VẤN ĐỀ 1: Buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồngCâu 1: Đối với vụ việc trong Quyết định số 36, đoạn nào cho thấy Tòa án địa phương đã buộc các bên tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng?Đoạn cho thấy Tòa án địa phương đã buộc các bên tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng là:“2. Buộc Công ty TNHH Damool VINA tiếp tục thực hiện hợp đồng số 00709DMVNHHDT ngày 10102009 giữa Công ty TNHH Damool VINA với Công ty cổ phần Hồng Hà Bình Dương.”Câu 2: Hướng của Tòa án địa phương có được Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận không? Đoạn nào của Quyết định cho thấy câu trả lời?Hướng của Tòa án địa phương không được Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận.Đoạn cho thấy câu trả lời là:“Công ty VINA đã kí hợp đồng số 303DMVNHHDT chuyển nhượng tài sản và nhà xưởng gắn liền với quyền sử dụng đất cho công ty thế Thế Giới Nhà. Công ty Thế Giới Nhà đã thanh toán 50% giá trị hợp đồng cho công ty VINA. Như vậy, công ty VINA đã vi phạm hợp đồng theo nguyên tắc số 007, nên phải chịu đền bù 5% giá trị hợp đồng theo như hai bên đã thỏa thuận tại điều 5 của hợp đồng nguyên tắc số 007.”“Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc Công ty Hồng Hà Bình Dương và Công ty VINA tiếp tục thực hiện hợp đồng nguyên tắc số 007 là không đúng.”Câu 3: Vì sao Tòa án nhân đân tối cao theo hướng nêu trên? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?Theo cách giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao ta có thể thấy đây là một cách giải quyết tốt đối với hai bên đương sự. Để bảo đảm quyền của Công ty VINA thì Tòa án nhân dân tối cao đã xem xét sau khi Công ty VINA khi vi pham hợp đồng bắt buộc phải đền bù cho bên kia tối đa là 5% giá trị hợp đồng. Đồng nghĩa với việc không phải bắt buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng, bác bỏ hoàn toàn đối với cách giải quyết của Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm.Đoạn cho thấy câu trả lời là:“Theo quy định tại Hợp đồng nguyên tắc số 00709DMVNHHDT ngày 10102009, giữa Công ty VINA với Công ty Hồng Hà Bình Dương, thì các bên buộc phải hoàn thành các cam kết tại Hợp đồng nguyên tắc để làm cơ sở cho việc ký kết hợp đồng chính thức về việc chuyển nhượng, bên vi phạm phải đền bù cho bên kia tối đa 5% giá trị hợp đồng. Công ty VINA đã từ chối ký hợp đồng chính thức về việc chuyển nhượng ngày 19112009, Công ty VINA đã ký kết Hợp đồng số 303DMVNHHDT chuyển nhượng tài sản và nhà xưởng gắn liền với quyền sử dụng đất cho Công ty Thế Giới Nhà. Công ty Thế Giới Nhà đã thanh toán 50% giá trị Hợp đồng cho Công ty VINA. Như vậy, Công ty VINA vi phạm Hợp đồng nguyên tắc số 007, nên phải chịu đền bù 5% giá trị hợp đồng theo như hai bên đã thỏa thuận tại Điều 5 của Hợp đồng nguyên tắc số 007”.Câu 4: Suy nghĩ của anhchị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao.Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao là rất sáng suốt và hợp lý. Ngay từ đầu công ty VINA luôn từ chối thực hiện hợp đồng và sẵn sàng chịu phạt 5% theo cam kết tại hợp đồng số 007. Trên cơ sở đó, Tòa án nhân dân tối cao đã xử lý theo hướng công ty VINA hủy bỏ chấm dứt hợp đồng thì phải chịu phạt 5% giá trị hợp đồng theo thỏa thuận trước đó của hai bên. Nếu ép buộc công ty VINA phải tiếp tục thực hiện hợp đồng sẽ ảnh hưởng đến quyền tự do giao kết của công ty này vì từ đầu công ty VINA đã không thực sự có ý muốn thực hiện. Bù lại công ty VINA cũng đã chấp nhận bồi thường cho công ty VINA đúng theo những gì hợp đồng đã quy định. Ta thấy rằng hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao đã đảm bảo quyền lợi cho các bên.Câu 5: Đối với vụ việc trong Bản án số 01, bên bán có vi phạm nghĩa vụ giao cà phê không ? Vì sao ?Đối với vụ việc trong Bản án số 01, bên bán có vi phạm nghĩa vụ giao cà phê vì : Ông Hữu, bà Thanh có xác lập 4 hợp đồng mua bán cà phê nhân xô đã quy chuẩn là có trên thực tế. Việc xác lập mua bán giữa các bên là hoàn toàn
Trang 1Buổi thảo luận thứ ba:
VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG (tiếp)
VẤN ĐỀ 1: Buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng
Câu 1: Đối với vụ việc trong Quyết định số 36, đoạn nào cho thấy Tòa án địa phương
đã buộc các bên tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng?
Đoạn cho thấy Tòa án địa phương đã buộc các bên tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng là:
“2 Buộc Công ty TNHH Damool VINA tiếp tục thực hiện hợp đồng số 007/09/DMVN-HHDT ngày 10/10/2009 giữa Công ty TNHH Damool VINA với Công ty cổ phần Hồng
Hà Bình Dương.”
Câu 2: Hướng của Tòa án địa phương có được Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận không? Đoạn nào của Quyết định cho thấy câu trả lời?
Hướng của Tòa án địa phương không được Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận
Đoạn cho thấy câu trả lời là:
“Công ty VINA đã kí hợp đồng số 303/DMVN-HHDT chuyển nhượng tài sản và nhà xưởng gắn liền với quyền sử dụng đất cho công ty thế Thế Giới Nhà Công ty Thế Giới Nhà đã thanh toán 50% giá trị hợp đồng cho công ty VINA Như vậy, công ty VINA đã vi phạm hợp đồng theo nguyên tắc số 007, nên phải chịu đền bù 5% giá trị hợp đồng theo như hai bên đã thỏa thuận tại điều 5 của hợp đồng nguyên tắc số 007.”
“Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc Công ty Hồng Hà Bình Dương và Công ty VINA tiếp tục thực hiện hợp đồng nguyên tắc số 007 là không đúng.”
Câu 3: Vì sao Tòa án nhân đân tối cao theo hướng nêu trên? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Theo cách giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao ta có thể thấy đây là một cách giải quyết tốt đối với hai bên đương sự Để bảo đảm quyền của Công ty VINA thì Tòa án nhân dân tối cao đã xem xét sau khi Công ty VINA khi vi pham hợp đồng bắt buộc phải đền bù cho bên kia tối đa là 5% giá trị hợp đồng Đồng nghĩa với việc không phải bắt buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng, bác bỏ hoàn toàn đối với cách giải quyết của Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm
Trang 2Đoạn cho thấy câu trả lời là:
“Theo quy định tại Hợp đồng nguyên tắc số 007/09/DMVN-HHDT ngày 10/10/2009, giữa Công ty VINA với Công ty Hồng Hà Bình Dương, thì các bên buộc phải hoàn thành các cam kết tại Hợp đồng nguyên tắc để làm cơ sở cho việc ký kết hợp đồng chính thức
về việc chuyển nhượng, bên vi phạm phải đền bù cho bên kia tối đa 5% giá trị hợp đồng Công ty VINA đã từ chối ký hợp đồng chính thức về việc chuyển nhượng ngày 19/11/2009, Công ty VINA đã ký kết Hợp đồng số 303/DMVN-HHDT chuyển nhượng tài sản và nhà xưởng gắn liền với quyền sử dụng đất cho Công ty Thế Giới Nhà Công ty Thế Giới Nhà đã thanh toán 50% giá trị Hợp đồng cho Công ty VINA Như vậy, Công ty VINA vi phạm Hợp đồng nguyên tắc số 007, nên phải chịu đền bù 5% giá trị hợp đồng theo như hai bên đã thỏa thuận tại Điều 5 của Hợp đồng nguyên tắc số 007”.
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao.
Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao là rất sáng suốt và hợp lý Ngay từ đầu công ty VINA luôn từ chối thực hiện hợp đồng và sẵn sàng chịu phạt 5% theo cam kết tại hợp đồng số 007 Trên cơ sở đó, Tòa án nhân dân tối cao đã xử lý theo hướng công ty VINA hủy bỏ chấm dứt hợp đồng thì phải chịu phạt 5% giá trị hợp đồng theo thỏa thuận trước đó của hai bên Nếu ép buộc công ty VINA phải tiếp tục thực hiện hợp đồng sẽ ảnh hưởng đến quyền tự do giao kết của công ty này vì từ đầu công ty VINA đã không thực
sự có ý muốn thực hiện Bù lại công ty VINA cũng đã chấp nhận bồi thường cho công ty VINA đúng theo những gì hợp đồng đã quy định Ta thấy rằng hướng giải quyết của Tòa
án nhân dân tối cao đã đảm bảo quyền lợi cho các bên
Câu 5: Đối với vụ việc trong Bản án số 01, bên bán có vi phạm nghĩa vụ giao cà phê không ? Vì sao ?
Đối với vụ việc trong Bản án số 01, bên bán có vi phạm nghĩa vụ giao cà phê vì : Ông Hữu, bà Thanh có xác lập 4 hợp đồng mua bán cà phê nhân xô đã quy chuẩn là có trên thực tế Việc xác lập mua bán giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện Hai ông bà đã nhận của bà Phượng tiền cà phê nhưng đã không giao cà phê cho bà Phượng đúng thời điểm, tức đã vi phạm nghĩa vụ giao cà phê theo Điều 428
Điều 428 Hợp đồng mua bán tài sản
Trang 3Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán.
Câu 6: Tòa án có buộc bên bán phải tiếp tục giao cà phê không?
Tòa án không buộc bên bán tiếp tục giao cà phê, Tòa chỉ buộc bên bán giao trả cho bên mua lượng cà phê tương ứng với số tiền bên bán đã nhận
Trong phần Quyết định: “Buộc ông Trần Duy Hữu và bà Trần Thị Thanh có trách nhiệm
giao trả cho bà Nguyễn Thị Phượng 7.729,67kg cà phê nhân xô đã quy chuẩn.”
Câu 7: Trên cơ sở văn bản, có quy định nào cho phép Tòa án buộc bên bán phải tiếp tục giao cà phê không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
Theo khoản 1 Điều 358 BLDS 2015 quy định về trách nhiệm do không thực hiện:
“1 Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện một công việc mà mình phải thực hiện thì bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện…”
Đây là cơ sở cho phép Tòa án buộc bên bán phải tiếp tục giao cà phê
Câu 8: Cho biết những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS
2015 và BLDS 2005 về chủ thể đang được nghiên cứu.
Trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ là quy định mới được bổ sung tại Điều 352 BLDS 2015, BLDS 2005 chưa có quy định Về nội dung đã ghi nhận được nguyên tắc đó
là khi có vi phạm nghĩa vụ thì trách nhiệm đầu tiên là trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ Ở Việt Nam, ưu tiên hàng đầu là nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ để đạt được mục đích các bên cần thực hiện
Tuy nhiên trong thực tiễn cho thấy có những trường hợp nguyên tắc này không thể áp dụng được Nếu khi có luật mới không cho phép áp dụng thực hiện thì trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ không được áp dụng Hay trường hợp việc tiếp tục thực hiện trách nhiệm trái với thuần phong mĩ tục
Ở Việt Nam, chế tài xử lý đối với trường hợp khi buộc phải tiêp tục thực hiện mà người
có nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện không thực hiện chưa được quy định cụ thể trong BLDS 2015 Ở nước ngoài có chế tài bổ sung khi người có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ không thực hiện đó là phải trả khoản tiền Theo khoản 2, điều 438 BLDS 2015:
“Trường hợp bên mua đã trả tiền nhưng chưa nhận vật do giao không đồng bộ thì được trả lãi đối với số tiền đã trả theo lãi suất thỏa thuận giữa các bên nhưng không được vượt
Trang 4quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này và yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại do giao vật không đồng bộ, kể từ thời điểm phải thực hiện hợp đồng cho đến khi vật được giao đồng bộ.” Đây được xem như là một sự manh nha của cơ chế này trong pháp luật Việt Nam
Việc bổ sung điều luật này giúp các bên tham gia giao kết hợp đồng phải làm tròn bổn phận và trách nhiệm của mình đồng thời sẽ đảm bảo lợi ích của bên có quyền
Trang 5 VẤN ĐỀ 2: Đơn phương chấm dứt, hủy bỏ do không thực hiện đúng hợp đồng
Câu 1: Điểm giống và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm:
Giống nhau:
Về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng:
- Hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, hay nói cách khác, là không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự kể từ thời điểm giao kết hợp đồng
- Các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả;
- Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường;
- Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do BLDS, luật khác có liên quan quy định
Khác nhau:
Về điều kiện, nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng:
Trang 6-Là hợp đồng không hợp pháp, không
có giá trị pháp lý ràng buộc quyền và
nghĩa vụ giữa các bên.1
-Do hợp đồng vì phạm các điều kiện
có hiệu lực tại Điều 117, BLDS 2015:
+ năng lực chủ thể;
+ ý chí: sự tự nguyện của các bên
+ điều kiện nội dung, mục đích hợp
đồng ;
+ điều kiện về hình thức
-Phải được Tòa án tuyên bố vô hiệu
khi có yêu cầu
- Là việc một bên đơn phương tuyên
bố việc tiêu hủy hợp đồng khi có căn
cứ do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định là điều kiện hủy bỏ hợp đồng.2
- Một bên có quyền đơn phương hủy
bỏ khi có một trong các căn cứ tại khoản 1 Điều 423, BLDS 2015:
+ Bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận; + Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa
vụ hợp đồng;
+ Trường hợp khác do Luật định
-Không cần Tòa án tuyên bố, mà các bên có quyền tự hủy bỏ
Câu 2: Theo Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị hủy bỏ ?
Theo Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu
“Vô hiệu hợp đồng mua bán xe ô tô ngày 26/5/2012 giao kết giữa công ty TNHH MTV Đông Phong Cần Thơ với ông Trương Văn Liêm.”
Câu 3: Suy nghĩ của anh/chị về phương hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (về hủy bỏ hay vô hiệu hợp đồng).
Tôi đồng ý với quan điểm của tòa rằng hợp đồng mua bán xe ô tô ngày 26/5/2012 vô hiệu, bởi :
- Về chủ thể: Hợp đồng ghi bên mua là “Trang trí nội thất Thanh Thảo”, người đại diện Nguyễn Thị Dệt là không đúng vì bà Dệt không đại diện cho Trang trí nội thất Thành Thảo mà thực chất là Công ty TNHH-SX-TM Thành Thảo do Trương Hoàng Thành làm Giám đốc đại diện
1 Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thương thiệt hại ngoài hợp đồng của trường Đại học Luật TP HCM, Tái bản lần thứ 1, có sửa đổi bổ sung, trang 222;
2 Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thương thiệt hại ngoài hợp đồng của trường Đại học Luật TP HCM, Tái bản lần thứ 1, có sửa đổi bổ sung, trang 254.
Trang 7- Mặt khác: Hợp đồng ghi đại diện bên mua là bà Nguyễn Thị Dệt nhưng đứng ra giao dịch ký kết lại là ông Trương Văn Liêm là không đúng quy định của pháp luật
Xét về lỗi dẫn tới vô hiệu hợp đồng của các bên giao dịch là ngang nhau, do đó các bên không phát sinh quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng mà các bên đã ký cho nên hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận là có cơ sở
Câu 4: Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp đồng không?
Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì không áp dụng phạt vi phạm, vì:
Thứ nhất, cần hiểu bản chất của phạt vi phạm hợp đồng: “phạt vi phạm là sự thỏa thuận
giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm” (theo khoản 1 Điều 418 BLDS 2015)
Có thể hiểu rằng, phạt vi phạm chỉ phát sinh khi có thỏa thuận trong hợp đồng, và có vi phạm; nếu không có thỏa thuận hoặc có thỏa thuận nhưng không vi phạm thì không phát sinh phạt vi phạm hợp đồng
Thứ hai, xét trong trường hợp hợp đồng bị vô hiệu, có nghĩa rằng hợp đồng không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, do đó, không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên từ thời điểm giao kết
Vì thế, sự thỏa thuận về phạt vi phạm trong hợp đồng cũng sẽ đương nhiên không có hiệu lực, và không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của bên vi phạm và bên bị vi phạm; bởi thế, không có căn cứ để áp dụng phạt vi phạm hợp đồng khi hợp đồng vô hiệu
Cơ sở pháp lý: Điều 131, BLDS 2015 về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu không nêu phạt vi phạm là một hậu quả pháp lý khi giao dịch (hợp đồng) bị tuyên là vô hiệu
Câu 5: Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi trên như thế nào và suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết này của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi khi hợp đồng bị
vô hiệu thì không áp dụng phạt vi phạm hợp đồng
Theo tôi, hướng giải quyết không áp dụng phạt vi phạm hợp đồng trên là hợp lí nhưng cách lí giải của Tòa án chưa thỏa đáng Việc áp dụng phạt vi phạm hợp đồng áp dụng khi
có sự thỏa thuận giữa hai bên theo Điều 418 BLDS 2015:
Trang 8“1 Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm
nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
2 Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
3 Các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.
Trường hợp các bên có thoả thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm”
Ở đây không có thỏa thuận về việc phạt vi phạm nên không áp dụng chứ không phải vì lí
do hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh và nghĩa vụ của các bên ngay từ thời điểm giao kết, không ràng buộc trách nhiệm các bên đã giao kết trong hợp đồng
Câu 6: Điểm giống nhau và khác nhau giữa đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm.
Điểm giống nhau:
- Đều do các bên thỏa thuận
- Tuân theo quy định của Pháp luật (tham khảo Khoản 1, Điều 520)
- Nếu không có quy định hoặc thỏa thuận thì chỉ được đơn phương chấm dứt, hủy
bỏ khi bên kia vi phạm nghiêm trọng hợp đồng
Điểm khác nhau:
Hủy bỏ hợp đồng (Điều 423)
Đơn phương chấm dứt hợp đồng (Điều 428)
Nếu hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng như
không có hiệu lực từ thời điểm giao kết
Các bên phải hoàn trả cho nhau
những gì đã nhận
Nếu hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực trước khi chấm dứt
Chỉ mất hiệu lực sau khi chấm dứt
Trang 9Câu 7: Ông Minh có được quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng nêu trên không?
Vì sao? Nếu có, nêu rõ văn bản cho phép hủy bỏ.
Căn cứ khoản 1 Điều 423 BLDS 2015:
“Một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp
sau đây:
…
b) Bên kia vi phạm nghĩa vụ hợp đồng;
…”
Khoản 2 Điều 423 BLDS 2015: “Vi phạm nghiêm trọng là việc không thực hiện đúng
nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”.
Ông Cường đã nhận đất mà không trả tiền dù ông Minh đã nhắc nhở nhiều lần, ông Cường đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền làm cho ông Minh không đạt được mục đích của hợp đồng chuyển nhượng là thu lại được một khoản tiền Như vậy theo khoản 2 Điều 423 BLDS 2015 ông Cường đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng Căn cứ vào khoản
1 Điều 423 BLDS 2015, lúc này ông Minh có quyền hủy bỏ hợp đồng nêu trên
Trang 10 VẤN ĐỀ 3: Đứng tên giùm mua bất động sản
Câu 1: Việc Tòa án nhân dân tối cao xác định nhà có tranh chấp do bà Tuệ bỏ tiền
ra mua và nhờ ông Bình , bà Vân đứng tên hộ có thuyết phục không? Vì sao ?
Việc Tòa án nhân dân tối cao xác định nhà có tranh chấp do bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ ông Bình , bà Vân đứng tên hộ có thuyết phục vì :
Căn cứ “ Giấy cam đoan xác định tài sản nhà ở” có nội dung xác nhận căn nhà số 16-B20
là do bà Tuệ bỏ tiền mua và nhờ ông Bình, bà Vân đứng tên hộ Giấy cam đoan này có chữ ký của ông Bình và bà Vân Ngoài ra “ Giấy khai nhận tài sản “ của bà Tuệ cũng có nội dung căn nhà số 16-B20 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà
ở Nhưng do bà Tuệ là người VN định cư ở nước ngoài không đứng tên mua nhà được nên nhờ ông Bình , bà Vân đứng tên hộ Giấy này có chữ ký của bà Tuệ, bà Vân và ông Bình ký tên dưới mục người đứng tên mua hộ Và sau khi giám định thì hai loại giấy tờ này là chữ ký và chữ viết của ông Bình Mặt khác, tại Biên bản hòa giải , ông Bình cũng
đã thừa nhận nhà 16-B20 là bà Tuệ cho tiền mua và nhờ bà Vân đứng tên cùng mua Anh Hải con ông Bình cũng khẳng định nhà 16-B20 là do bà Tuệ mua Do đó việc xác định bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ ông Bình, bà Vân đứng tên hộ là có căn cứ
Câu 2: Ở thời điểm mua nhà trên, bà Tuệ có được đứng tên không? Vì sao?
Ở thời điểm mua nhà trên, bà Tuệ không được đứng tên mua nhà nhưng do thời điểm đó
bà Tuệ đang sống ở Nhật nên pháp luật Việt Nam không cho phép mua nhà, vì vậy bà đã
nhờ chú ruột là ông Bình mua giúp, trong bản án có đoạn: “tại Hợp đồng mua nhà ngày
11/12/1992 đã ghi bên mua là ông Bình và bà Vân”, “Ngày 25/5/2001, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở đứng tên ông Bình và bà Vân”.
Câu 3: Ở thời điểm hiện nay, bà Tuệ có được đứng tên mua nhà ở tại Việt Nam không?
Ở thời điểm hiện nay, bà Tuệ đã được quyền đứng tên mua nhà ở Việt Nam Thời điểm này Luật đất đai 1993 quy định Việt kiều chỉ được quyền thuê nhà (mà không được quyền sở hữu) không còn có hiệu lực Điều 7 Luật nhà ở 2014 và khoản 6 Điều 5 Luật đất đai 2014 đã làm thay đổi câu trả lời trên, với quy định cho phép người Việt Nam định cư
ở nước ngoài được quyền sở hữu nhà, đất ở Việt Nam (kèm một số điều kiện được quy định trong Bộ luật Dân sự và Luật hộ tịch) đã cho thấy, bà Tuệ được quyền đứng tên mua nhà tại Việt Nam thời điểm hiện tại