhiều lần và nhiều cơ quan tham gia nghiên cứu di chỉ này Di chỉ Phùng Nguyên được bộ môn Khảo cổ học trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội tiến hành khai quật lần thứ ba từ ngày 23/2 đến 13/3 năm 1968 Các cuộc khai quật do Hà Văn Tấn phụ trách Diện tích khai quật mỗi hố là 100m2 Di vật thu được gồm 69 hiện vật đá , 19 hiện vật gốm và trên 5000 mảnh gốm Như vậy từ năm 1959 đến 1968, các nhà khảo
cổ học đã khai quật trên diện tích rộng ở Phùng Nguyên trên diện tích 3.917m2 khai quật và 41m2 thám sát Số lượng di vật phát hiện được trong 3 lần khai quật này là hết sức đồ sộ và quý giá, gồm gần 2000 di vật đá, trên
130 di vật gốm và trên 100.000 mảnh gốm lớn nhỏ Tầng văn hóa ở đây nói chung là đơn giản, chỉ có một lớp tương đối mỏng (dày 0,1-0,30m) Đây là nguồn tư liệu có giá trị nhiều mặt giúp cho quá trình điều tra, thám sát và khai quật hàng loạt các di tích Phùng Nguyên khác Ngay sau khi phát hiện và có những đợt khai quật ở di chỉ Phùng Nguyên, các nhà khảo cổ đã lần lượt tìm thấy hàng loạt các địa điểm khác cách không xa nó, có những đặc trưng văn
Trang 15hóa tương tự Có thể kể tên những di tích chính như sau: Xóm Rền, Phùng Nguyên, Gò Bông, Khu Đường, Thành Dền/Cao Xá… tỉnh Phú Thọ; Gò Hện, Văn Điển, Đình Chiền, Đồi Đồng Dâu… Hà Nội
Kết quả thu được trong những năm đầu nghiên cứu văn hóa Phùng Nguyên thật lớn lao Các nhà khảo cổ học đã có trong tay khối tư liệu rất phong phú,
đa dạng về loại hình văn hóa đủ cơ sở để khẳng định đó là một nền văn hóa sơ
kỳ đồng thau- văn hóa Phùng Nguyên
1.2.2 Niên đại
Căn cứ vào việc phân tích tổng thể các dấu tích văn hóa vật chất của các địa điểm thuộc văn hóa Phùng Nguyên thì văn hóa này không còn ở hậu kỳ đá mới nữa mà đã ở vào sơ kỳ thời đại đồng thau
Đa số các nhà nghiên cứu đều theo quan điểm thứ hai Như vậy văn hóa Phùng Nguyên có niên đại mở đầu từ cuối thiên niên kỷ thứ III trước công nguyên - đầu thiên niên kỷ thứ II trước công nguyên và kết thúc vào khoảng nửa đầu thiên niên kỷ thứ II trước công nguyên
1.3 Đặc điểm của văn hóa Phùng Nguyên
1.3.1 Loại hình di tích
Các địa điểm văn hóa Phùng Nguyên phân bố tập trung ở khu vực hợp lưu của các con sông lớn như sông Hồng, sông Đà, sông Thao và sông Đáy tức vùng Nam Phú Thọ, Đông Bắc Hà Tây cũ, Hà Nội, Nam Bắc Ninh Phần lớn các di tích nằm ở miền trước núi, dưới chân đồi núi đất, ven sông suối ở
Trang 16vùng trung du Nhiều địa điểm trên các khu đất cao châu thổ, ven biển
Loại hình: Trên 50 địa điểm thuộc văn hóa Phùng Nguyên tập trung phần lớn ở tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc (34 địa điểm), Hà Nội bao gồm cả Hà Tây cũ (14 địa điểm), Bắc Ninh (6 địa điểm) Nhìn chung địa bàn phân bố các di chỉ văn hóa Phùng Nguyên khá rộng lớn, bao gồm cả vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ
Văn hóa Phùng Nguyên tồn tại và phát triển trong thời gian cách ngày nay trên dưới 4000 năm Những dấu tích còn lại hầu hết là các làng định cư, các di chỉ cư trú ngoài trời Diện tích các làng định cư này nhìn chung khoảng
1 vạn mét vuông Cá biệt có những làng có diện tích khá lớn tới 2 đến 3 vạn mét vuông (Văn Điển, Phùng Nguyên, Gò Bông…)
Người Phùng Nguyên thường cư trú trên các đồi gò đất nổi cao hơn mặt ruộng xung quanh từ 0,5m đến 2-3 m, cá biệt có trường hợp cao đến 5-6m như di chỉ Gò Bông, Gò Chè (Tam Thanh, Phú Thọ) Lớp đất văn hóa có độ kết chặt tùy thuộc vào tính chất thổ nhưỡng của từng vùng, nhưng nhìn chung cứng rắn có xen lẫn các hạt latêrit kết vón Đất có màu xám đen và chứa đựng thuần nhất các di vật khảo cổ học như đồ đá, đồ gốm, ít xương răng và tro than Tích tụ tầng văn hóa ở các di chỉ Phùng Nguyên nhìn chung không dày lắm, trung bình khoảng 0,7m, dày nhất đến 2m (di chỉ Xóm Rền) Một số di chỉ có độ dày tầng văn hóa không đều, có chỗ dày chỗ mỏng tùy thuộc địa hình cư trú Tuy đã phát hiện được 50 địa điểm của văn hóa này, trong đó số
Trang 17di chỉ đã được khai quật cũng hơn 25 địa điểm , song các dấu vết cư trú, nhà cửa vẫn còn là vấn đề chưa sáng tỏ
Căn cứ vào tính chất và đặc điểm các di tích văn hóa Phùng Nguyên, có thể phân chia thành 3 loại hình:
rõ nét
Các di chỉ xưởng nằm ở giai đoạn cuối văn hóa Phùng Nguyên bước sang văn hóa Đồng Đậu Cho đến nay mới tìm thấy 03 di chỉ xưởng với tính chất công xưởng rõ ràng Điều đặc biệt là tính chuyên môn hóa của chúng khá cao: Di chỉ xưởng Gò Chè chế tác công cụ đá là chính-xưởng Bãi Tự chế tác
Trang 18mũi khoan, di chỉ xưởng Tràng Kênh chế tác vòng trang sức là chủ yếu
Di chỉ cư trú mộ táng, nếu không kể địa điểm Xóm Rền với phát hiện dấu tích 2 ngôi mộ lẻ loi nằm ngay trong di chỉ cư trú, đến nay chúng ta mới tìm thấy được 1 địa điểm thuộc loại hình này Đó là địa điểm Lũng Hòa Tại Lũng Hòa đã phát hiện được cả một khu mộ tập trung Trong diện tích hố khai quật không lớn lắm đã tìm thấy 12 ngôi mộ có những đặc điểm tương tự nhau, chứng tỏ chúng cùng thuộc 1 thời đại, một nhóm cư dân Khu mộ địa cũng phân bố trong phạm vi cư trú, đất lấp mộ chứa nhiều di vật giống như các di vật tìm thấy trong tầng văn hóa và đồ tùy táng được chôn theo người chết Địa tầng: Có 5 loại hình di tích theo diễn biến địa tầng:
- Loại có một tầng văn hóa thuộc văn hóa Phùng Nguyên
- Loại có địa tầng phát triển liên tục từ cuối Phùng Nguyên sang Đồng Đậu
- Loại di chỉ- xưởng phát triển từ cuối Phùng Nguyên sang Đồng Đậu
- Loại di chỉ xen lẫn mộ táng
- Loại mộ táng tách riêng khỏi di chỉ cư trú
1.3.2 Đặc trưng di vật
- Đồ đá: Có người đã nói rằng: Nếu có một nghề thủ công nào để lại
nhiều minh chứng nhất về kỹ thuật học, mà không những bằng chứng đó lại hầu như không bị hủy hoại bởi thời gian, thì đó chính là nghề sản xuất đồ đá Cũng như vậy, nếu có một nền văn hóa khảo cổ nào hàm chứa nhiều tinh hoa hơn cả về kỹ thuật chế tác đá và sản phẩm đồ đá, thì đó chính là văn hóa
Trang 19Phùng Nguyên (Hình 5)
Di vật đá Phùng Nguyên hầu hết đều có kích thước nhỏ Kể cả công cụ sản xuất cũng như đồ trang sức đều được chế tạo bằng các loại đá có độ rắn cao, màu sắc đẹp
Đặc trưng về nguyên liệu và loại hình
*Về vấn đề nguyên liệu đá trong văn hóa Phùng Nguyên:
Những tài liệu khảo cổ học cho biết rằng nguyên liệu dùng để chế tác đá của cư dân Phùng Nguyên rất đa dạng Đó là các loại đá: Basalt, spilite, nephrite, gres, schist, jade,jasper Họ không những biết lựa chọn các loại đá tốt mà còn có ý thức sử dụng từng loại đá sao cho thích hợp với từng loại công cụ hay đồ trang sức Ví dụ, đá Basalt thường được sử dụng để chế tạo các loại công cụ có số lượng nhiều và kích thước lớn; đá nephrite chủ yếu để chế tạo đồ trang sức, đá sa thạch cát kết được sử dụng làm dao cưa, bàn mài;
đá silic-jasper dùng làm mũi khoan Tuy nhiên cũng phải nói thêm rằng, ngoài
đồ trang sức, đá nephrite còn được sử dụng để chế tạo các loại rìu bôn, đục cỡ vừa và nhỏ Như vậy,người Phùng Nguyên phải biết rõ về thuộc tính từng loại
đá thì mới có thể sử dụng chúng để chế tạo từng loại công cụ thích hợp
* Về công cụ sản xuất ở văn hóa Phùng Nguyên rất phong phú Di vật có
số lượng nhiều nhất là bôn đá hình tứ giác có lưỡi vát lệch một bên Số lượng rìu tứ giác cân xứng trong các di chỉ thuộc văn hóa này ít hơn, có những địa điểm không có Những di vật vẫn gọi là rìu và bôn có thể gồm 3 loại sau:
Trang 20-Rìu: Lưỡi vát chữ V cân xứng
-Bôn: Lưỡi vát một bên thành chữ V lệch
-Rìu bôn: Lưỡi vát hai bên không đều nhau
Đa số các nhà nghiên cứu cho rằng quy mô kích thước vừa phải là đặc trưng nổi bật của công cụ sản xuất văn hóa Phùng Nguyên Kích thước bôn tập trung trong khoảng dài 6-7cm, rộng 3-4cm, dày 1-2cm PGS.TS Hán Văn Khẩn thì cho rằng: rìu, bôn và rìu bôn Phùng Nguyên gồm 2 loại rõ ràng: -Loại hẹp ngang và dày
-Loại rộng ngang và mỏng
Nếu căn cứ vào quy mô kích thước thì mỗi loại lại có thể chia ra làm 3 loại sau:
-Loại lớn có kích thước 8 đến trên10 cm
-Loại vừa có kích thước từ 5 đến 7 cm
-Loại nhỏ có kích thước từ 4cm trở xuống
Ba đợt khai quật di chỉ Phùng Nguyên thu được 531 chiếc rìu bôn, 246 chiếc rìu tứ giác lưỡi vát đều 2 bên Di chỉ Gò Bông đã tìm thấy 44 chiếc bôn trong khi rìu đá chỉ thấy có 4 chiếc Di chỉ Đồng Vông, số lượng bôn tìm thấy cũng nhiều hơn rìu 2 chiếc
Trong số bôn đá tìm thấy ở các địa điểm Phùng Nguyên cũng có một số lượng không nhỏ những bôn có kích thước nhỏ,mỏng Về mặt hình dáng, những bôn loại này chủ yếu có hình tứ giác, gần vuông hoặc dài, một số chiếc
Trang 21có đầu đốc thon nhỏ hơn phần lưỡi, lưỡi có độ lượn hơi vòng cung, kích thước trung bình của loại bôn này nằm trong khoảng chiều dài1,8-2,5 cm, rộng 1,5-2 cm, dày 0,3-0,5 cm, góc lưỡi 30-40 độ, đặc biệt có nhiều chiếc chiều dài và chiều rộng tương đương nhau
Những chiếc rìu đá điển hình ở Phùng Nguyên cũng là rìu tứ giác, mặt cắt ngang hình tứ giác và nhìn trực diện cũng là hình tứ giác Các địa điểm thuộc văn hóa này, hầu như không thấy sự xuất hiện của rìu đá có mặt cắt ngang hình bầu dục Rìu lưỡi cân Phùng Nguyên đa số có dáng hình thang, nhưng phần lưỡi thường chỉ nhỉnh hơn phần đốc một chút Toàn thân rìu được mài nhẵn, ở nhiều chiếc rìu thuộc địa điểm Phùng Nguyên còn cho thấy rõ rệt dấu vết sử dụng mòn vẹt của chúng Kích thước rìu Phùng Nguyên nhỏ nhắn, xinh xắn; loại rìu có kích thước lớn hơn cũng chỉ tập trung ở khoảng dài 6-7
cm, rộng 4-5 cm ,dày 1,5-2 cm Trên thân một số rìu còn sót lại các dấu ghè, đẽo hoặc mẻ sứt trong quá trình chế tác và sử dụng Đa số rìu Phùng Nguyên đều có góc lưỡi sắc (khoảng ở 40 độ-50 độ cho loại kích thước trên)
Đáng chú ý là, trong các địa điểm thuộc văn hóa này không có ít rìu đá được chế tác bằng đá ngọc Nephrite có các màu đẹp: trắng đục, trắng vân hồng, vân xanh Loại rìu này có kích thước nhỏ bé, xinh xắn, kích thước trung bình của loại rìu này có độ dài trên dưới 3 cm, rộng 2 hoặc hơn 2 cm, dày 0,5
cm, cá biệt còn có những chiếc rìu lưỡi cân xứng, dáng đẹp kích thước nhỏ hơn Sự có mặt của những chiếc rìu này khiến chúng ta nghĩ tới 1 nghề thủ
Trang 22công nhẹ nhàng tỉ mỉ hơn là những thao tác sản xuất thô nặng
Tại di chỉ Phùng Nguyên đã tìm thấy 246 chiếc rìu các loại nhưng không
hề có chiếc rìu mài có chiều dài đến10 cm Loại rìu nhỏ (dài dưới 4 cm,rộng dưới 2,5 cm) chiếm tới 40% tổng số rìu Tại di chỉ Văn Điển cũng đã tìm được 181 chiếc rìu tứ diện, kiểu dáng và kích thước, quy thức chế tác cũng giống hệt như rìu tìm thấy ở Phùng Nguyên Riêng ở địa điểm Gò Bông, trên tổng diện tích 178 m2 khai quật khoa Sử Đại học Tổng Hợp Hà Nội (nay là Trường ĐHKHXH&NV) đã thu thập được trên 500 hiện vật đá nhưng số lượng rìu đá chân chính chỉ có 7 chiếc (bên cạnh 108 chiếc bôn đá) Tại địa điểm Gò Hện, rìu và bôn theo báo cáo khai quật cho biết có số lượng tương đương nhau (rìu: 9 chiếc, bôn: 9 chiếc) trong tổng số 113 di vật đá Trong 1 vài địa điểm thuộc văn hóa Phùng Nguyên, còn có mặt loại rìu có vai hay có nấc như ở Phùng Nguyên, Núi Xây… tuy số lượng rất ít, nhưng sự có mặt của những loại rìu này cho ta thấy sự giao lưu văn hóa với các cư dân khác đã khá phát triển
Trong số công cụ sản xuất của văn hóa Phùng Nguyên, ngoài rìu và bôn
ra, còn phải kể số lượng đến lớn đục đá Đục đá Phùng Nguyên có đặc điểm nhỏ nhắn cũng như rìu và bôn, được chế tác từ các loại đá mịn hạt, độ cứng dáng kể như Spilite, Nephlite, và có những màu sắc đẹp Loại hình của đục cũng đa dạng, có thể phân chia thành các loại chính sau: Đục bằng, đục mảnh vòng, đục nhọn, đục vũm và đột
Trang 23Đục bằng có số lượng nhiều nhất, có lưỡi bằng, lưỡi mài vát một hoặc cả
2 mặt giống đục sắt hiện nay Đụa bằng có chiếc khá dày, có chiếc khá mỏng Đục bằng có thân dài, hẹp ngang, mặt cắt ngang là hình thang, chữ nhật, hình vuông hay hình thấu kính Kích thước của loại đục này rất khác nhau: dài từ 3-4cm, rộng 1-3cm, dày 1-3cm Chiếc đục phát hiện được ở Xóm Rền xứng đáng được xếp vào loại đục dày, dài và dày nhất của văn hóa Phùng Nguyên Đục được làm bằng đá Spilite màu xám, có quy mô kích thước khá lớn: dài 13
cm, rộng 3,5 cm, dày 2,5 cm, mặt cắt ngang hình chữ nhật Khác với đục dày, đục mỏng có lưỡi mài vát 2 hoặc 1 mặt, mặt cắt ngang chủ yếu là hình thang, chữ nhật cũng đủ kích cỡ từ lớn đến nhỏ Kích thước loại đục này tập trung trong khoảng: dài từ 3 đến 10 cm, rộng từ 1-1,5 cm, dày từ 0,5-0,8 cm Loại đục này thường được làm bằng đá Nephrite rất đẹp Rõ ràng, loại đục dày cũng như đục mỏng có đủ các loại kích thước từ dài đến ngắn, từ rộngđến hẹp, từ dày đến mỏng Như vậy với bộ đục gồm nhiều kiểy loại này, người thợ thủ công có thể dễ dàng đục, khoét các lỗ vuông, chữ nhật, hình tam giác hay hình thang trên các vật liệu tre gỗ để là khung nhà cửa…
Đục móng (hay còn gọi là đục vũm) là một loại đục chuyên dụng để đục khoét các lỗ tròn giống như đục móng của người thợ mộc ngày nay Đục móng thường có số lượng ít hơn các loại đục trên nhưng cũng khá phổ biến ở nhiều di tích Phùng Nguyên, như Phùng Nguyên, Chùa Gio, Văn Điển, Đồng Vông… Đục mảnh vòng được làm bằng đá Nephrite với các màu sắc khác nhau,
Trang 24như trắng ngà, hồng nhạt, hay tím mận chín Đây là công cụ do người Phùng Nguyên khéo léo tận dụng những mảnh vòng gãy, rộng bản (từ 1-2cm) đem mài chế thành những đục nhỏ xinh xắn Gọi là đục nhưng chưa chắc nó được
sử dụng như những đục đá thực thụ Bởi vì nó nhỏ và mỏng manh có khi lại cong nên rất có thể đục mảnh vòng còn được sử dụng như dao để cắt, gọt, rạch, khắc
Đục nhọn hay đục đinh được làm từ mảnh đá, mảnh tước hay mảnh công
cụ vỡ Đục thường được làm bằng đá Nephrite hay Spilite Tuy nhiên loại công cụ này không có nhiều lắm trong các di tích Phùng Nguyên
Đột có mặt trong các di tích Phùng Nguyên không nhiều, được làm bằng
đá Nephrite, có mặt cắt ngang hình bầu dục, một đầu lớn, một đầu nhỏ, đầu nhỏ được mài nhỏ dần thành hình tròn Nhìn chung nó có dạng giống đột sắt hiện nay Như vậy đục gồm nhiều loại khác nhau, được làm bằng đá Nephrite hay Sphilite, có mặt cắt khác nhau (hình thang, hình vuông hình chữ nhật…)
có kích thước từ 3-10cm, rộng 1-2 cm, dày từ 1-5cm Để tiết kiệm nguyên liệu và công sức, người Phùng Nguyên đã tận dụng các mảnh vòng gãy, mảnh công cụ vỡ để làm công cụ
Tại di chỉ Phùng Nguyên đã tìm thấy 59 chiếc đục, kích thước trung bình thường có chiều dài 3-4 cm, thân rộng 1 hoặc hơn 1 cm, bề dày của đục thường chỉ khoảng 0,3-0,5 cm Có những chiếc đốc bằng, cũng có những chiếc đốc tròn do sử dụng lâu ngày Tại Văn Điển đã phát hiện được 20 chiếc đục Khi
Trang 25khai quật Đồng Vông và Gò Bông cũng tìm thấy ở mỗi nơi 7 chiếc…
Tại một số địa điểm, thuộc nhóm công cụ sản xuất bằng đá còn phải kể đến các loại dao đá, ềm đá Hình dạng của loại di vật này cũng rất khác nhau,
có những dao đá hình dáng dài, thuôn, rìa lưỡi sử dụng rõ ràng nằm về một phía (dao đá ở Tràng Kênh), nhưng cũng có những dao đá chỉ là các mảnh, phiến tước dài được sử dụng đến mòn vẹt Tại Gò Hện, đã tìm được 6 chiếc dao đá có kích thước và rìa lưỡi sử dụng rất khác nhau Có chiếc dài 7,2 cm, bản rộng là 4 cm, nhưng cũng có chiếc chiều dài là 4 cm mà rộng bản lưỡi lại
là 5,5 cm
Đáng chú ý là một số di vật đá được coi là liềm Liềm có chức năng chuyên biệt trong việc gặt hái ngũ cốc, cắt cây thân thảo, vì vậy sự có mặt của liềm là một yếu tố quan trọng để đánh giá trình độ sản xuất lương thực của người xưa Một số di vật được xác định là liềm đã tìm thấy trong các địa điểm thuộc văn hóa Phùng Nguyên, trong đó chiếc liềm ở địa điểm Gò Bông là điển hình Liềm được làm bằng một phiến tước dài phần chuôi liềm có bề rộng nhất 3,5 cm, đây cũng
là phần đáy nhất của liềm Phần tiếp giáp với sống liềm về phía lưỡi có ngấn tròn (bị vỡ chỉ còn một phần cung tròn) có tác dụng để buộc dây, tra cán Đặc biệt phần lưỡi liềm tuy bị gãy, phần còn lại dài 4 cm, nhưng vẫn thấy chiều cong giống hệt liềm cắt hiện đại Rìa lưỡi rất sắc và bóng nhẵn do sử dụng Phần sống lưng của liềm dày 0,3-0,7cm, được mài nhẵn Thân liềm còn nhiều vết ghè đẽo Chiếc liềm này được phát hiện trong lần khai quật thứ hai ở địa điểm Gò Bông
Trang 26Nhiều nhà nghiên cứu cho đây là bằng chứng gián tiếp về một nền nông nghiệp trồng lúa trong văn hóa Phùng Nguyên
Trong nhóm công cụ sản xuất thuộc văn hóa Phùng Nguyên, còn có một
số lượng không nhỏ các cưa đá Các cưa đá đều được chế tác bằng đá sa thạch hạt mịn hoặc thô thùy theo từng nơi Loại công cụ này thấy ở nhiều địa điểm nhất là trong các công xưởng như Tràng Kênh, Bãi Tự hay Gò Chè…
Ngoài ra còn phải kể đến sự có mặt của mũi khoan đá trong các địa điểm văn hóa Phùng Nguyên Mũi khoan là một công cụ không thể thiếu được trong quá trình chế tạo đồ trang sức (vòng tay,vòng chân,khuyên tai và hạt chuỗi) Đây là một trong những di vật từng là đối tượng sản xuất của hai công xưởng Bãi Tự và Tràng Kênh, à nơi chuyên sản xuất mũi khoan đá và đồ trang sức có niên đại Phùng Nguyên muộn Tại hai công xưởng này đã tìm thấy hàng ngàn mũi khoan đá
Ngoài ra ở văn hóa Phùng Nguyên còn có rất nhiều các loại bàn mài, hòn
kê, hòn đập, bàn đập bằng đá Bàn mài là công cụ không thể thiếu trong việc chế tác đá của cư dân Phùng Nguyên Bởi vì,tuyệt đại bộ phận công cụ sản xuất, vũ khí và đồ trang sức được mài nhẵn hoàn toàn Bàn mài Phùng Nguyên được làm từ các loại đá quác dít, quác dít hóa yếu, đá sa thạch, sa thạch có phen-xpát, phôn-li Bàn mài có một số màu sắc chủ yếu như xám đen, trắng xám mốc, nâu hồng hoặc tím nhạt
Số lượng bàn mài phát hiện được ở từng di tích Phùng Nguyên khá lớn
Trang 27so với các loại công cụ sản xuất và vũ khí khác Điều này chứng tỏ nhu cầu sử dụng bàn mài ở cư dân Phùng Nguyên là rất lớn
Bàn đập là một trong những loại hình di vật tiêu biểu trong văn hóa Phùng Nguyên Đó thường là các thỏi đá mài hình chữ nhật, bằng sa thạch hạt mịn hoặc đá phiến Trên hai mặt của bàn dập có những rãnh khía đều đặn thẳng song song nhau, rãnh có mặt cắt hình chữ V, rộng chừng 2-3mm và cách nhau đều đặn cũng chừng 2-3 mm Trên các bàn đập, số lượng rãnh và kích thước của rãnh phụ thuộc vào kích thước dài, rộng của bàn đập
Tại địa điểm Phùng Nguyên, đã tìm thấy 18 bàn đập, ở Gò Bông có 5 chiếc Trong một số địa điểm khác như Núi Xây, Gò Chùa, Gò Hện… cũng có mặt loại hình di vật này
* Về các loại vũ khí:
Vũ khí trong các di tích văn hóa Phùng Nguyên không nhiều, nhưng gồm một số loại khá tiêu biểu như: mũi lao, mũi giáo, mũi tên, qua đá và nha chương Mũi lao, lưỡi giáo, lưỡi qua, những đầu mũi tên 3 cạnh hoặc 2 cạnh cũng
là những di vật tìm thấy trong các địa điểm Phùng Nguyên Sự đa dạng của loại di vật này cho thấy, trong phương thức sống của cư dân Phùng Nguyên xưa, săn bắn là một trong những hoạt động phát triển và có hiệu quả nhất Mũi lao, mũi giáo được làm bằng đá Spilite, xám xanh hay đá Nephrite trắng hồng Phần lớn chúng bị gãy vỡ thành từng mảng nhỏ nên rất khó phân biệt là mũi lao hay mũi giáo
Trang 28Qua đá là một loại vũ khí đặc biệt Qua đá xuất hiện không nhiều trong văn hóa Phùng Nguyên, ví dụ như ở di chỉ Tràng Kênh chỉ có 3 mảnh qua đá trong tổng số hàng nghìn di vật đá Đây có thể coi là những vũ khí mang tính biểu trưng cao
Nha chương là hiện vật độc đáo của văn hóa Phùng Nguyên (Hình 4) Nha chương được làm bằng một loại đá, giống loại đá mà cư dân Phùng Nguyên thường dùng làm rìu Hiện vật này được mài nhẵn bóng, thân dài, có
lỗ gần phía đốc, hai bên lỗ có mấu, lưỡi ở một đầu, mài vát một mặt và rìa lưỡi cong lõm vào Hiện nay có 6 nha chương đều thấy trên đát Phú Thọ: 3 chiếc ở Xóm Rền, 3 chiếc ở Phùng Nguyên
Trong đó hai chiếc nha chương ở di chỉ Phùng Nguyên được ông Nguyễn Lộc công bố vào năm 1985 Chiếc thứ nhất còn khá nguyên vẹn, có cấu tạo đơn giản hơn các nha chương khác của văn hóa Phùng Nguyên Đốc nha chương gần vuông, bằng 1/5 chiều dài cả hiện vật Phần tiếp giáp giữa đóc và thân lưỡi phát triển rộng tạo thành chắn tay và vai ngang tạo thành mấu ngắn Giữa đốc gần với chắn tay có một lỗ khoan xuyên thủng Thân lưỡi nha chương hình chữ nhật, lưỡi hơi cong hình cung, lưỡi mài vát một bên Nha chương được mài nhẵn phẳng toàn thân, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật Các đường xoi nhẹ tạo thành rãnh nông, mảnh, cắt ngang trên cả đốc thân và lưỡi nha chương Nha chương được làm bằng đá trắng ngà vân nâu, bị sứt mẻ nhỏ ở rìa lưỡi và thân lưỡi Nha chương có quy mô, kích thước như sau: dài
Trang 2924cm, đốc dài 4,5cm, rộng 4 cm, lưỡi rộng 4,2-4,7 cm, dày 0,7 cm
Chiếc nha chương thứ hai phát hiện được ở di chỉ Phùng Nguyên bị vỡ mất phần đốc và thân lưỡi, chỉ còn lại phần đốc có mấu Phần đốc còn lại có đuôi mấu dài nhô ngang ra 2 bên thân, ở đầu mấu có lỗ xoi nhưng không thủng sang mặt sau Đôi mấu dài lại được xẻ thành 4 mấu nhỏ tạo thành 2 nhóm mấu Dưới 2 mấu dài ó đôi mấu nhỏ Các đôi mấu sắp xếp hơi lệch nhau Các đôi mấu được nối với nhau bằng các rãnh xoi mảnh, nông chạy song song với nhau Nha chương được làm bằng đá trắng đục có vân vàng Kích thước của phần hiện còn đo được là: dài 13 cm, phần đốc dài 5,1 cm, rộng 5,6 cm, dày 0,4 cm và lưỡi rộng 6,7cm
Chiếc nha chương thứ ba được công bố vào năm 1998 Nó được ông Nguyễn Văn Đống phát hiện ngẫu nhiên trong khi đào đất là gạch tại di chỉ Phùng Nguyên vào năm 1993 Nha chương còn nguyên vẹn được làm bắng đá ngọc Nephrite giống với đá làm công cụ sản xuất và đồ trang sức của văn hóa Phùng Nguyên Nó được mài nhẵn bóng, thân dài có hai lỗ cách đều nhau, 2 bên chỗ đốc và thân có mấu lõm hình chữ V, lưỡi mài vát một mặt Kích thước của nha chương khá lớn: dài 35cm, phần đốc dài 6cm, đốc rộng 8,9cm, mấu dài 0,7cm, hân dài 28cm, lưỡi rộng 12cm Nha chương có độ dày 0,4cm
Lỗ khoan cách đầu đốc 2cm, có đường kính 0,8cm Hai lỗ khoan cách nhau 3,3cm Đốc nha chương có một dấu cưa Thân có vết lõm dài 5cm, rộng 1cm,
do khuyết tật của đá nguyên liệu
Trang 30Nha chương cũng là một di vật điển hình của khảo cổ học Trung Quốc
Nó xuất hiện và tồn tại từ hậu kỳ đá mới đến thời Hán
* Các loại đồ trang sức:
Đồ trang sức là một loại di vật phong phú và có mặt ở tất cả các địa điểm thuộc văn hóa Phùng Nguyên Đó là các loại vòng tay, vòng chân, vòng tai, hạt chuỗi trang sức hình vuông, hình tròn, hình đuôi cá, hình dấu phẩy Tại Phùng Nguyên có hơn 4000 hiện vật đá thì đồ trang sức đã có gần 600 tiêu bản Tại Văn Điển riêng vòng đá có 535 chiếc trên tổng số 1085 hiện vật đá
Gò Bông có số lượng đồ trang sức 60 chiếc trong tổng số 500 hiện vật đá Sự
có mặt của 2 công xưởng Bãi Tự và Tràng Kênh-chuyên sản xuất, chế tạo đồ trang sức bằng đá cho thấy khiếu thẩm mỹ và nhu cầu đời sống tinh thần của
cư dân Phùng Nguyên đã ở trình độ cao Vòng đá ở các địa điểm thuộc văn hóa Phùng Nguyên rất nhỏ nhắn và tinh tế Chúng được chế tác bằng các loại
đá ngọc Nephlite với các màu trắng hồng, vân nâu, xanh ngọc… rất trang nhã
và tinh tế Các vòng có mặt cắt ngang đa dạng, nhiều kiểu: chữ nhật dẹt và đứng, hình vuông, hình tròn, hình bán nguyệt, hình tam giác, hình thấu kính,
và đặc biệt hơn cả là loại vòng có mặt cắt hình chữ nhật đứng có gờ ngoài, có khi có một gờ nhô ra ở giữa , có khi có cả 3 gờ nhô ra hoặc 4 gờ to nhỏ không đều nhau Đẹp và cầu kỳ nhất là vòng chữ T tồn tại trong nhiều địa điểm Mặc
dù số lượng không nhiều nhưng nó được coi là đồ trang sức rất đặc trưng cho văn hóa Phùng Nguyên
Trang 31Kích thước vòng đeo nhỏ nhắn Loại vòng mặt cắt ngang chữ nhật đứng trong di chỉ Phùng Nguyên, bản rộng của vòng trung bình 0,7 cm, độ dày 0,3
cm, đường kính tập trung ở kích thước từ 6-7cm Đáng chú ý là nhiều chiếc vòng đã có dấu khoan nối vòng hoặc các dấu cưa cho thông lỗ để buộc dây Loại vòng có mặt cắt ngang hình chữ D hay tròn cũng vậy, đường kính của mặt cắt thân vòng thường khá nhỏ, chỉ 0,5-0,7cm Đặc biệt có những vòng rất chuẩn về độ tròn thân vòng Loại vòng có mặt cắt hình tam giác trong văn hóa Phùng Nguyên cũng có những đặc điểm khác biệt với vòng loại này ở các văn hóa khác Loại vòng hình ống có gờ nổi ở mặt ngoài là loại vòng rất tiêu biểu cho trình độ điêu luyện của người Phùng Nguyên cũng như khiếu thẩm mỹ của họ Vòng thường có bản đứng, rộng và rất mỏng Mặt ngoài bản vòng có các nấc nhô ra cũng mỏng và dài ngắn tùy theo ý muốn của người thợ Có những vòng có gờ hình chữ T, có vòng có nhiều gờ nhô ra to nhỏ khác nhau Tại địa điểm Phùng Nguyên đã tìm thấy 16 chiếc; tại địa điểm Gò Hện có đến
3 mảnh vòng được tìm thấy thuộc vào loại này; Đồng Vông có 6 mảnh vòng hình chữ T Tại Văn Điển, đã tìm thấy 14 mảnh vòng có gờ dạng hình chữ T hoặc 3 gờ to nhỏ khác nhau…
Khuyên tai là loại trang sức thấy không nhiều trong các di tích Phùng Nguyên Nó được làm bằng đá, giống khuyên tai ngày nay Khuyên tai có quy
mô nhỏ hơn, đường kính chỉ độ 2-3cm, dày ở giữa, mỏng dần về hai phía đầu, mặt ngoài hơi cong khum, mặt trong phẳng tại cho nó có mặt cắt chữ D, giữa
Trang 322 đầu khuyên tai là một khe hở rộng độ 1 ly Khuyên tai được là bằng đá trắng ngà, mài nhẵn bóng
Số lượng khuyên tai và nhẫn các loại có mặt cắt khác nhau: cơ bản là mặt cắt hình vuông, hình tròn, hình bán nguyệt… trong các di chỉ Phùng Nguyên khá nhiều Có những chiếc nhẫn được chế tạo bằng đá đen sẫm, bóng
và cứng như sừng Đáng chú ý là ở những địa điểm thuộc giai đoạn muộn của văn hóa này đã xuất hiện loại hình khuyên tai có mấu (Tràng Kênh, Bãi Tự, Nghĩa Lập, Lũng Hòa…) Loại khuyên tai này bắt đầu có mặt ở văn hóa Phùng Nguyên giai đoạn cuối và còn thấy trong nhiều văn hóa khảo cổ khác muộn hơn Phùng Nguyên
Hạt chuỗi hình ống là loại hình đồ trang sức phổ biến trong các địa điểm Phùng Nguyên Nó được làm từ đá Nephrite hoặc quacxit, có màu tím phớt hồng, trắng ngà, xám xanh, đen như sừng, tím như mận chín Nó được chế tạo qua cách cưa, khoan, mài rất tinh vi Hạt chuỗi có dạng hình trụ tròn, hầu như không có dạng tang trống Có hạt chuỗi to, dài Có loại hạt chuỗi bé ngắn Lỗ khoan có khi xuyên chính giữa, cũng có khi chạy lệch sang một bên Loại hạt chuỗi dài thì dùng lối khoan hai đầu để chế tạo lỗ Loại hạt chuỗi nhắn thì chỉ cần khoan từ một đầu bé để tạo lỗ Quy mô kích thước của hạt chuỗi cũng khác nhau Đường kính hạt chuỗi trong khoảng từ 0,5-1cm, độ dài của hạt chuỗi nằm trong khoảng 0,5 đến 5-6cm Hai đầu hạt chuỗi có khi được cắt mài phẳng, có khi được cắt mài vát Hạt chuỗi thuộc loại này thường có
Trang 33đường ren nằm trên thân và lỗ khoan nhỏ chỉ 0,2 cm cho thấy kỹ thuật khoan
lỗ và kỹ thuật tiện đã đạt đến đỉnh cao Ngoài ra,những hạt chuỗi nhỏ bé, đường kính và bề dầy tương đương nhau (chừng 0,6-0,7 cm) có dáng hình tang trống được mài nhẵn bóng là những hạt chuỗi rất đẹp của văn hóa Phùng Nguyên Tại công xưởng Tràng Kênh, tìm thấy hàng loạt hạt chuỗi này, thậm chí còn tìm thấy cả các hạt chuỗi hình tang trống nhưng lại có các gờ nổi nhô
ra ở bên ngoài trông rất đẹp…
Tại nhiều địa điểm thuộc văn hóa Phùng Nguyên đã tìm thấy những đồ trang sức khá độc đáo: đó là các vật đeo có các hình thù khác nhau như hình đầu thú, hình đuôi cá, hình dấu phẩy, hình bàn chân… Vật đeo loại này đều được làm bằng chất liệu đá chế tạo đồ trang sức
Trang sức hình dấu phẩy tìm thấy ở di chỉ Phùng Nguyên là một mảnh
đá mỏng gần hình chữ nhật, góc tròn, một đầu mài nhỏ lại hơi cong tạo thành hình dấu phẩy Nó còn có một lỗ khoan nhỏ ở đầu
Trang sức hình rìu xéo ở di chỉ Phùng Nguyên, được là từ một mảnh đá trắng xám, mũi nhọn, gót tròn, gần gót có một lỗ tròn nhỏ Quy mô của trang sức: dài 1,8cm, rộng ở lưỡi 2,1cm, rộng ở đốc là 6cm
Trang sức hình đuôi cá là một mảnh đá mỏng màu xanh, gần hình chữ nhật, một đầu mài lõm vào, một đầu mài lõm tạo hình đuôi cá Kích thước của trang sức này là: dài 5,5cm, rộng 2,2cm và 2,7 cm, dày 4cm Rãnh mài ở cả 2 mặt, rộng 5cm, sâu 1,5cm
Trang 34Tại Phùng Nguyên có 4 chiếc Điều đáng chú ý là nhiều chiếc có lỗ đeo Các vật này đều được chế tác khá tỉ mỉ và cẩn thận
Ngoài các loại trang sức trên, tại các di chỉ Phùng Nguyên còn có một số rìu, bôn, đục cỡ nhỏ có khoan lỗ, một số thỏi đá hình đũa Những di vật này
có nhiều khả năng được sử dụng như đồ trang sức (Hình 6)
Kỹ thuật chế tác đá:
Đây là vấn đề mang tính thời đại, tính văn hóa rõ rệt Trong đó hai đặc tính quan trọng trong kỹ thuật chế tác đá Phùng Nguyên là tính đa dạng và thính chuyên hóa
Tính đa dạng: Nét đặc trưng trong hệ thống di chỉ Phùng Nguyên là sự tồn tại rất đa dạng của các di chỉ xưởng Trong văn hóa này đã có đến 16 di chỉ xưởng có chứ năng chuyên sản xuất đồ đá Tính đa dạng của sản xuất đồ
đá trong văn hóa Phùng Nguyên thể hiện trên nhiều di chỉ xưởng có chức năng chuyên sản xuất đồ đá Tính đa dạng của sản xuất đồ đá trong văn hóa Phùng Nguyên thể hiện trên nhiều loại hình di xưởng , đồng thời thể hiện trên nhiều loại nguyên liệu được sử dụng cũng như nhiều loại kỹ thuật được áp dụng trong quá trình chế tác đồ đá Người Phùng Nguyên không chỉ dùng công cụ sản xuất, họ còn dùng đồ trang sức và vũ khí bằng đá nữa, do đó ứng với các loại hình di vật khác nhau, người ta dùng các loại nguyên liệu khác nhau và các kỹ thuật chế tác thích hợp để sản xuất Tính đa dạng về loại hình sản phẩm đã thể hiện tính đa dạng trong sản xuất đồ đá nói riêng và trong sản
Trang 35xuất thủ công nói riêng
Để sản xuất một loại sản phẩm người thợ thủ công không chỉ dùng một
kỹ thuật mà phải sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau Chẳng hạn như chế tạo chiếc rìu đá Phùng Nguyên,người thợ có thể dùng phương pháp ghè đẽo để tạo phác vật, nhưng cũng có thể kết hợp thêm kỹ thuật cưa để tiết kiệm nguyên liệu và tăng hiệu quả chế tác, sau đó lại phải dùng kỹ thuật mài để hoàn chỉnh sản phẩm này Trong chế tạo đồ trang sức cũng vậy, người Phùng Nguyên đã kết hợp tổng hợp mọi kỹ thuật chế tác đá có để làm ra một sản phẩm Đối với một chiếc vòng tay mặt cắt hình chữ T, người ta phải dùng rất nhiều kỹ thuật để tạo ra sản phẩm, ví dụ như: ghè đẽo, cưa, mài…
Tính đa dạng trong sản xuất đồ đá ở văn hóa Phùng Nguyên đã trở thành một đặc điểm quan trong khi nghiên cứu về sản xuất thủ công ở văn hóa này Trong các di chỉ xưởng, do đặc trưng của nguồ nguyên liệu ở mỗi xưởng khác nhau trong cùng một giai đoạn thời gian, tương ứng với những nguyên liệu được dùng ở đó, người Phùng Nguyên rất giỏi lựa chọn những kỹ thuật chế tạo tối ưu nhất cho từng loại nguyên liệu, từng loại sản phẩm, đồng thời còn là người đã biết kết hợp một cách hài hòa, tinh tế nhất các kỹ thuật chế tác đá từ trước đến giai đoạn đó Trong văn hóa Phùng Nguyên, hệ kỹ thuật chế tạo đá bao gồm: ghè, đẽo, tu chỉnh ép, cưa, cắt, khoan, tiện, mài, đánh bóng… Như chúng ta đã biết kỹ thuật chế tác mũi khoan đá Jasper và sử dụng chúng rất phổ biến trong các di chỉ Bãi Tự, Tràng Kênh, nhưng lại không có ở các di chỉ
Trang 36xưởng dùng đá Splite như Hồng Đà… Mặc dầu các công xưởng này đều đều
có sự hiện diện của kỹ thuật khoan tách lõi nhằm tạo vòng đeo Cũng như vật,
kỹ thuật cưa cũng đã để lại rất nhiều bằng chứng trong các di chỉ xưởng chế tạo đá ở Phùng Nguyên, nhưng không di chỉ xưởng nào phổ biến bằng các địa điểm như Bãi Tự, Tràng Kênh, Đầu Rằm… Từ những bằng chứng kỹ thuật,
có thể đưa ra những nhận xét rằng các kỹ thuật chế tác đá tinh tế nhất đã tồn tại trong các di chỉ xưởng chế tạo đồ ngọc, ở đó vừa là đỉnh cao của kỹ thuật học vừa là đỉnh cao về loại hình học đồ đá của văn hóa Phùng Nguyên nói riêng và toàn bộ thời đại đồng thau nói chung
Tính chuyên hóa trong kỹ thuật chế tác đá: Sự hiện diện trong các di chỉ chế tác đá, mang các chức năng sản xuất khác nhau trong văn hóa Phùng Nguyên cho thấy nét khái quát lớn nhất của tính chuyên hóa trong sản xuất đồ
đá của văn hóa này
Các di chỉ xưởng như Gò Chè, Thọ Văn, Đoan Thượng có những đặc trưng đồ gốm giai đoạn Phùng Nguyên giống như đã thấy trong di chỉ xưởng Bãi Tự, Tràng Kênh, nhưng đồ đá trong các di chỉ xưởng này chỉ cho thấy một dạng phẩm của văn hóa này mà thôi, đó là việc sản xuất ra rìu, cuốc, đục… bằng đá Splite Bên cạnh đó, sự tồn tại rất chuyên hóa của hệ thống di chỉ xưởng chế tạo đồ trang sức bằng đá ngọc Bãi Tự, Tràng Kênh, Đầu Rằm… trong đó, kỹ thuật khoan bằng mũi khoan đá Jasper, kỹ thuật cưa đá là những kỹ thuật cơ bản
Trang 37Sự tồn tại đan xen của các loại hình di chỉ xưởng, với các hệ thống kỹ thuật khác nhau, trong cùng một văn hóa khảo cổ đòi hỏi chúng phải có một cái nhìn đa chiều về những hợp nguồn tạo thành thể thống nhất của nền văn hóa Phùng Nguyên
Dưới góc độ kỹ thuật học, ta thấy sự tiên tiến trong kỹ thuật chế tác đồ ngọc của người Phùng Nguyên, những kỹ thuật tu chỉnh ép bằng những lực ép đều đặn, điêu luyện để chế tạo mũi khoan, mà về hình dáng giống như những mũi khoan hiện đại, mới thấy trong văn hóa Phùng Nguyên Người ta tính rằng để ép được một mũi khoan có chiều dài 5-6cm, người Phùng Nguyên phải ép ra được ít nhất 360 vảy tước rất nhỏ và đều Chưa thể tính được thời gian để chế tạo mũi khoan, nhưng số lượng vài trăm mũi khoan có mặt trong các di chỉ xưởng Bãi Tự, Tràng Kênh thì chúng ta có thể hình dung ra nỗi khó khăn, vất vả của người thợ làm đá Phùng Nguyên
Chuyên hóa trong sản xuất đồ trang sức, người Phùng Nguyên đã tạo ra rất nhiều sản phẩm nổi tiếng thời đại đó Sự chuyên hóa này chắc chắn phải xuất phát như nhu cầu xã hội đối với sản phẩm làm ra, còn mang những mối quan hệ hữu cơ với việc trao đổi các sản phẩm đó Tính chuyên hóa trong sản xuất đồ đá của người Phùng Nguyên đã tạo ra một tiền đề kỹ thuật quan trọng nhằm đưa người Phùng Nguyên nhanh chóng bước vào kỹ nghệ chế tác đá trong văn hóa Phùng Nguyên đã tạo nên kỹ thuật cho người Đông Sơn sau này hòa nhập với quỹ đạo văn hóa trong khu vực
Trang 38- Đồ đồng: Hiện vật đồng thau định hình chưa tìm thấy trong các địa
điểm văn hóa Phùng Nguyên, song cư dân Phùng Nguyên đã biết đến nghề luyện đồng Trong một số di chỉ Phùng Nguyên đã tìm thấy những cục đồng nhỏ, gỉ đồng và xỉ đồng Ví dù: ở Gò Bông (xã Thượng Nông, Tam Nông, Phú Thọ), khai quật năm 1965 và 1967 đã tìm thấy những cục đồng nhỏ, gỉ đồng
và xỉ đồng ở các độ sâu khác nhau Đến độ sâu 1,30m vẫn tìm thấy gỉ đồng Kết quả phân tích quang phổ của một trong số những cục đồng cho thấy đây
là một hợp kim gồm đồng, thiếc và vết bạc, tức là đồng thau chứ không phải
là đồng nguyên chất Theo những báo cáo khai quật, gỉ đồng còn được tìm thấy ở Gò Đồng Sấu, Lũng Hòa Những khai quật mới đây (tháng 2 năm 2008) tại địa điểm Gò Bông và Đồi Đồng Dâu (Ba Vì, Hà Nội) đã cung cấp thêm một số chứng cứ mới về đúc đồng, trong tầng văn hóa Phùng Nguyên của các địa điểm này, những người khai quật đã tìm thấy cục đồng dây đồng, mảnh đồng nhỏ, xỉ đồng
Những vết tích kim loại đầu tiên trong các di tích Phùng Nguyên đã là sản phẩm hợp kim cao cấp (đồng-thiếc), chứ không phải là dạng khởi thủy (đồng đỏ) Theo một số nhà nghiên cứu, nguồn gốc kim loại sớm ở Việt Nam
có khả năng là sản phẩm của giao lưu văn hóa mà đúng ra là sự giao lưu kỹ thuật Cách đúc và có thể ban đầu là cả nguyên liệu nữa có được do ảnh hưởng của trung tâm văn hóa khác Dần dần, người Phùng Nguyên nắm chắc được kỹ thuật luyện đồng Sự có mặt của xỉ đồng và gỉ đồng là bằng chứng
Trang 39xác đáng nhất cho việc đúc đồng tại chỗ Tuy vậy, đồ đồng đã thực sự đóng vai trò quan trọng trong đời sống cư dân và tạo ra những thay đổi quan trọng trong quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất hay chưa? Đây là vấn đề đòi hỏi nhiều nghiên cứu kỹ lưỡng và sâu sắc [6, tr.100 ]
- Đồ gốm: kỹ thuật chế tác gốm ở văn hóa Phùng Nguyên rất tinh xảo về
cả loại hình, chất liệu, hoa văn (Hình 7)
Gốm có ba loại chính: mịn, thô, và rất thô Trong loại gốm thô còn có thể tách ra loại hình gốm xốp Gốm Phùng Nguyên thường bị tạp sắc như nâu, nhạt, xám đen Gốm được nung trong khoảng từ 600°C đến 800°C và có thể được nung theo phương thức nung ngoài trời song trong hố hở Gốm được chế tạo bằng phương pháp bàn xoay (tay, chân), bên cạnh đó còn có nặn tay, chắp, gắn, ghép
Loại hình gốm đa dạng, phong phú gồm các loại như đồ gia dụng, vật dụng sản xuất, trang sức, trang trí Trong đó nhiều nhất là đồ gia dụng (đun nấu và chứa) Đặc biệt trong văn hóa Phùng Nguyên có đồ gốm với đường kính miệng lớn, thành mỏng, miệng dày Loại này không nhiều, song rất đặc trưng, không gặp ở những trung tâm khác
Trong gốm văn hóa Phùng Nguyên phổ biến các đồ đựng có chân đế
Độ cao của chân đế phần nhiều từ 3cm trở lên Nhiều chân đế có trang trí hoa văn Trong đồ gốm có loại chạc gốm (còn gọi là chân giò, vật hình cốc ) mà vẫn chưa xác định được chức năng cụ thể và được gọi bằng nhiều tên khác
Trang 40nhau, thường thô, dày, độ nung thấp, một số có trang trí văn khắc vạch Tại một số địa điểm, trong tổ hợp hiện vật gốm bên cạnh những trang trí văn khắc vạch Nhìn chung đồ gốm có dáng thanh thoát, nhiều loại có chân đế Đồ gốm thường được trang trí với các kỹ thuật tạo hoa văn khắc vạch, in ấn, đắp thêm, trổ lỗ, miết bóng, khảm bột trắng Hoạ tiết hoa văn có xu hướng thiên về uốn lượn, cong mềm mại điển hình là hoạ tiết chữ S với nhiều biến thể khác nhau Điển hình của đồ gốm trang trí là các loại bát bồng, thố được khắc tạo,
in chấm, khảm chất bột trắng ở các họa tiết hoa văn khắc vạch in chấm, khắc vạch in chấm chữ S hay chữ S biến thể hoặc các motip hoa văn hình học hay
“tráng men trắng″ trong lòng bình và thố
Tại một số địa điểm, trong tổ hợp hiện vật gốm bên cạnh những loại hình chung và phổ biến cho toàn bộ văn hóa, người ta vẫn có thể nhận thấy những kiểu dáng và trang trí gốm riêng, độc đáo Điều đó phản ánh những quan hệ văn hóa đa chiều và tính đa dạng của văn hóa này [6, tr.112 ] Cũng cần lưu ý rằng đồ gốm Phùng Nguyên có một số loại hình và mô típ trang trí,
kỹ thuật trang trí giống những văn hoá Đại Hoa Thạch sơ kỳ, Vân Nam, Cảm
Đà Nham, Vân Nam, Đàm Thạch Sơn, Phúc Kiến và một số văn hoá ĐÁ MỚI Đài Loan, Hồng Kông, nhưng cả tổ hợp gốm Phùng Nguyên lại cho thấy những nét độc đáo, riêng biệt mà không văn hoá đá mới trung kỳ và hậu kỳ nào ở Trung Quốc cung cấp được những chứng cứ cổ típ Ngoài ra cũng cần lưu ý, lôi văn và gốm ba chân đặc trưng cho gốm hậu kỳ đá mới sơ kỳ kim khí