VẤN ĐỀ 1: Đối tượng dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụCâu 1: Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 liên quan đến tài sản có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.Tại Điều 320 BLDS 2005 quy định : “1. Vật đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của bên đảm bảo và được phép giao dịch.2. Vật dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương lai. Vật được hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên đảm bảo sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch đảm bảo được giao kết”.và Điều 321 quy định : “Tiền, trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu và giấy tờ có giá khác được dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự”.Trong khi đó, theo BLDS 2015, Điều 295 quy định :“1. Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu.2. Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được.3. Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai.4. Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm”.Tại BLDS 2015, thứ nhất, đối tượng có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được sửa đổi từ “Vật” sang “Tài sản”. Quy định này vừa sửa đổi vừa gộp cả Điều 320 và Điều 321. Vì các loại tiền, trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu và giấy tờ có giá khác về bản chất cũng chính là tài sản Bao quát và hợp lý hơn.Thứ hai, Điều 295 BLDS 2015 lượt bỏ, không quy định cụ thể tài sản hình thành trong tương lai là gì? Thuộc loại nào? Thứ ba, tại BLDS 2015 còn đề cập tới giá trị của tài sản đảm bảo và hình thức của nó nhằm quy định chặt chẽ hơn. Tài sản bảo đảm phải có giá trị (dù nhỏ hơn, lớn hơn hay bằng giá trị nghĩa vụ được đảm bảo) và phải có hình thức có thể xác định được. Nhìn chung, những điểm đổi mới về tài sản có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại BLDS 2105 làm cho khái niệm “Tài sản bảo đảm” được nhìn nhận rõ nét hơn, bên cạnh đó là thắt chặt quy định nhằm hạn chế gây tranh chấp liên quan do luật chưa rõ.Câu 2: Đoạn nào của bản án số 208 cho thấy bên vay dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay?Đoạn của bản án số 208 cho thấy bên vay dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay là: “Bị đơn bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo xác nhận: Có thế chấp một giấy tờ sạp D29 tại chợ Tân Hương để vay 60.000.000 đồng cho ông Phạm Bá Minh là chủ dịch vụ cầm đồ Bá Minh.”Câu 3: Giấy chứng nhận sạp có phải là tài sản không? Vì sao? Giấy chứng nhận sạp không phải là tài sản.Theo Điều 105 BLDS 2015: Tài sản1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai. Theo Điều 115 BLDS 2015: Quyền tài sảnQuyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.Theo khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai 2013:Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.Vì vậy Giấy chứng nhận sạp là giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản gắn liền với đất. Đây là chứng thư pháp lý để nhà nước xác nhận quyền sử dụng tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất. Giấy chứng nhận sạp chỉ ghi nhận quyền sử dụng sạp để bà Khen buôn bán tại chợ Tân Hương sạp đó không thuộc quyền sở hữu của bà Khen. Bà Khen chỉ được quyền sử dụng chứ không có các quyền khác đối với sạp.Câu 4: Việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghịa vụ dân sự có được Tòa án chấp nhận không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?Việc dùng giấy chứng nhận sạp để đảm bảo nghĩa vụ dân sự không được Tòa án chấp nhận. Đoạn dưới đây của bản án cho câu trả lời:“Xét sạp thịt heo do bà Khen đứng tên và cầm cố, nhưng giấy chứng nhận sạp D29 tại chợ Tân Hương là giấy đăng ký sử dụng sạp, không phải quyền sở hữu, nên giấy chứng nhận trên không đủ cơ sở pháp lý để bà Khen thi hành án trả tiền cho ông Minh”.Câu 5: Suy nghĩ của anhchị về hướng giải quyết và cơ sở pháp lý của Tòa án đối với việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ.Theo khoản 1 Điều 295 BLDS 2015 quy định về tài sản bảo đảm:“Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm…”Mà giấy chứng nhận sạp của bà Khen tại chợ Tân Hương là
Trang 1Buổi thảo luận thứ tư:
BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ
VẤN ĐỀ 1: Đối tượng dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Câu 1: Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 liên quan đến tài sản có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Tại Điều 320 BLDS 2005 quy định :
“1 Vật đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của bên đảm bảo và được phép giao dịch.
2 Vật dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương lai Vật được hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên đảm bảo sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch đảm bảo được giao kết”.
và Điều 321 quy định : “Tiền, trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu và giấy tờ có giá khác được
dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự”.
Trong khi đó, theo BLDS 2015, Điều 295 quy định :
“1 Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu.
2 Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được.
3 Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai.
4 Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm”.
Tại BLDS 2015, thứ nhất, đối tượng có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sựđược sửa đổi từ “Vật” sang “Tài sản” Quy định này vừa sửa đổi vừa gộp cả Điều 320 và
1
Trang 2Điều 321 Vì các loại tiền, trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu và giấy tờ có giá khác về bảnchất cũng chính là tài sản Bao quát và hợp lý hơn.
Thứ hai, Điều 295 BLDS 2015 lượt bỏ, không quy định cụ thể tài sản hình thành trongtương lai là gì? Thuộc loại nào?
Thứ ba, tại BLDS 2015 còn đề cập tới giá trị của tài sản đảm bảo và hình thức của nónhằm quy định chặt chẽ hơn Tài sản bảo đảm phải có giá trị (dù nhỏ hơn, lớn hơn haybằng giá trị nghĩa vụ được đảm bảo) và phải có hình thức có thể xác định được
Nhìn chung, những điểm đổi mới về tài sản có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ được quy định tại BLDS 2105 làm cho khái niệm “Tài sản bảo đảm” được nhìn nhận
rõ nét hơn, bên cạnh đó là thắt chặt quy định nhằm hạn chế gây tranh chấp liên quan doluật chưa rõ
Câu 2: Đoạn nào của bản án số 208 cho thấy bên vay dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay?
Đoạn của bản án số 208 cho thấy bên vay dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ trả tiền vay là: “Bị đơn bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo xác
nhận: Có thế chấp một giấy tờ sạp D2-9 tại chợ Tân Hương để vay 60.000.000 đồng cho ông Phạm Bá Minh là chủ dịch vụ cầm đồ Bá Minh.”
Câu 3: Giấy chứng nhận sạp có phải là tài sản không? Vì sao?
Giấy chứng nhận sạp không phải là tài sản
Theo Điều 105 BLDS 2015: Tài sản
1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai
Theo Điều 115 BLDS 2015: Quyền tài sản
Trang 3Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.
Theo khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai 2013:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.
Vì vậy Giấy chứng nhận sạp là giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản gắn liền với đất.Đây là chứng thư pháp lý để nhà nước xác nhận quyền sử dụng tài sản khác gắn liền vớiđất hợp pháp của người có quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất Giấy chứng nhậnsạp chỉ ghi nhận quyền sử dụng sạp để bà Khen buôn bán tại chợ Tân Hương sạp đókhông thuộc quyền sở hữu của bà Khen Bà Khen chỉ được quyền sử dụng chứ không cócác quyền khác đối với sạp
Câu 4: Việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghịa vụ dân sự có được Tòa án chấp nhận không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Việc dùng giấy chứng nhận sạp để đảm bảo nghĩa vụ dân sự không được Tòa án chấpnhận Đoạn dưới đây của bản án cho câu trả lời:
“Xét sạp thịt heo do bà Khen đứng tên và cầm cố, nhưng giấy chứng nhận sạp D2-9 tại chợ Tân Hương là giấy đăng ký sử dụng sạp, không phải quyền sở hữu, nên giấy chứng nhận trên không đủ cơ sở pháp lý để bà Khen thi hành án trả tiền cho ông Minh”.
Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết và cơ sở pháp lý của Tòa án đối với việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ.
Theo khoản 1 Điều 295 BLDS 2015 quy định về tài sản bảo đảm:
“Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm…”
3
Trang 4Mà giấy chứng nhận sạp của bà Khen tại chợ Tân Hương là giấy đăng ký sử dụng sạpchứ không phải giấy chứng nhận quyền sở hữu của bà Hương
Vậy theo tôi hướng giải quyết của Tòa án là hoàn toàn hợp lý
Câu 6: Trên cơ sở so sánh pháp luật, suy nghĩ của anh/chị về khả năng cho phép dùng giấy tờ liên quan đến tài sản để bảo đảm nghĩa vụ.
Theo quy định BLDS 2015 trong các phương pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sựthì chỉ có thế chấp mới có khả năng dùng giấy tờ liên quan đến tài sản vì các biện phápkhác đều yêu cầu bên bảo đảm giao tài sản đảm bảo cho bên nhận bảo đảm và đối tượngbảo đảm của các biện pháp còn lại đều là tài sản hữu hình (tiền, giấy tờ có giá, vật).Ngoài ra việc sử dụng giấy tờ liên quan đến tài sản để bảo đảm nghĩa vụ cũng nên ápdụng với cầm giữ tài sản Vì cầm giữ giấy tờ liên quan đến tài sản mà giấy tờ đó có tínhchất quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền sở hữu của chủ tài sản thì cầm giữ giấy tờnày cũng đã làm hạn chế các quyền của bên vi phạm và từ đó gây áp lực, buộc bên viphạm phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bên cầm giữ Như vậy, mục đích của haibên đều đã thực hiện được Việc sử dụng giấy tờ liên quan đến tài sản để bảo đảm thựchiện nghĩa vụ cũng giống như sử dụng tài sản để đảm bảo nghĩa vụ dân sự chỉ được ápdụng khi tài sản đó thuộc sở hữu hợp pháp của bên có nghĩa vụ, có như vậy thì lợi ích củabên có quyền mới được đảm bảo
Câu 7: Đoạn nào của Quyết định số 02 cho thấy các bên đã dùng quyền sử dụng đất
Trang 5Câu 8: Văn bản hiện hành có cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố không? Nêu cơ sở văn bản khi trả lời.
Theo khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai 2014: “Người sử dụng đất được thực hiện các
quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này.”
Như vậy trong các quyền giao dịch quyền sử dụng đất luật không đề cập đến quyền cầmcố
Câu 9: Trong Quyết định trên, Tòa án có chấp nhận cho phép dùng quyền sử dụng đất
để cầm cố không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Trong Quyết định trên, Tòa án có chấp nhận cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm
cố Đoạn của Quyết định cho câu trả lời là: “Xét việc giao dịch thục đất nêu trên là tương
tự với giao dịch cầm cố tài sản, do đó phải áp dụng nguyên tắc tương tự để giải quyết.
Về nội dung thì giao dịch thục đất nêu trên phù hợp với quy định về cầm cố tài sản của
Bộ luật dân sự (tại Điều 326, 327), do đó cần áp dụng các quy định về cầm cố tài sản của Bộ luật dân sự để giải quyết mới bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên giao dịch.”
Câu 10: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết nêu trên của Tòa án trong Quyết định số 02.
Hướng giải quyết của Tòa án là hợp lý và phù hợp với quy định của luật tại thời điểm đó.Pháp luật tại thời điểm xảy ra tranh chấp chưa có quy định cho người sử dụng đất cóquyền cầm cố quyền sử dụng đất, tuy nhiên tại Khoản 2 Điều 322 BLDS 2005 (BLDS
2015 đã bỏ quy định này): “Quyền sử dụng đất được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ dân sự theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai.”, mà một trong các biện
pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có cầm cố tài sản, vì thế ta có thể xem như phápluật đã thừa nhận Quyền sử dụng đất có thể được cầm cố như một biện pháp bảo đảmthực hiện nghĩa vụ dân sự Thêm vào đó, Điều 3 BLDS 2005 (Điều 5, 6 BLDS 2015) có
5
Trang 6quy định: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận
thì có thể áp dụng tập quán; nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật…” Ta xét thấy giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất trên là không trái với pháp
luật, không trái đạo đức xã hội và tuân thủ đúng quy định của pháp luật về hình thức, nộidung của hợp đồng cầm cố tài sản, tức là phù hợp với Điều 3 do luật định Do đó việcTòa án xác định giao dịch tranh chấp là tương tự với giao dịch cầm cố tài sản là xác đáng
Câu 11: Đoạn nào của Bản án số 04 cho thấy người nhận thế chấp quyền sử dụng đất
là cá nhân?
Đoạn của Bản án cho thấy người nhận thế chấp quyền sử dụng đất là cá nhân:
“Trong đơn khởi kiện ngày 09/10/2009 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn Vương Kim Long trình bày: Vào ngày 08/7/2003, bà Phạm Thị Ngọc Hồng làm biên nhận vay của bà 60.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng; đến ngày 08/6/2005 âm lịch (ngày 13/7/2005) bà Phạm Thị Ngọc Hồng làm biên nhận vay thêm 300.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng Tổng cộng vốn gốc là 360.000.000 đồng Khi vay có thế chấp 03 Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất gồm: Thửa đất số 117, tờ bản đồ số 11, diện tích 3.071,7 m 2 do cụ Phạm Ngọc Bính đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 766766 ngày 30/6/2004; Thửa đất số 123, tờ bản đồ số 11, diện tích 1886,9 m 2 và thửa số 113, tờ bản đồ số 11, diện tích 3.187,9 m 2 đều do hộ ông Phạm Ngọc Chấp đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 151663 và số 151662 cùng ngày 4/11/2004.”
Như vậy người nhận thế chấp là bà Vương Kim Long, là cá nhân
Câu 12: Có quy định nào cho phép cá nhân nhận quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không? Nếu có, nêu cơ sở văn bản.
Có quy định cho phép cá nhân nhận quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.Tại thời điểm xét xử:
Trang 7Theo Khoản 7, Điều 113 Luật Đất đai 2003 quy định về quyền và nghĩa vụ của hộ giađình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê:
“Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
7 Thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản xuất, kinh doanh;”
Tại thời điểm hiện tại (2018):
Theo Điều 500 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Hợp đồng về quyền sử dụng đất là sự
thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất.”
Căn cứ theo điểm g, khoản 1, Điều 179 Luật đất đai 2013 có quy định: “Thế chấp quyền
sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế khác hoặc cá nhân theo quy định của pháp luật”
Như vậy, cá nhân vẫn có thể là chủ thể nhân quyền sử dụng đất để đảm bảo thực hiệnnghĩa vụ theo pháp luật
Câu 13: Đoạn nào của Bản án số 04 cho thấy Tòa án không chấp nhận cho cá nhân nhận quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ?
“Theo quy định tại khoản 1 Điều 106 và Điểm d, khoản 2, Điều 110 của Luật đất đai quy định người sử dụng đất được thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam để vay vốn Pháp luật chưa cho phép thế chấp quyền sử dụng đất giữa các cá nhân với nhau Do vậy, việc bà Phạm Thị Ngọc Hồng giao các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Vương Kim Long để vay tiền là không đúng quy định của pháp luật, nên bị coi là vô hiệu theo quy định tại Điều 128 của
7
Trang 8Bộ luật dân sự Giao dịch dân sự không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dấn sự của các bên kể từ thời điểm xác lập Vì vậy, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo quy định tại Điều 137 của Bộ luật dân sự.”
Câu 14: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án.
Hướng giải quyết trên của Tòa án là không đúng với quy định của pháp luật, vì thế,không thuyết phục bởi các lí do như sau:
Thứ nhất, Tòa án chỉ căn cứ vào khoản 1 Điều 106 và Điểm d, khoản 2, Điều 110 của
Luật đất đai mà kết luận rằng: “Pháp luật chưa cho phép thế chấp quyền sử dụng đất
giữa các cá nhân với nhau” là hoàn toàn sai Tòa án đã bỏ sót quy định tại khoản 7, Điều
113, Luật đất đai 2003: cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê có quyền “Thế chấp,
…bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ
chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản xuất, kinh doanh.”.
Rõ ràng, Luật đất đai cho phép các đương sự được quyền nhận quyền sử dụng đất để bảođảm thực hiện nghĩa vụ
Thứ hai, nếu giả sử tại thời điểm xét xử, phát luật hiện hành chưa cho phép thế chấpquyền sử dụng đất giữa các cá nhân với nhau, thì cách lập luận của Tòa án rằng do phápluật chưa cho phép nhưng bà Hồng đã giao Giấy CNQSD đất cho bà Long để vay vốn là
“không đúng quy định của Pháp luật” là sai Bởi lẽ, Luật chưa có quy định thì theo quan
điểm cá nhân, tôi cho rằng Tòa án không thể và không đủ căn cứ để cho rằng việc làm
này là “không đúng quy định của pháp luật”
Hơn nữa, Điều 128 quy định về “Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của
pháp luật, trái đạo đức xã hội”, nhưng trong giao dịch này, giả sử Luật chưa cho phép
thế chấp QSDĐ thì không đồng nghĩa rằng pháp luật hiện hành cấm việc thế chấp QSDĐgiữa các cá nhân với nhau, và giao dịch này cũng không có điều gì trái đạo đức xã hội.Bởi những lẽ nêu trên, đủ cơ sở để nhận thấy rằng đã có sự sai lầm nghiêm trọng việc ápdụng pháp luật của Tòa án
Trang 10 VẤN ĐỀ 2: Đăng ký giao dịch bảo đảm
Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về đăng ký giao dịch bảo đảm.
Điều 323 BLDS 2005 quy định về Đăng ký giao dịch bảo đảm:
“1 Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm được quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật này.
2 Việc đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng
ký giao dịch bảo đảm Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp pháp luật có quy định.
3 Trường hợp giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật thì giao dịch bảo đảm đó có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký”.
Điều 298 BLDS 2015 quy định về Đăng ký biện pháp bảo đảm:
“1 Biện pháp bảo đảm được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.
Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định.
2 Trường hợp được đăng ký thì biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.
3 Việc đăng ký biện pháp bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng
ký biện pháp bảo đảm.”
Bản chất 2 thuật ngữ “giao dịch bảo đảm” và “biện pháp bảo đảm” có sự khác biệt nhất định “Giao dịch bảo đảm” là giao dịch dân sự do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm Do đó, việc sử dụng thuật ngữ đăng ký “biện
pháp bảo đảm” sẽ phù hợp hơn Ngoài ra, BLDS 2015 còn quy định: “Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định” Việc
sử dụng cụm từ “luật quy định” thay thế cho cụm từ “pháp luật có quy định” đã thể hiện
Trang 11sự thay đổi trong tư duy lập pháp, phù hợp với quy định của Hiến pháp và các quy địnhkhác có liên quan Bởi lẽ, chỉ khi Luật có quy định đăng ký là điều kiện có hiệu lực củabiện pháp bảo đảm thì các bên mới phải tuân thủ quy định đó.
Câu 2: Hợp đồng thế chấp số 03.00148/HĐTC ngày 27/5/2003 trong quyết định trên có thuộc trường hợp phải đăng ký không?
Hợp đồng thế chấp tài sản số 03.00148/HĐTC ngày 27/5/2003 gồm các tài sản là nhàxưởng, kho, văn phòng, nhà bảo vệ, nhà vệ sinh, nhà nghỉ, nhà máy, hệ thống thoát nước,tường rào, đường nội bộ thuộc sở hữu của Công ty Ngọc Quang gắn liền với 6.012m2 đấttại Khu công nghiệp Đồng An Đây không phải là đối tượng bắt buộc phải đăng ký theoĐiều 3 Nghị định số 8020/VBHN-BTP về các đối tượng đăng ký của giao dịch đảm bảo.Điều 3 Nghị định số 8020/VBHN-BTP:
“1 Các giao dịch bảo đảm sau đây phải đăng ký:
a) Thế chấp quyền sử dụng đất;
b) Thế chấp rừng sản xuất là rừng trồng;
c) Cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay;
d) Thế chấp tàu biển;
đ) Các trường hợp khác, nếu pháp luật có quy định.
2 Các giao dịch bảo đảm bằng tài sản không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này được đăng ký khi cá nhân, tổ chức có yêu cầu.”
Câu 3: Hợp đồng thế chấp trên đã được đăng ký chưa ? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời ?
Hợp đồng thế chấp trên đã được đăng ký Đoạn: “Hợp đồng này đã được công chứng
ngày 27/5/2003” của Quyết định cho câu trả lời.
Câu 4: Hướng giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm đối với hợp đồng thế chấp nêu trên? Vì sao Tòa phúc thẩm lại giải quyết như vậy?
11
Trang 12Tòa phúc thẩm xác định hợp đồng thế cấp quyền sử dụng đất số 02.00034/HĐTC có hiệulực Đối với hợp đồng thế chấp tài sản số 03.00148/HĐTC, Tòa xác định không phát sinhhiệu lực do đã vi phạm hình thức, không được đăng ký giao dịch bảo đảm.
Câu 5: Theo Hội đồng thẩm phán, trong trường hợp biện pháp bảo đảm phải đăng ký nhưng không được đăng ký thì biện pháp bảo đảm này có giá trị pháp lý đối với các bên trong giao dịch bảo đảm không? Vì sao?
- Theo Hội đồng thẩm phán, trong trường hợp biện pháp bảo đảm phải đăng ký nhưngkhông được đăng ký thì biện pháp bảo đảm này không có giá trị pháp lý đối với các bêntrong giao dịch bảo đảm
Bởi vì theo Nghị định 163/2006/NĐ – CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ thì: “Giao
dịch bảo đảm có hiệu lực kể từ thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản Trong trường hợp giao dịch bảo đảm phải đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, thì giao dịch này có hiệu lực từ thời điểm đăng ký”.
Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý trên của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Hướng xử lý trên của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là hợp lý Nhưnghướng giải thích để giải quyết vấn đề này của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tốicao là chưa thuyết phục Vì nếu tài sản bảo đảm trong hợp đồng thế chấp số03.00148/HĐTC không đồng thời là tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp số02.00034/HĐTC thì liệu Hội đồng thẩm phán có công nhận hiệu lực của hợp đồng thếchấp số 03.00148/HĐTC hay không? Thiết nghĩ, để công nhận hiệu lực của hợp đồng thếchấp 03.00148/HĐTC thì Hội đồng thẩm phán cần phải đưa thêm căn cứ khác thuyết
phục hơn “Đó là, về bản chất thì mục đích của đăng ký biện pháp bảo đảm là công khai
thông tin của biện pháp bảo đảm với người ngoài, từ đó làm hiệu lực đối kháng với bên thứ ba Còn giữa các bên, họ đã ký kết hợp đồng về tài sản này nên các bên hiển nhiên biết về giao dịch của họ Nên dù không đăng ký thì vẫn có sự ràng buộc giữa các bên Mặt khác, trong vụ này cũng không xuất hiện bên thứ ba, nên việc xác định quyền ưu tiên
Trang 13đối với tài sản bảo đảm cũng không được đặt ra Do đó, sự công nhận hiệu lực hợp đồng trong trường hợp này để đảm bảo quyền lợi của bên có quyền là vô cùng cần thiết Hơn nữa, theo khoản 3 Điều 325 BLDS 2005 thì người có quyền có biện pháp bảo đảm không được đăng ký vẫn được thanh toán theo thứ tự xác lập giao dịch bảo đảm Điều này cho thấy các nhà lập pháp đã ngầm ghi nhận giá trị pháp lý của biện pháp bảo đảm không được đăng ký” 1
Trong bản án này, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận hợpđồng thế chấp có hiệu lực vì chúng được ký theo sự tự nguyện của hai bên Vì thế, khiCông ty Ngọc Quang không thanh toán nợ thì Vietinbank có quyền xử lý tài sản thế chấptheo hợp đồng thế chấp và quy định của pháp luật Tuy nhiên, hướng giải quyết này lạikhông thỏa đáng lắm nếu trong trường hợp công ty Ngọc Quang có thêm một hay nhiềukhoản nợ khác với cá nhân hay pháp nhân khác Biện pháp bảo đảm phải đăng ký để giúpgiải quyết thứ tự ưu tiên thanh toán khi xảy ra tranh chấp
1 Đỗ Văn Đại, Luật nghĩa vụ dân sự và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự - Bản án và bình luận án, Nxb Hồng
Đức, CTQG 2014, tr.536
13