Để đạt được các mục đích nghiên cứu cơ bản như trên, nhiệm vụ cụ thể của luận án gồm: - Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT như phâ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN THÙY LINH
KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG THEO PHÁP LUẬT
CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN THÙY LINH
KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG THEO PHÁP LUẬT
CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành đào tạo: Luật Kinh tế
Mã số 9 38 01 07
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS Bùi Nguyên Khánh
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tác giả luận án
Trần Thùy Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Bùi Nguyên Khánh – người hướng dẫn khoa học 1 và TS Vũ Đặng Hải Yến – người hướng dẫn khoa học 2, đã tận tình hướng dẫn tác gỉả hoàn thành bản luận án này
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, các thầy, cô, anh, chị, em, bạn bè đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ và đóng góp những ý kiến quý báu để tác giả có thể hoàn thành được luận án của mình
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH TRONG LUẬN ÁN vii
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Những điểm mới của luận án 4
6 Kết cấu của Luận án 5
PHẦN TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 6
1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường 6
1.1 Những nghiên cứu về lý luận kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 6
1.2 Những nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 9
1.3 Những nghiên cứu về xu hướng pháp luật và những giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 14
2 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 17
3 Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu 20
4 Cơ sở lý thuyết và câu hỏi nghiên cứu 20
4.1 Cơ sở lý thuyết 20
4.2 Câu hỏi và giả thiết nghiên cứu đặt ra khi nghiên cứu luận án 22
KẾT LUẬN PHẦN TỔNG QUAN 23
CHƯƠNG 1 24
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG 24
1.1 Kiếm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 24
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 24
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và mục đích của kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 34
1.1.3 Các công cụ kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 39
Trang 61.2 Pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 42
1.2.1 Khái niệm pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 42
1.2.2 Mục tiêu kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của pháp luật cạnh tranh 43
1.2.3 Các cách tiếp cận về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 46
1.2.4 Cấu trúc pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 49
1.3 Mô hình kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trường theo pháp luật cạnh tranh các nước 59
1.3.1 Kinh nghiệm của EU 59
1.3.2 Kinh nghiệm của Hoa Kỳ 62
1.3.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 66
CHƯƠNG 2 67
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI VIỆT NAM 67
2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về kiểm soát hành vi lạm dụng trí thống lĩnh thị trường 67
2.1.1 Quy định về nhận diện doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường 67
2.1.2 Quy định về xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 80
2.1.3 Quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 103
2.1.4 Hậu quả pháp lý của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 108
2.2 Thực trạng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và thực tiễn thi hành pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 114
2.2.1 Thực trạng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam 114
2.2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường ở Việt Nam 123
2.2.3 Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế trong việc thi hành pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường 128
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 132
CHƯƠNG 3 133
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VỀ KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 133
3.1 Phương hướng hoàn thiện 133
3.1.1 Đáp ứng các yêu cầu trong xu thế hội nhập kinh tế, thích ứng với môi trường kinh doanh toàn cầu và phù hợp với các cam kết quốc tế 133
Trang 73.1.2 Duy trì và bảo vệ môi trường cạnh tranh bình đẳng, hiệu quả nhưng không
cản trở mục tiêu đổi mới và tăng trưởng của mỗi doanh nghiệp 134
3.1.3 Thể hiện rõ hơn yêu cầu về kết hợp chặt chẽ giữa tư duy kinh tế và tư duy pháp lý 136
3.1.4 Xác định rõ mối liên hệ giữa Luật cạnh tranh và các Luật chuyên ngành, đảm bảo chính sách điều tiết ngành trong những lĩnh vực nhất định 137
3.2 Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường của Việt Nam 138
3.2.1 Hiện đại hóa phương pháp tiếp cận trong việc xây dựng các quy định về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 138
3.2.2 Hoàn thiện quy định về xác định thị trường liên quan 141
3.2.3 Hoàn thiện quy định về xác định vị trí thống lĩnh thị trường 143
3.2.4 Hoàn thiện quy định về xác định hành vi lạm dụng 149
3.2.5 Hoàn thiện quy định về các biện pháp xử lý hành vi lạm dụng 157
3.2.6 Hoàn thiện quy định về cơ chế thực thi 160
KẾT LUẬN 165
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 166
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
CQCT Cơ quan Cạnh tranh
CQLCT Cục Quản lý Cạnh tranh
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
ECJ European Court of Justice
Tòa án công lý liên minh Châu Âu
Liên minh Châu Âu
Hiệp định thương mại tự do
HCCT Hạn chế cạnh tranh
ICN International Competition Network
Mạng lưới Cạnh tranh quốc tế
NĐ – CP Nghị định - Chính phủ
VTTLTT Vị trí thống lĩnh thị trường
OECD Organization for Economic Cooperation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
UNCTAD United Nations Conference on Trade and Development
Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc SSNIP Small but Significant and Non-Transitory Increase in Price
Phép thử độc quyền giả định TEFU Treaty on the Functioning of the European Union
Công ước về chức năng của liên minh Châu Âu
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH TRONG LUẬN ÁN
Bảng 2.1: Số vụ việc lạm dụng VTTLTT điều tra, xử lý giai đoạn 2006-2017 125
Bảng 2.2: Số vụ việc HCCT giai đoạn 2006 – 2016 126
Biểu đồ 2.1: Số vụ việc HCCT giai đoạn 2006 - 2016 126
Biểu đồ 2.2: Phân loại vụ việc điều tra tiền tố tụng giai đoạn 2006 - 2014 126
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ sự tích tụ kinh tế trong quá trình cạnh tranh, từ những điều kiện tự nhiên của thị trường như yêu cầu về quy mô hiệu quả tối thiểu, sự tồn tại của các rào cản gia nhập thị trường, sự dị biệt của sản phẩm, sự bảo hộ của quyền lực nhà nước đã làm hình thành các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Những doanh nghiệp này nắm giữ quyền lực thị trường và thường có khuynh hướng khai thác quyền lực đó bằng cách tác động mạnh mẽ đến các yếu tố của thị trường (về giá cả, sản lượng, chất lượng…) để tận thu lợi ích từ khách hàng, người tiêu dùng và triệt tiêu khả năng cạnh tranh của đối thủ nhằm duy trì vị thế của mình Hậu quả là, làm giảm động lực phát triển của nền kinh tế (các doanh nghiệp thống lĩnh vẫn có thể thu được lợi nhuận tối đa mà không cần cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm…), xâm hại đến lợi ích của người tiêu dùng (quyền lựa chọn của người tiêu dùng bị hạn chế, do đó phải mua hàng chất lượng kém hơn với giá đắt hơn do doanh nghiệp thống lĩnh áp đặt….), làm méo mó, giảm tính cạnh tranh của thị trường (các doanh nghiệp đối thủ bị chèn ép phải rút khỏi thị trường hoặc không thể gia nhập thị trường) Về mặt lý thuyết, cơ chế tự điều chỉnh của thị trường có khả năng làm cho vị thế thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp suy yếu dần và cuối cùng bị triệt tiêu Nhưng chính những hành vi lạm dụng của doanh nghiệp thống lĩnh thị trường dường như làm vô hiệu hóa cơ chế tự điều chỉnh của thị trường bằng việc tạo ra những rào cản mở rộng kinh doanh hay rào cản gia nhập thị trường của đối thủ cạnh tranh, khiến cho doanh nghiệp thống lĩnh né tránh được sức ép cạnh tranh từ các đối thủ có thể làm lung lay vị thế thống lĩnh của nó hoặc lạm dụng quyền lực mạnh trên thị trường của mình để bóc lột khách hàng, gây thiệt hại cho khách hàng Khi đó, sự can thiệp của Nhà nước đối với thị trường ở mức độ nhất định là cần thiết để đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh, là cơ sở quan trọng cho sự vận hành năng động, hiệu quả của nền kinh thị trường Sự can thiệp của nhà nước đối với thị trường được thực hiện thông qua nhiều công cụ khác nhau, trong đó, pháp luật cạnh tranh được coi là công cụ quan trọng và hiệu quả nhất
Luật cạnh tranh đầu tiên của Việt Nam ra đời năm 2004 với các quy định về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường khá đầy đủ, cụ thể và chi tiết Tuy nhiên, sau hơn 10 năm thực thi, các quy định này đã bộc lộ nhiều hạn chế Việc áp dụng các quy định về lạm dụng VTTLTT để xác định doanh nghiệp có VTTLTT, nhận diện và xử lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường còn rất
Trang 11khó khăn, phức tạp Giai đoạn từ 2006 đến 2017 Cục quản lý cạnh tranh (CQLCT),
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam về quản lý cạnh tranh, mới chỉ thụ
lý điều tra được 8 vụ việc về hạn chế cạnh tranh (HCCT), trong đó có 4 vụ việc liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường Để khắc phục những bất cập của luật cạnh tranh 2004, đồng thời, đáp ứng đòi hỏi về hoàn thiện các thể chế kinh
tế thị trường, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu với sự tham gia sâu rộng của Việt Nam vào các sân chơi chung của khu vực và thế giới như: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự
do Việt Nam – EU (EVFTA)… , Luật cạnh tranh 2018 đã được ban hành với nhiều sửa đổi tích cực liên quan đến kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT Đến nay, Luật cạnh tranh 2018 đã có hiệu lực song nhiều nội dung vẫn chưa được hướng dẫn Vì vậy, trong bối cảnh giao thời này, việc nghiên cứu, đánh giá các quy định của Luật cạnh tranh 2004 và nhận thức về nội dung của Luật cạnh tranh 2018 và tìm cách đưa nó vào cuộc sống là hết sức cần thiết
Bởi vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay” để nghiên
cứu với hy vọng rằng kết quả nghiên cứu đề tài sẽ có ý nghĩa đáng kể cho cải cách môi trường cạnh tranh ở Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn thực thi pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, luận án hướng đến mục đích xây dựng các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường tại Việt Nam
Để đạt được các mục đích nghiên cứu cơ bản như trên, nhiệm vụ cụ thể của luận án gồm:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT như phân tích và làm rõ các khái niệm thống lĩnh thị trường, lạm dụng VTTLTT; mục tiêu kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường của pháp luật cạnh tranh; các học thuyết về kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường; nội dung điều chỉnh pháp luật cạnh tranh đối với hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường
- Tìm hiểu kinh nghiệm của các hệ thống pháp luật khác (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản) trong việc kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường để rút ra những bài học cho Việt Nam
Trang 12- Phân tích, đánh giá thực trạng điều chỉnh pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT của Việt Nam
- Phân tích, đánh giá thực trạng và tìm hiểu nguyên nhân cho việc thực thi chưa hiệu quả các quy định của luật cạnh tranh Việt Nam hiện nay về chống lạm dụng VTTLTT
- Từ thực tiễn của Việt Nam và một số hệ thống pháp luật được lựa chọn để nghiên cứu đề xuất định hướng và các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về cạnh tranh;
- Các quy định pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT của Việt Nam
- Thực tiễn áp dụng pháp luật về về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT của Việt Nam Các báo cáo, tổng kết tình hình thực thi pháp luật về về kiểm soát hành
vi lạm dụng VTTLTT của Việt Nam
- Kinh nghiệm của EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT
- Các quan điểm khoa học đã được các tác giả cá nhân và các tổ chức công bố trong các nghiên cứu về cạnh tranh nói chung và hành vi lạm dụng VTTLTT nói riêng cả trong và ngoài nước
Luận án chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT, như vậy sẽ không bao gồm các hành vi lạm dụng quy định riêng cho doanh nghiệp độc quyền như cách phân chia của Luật Cạnh tranh Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận,
thực trạng quy định và thực tiễn thực thi pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT tại Việt Nam; những vấn đề lý luận và quy định pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT tại Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản cũng được nghiên cứu để đề xuất bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT trong khoảng thời gian từ năm 2004 đến thời điểm hiện tại
- Phạm vi về văn bản quy phạm pháp luật: Nghiên cứu các quy định về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT trong Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành, bao gồm Luật cạnh tranh 2004, Luật cạnh tranh 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Trang 134 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu, tác giả sẽ sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý như phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê trong đó phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp so sánh Cụ thể: Phương pháp phân tích – tổng hợp: Việc phân tích trước hết được thực hiện với các quy định luật thực định để phân tích, giải thích và hệ thống hóa các quy định cụ thể của các hệ thống pháp luật được nghiên cứu Mục đích của việc phân tích – tổng hợp các quy định pháp luật là cung cấp một cái nhìn toàn diện, đầy đủ về các quy định liên quan đến kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT của các hệ thống pháp luật có liên quan đồng thời đưa ra đánh giá việc thực thi các quy định đó Các nguồn được sử dụng để phân tích bao gồm văn bản pháp luật, án lệ, các học thuyết Phương pháp phân tích cũng được sử dụng đối với các vụ việc thực tiễn, án lệ từ quá trình thực thi pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT ở Việt Nam và một số hệ thống pháp luật điển hình trên Thế Giới Việc phân tích các tình huống nhằm tìm hiểu và đánh giá việc áp dụng các quy định liên quan trên thực tiễn, tìm ra những điểm chưa đầy đủ, những điểm còn bất hợp lý trong các quy ðịnh của pháp luật Ðồng thời việc sử dụng case study sẽ bổ trợ cho những lý lẽ, luận giải và kiến nghị mà nghiên cứu đưa ra
Phương pháp so sánh: Phương pháp này được dùng để xác định những điểm giống nhau và khác nhau của các quy định trong các hệ thống pháp luật được nghiên cứu liên quan đến chống hành vi lạm dụng VTTLTT Việc so sánh, đối chiếu nhằm chỉ ra những điểm tương đồng, khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT Trên cơ sử so sánh, giải thích và đánh giá, luận án sẽ chỉ ra những giải pháp pháp lý phù hợp cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT
5 Những điểm mới của luận án
Trên cơ sở tiếp thu và kế thừa kết quả nghiên cứu ở các công trình khoa học
của các tác giả đi trước, luận án “Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay” có những điểm mới như
sau:
Thứ nhất, Luận án đã hệ thống, bổ sung và làm sâu sắc những vấn đề lý
luận về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường Luận án xây dựng và làm rõ nội hàm khái niệm kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Trang 14trường Luận án cũng đã phân tích và làm rõ khái niệm, mục tiêu, các quan điểm tiếp cận về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và cấu trúc pháp luật về kiểm soát các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh
Thứ hai, Luận án đã phân tích khá đầy đủ, chi tiết và có hệ thống thực
trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường ở Việt Nam hiện nay Bằng phương pháp so sánh, luận
án đã chỉ ra những điểm tương đồng, mức độ hội nhập giữa các quy định của Luật cạnh tranh Việt Nam với Luật mẫu về cạnh tranh của UNCTAD và một số
hệ thống pháp luật điển hình về cạnh tranh như Hoa Kỳ, EU
Thứ ba, Luận án đã phân tích những yêu cầu hoàn thiện pháp luật về kiểm
soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nhằm vừa đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp vừa đảm bảo mục tiêu của pháp luật cạnh tranh Trên cơ sở đó, Luận án đã đề xuất những giải pháp mang tính khoa học nhằm hoàn thiện pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường ở Việt Nam trong thời gian tới
6 Kết cấu của Luận án
Ngoài Mục lục, Mở đầu, Phần tổng quan tình hình nghiên cứu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận án được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và thực tiễn thi hành tại Việt Nam
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật cạnh tranh về
kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường ở Việt Nam
Trang 15PHẦN TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường
Mặc dù trong thực tế các trường hợp lạm dụng VTTLTT xảy ra khá thường xuyên nhưng số lượng các công trình nghiên cứu chuyên ngành dành riêng cho lĩnh vực này có thể được coi là không được dồi dào như đối với các lĩnh vực khác của pháp luật cạnh tranh Năm 1890, khi đạo luật Sherman được thông qua tại Hoa Kỳ, trở thành đạo luật đầu tiên trên thế giới về kiểm soát độc quyền, việc nghiên cứu về pháp luật cạnh tranh đã được bắt đầu Nhưng phải đến đầu những năm 50 của thế kỷ 20, mới xuất hiện những nghiên cứu đầu tiên về lạm dụng VTTLTT sau khi các quy định liên quan của Liên minh Châu Âu có hiệu lực Các nội dung nghiên cứu có liên quan đến chủ đề lạm dụng VTTLTT chủ yếu nằm trong những nghiên cứu chung về luật cạnh tranh, chính sách cạnh tranh, đặc biệt là về luật và chính sách cạnh tranh của Liên minh Châu Âu (EU), Hoa
Kỳ hay nằm trong những nghiên cứu mang tính so sánh giữa luật và chính sách cạnh tranh của EU và Hoa Kỳ, vốn được coi là hai mô hình cơ bản của pháp luật cạnh tranh trên Thế Giới
1.1 Những nghiên cứu về lý luận kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Những nghiên cứu về lý luận kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT tập trung vào làm rõ các khái niệm thống lĩnh thị trường, quan điểm về hành vi lạm dụng VTTLTT, sự cần thiết và cơ chế kiểm soát hành vi lạm dụng vị VTTLTT Trong
các nghiên cứu, thuật ngữ “độc quyền” đôi khi được sử dụng thay thế cho thuật ngữ
“thống lĩnh thị trường” với bản chất không thay đổi
Về quan niệm hay khái niệm thống lĩnh thị trường Nghiên cứu của các tác
giả Marcel Canoy, Eric van Damme và Rey “Dominance and monopolization”
(Thống lĩnh và độc quyền) [37] cho rằng, về mặt khái niệm thì thống lĩnh thị
trường (dominance theo cách gọi của luật cạnh tranh EU) hay độc quyền thị trường (monopoly theo cách gọi của luật chống độc quyền Hoa Kỳ) đều để chỉ vị
trí đặc quyền của một doanh nghiệp, mang lại cho nó khả năng hành động một cách độc lập với các đối thủ cạnh tranh, biểu hiện ở khả năng dẫn dắt thị trường của nó Nghiên cứu cho rằng rất khó xác định rõ ràng được là hiện tượng thống lĩnh thị trường hay độc quyền sẽ làm suy giảm hay tăng cường phúc lợi xã hội Trên thực tế, việc thiết kế chính sách đối với các doanh nghiệp thống lĩnh hay độc quyền cũng đưa lại hai thái cực Nghiên cứu minh chứng bằng quan điểm
Trang 16của trường phái Chicago thể hiện quan điểm khá thoải mái với các doanh nghiệp thống lĩnh/ độc quyền, cho rằng doanh nghiệp thống lĩnh nhìn chung là tốt cho người tiêu dùng, tạo ra nhiều công ăn việc làm, khai thác tốt và cải tạo quy mô nền kinh tế Trái ngược với quan điểm đó, trường phái “châu Âu cũ” (Old European) thể hiện sự lo lắng về sự tồn tại của các doanh nghiệp thống lĩnh sẽ cản trở sự vận hành của các quy luật thị trường Giá cả sẽ được quyết định bởi số
ít các doanh nghiệp, sự cạnh tranh sẽ bị biến dạng, các doanh nghiệp nhỏ sẽ không có cơ hội tồn tại Các tác giả cho rằng cần xem xét và tiếp thu tính hợp lý của cả hai quan điểm Không có lý do gì để có một thái độ thoải mái đối với các công ty thống lĩnh Từ góc độ kinh tế, có nhiều giả thuyết mạnh mẽ cho thấy rằng các công ty thống lĩnh có động cơ và lợi thế để làm giảm phúc lợi xã hội Không có dấu hiệu cho thấy các công ty thống lĩnh đứng ngoài hay là nhân tố cần thiết để đổi mới, cải cách kinh tế Quan điểm của các tác giả ủng hộ tự do cạnh tranh nhưng không coi nhẹ vai trò của chính phủ trong việc can thiệp vào thị trường khi cần thiết
Cuốn sách “Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và
kiểm soát độc quyền kinh doanh” trong khuôn khổ dự án hoàn thiện môi trường
kinh doanh VIE/97/016 đã định nghĩa “độc quyền trong kinh doanh là việc một doanh nghiệp hay một tập đoàn kinh tế với những điều kiện kinh tế, chính trị,
xã hội nhất định khống chế thị trường sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ”
Trong cuốn sách “Phân tích và luận giải các quy định của luật cạnh tranh về
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh" của PGS.TS Nguyễn Như Phát và Nguyễn Ngọc Sơn, mặc dù không trực
tiếp đưa ra khái niệm VTTLTT nhưng đã chỉ ra “vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền
có thể được hình thành từ sự tích tụ trong quá trình cạnh tranh; từ những điều kiện
tự nhiên của thị trường như: yêu cầu về quy mô hiệu quả tối thiểu, sự biến dị của sản phẩm, sự tồn tại của các rào cản gia nhập thị trường; hoặc sự bảo hộ của quyền lực nhà nước Trong những trường hợp nói trên, vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền của doanh nghiệp là hợp pháp và đem lại cho doanh nghiệp quyền lực thị trường, hay còn gọi là khả năng chi phối các quan hệ thị trường”[22, tr 11, 12] Tác giả
Phạm Hoài Huấn và Nhữ Ngọc Tiến trong cuốn sách “Pháp luật chống lạm dụng vị
trí thống lĩnh vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh về giá”, đã nhìn nhận VTTLTT
từ khả năng khống chế thị trường của doanh nghiệp Theo đó, “vị trí thống lĩnh thị trường liên quan đến sức mạnh kinh tế của một doanh nghiệp có khả năng ngăn
Trang 17chặn hữu hiệu cạnh tranh hiện có trên thị trường thông qua việc doanh nghiệp này
có khả năng hành xử trong phạm vi độc lập với đối thủ cạnh tranh[13, tr 22]
Về khái niệm hành vi lạm dụng VTTLTT và cơ chế kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT cũng được đề cập tại một số công trình nghiên cứu cả trong và ngoài
nước PGS.TS Nguyễn Như Phát có bài viết “Độc quyền và xử lý độc quyền”
đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật của Viện Nhà nước và Pháp luật số 8/2004 Bài viết chỉ ra mục đích quan trọng nhất của mảng pháp luật về kiểm soát độc quyền là chống độc quyền hóa, hạn chế hay thủ tiêu cạnh tranh – động lực phát triển kinh tế Pháp luật chống độc quyền không có ý định và khả năng thủ tiêu triệt để mọi hiện tượng độc quyền trong cơ cấu thị trường Vẫn biết rằng, độc quyền sẽ tạo sự sơ cứng cho phát triển kinh tế và vì thế, pháp luật cạnh tranh luôn tỉnh táo đề ngăn cản và dẹp bỏ mọi toan tính độc quyền hóa Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể, vì lý do phải đảm bảo lợi ích công cộng, vì tính chất và điều kiện đặc thù nhất thời của một ngành hay lĩnh vực kinh tế (thí dụ sản xuất vũ khí hay các phương tiện bí mật nhà nước) cần thiết và có thể cho phép duy trì độc quyền trong một lĩnh vực với mức độ và điều kiện nhất định Nói về sự cần thiết Nhà nước phải can thiệp vào thị trường trong trường hợp độc quyền, tác giả cho rằng “khi đối xử với các nhà độc quyền, pháp luật cần nhìn nhận nó như một sự "thống nhất" tạm thời của của các mặt đối lập, như một sự
"đứng yên" tương đối của sự vật và hiện tượng Trong trường hợp này, Nhà nước
và pháp luật cần xuất hiện dường như một "bàn tay hữu hình" để tạo đối trọng với nhà độc quyền
Luận án Tiến sĩ với đề tài Economic and Legal aspects of the competition
policy from the European Union-Abuse of Dominance Position của Laura Laze
[70] tiếp cận cả từ góc độ kinh tế và pháp lý, trong đó đặc biệt tập trung phân tích chính sách kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT Theo tác giả, chính sách cạnh tranh của Liên minh Châu Âu được hình thành nhằm đạt được hai mục tiêu chính: a) hỗ trợ thị trường trong liên minh (bằng cách cấm phân biệt giá giữa các nước thành viên, hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa để đảm bảo cơ hội bình đẳng, vv…)
và bảo đảm hiệu quả kinh tế (bằng cách duy trì và / hoặc cải thiện sự đa dạng, chất lượng và giá cả của hàng hóa và dịch vụ được cung cấp trong Liên minh) Tác giả
đã chỉ ra các khía cạnh cụ thể của chính sách cạnh tranh liên quan đến hành vi lạm dụng của các doanh nghiệp đang nắm giữ VTTLTT Tác giả cho rằng, mục tiêu trong chính sách cạnh tranh EU không thể đạt được nếu không có các quy định để
Trang 18điều chỉnh các hành động đơn phương của các công ty đang nắm giữ sức mạnh thị trường đáng kể làm phá vỡ sự cân bằng thị trường để duy trì hoặc tăng cường vị thế thị trường của họ Tuy nhiên, tác giả cũng nhấn mạnh các quy định về lạm dụng VTTLTT không nên can thiệp hay hạn chế khả năng cạnh tranh mạnh mẽ của các công ty thống lĩnh trên thị trường, miễn là hiệu ứng của hành vi kinh doanh của họ
có lợi cho người tiêu dùng
Giáo sư Federico Etro thuộc khoa Kinh tế, Đại học Milan trong bài viết The
Economics of Competition Policy and Dominant Market Position (Khía cạnh
kinh tế của chính sách cạnh tranh và vị trí thống lĩnh thị trường) [57], đã chỉ ra
việc xác định vị trí thống lĩnh cũng như hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh theo Luật cạnh tranh châu Âu đang kéo theo những phân tích kinh
tế mang tính phức tạp Nghiên cứu cũng phân tích về sự chuyển biến trong chính sách cạnh tranh dưới góc độ kinh tế học, trong đó VTTLTT được xem là trường hợp tham chiếu đặc biệt Tác giả đã đưa ra những quan điểm về các khía cạnh liên quan trong chính sách cạnh tranh của EU và những tranh luận về những cải cách của nó Tác giả cho rằng những tiến bộ gần đây trong lý thuyết kinh tế về chính sách cạnh tranh và VTTLTT đã nhấn mạnh nhu cầu về cách tiếp cận thận trọng hơn về chống độc quyền và vai trò dẫn dắt thị trường, đặc biệt là đối với thị trường công nghệ cao, thị trường mang tính năng động và sáng tạo Việc doanh nghiệp nắm giữ thị phần lớn không nên mặc nhiên hiểu là doanh nghiệp nắm giữ quyền lực thị trường hay có vị trí thống lĩnh, trong khi điều kiện gia nhập thị trường (cả ở thị trường truyền thống và thị trường công nghệ cao) nên
có một vai trò quan trọng trong việc xác định liệu doanh nghiệp dẫn đầu thị trường có thể thực hiện hành vi lạm dụng hay không
1.2 Những nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Liên quan đến thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT ở Việt Nam đã có nhiều bài viết, nghiên cứu, tiêu biểu phải kể đến các nghiên cứu sau đây:
Bài viết của tác giả Nguyễn Lan Anh với tiêu đề “Xác định thị trường liên
quan và vấn đề nhận dạng vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam” [1], đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số
7/2009 đã đề cập đến những nội dung pháp lý của việc xác định thị trường liên quan, ý nghĩa của nó khi nhận dạng thị trường độc quyền và một số những kiến nghị ban đầu nhằm hoàn thiện pháp luật về xác định thị trường liên quan ở Việt Nam
Trang 19Một trong những nghiên cứu nổi bật, bao quát về lạm dụng VTTLTT hiện nay
là “The Law and Economics of Arrtilce 102 TFEU” [76] Đây là một công trình
nghiên cứu đồ sộ và toàn diện về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT được quy định tại điều 102 Công ước về chức năng của liên minh Châu Âu (TFEU) Công trình nghiên cứu gồm có 18 phần, lần lượt giới thiệu, phân tích và làm rõ nguồn gốc, nền tảng lý thuyết của điều 102 TFEU; các khái niệm cơ bản: thị trường, thị trường liên quan, VTTLTT, lạm dụng…; các hành vi lạm dụng cụ thể: định giá hủy diệt, định giá quá mức, từ chối giao kết hợp đồng, bán kèm và bán trọn gói, ép giá,
áp đặt điều kiện bất hợp lý Các tác giả đã tiếp cận cả từ góc độ kinh tế học và góc
độ khoa học pháp lý để nghiên cứu việc áp dụng các quy định của điều 102 Công ước về chức năng của liên minh Châu Âu (TFEU) đối với các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường Những hành vi lạm dụng phổ biến của doanh nghiệp thống lĩnh, độc quyền được phân tích chi tiết dựa trên cả góc độ tiếp cận từ các nguyên tắc kinh tế, các vụ việc pháp lý thực tiễn, các bản án, quyết định của các cơ quan tài phán và các nghiên cứu pháp lý, kinh tế của các học giả
Eleanor Fox (1986), Monopolization and Dominance in the United States
and the European Community- Efficiency, Opportunity, and Fairness (Độc
quyền hóa và thống lĩnh thị trường ở Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu – Hiệu quả,
cơ hội và sự công bằng) [53] đã sử dụng phương pháp so sánh để phân tích, đánh
giá giải pháp lý của Hoa Kỳ về chống độc quyền với quy định của Cộng đồng chung châu Âu về kiểm soát lạm dụng VTTLTT Tác giả cho rằng các quy định pháp luật EC về chống lạm dụng VTTLTT được quy định cụ thể hơn so với quy định tương ứng của Hoa Kỳ Pháp luật EC quy định rõ cấm các doanh nghiệp có VTTLTT thực hiện các hành vi định giá quá mức, cấm sáp nhập làm hình thành doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, cấm thực hiện các chiến lược nhằm loại bỏ các đối thủ cạnh tranh, ngăn cản doanh nghiệp mới gia nhập thị trường, tước đoạt quyền tự do lựa chọn của người mua…Luật chống độc quyền Hoa Kỳ cấm các hành vi làm hình thành độc quyền và những hành vi lạm dụng độc quyền mang tính phản cạnh tranh, trong đó có thể bao gồm sáp nhập làm hình thành độc quyền và các hành vi bất hợp lý nhằm loại bỏ các chủ thể kinh doanh khác Luật chống độc quyền của Hoa Kỳ thể hiện quan điểm cho rằng một số các chiến lược kinh doanh nhằm gia tăng thị phần, thậm chí là của các công ty thống lĩnh, có thể mang lại nhiều lợi ích hơn là gây hại cho người tiêu dùng Nghiên cứu cũng đưa
ra tranh luận của một số học giả Mỹ ủng hộ quan điểm rằng người tiêu dùng sẽ
Trang 20được bảo vệ tốt nhất nếu quyền tự do của các công ty tư nhân được tôn trọng Ngược lại, pháp luật cộng đồng chung lại theo xu hướng chấp nhận giả định hầu như không thể bác bỏ (virtually exclusive presumtions) rằng hành vi của doanh nghiệp thống lĩnh nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh sẽ chống lại lợi ích của người tiêu dùng Tác giả cũng cho rằng sự khác biệt của hai hệ thống pháp luật sẽ cung cấp cho nhau những bài học kinh nghiệm để hoàn thiện
Nghiên cứu của Elenor M Fox, Monopolization and abuse of dominance:
Why Europe is different (Độc quyền hóa và lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường:
Tại sao ở châu Âu lại khác biệt) [54] đã chỉ ra rằng pháp luật Hoa Kỳ về chống
độc quyền và pháp luật của EU về chống lạm dụng VTTLTT có một số điểm chung Luật Cạnh tranh EU và Luật Chống Độc quyền Hoa Kỳ đều chống tất cả hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh với mục tiêu bảo vệ cạnh tranh, không bảo vệ đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên, sự khác biệt giữa chúng lại nằm ở những điểm khá cơ bản Sự khác biệt quan trọng thể hiện ở chỗ pháp luật về chống lạm dụng của EU mang tính cứng nhắc và có cơ chế can thiệp sâu hơn so với pháp luật Hoa Kỳ về chống độc quyền Mặc dù từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, pháp luật EU về chống lạm dụng VTTLTT có xu hướng coi trọng hiệu quả kinh
tế đồng thời với việc giữ gìn các mục tiêu, giá trị mang tính xã hội, cộng đồng khi xem xét, đánh giá hành vi thì pháp luật Hoa Kỳ về chống độc quyền lại càng
có xu hướng ít can thiệp hơn
Phillip Areeda và Donald F Turner (1975) có bài viết Predatory Pricing
and Related Practices under Section 2 of the Sherman Act (Định giá hủy diệt và
các hành vi liên quan theo mục 2 của đạo luật Sherman) [77] Các tác giả cho
rằng mặc dù Đạo luật Sherman từ lâu đã cấm hành vi định giá hủy diệt, nhưng thực tiễn xử lý các vụ việc về định giá hủy diệt cho thấy sự thiếu rõ ràng trong các quy định liên quan và đặc biệt là việc phân tích hành vi lại dựa trên rất ít những phân tích kinh tế cũng là một thiêu sót trong việc thực thi của điều 2 đạo luật Sherman Trong bài viết của mình, Giáo sư Areeda và Turner phân tích hành
vi định giá hủy diệt thông qua những phân tích kinh tế của hành vi Sau khi xem xét ngắn gọn các khái niệm kinh tế cơ bản liên quan đến đo lường chi phí và tối
đa hóa lợi nhuận, các tác giả xem xét các mối quan hệ giữa giá bán của sản phẩm
và chi phí của nó để xác định một đường phân chia hợp lý giữa giá cả cạnh tranh hợp pháp và giá được xác định rõ ràng là giá hủy diệt Sau đó, họ áp dụng khung phân tích kỹ thuật để phân biệt có định giá hủy diệt hay là giảm giá chung
Trang 21Pinar Akman (2008) có nghiên cứu Exploitative Abuse in Article 82 EC:
Back to Basics? (Lạm dụng trục lợi theo điều 82 EC: Quay trở lại các ván đề căn
bản) [78] Nghiên cứu tập trung làm rõ khái niệm “exploitative abuse” (hành vi lạm dụng mang tính trục lợi) và xác định vị trí của nó trong quy định của Điều 82
EC, cũng như xác định xem khi nào và trong hoàn cảnh nào thì sự trục lợi được xem hay nên được xem là lạm dụng Tác giả cho rằng, mặc dù không còn nghi ngờ
gì nữa, hành vi lạm dụng mang tính trục lợi là hành vi bị cấm theo điều 82EC, nhưng lại rất hiếm các tài liệu pháp lý, các nghiên cứu học thuật về vấn đề này, cho thấy sự sống của điều 82 EC chủ yếu thể hiện qua nội dung về lạm dụng loại trừ Tuy nhiên, việc xem xét riêng lạm dụng trục lợi hay lạm dụng loại trừ đều không mang lại ý nghĩa Bởi việc xem xét áp dụng các quy định về lạm dụng loại trừ nếu không có sự kết hợp cùng các quy định về lạm dụng bóc lột sẽ dẫn đến kết quả không mong muốn là chỉ bảo vệ các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp thống lĩnh Tương tự, việc xem xét hành vi lạm dụng trục lợi độc lập có thể dẫn đến kết quả không mong muốn là xử lý các hành vi trục lợi từ người tiêu dùng nhưng lại không gây hại cho cạnh tranh, do đó không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật cạnh tranh
Damien Geradin với bài viết The Necessary Limits to the Control of
'Excessive' Prices by Competition Authorities - A View from Europe (Sự cần
thiết phải giới hạn sự điều chỉnh của định giá quá mức bởi các cơ quan cạnh
tranh – Góc nhìn từ châu Âu) [60] Tác giả cho rằng định giá quá mức là dạng
điển hình của hành vi lạm dụng mang tính trục lợi Sự kiểm soát mức giá cao dựa trên nguyên tắc đơn giản là trong thị trường cạnh tranh, giá của hàng hóa hoặc dịch vụ phải bằng với chi phí sản xuất biên, nhưng mức giá đó không được đảm bảo khi mức giá cân bằng trên thị trường vượt quá mức giá cạnh tranh do có
sự áp đặt quyền lực thị trường bởi người sản xuất một loại hàng hóa - dịch vụ nhất định nào đó Trong trường hợp này, mức giá cao sẽ dẫn đến sự phân bố và sản xuất không hiệu quả Lợi ích của người tiêu dùng sẽ bị giảm đi và thay vào
đó là lợi ích tăng thêm của người sản xuất (vì người tiêu dùng sẽ phải trả cao hơn
so với mức giá cân bằng trên thị trường cạnh tranh) Trong những trường hợp đó, việc ngăn chặn các doanh nghiệp khỏi tình trạng cố tình đặt giá cao bằng pháp luật là cần thiết để đảm bảo hiệu quả sản xuất và sự phân bổ phúc lợi hợp lý Tác giả cũng đã đánh giá những khó khăn thực tế đáng kể gặp phải trong việc xác định liệu một giá cụ thể có phải là quá mức Những khó khăn này bao gồm: (i)
Trang 22tìm ra một cách thức để xác đinh chi phí đầy đủ và một mức lợi nhuận hợp lý; (Ii) xác định các tiêu chuẩn thích hợp; và, trong trường hợp xác định là có vi phạm; (Iii) thiết kế một phương án bù đắp phù hợp Các quốc gia sử dụng các cách thức xác định khác nhau và dường như đều chưa phù hợp Tác giả đưa ra kết luận rằng quy định cấm áp đặt giá quá mức của các công ty thống lĩnh chỉ nên được thực thi trong trường hợp ngoại lệ Điều đó sẽ xảy ra khi xuất hiện đồng thời các các yếu tố sau đây: tồn tại lâu dài và ở mức độ đáng kể rào cản gia nhập và mở rộng kinh doanh, việc loại bỏ chính công ty đó là không thể hoặc vô cùng khó khăn, việc đầu tư và cải tiến kinh doanh có xu hướng bị hạn chế Ngay
cả trong những trường hợp này, định giá cao có thể không nhất thiết phải là kết quả của hành vi bóc lột bởi một công ty thống lĩnh bởi bất kỳ sự tăng giá nào có thể đơn giản chỉ là sự phản ánh các hoạt động thường xuyên của cơ chế thị trường mà cơ quan cạnh tranh (CQCT) không nên can thiệp
Thạc sỹ Đoàn Trung Kiên với bài viết Nhận diện hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh, vị trí độc quyền theo pháp luật hiện hành ở Việt Nam [16] Bài viết
tập trung vào hai vấn đề cơ bản: 1) Khái niệm và cách thức xác định vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền; 2) Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền Theo tác giả, việc Luật cạnh tranh xác định các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền như trên là sự tiếp thu và chỉnh lí có chọn lọc các hành vi
bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền của pháp luật cạnh tranh của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển Đây là một bước tiến trong tư duy lập pháp và là động thái rất tích cực của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế, đưa pháp luật cạnh tranh của chúng ta tiến dần đến chuẩn mực của thông lệ và luật pháp quốc tế Tuy nhiên, việc quy định các hành vi bị coi là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền đó cũng không thể đủ sức để kiểm soát được tất cả các hành vi có tích chất lạm dụng vị thế này trên thực tế
mà các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền trong một số ngành đặc thù như bưu chính viễn thông, điện lực, nước sạch, đường không, đường sắt, than ở Việt Nam vẫn thực hiện Điều đó đòi hỏi Nhà nước cần phải có thêm các cơ chế kiểm soát mới để kiểm soát hữu hiệu vấn đề này
Tác giả Nguyễn Ngọc Sơn trong bài viết Hành vi định giá hủy diệt và việc
ứng dụng trong pháp luật cạnh tranh Việt Nam [25] đã phân tích chỉ doanh
nghiệp có quyền lực thị trường mới có đủ năng lực thực hiện và hoàn tất hành vi định giá hủy diệt Khi áp dụng những quy định về việc xác định VTTLTT trong
Trang 23pháp luật Việt Nam vào các vụ việc về định giá hủy diệt, chúng ta chỉ xác định được khả năng chi phối giá trên thị trường (kéo theo nó là khả năng hủy diệt đối thủ) mà chưa làm rõ năng lực bóc lột khách hàng sau khi việc loại bỏ đối thủ hoàn tất Do đó, việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng dường như chưa được đặt ra trong pháp luật Việt Nam về định giá hủy diệt Luật Cạnh tranh của Việt Nam và các văn bản hướng dẫn có cách tiếp cận đơn giản và cứng nhắc hơn các quốc gia khác trong việc so sánh giá để xác định hành vi định giá hủy diệt Theo
đó, cơ quan điều tra chỉ cần xác định và tính toán tất cả các chi phí đã được doanh nghiệp bỏ ra để kinh doanh sản phẩm (không sử dụng các khái niệm chi phí khả biến hay chi phí cố định làm căn cứ điều tra) và giá bán thực tế của sản phẩm rồi so sánh chúng với nhau Do đó, hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ với mức giá gây lỗ mặc nhiên bị coi là định giá hủy diệt nếu doanh nghiệp thực hiện hành vi có quyền lực thị trường và hành vi đó không thuộc những trường hợp đặc biệt theo Khoản 2, Điều 23 của Nghị định 116/2005 Các trường hợp loại trừ được liệt kê khá cụ thể này có thể tạo thuận lợi cho việc áp dụng, song mặt khác lại làm cho pháp luật thiếu linh hoạt trong khi thị trường luôn vận động Tác giả cho rằng, mặc dù quy định về định giá hủy diệt đã có trong Luật cạnh tranh 2004, tuy nhiên khả năng thực thi pháp luật về định giá hủy diệt tại Việt Nam còn hạn chế do sự tồn tại của những nhân tố từ thị trường và quy định pháp luật
1.3 Những nghiên cứu về xu hướng pháp luật và những giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Tác giả Nguyễn Thanh Tú với bài viết Pháp luật về bán giá thấp nhằm
loại bỏ đối thủ cạnh tranh [30], tác giả cho rằng quy định của luật cạnh tranh
Việt Nam về bán giá thấp nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh tương tự và có xu hướng theo cách giải quyết của pháp luật cạnh tranh châu Âu nên tác giả kiến nghị Việt Nam cần nhanh chóng ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành khoản
1 điều 13 Luật cạnh tranh 2004 trên cơ sở vận dụng kinh nghiệm của châu Âu nhưng có tính đến cách xác quy định của Việt Nam về cách xác định doanh nghiệp có VTTLTT
Trong cuốn sách The Concept of Abuse in EU Competition Law: Law and
Economic Approaches [79] (Khái niệm lạm dụng theo luật cạnh tranh của EU:
cách tiếp cận pháp lý và kinh tế), Pinar Akman cho rằng một trong những mục tiêu của Điều 102 TFEU, là xây dựng tiêu chuẩn để xác định các hành vi lạm
Trang 24dụng và đánh giá tác hại của hành vi lạm dụng là chưa đạt được Sự thiếu rõ ràng tạo ra sự không chắc chắn trong hành xử cho các doanh nghiệp và cùng với tình trạng hiện nay của nền kinh tế trong lĩnh vực này, đặt ra một câu hỏi quan trọng
về tính hợp pháp trong những hành vi của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh
Sử dụng cả cách tiếp cận pháp lý và kinh tế, cuốn sách phân tích những mục tiêu (có thể có) của Điều 102 TFEU và đề xuất một phương pháp tiếp cận hiện đại để giải thích khái niệm 'lạm dụng' Tác giả hướng tới việc thiết lập một khái niệm bao quát về 'lạm dụng' vừa phù hợp với nguồn gốc lịch sử của quy định, câu chữ được thể hiện trong quy định, và phù hợp với tư duy kinh tế hiện đại về hành vi đơn phương Do đó cuốn sách tập trung xem xét về mục tiêu, phạm vi mà Điều
102 TFEU hướng đến, có thể hướng đến và kể cả nên hướng đến Nghiên cứu cho rằng việc tách biệt hành vi lạm dụng mang tính bóc lột/trục lợi và hành vi lạm dụng mang tính loại bỏ là chủ quan và không có căn cứ Những kết luận được tác giả rút ra trên cơ sở vừa xem xét nguồn gốc ra đời của Điều 102 TFEU, bối cảnh lịch sử của việc thông qua Công ước, các vụ việc pháp luật thực tiễn liên quan, các chính sách và các nghiên cứu liên quan về lạm dụng bóc lột, cũng như về lạm dụng loại trừ Xem xét mục tiêu, kể cả mục tiêu có thể có của điều
102 TFEU như đảm bảo công bằng và phúc lợi xã hội, đặc biệt là phúc lợi của người tiêu dùng, tác giả còn xem xét cả những xung đột có thể có trong việc đảm bảo các mục tiêu đó Theo tác giả, mục tiêu của điều 102 nên được xác định bao gồm cả việc ngăn chặn những hành vi bóp méo cạnh tranh (bảo vệ quá trình cạnh tranh) và những hành vi gây thiệt hại cho người tiêu dùng (bảo vệ kết quả của cạnh tranh) Cuối cùng, tác giả đã có đánh giá cực kỳ nghiêm túc về vấn đề hiện đại hóa Điều 102 TFEU của Ủy ban châu Âu, trước khi đề xuất một phương pháp tiếp cận hiện đại về 'lạm dụng' đó là tập trung vào ba điều kiện cần và đủ: yếu tố trục lợi, loại trừ và không tạo ra hiệu quả kinh tế tích cực
Luận án tiến sĩ của Trần Thăng Long - Áp dụng luật cạnh tranh đối với các
doanh nghiệp độc quyền nhà nước – Một nghiên cứu so sánh” (The Application of
Competition Law to Anti-Competitive Behaviours of State Monopolies – A Comparative Perspective, bảo vệ tại trường ĐH La Trobe, Australia năm 2011) [87] sau khi làm rõ các vấn đề liên quan đến việc áp dụng Luật cạnh tranh trong điều chỉnh hành vi HCCT của các doanh nghiệp độc quyền nhà nước Luận án đã đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các quy định về hạn chế cạnh tranh, trong đó có các quy định về lạm dụng VTTLTT đối với các doanh nghiệp độc quyền nhà nước Đó là
Trang 25các giải pháp về cải cách cơ quan quản lý cạnh tranh theo hướng đảm bảo độc lập
và hiệu lực hơn; Bổ sung các tiêu chí đánh giá kinh tế để xem xét VTTLTT của doanh nghiệp, chứ không chỉ dựa vào duy nhất tiêu chí thị phần; hoàn thiện và tuân thủ nghiêm ngặt chính sách cạnh tranh quốc gia, đặc biệt là nguyên tắc cạnh tranh trung lập Luận án là công trình nghiên cứu tổng thể, mang tính khái quát về các quy định điều chỉnh hành vi HCCT của doanh nghiệp độc quyền nói chung mà không tập trung đi sâu nghiên cứu riêng về từng hành vi HCCT, trong đó có hành vi lạm dụng VTTLTT
Luận án tiến sĩ của Trần Hoàng Nga - Pháp luật chống định giá lạm
dụng của EU, Hoa Kỳ, Việt Nam – So sánh và kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam” (bảo vệ năm 2011 trong khuôn khổ chương trình Tiến sĩ liên kết Thụy
Điển – Việt Nam) [17] đã đề cập đến các vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật chống hành vi định giá lạm dụng của doanh nghiệp có VTTLTT ở ba hệ thống pháp luật khác nhau được lựa chọn như: các nguyên tắc cơ bản, khái niệm và các hành vi định giá lạm dụng cụ thể Luận án đã đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật cạnh tranh về chống hành vi lạm dụng về giá của doanh nghiệp
có VTTLTT Cụ thể, tác giả đề xuất các quyết định của cơ quan quản lý cạnh tranh phải được công bố, phát hành chính thức; hợp nhất hành vi lạm dụng VTTLTT và vị trí độc quyền; sửa đổi cơ sở xác định VTTLTT; sửa đổi quy định
về định giá quá đáng; quy định về định giá hủy diệt; quy định về phân biệt giá; quy định về định giá ngăn chặn đối thủ cạnh tranh mới; quy định về chống hành
vi chèn ép giá và hành vi chống thủ đoạn giảm giá/ chiết khấu nhằm hạn chế cạnh tranh
Trong cuốn sách "Phân tích và luận giải các quy định của luật cạnh tranh về
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh" [22], sau khi phân tích các khái niệm, luận giải các quy định về lạm dụng
VTTLTT theo Luật cạnh tranh 2004, các tác giả đã nêu ra những phương hướng đổi mới và hoàn thiện pháp luật cạnh tranh Cụ thể, định hướng cơ bản cho việc thực hiện pháp luật cạnh tranh là: Pháp luật cạnh tranh và việc thực hiện chúng phải đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế; Việc hoàn thiện và thực hiện pháp luật cạnh tranh phải được đặt trong mối quan hệ tổng thể với các chế định pháp luật khác; Đảm bảo nguyên tắc độc lập trong tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan thực thi pháp luật Trên cơ sở đó, các tác giả đã đề xuất các giải pháp cụ thể cả về hoàn thiện các quy định và cả về hoàn thiện cơ chế thực thi các quy định của Luật cạnh
Trang 26tranh 2004 về lạm dụng VTTLTT
Có thể thấy các công trình nghiên cứu trong nước về hành vi lạm dụng VTTLTT theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam đa phần mới chỉ tập trung phân tích các hành vi lạm dụng cụ thể mà bỏ ngỏ mối quan tâm đối với các vấn đề mang tính nền tảng lý luận Đặc biệt, trong bối cảnh Luật cạnh tranh 2018 mới có hiệu lực, chưa có các nghiên cứu đánh giá về Luật cạnh tranh 2018, trên cơ sở so sánh để chỉ
ra sự tiến bộ, hợp lý so với Luật cạnh tranh 2004, làm tiền đề cho việc tiếp cận, hiểu
và vận dựng quy định của Luật cạnh tranh 2018 về lạm dụng VTTLTT một cách toàn diện
2 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án
có thể rút ra một số kết luận sau đây:
Một là, về mục tiêu của luật cạnh tranh nói chung và chế định lạm dụng VTTLTT nói riêng Xác định mục tiêu thực sự, các công cụ của luật và chính
sách cạnh tranh là gì không chỉ có vai trò quyết định đến sự khác biệt trong pháp luật cạnh tranh của các nước mà còn xác định phạm vi những hành vi bị coi là lạm dụng cần phải được điều chỉnh Trong nhiều nghiên cứu về lạm dụng vị trí thống lĩnh của nước ngoài, vấn đề về mục tiêu, công cụ của luật cạnh tranh luôn được đặt ra đầu tiên Ở Việt Nam những phân tích về mục tiêu thực sự của luật cạnh tranh nói chung hay chế định lạm dụng VTTLTT nói riêng đặt trong việc phân tích, đối chiếu với các hành vi cụ thể được luật điều chỉnh chưa được quan tâm nghiên cứu đầy đủ Dường như chỉ với các quy định của pháp luật liên quan,
sự thiếu vắng của chính sách ngành trong các ngành kinh tế tập trung chưa có đủ
cơ sở để định hình rõ nét cho một chính sách cạnh tranh thống nhất ở Việt Nam
Hai là, về khái niệm và tiêu chí xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Các hệ thống pháp luật nước ngoài sử dụng các thuật ngữ khác nhau
như thống lĩnh thị trường (dominance) hay độc quyền (monopoly) nhưng đều để chỉ hiện tượng một hay một nhóm doanh nghiệp có vị thế đặc biệt trên thị trường với khả năng đưa ra quyết định và hành động một cách độc lập với các đối thủ và các chủ thể khác của thị trường Luật cạnh tranh Việt Nam có sự phân biệt giữa doanh nghiệp có VTTLTT và doanh nghiệp độc quyền Luật cạnh tranh không xây dựng định nghĩa VTTLTT mà chỉ đưa ra các tiêu chí, chủ yếu dựa trên mức thị phần của doanh nghiệp để xác định doanh nghiệp có VTTLTT hay không Các công trình nghiên cứu trong nước chưa chú ý đến việc nghiên cứu xây dựng
Trang 27khái niệm doanh nghiệp có VTTLTT để làm nền tảng lý thuyết cho việc phân tích hành vi của doanh nghiệp Trong khi các quốc gia sử dụng các tiêu chí khác nhau để xác định vị trí thống lĩnh (dominant position), độc quyền hay có sức mạnh thị trường đáng kể như: thị phần (market share), rào cản gia nhập thị trường (barriers to entry), quy mô của đối thủ (size of competitors), năng lực tài chính của doanh nghiệp (financial power of enterprise) thì luật cạnh tranh Việt Nam 2004 lại coi thị phần gần như là tiêu chí duy nhất để xác định vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp Luật cạnh tranh 2018 tuy có những thay đổi nhất định song thị phần với ngưỡng cố định vẫn là một tiêu chí quan trọng để có thể đưa ra giả định không thể bác bỏ về VTTLTT của doanh nghiệp Vì thế, các công trình nghiên cứu trong nước cũng mới chỉ tập trung phân tích cách xác định thị phần trên thị trường liên quan của doanh nghiệp Cách tiếp cận của Việt Nam mang tính cứng nhắc, thiếu chính xác, không đủ để phản ánh chính xác vị thế và khả năng tác động đến thị trường của doanh nghiệp,
do đó, việc nghiên cứu áp dụng các tiêu chí khác (bên cạnh tiêu chí thị phần) trong việc xác định vị trí thống lĩnh doanh nghiệp là cần thiết
Ba là, về khái niệm hành vi lạm dụng VTTLTT Không có một khái niệm
thống nhất về hành vi lạm dụng VTTLTT giữa các hệ thống pháp luật Phần lớn pháp luật các nước đều liệt kê các hành vi bị coi là lạm dụng VTTLTT Những hành vi được liệt kê như vậy là khác nhau giữa các hệ thống pháp luật nhưng nhìn chung đều mang tính mô tả, minh họa cho suy đoán của nhà làm luật và thường không đủ khả năng bao quát hết những hành vi lạm dụng mà doanh nghiệp có thể thực hiện trên thực tế Việc liệt kê thường bị coi là sẽ dẫn tới khả năng bỏ sót hành vi có cùng bản chất với các hành vi được liệt kê Một số các nghiên cứu nước ngoài đã cố gắng dựa trên các hành vi được liệt kê trong luật để tiếp cận bản chất của hành vi nhằm xây dựng một khái niệm có thể bao quát được tất cả các hành vi lạm dụng Luật cạnh tranh 2004 cũng lựa chọn cách thức liệt kê và mô tả hành vi cụ thể bị coi là lạm dụng thay vì xây dựng một khái niệm mang tính bao quát và đi vào bản chất của hành vi Các công trình nghiên cứu trong nước hiện cũng bỏ ngỏ vấn đề này
Bốn là về nhận diện hành vi lạm dụng VTTLTT Ở nhiều hệ thống pháp luật,
trong đó có Việt Nam, việc nhận diện hành vi lạm dụng VTTLTT mang tính hình thức Vấn đề phân tích để xây dựng các đặc điểm nhận dạng phản ánh được bản
Trang 28chất của hành vi là hết sức cần thiết Mặc dù vậy, các nghiên cứu trong nước
hiện nay cũng chưa dành sự quan tâm thích đáng cho vấn đề này Cả trên bình
diện trong và ngoài nước đều chưa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu nhằm phân tích và đề xuất các tiêu chí để nhận diện hành vi lạm dụng VTTLTT Các hệ thống pháp luật hiện nay chủ yếu liệt kê hành vi và việc xác định các tiêu chí bám vào bản chất để nhận diện hành vi là cần thiết để tránh việc bỏ sót hành
vi lạm dụng mang tính phản cạnh tranh
Năm là về nguyên tắc xử lý hành vi lạm dụng VTTLTT Trong suốt một thời
gian dài, các hệ thống pháp luật đều có xu hướng mặc nhiên coi hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh/ độc quyền thị trường là vi phạm pháp luật (per se illegal) và bị cấm Việc kết luận một doanh nghiệp có VTTLTT thực hiện các hành vi lạm dụng chỉ dựa trên những phân tích mang tính hình thức (a form – based analysis), tức là chỉ cần xác định là doanh nghiệp đã thực hiện hành vi được mô tả, liệt kê trong luật là đủ để kết luận (per
se rule) Xu hướng hiện nay các nước đã nhận thấy tầm quan trọng của việc xem xét cách tiếp cận dựa trên tính hiệu quả (effects-based approach) và dựa trên khía cạnh kinh tế (economic approach) trong việc thực thi các quy định về xác định hành vi lạm dụng VTTLTT Để thực hiện có hiệu quả chính sách cạnh tranh của mình, từ năm 2005 Ủy ban châu Âu đã ban hành một loạt các hướng dẫn mới (Discussion Paper) mang tính cải cách về việc thực thi các quy định về lạm dụng VTTLTT Đặc biệt là việc ban hành sách Xanh 2005 (Green Paper 2005) và sách Trắng 2008 (White Paper) cho thấy sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy, chính sách cạnh tranh EU, đặc biệt là quy định về lạm dụng VTTLTT Cho đến nay việc xử lý hành vi lạm dụng VTTLTT theo luật cạnh tranh vẫn dựa trên cách tiếp cận mang tính hình thức và áp dụng nguyên tắc cấm mặc nhiên Từ góc độ nghiên cứu cũng chưa có công trình nào phân tích khả năng vận dụng cách tiếp cận mới dựa trên tính hiệu quả (effects-based approach) và dựa trên khía cạnh kinh tế (economic approach) trong việc thực thi các quy định về xác
định hành vi lạm dụng VTTLTT của Việt Nam
Có thể kết luận là, các công trình nghiên cứu trong nước mới dừng lại ở
việc phân tích, luận giải và nhận diện hành vi lạm dụng VTTLTT hoặc tiếp cận đơn lẻ từng hành vi cụ thể mà chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách
cơ bản, toàn diện và có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm soát
Trang 29hành vi lạm dụng VTTLTT ở Việt Nam, để trên cơ sở đó chỉ ra cơ sở khoa học của việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có VTTLTT ở Việt Nam hiện nay nhất là trong bối cảnh Luật cạnh tranh 2018 vừa mới có hiệu lực, nhiều quy định chưa được hướng dẫn cụ thể
Từ những đánh giá trên, có thể khẳng định, luận án là công trình nghiên cứu về vấn đề này một cách toàn diện về mặt lý luận và thực tiễn pháp lý ở nước
ta hiện nay ở cấp độ luận án tiến sỹ luật học
3 Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu
Trên cơ sở tình hình nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu của đề tài, Luận án
sẽ tiếp tục nghiên cứu và làm rõ một cách có hệ thống các vấn đề sau đây:
- Nghiên cứu và hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng của chính sách và pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT: Khái niệm doanh nghiệp có VTTLTT; các tiêu chí để xác định VTTLTT của doanh nghiệp; khái niệm hành
vi lạm dụng VTTLTT, phân loại hành vi lạm dụng VTTLTT của doanh nghiệp; mục tiêu chính sách và pháp luật về lạm dụng VTTLTT; nguyên tắc xử lý hành
vi lạm dụng vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về khái niệm và nội dung pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT Xác định cụ thể nội hàm và hệ thống quy phạm pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT, như:
+ Nghiên cứu thực trạng pháp luật về xác định doanh nghiệp có VTTLTT + Nghiên cứu thực trạng pháp luật về nhận diện hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có VTTLTT
+ Nghiên cứu thực trạng pháp luật về cơ chế kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có VTTLTT
- Đánh giá tính hợp lý và bất hợp lý của pháp luật hiện hành về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT và sự cần thiết phải có những quy định điều chỉnh phù hợp nhằm vừa đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp vừa đảm bảo mục tiêu của pháp luật cạnh tranh
- Đưa ra hệ thống quan điểm hoàn thiện và giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT
4 Cơ sở lý thuyết và câu hỏi nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý thuyết
Sự hình thành của pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT dựa trên cơ sở lý thuyết, quan điểm về cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường Cạnh
Trang 30tranh vừa là quy luật của kinh tế thị trường, vừa là động lực cho sự phát triển kinh tế
xã hội, đảm bảo các nguồn lực trong xã hội được phân bổ một cách hiệu quả, lợi ích của người tiêu dùng được bảo vệ Từ những vai trò quan trọng đó, cần phải bảo vệ
và thúc đẩy sự cạnh tranh tự do, công bằng và lành mạnh trên thị trường
Về khía cạnh kinh tế học thì quan điểm về thúc đẩy tự do cạnh tranh được bắt nguồn từ học thuyết bàn tay vô hình của nhà kinh tế học Adam Smith (1723- 1790) Ông cho rằng, hệ thống cạnh tranh tự do tự nó đã sản sinh ra những quyền lực cần thiết để điều tiết và phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu, công quyền không cần phải can thiệp quá sâu vào đời sống thị trường Tuy nhiên, Adam Smith cũng không loại bỏ vai trò của công quyền trong việc đảm bảo trật tự thị trường Tuy nhiên, lịch
sử phát triển của kinh tế thị trường đã chứng minh, khả năng điều tiết của bàn tay vô hình với thị trường chỉ phát huy tác dụng khi thị trường chỉ tồn tại các quan hệ cạnh tranh lành mạnh và công bằng Trong trường hợp ngược lại, thị trường cần phải có thêm bàn tay hữu hình của một thế lực đủ mạnh để ngăn chặn, trừng phạt những hành vi xâm phạm trật tự cạnh tranh, tính công bằng của thị trường Nhà nước với
tư cách là chủ thể chính trị nắm quyền lực lớn nhất trong xã hội phải can thiệp để điều tiết đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh của các chủ thể kinh doanh trên thị trường
Quan điểm, lý thuyết về thị trường cạnh tranh cần có sự điều tiết của nhà nước được các nhà kinh tế học và luật học phát triển từ thế kỷ XIX khi mà sự phát triển của nền kinh tế tư bản sang giai đoạn độc quyền tư bản với sự xuất hiện của các doanh nghiệp thống lĩnh, độc quyền thị trường kéo theo những hành vi lạm dụng quyền lực thị trường gây tác động cản trở tự do cạnh tranh, lành mạnh và công bằng kéo theo những cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng Nhà nước bằng các công cụ, trong đó, pháp luật được coi là công cụ quan trọng nhất, phải đối trọng với quyền lực kinh tế của các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường, thực hiện việc kiểm soát nhằm phát hiện và ngăn chặn những hành vi lạm dụng VTTLTT của những doanh nghiệp này để duy trì trật tự thị trường, hạn chế những khuyết tật của
tự do cạnh tranh
Nền tảng lý luận cơ bản cho sự hình thành pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT ở Việt Nam là quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết phải đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, minh bạch Đặc biệt, gần đây tại Nghị quyết số 05 – NQ/TƯ ngày 01 tháng 11 năm 2016 của Hội nghị lần thứ tư, Ban chấp hành TW khóa XII, Nghị
Trang 31quyết số 24/2016/QH14 ngày 08 tháng 11 đều nhấn mạnh nhiệm vụ về cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh
tế giai đoạn 2016 – 2020, trong đó, đặt ra nhiệm vụ xây dựng ‘Đề án tổng thể về chính sách cạnh tranh quốc gia’
4.2 Câu hỏi và giả thiết nghiên cứu đặt ra khi nghiên cứu luận án
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn và các tài liệu có liên quan đến đề tài trong
và ngoài nước, cùng với sự tham vấn các chuyên gia, thu thập thông tin từ các cơ quan quản lý cạnh tranh… Luận án được triển khai với các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu như sau :
Câu hỏi nghiên cứu :
- Thế nào là hành vi lạm dụng VTTLTT ? Thế nào là kiểm soát hành
vi lạm dụng VTTLTT? Kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT có đặc điểm và mục đích gì?
- Cấu trúc, nội dung cơ bản của pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT như thế nào ?
- Kinh nghiệm của các nước về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT bằng pháp luật cạnh tranh như thế nào ?
- Thực trạng các quy định pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT tại Việt Nam hiện nay như thế nào ?
- Với những tồn tại, bất cập được nêu ra, cần phải có những phương hướng
và giải pháp gì để hoàn thiện pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT Giả thuyết nghiên cứu là :
- Việc xây dựng nền tảng cơ sở lý luận và hoàn thiện cơ chế kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT có ý nghĩa quan trọng với việc xác lập, duy trì môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh tại Việt Nam
- Các quy định của pháp luật Việt Nam về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT vẫn còn những điểm chưa thực sự phù hợp, còn tồn tại những khoảng trống pháp lý
- Việc hoàn thiện các quy định pháp luật về về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT ở Việt Nam là một trong những yêu cầu của quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường với một chính sách cạnh tranh đảm bảo được quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp vừa đảm bảo mục tiêu của luật cạnh tranh, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam và thông lệ quốc tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 32KẾT LUẬN PHẦN TỔNG QUAN
1 Lý luận và pháp luật về kiểm soát hành vi LDVTTLTT là một vấn đề được quan tâm nghiên cứu cả trong và ngoài nước Các nghiên cứu đi trước có ý nghĩa nhất định cho việc đặt nền móng cho các nghiên cứu tiếp theo, trong đó có Luận án này Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu một cách có hệ thống, đánh giá một cách tổng thể các quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam về LDVTTLTT trên cơ sở so sánh với Luật mẫu của UNCTAD và một số nước điển hình về Luật Cạnh tranh, nhất là trong bối cảnh Luật cạnh tranh 2018 vừa có hiệu lực thi hành, nhiều quy định chưa được hướng dẫn cụ thể
2 Qua việc đánh giá tình hình nghiên cứu đề tài trong và ngoài nước, nghiên cứu sinh cho rằng việc thực hiện nghiên cứu pháp luật về LDVTTLTT ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay là hết sức cần thiết Nội dung nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa và hoàn thiện những vấn đề lý luận; phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật về kiểm soát hành vi LDVTTLTT ở Việt Nam hiện nay để từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định và cơ chế thực thi pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Kết quả nghiên cứu của Luận án hy vọng sẽ có ý nghĩa đáng kể cho cải cách môi trường cạnh tranh ở Việt Nam
Trang 33CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM
DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG 1.1 Kiếm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
1.1.1.1 Khái niệm vị trí thống lĩnh thị trường
Cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng đóng vai trò trụ cột, đảm bảo sự vận hành năng động, hiệu quả của nền kinh thị trường Việc cạnh tranh của các doanh nghiệp
sẽ tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn với giá thành thấp hơn Kết quả là, chỉ
có những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, thu hút được nhiều khách hàng mới có thể tồn tại trong khi các doanh nghiệp kém hiệu quả sẽ buộc phải rút lui khỏi thi trường Quá trình cạnh tranh làm xuất hiện những doanh nghiệp có vai trò dẫn dắt thị trường, thay vì bị phụ thuộc, chi phối bởi các quy luật thị trường thì (các) doanh nghiệp này có thể hành động độc lập, thậm chí tác động ngược trở lại, quyết định đến các yếu tố của thị trường Những doanh nghiệp như vậy nắm giữ quyền lực thị trường (market power) và được gọi là doanh nghiệp có VTTLTT Đạt được VTTLTT là mong muốn chính đáng của các doanh nghiệp khi tham gia thị trường
Do đó, luật cạnh tranh của các nước đều không ngăn cản các doanh nghiệp đạt được VTTLTT
Từ góc độ kinh tế, VTTLTT được hiểu là “tình trạng mà những chiến lược
kinh doanh của một doanh nghiệp có thể hay có khả năng có ảnh hưởng tiêu cực đến phúc lợi xã hội” [78, tr 539] Khái niệm này phản ánh đặc điểm cơ bản nhất
của thống lĩnh thị trường, đó là hành vi của doanh nghiệp nắm giữ vị trí này có khả tác động đến thị trường, mà tác động phổ biến nhất là gây thiệt hại về phúc lợi xã hội Tuy nhiên, khái niệm này chưa phản ánh được mối quan hệ cơ bản giữa doanh nghiệp thống lĩnh với các lực lượng khác trên thị trường, cũng như chưa xem xét đến những tác động khác nhau mà hành vi của doanh nghiệp thống lĩnh thị trường
có thể gây ra cho cạnh tranh ngoài tổn thất phúc lợi nói chung
Từ góc độ khoa học pháp lý, không có một khái niệm thống nhất giữa các hệ thống pháp luật khác nhau về thống lĩnh thị trường Khái niệm thống lĩnh thị trường trong các hệ thống pháp luật khác nhau được quy định phụ thuộc vào mục tiêu của chính sách, pháp luật cạnh tranh của quốc gia đó và thường có xu hướng cụ thể hơn
so với cách tiếp cận từ góc độ kinh tế của khái niệm này Việc phân tích khái niệm thống lĩnh thị trường trong một hệ thống pháp luật nhất định có thể xác định được
Trang 34mục tiêu của chính sách và pháp luật cạnh tranh của quốc gia đó [76, tr.7]
Ở EU, nguồn luật quan trọng điều chỉnh hoạt động cạnh tranh, liên quan đến VTTLTT là Điều 82 Hiệp định EC (nay là điều 102 Hiệp định TFEU) Điều
102 TFEU không trực tiếp đưa ra khái niệm thống lĩnh thị trường mà chỉ khẳng định “các hành vi mang tính chiến lược được thực hiện bởi các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường, làm loại bỏ cạnh tranh một cách bất hợp pháp, nhằm duy trì và củng cố quyền lực thị trường” bị lên án Trên thực tế, khái niệm thống lĩnh thị trường được Tòa án tư pháp châu Âu (ECJ) phát triển qua thực tiễn giải quyết
các vụ việc Trong vụ việc Hoffmann-La Roche, ECJ đã nêu quan điểm về vị trí thống lĩnh thị trường là “Vị trí của doanh nghiệp mang sức mạnh kinh tế có khả
năng ngăn cản cạnh tranh hiệu quả được duy trì trên thị trường liên quan bằng cách cho phép nó hành xử độc lập ở một mức độ đáng kể không phụ thuộc vào đối thủ cạnh tranh, khách hàng và cuối cùng là người tiêu dùng”[46, đoạn 276]
Tại Hoa Kỳ, các quy định tương tự như quy định tại Điều 82 Hiệp định EC, điều 102 Hiệp định TFEU được nêu tại Mục 2, đạo luật Sherman [94], đạo luật cơ bản đầu tiên quy định về chống độc quyền của Hoa Kỳ, thông qua năm 1890 Tuy nhiên, thay vì sử dụng thuật ngữ “lạm dụng VTTLTT”, mục 2 của đạo luật này đề cập đến khái niệm độc quyền và nỗ lực để độc quyền, trong đó đã chỉ ra một vài hướng dẫn cho việc xác định khi nào thì một doanh nghiệp bị coi là độc quyền hay
nỗ lực độc quyền Theo đó, sức mạnh độc quyền được hiểu là “doanh nghiệp có
khả năng (1) định giá cao hơn đáng kể so với mức giá cạnh tranh và (2) cố tình gây ra hành vi này trong khoảng thời gian nhất định nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh mới gia nhập hoặc mở rộng thị trường” Trong vụ United States v Grinell
Corp [96], Toà án Tối cao Hoa Kỳ cho rằng việc độc quyền bất hợp pháp liên quan đến hai yếu tố: (1) sở hữu quyền lực độc quyền trên thị trường liên quan, và (2) việc mua lại hoặc duy trì quyền lực đó một cách cố ý, khác với " sự tăng trưởng và phát triển như là một kết quả của sự nhạy bén trong kinh doanh, ưu thế của sản phẩm hoặc là do những điều kiện lịch sử mang lại”
Luật cạnh tranh Romani quy định về VTTLTT lại chỉ nhấn mạnh yếu tố “khả năng hành động độc lập”, theo đó thống lĩnh thị trường được định nghĩa là tình huống mà một chủ thể kinh tế có khả năng, ở một mức độ đáng kể, hành động độc lập với các đối thủ cạnh tranh thực tế và tiềm năng của nó” [101, tr 179] Đối thủ cạnh tranh tiềm năng được xác định là các chủ thể kinh doanh có khả năng xâm nhập vào thị trường liên quan với sản phẩm đến từ các khu vực địa lý khác, kể cả
Trang 35hàng nhập khẩu Khả năng hành động độc lập được xác định dựa trên các yếu tố của cạnh tranh như giá cả trên thị trường, đầu ra, tính đổi mới, đa dạng và chất lượng của hàng hóa, dịch vụ
Tại chương 2, Luật mẫu về cạnh tranh của UNCTAD (đã được sửa đổi năm 2017) [92], vị trí thống lĩnh của quyền lực thị trường (dominant position of market
power) được định nghĩa là “tình trạng mà một doanh nghiệp, tự nó hoặc cùng hành
động với một số doanh nghiệp khác ở vào vị trí kiểm soát thị trường liên quan của một hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ cụ thể”
Pháp luật của Canađa coi doanh nghiệp thống lĩnh thị trường là doanh nghiệp
nắm giữ quyền lực thị trường Theo pháp luật Canada, “quyền lực thị trường là khả
năng giữ giá cao hơn mức giá cạnh tranh mà vẫn có lợi nhuận trong một khoảng thời gian đáng kể, thông thường là một năm” Trong khi đó, pháp luật của Cộng hòa
Pháp sử dụng đồng thời hai cách tiếp cận về quyền lực thị trường là cách tiếp cận mang tính học thuyết và cách tiếp cận mang tính thực tiễn Cách tiếp cận thứ nhất
đã áp dụng định nghĩa trừu tượng mà các án lệ đã đưa ra: “doanh nghiệp chiếm vị
trí thống lĩnh là doanh nghiệp có khả năng thoát khỏi cạnh tranh thực chất, không chịu ràng buộc của thị trường và đóng vai trò chủ đạo trên thị trường đó” Thế nên,
thay vì phải tuân theo quy luật của thị trường, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền có thể tự làm luật trên thị trường đó Cách tiếp cận thực tiễn được hình thành từ triết lý cho rằng “người lạm dụng không hẳn là người muốn lạm dụng, nhưng người lạm dụng chắc chắn phải là người có khả năng lạm dụng” Thế nên, người ta thừa nhận sự tồn tại của sự thống lĩnh trên một thị trường khi trên thị trường đó xuất hiện những hành vi mà nếu có cạnh tranh thực chất thì những hành
vi đó đã không thể thực hiện được [13, tr 233- 234] Sự khác nhau nói trên đã đưa đến những khác biệt về căn cứ pháp lý được sử dụng để xác định vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp trong pháp luật của các nước
Như vậy, mặc dù có cách tiếp cận, quy định khác nhau nhưng các hệ thống pháp luật đều ghi nhận về bản chất, doanh nghiệp (hay nhóm doanh nghiệp) có vị trí thống lĩnh hay độc quyền thị trường là doanh nghiệp (nhóm doanh nghiệp) nắm giữ quyền lực thị trường Quyền lực thị trường cho phép doanh nghiệp (nhóm doanh nghiệp) hành động độc lập, không phụ thuộc vào các quy luật của thị trường, đối thủ cạnh tranh, khách hàng, hay người tiêu dùng, nghĩa là nó có khả năng chi phối, kiểm soát thị trường
Trong khi luật cạnh tranh các nước chỉ sử một trong hai khái niệm vị trí thống
Trang 36lĩnh thị trường hoặc độc quyền để chỉ cùng một hiện tượng pháp lý thì Luật cạnh
tranh Việt Nam lại có sự phân biệt giữa vị trí thống lĩnh thị trường và độc quyền Theo đó, thống lĩnh thị trường và độc quyền đều để chỉ doanh nghiệp có sức mạnh thị trường đáng kể mà hành vi của nó có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh
Tuy nhiên, “doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh
nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan” [24, Điều 25] tức là độc quyền là tình trạng thị trường hoàn
toàn không có sự cạnh tranh, doanh nghiệp độc quyền không có đối thủ Trong khi
đó, ở thị trường có doanh nghiệp có VTTLTT, mặc dù doanh nghiệp có VTTLTT
có sức mạnh thị trường đáng kể, có khả năng chi phối, kiểm soát thị trường nhưng vẫn tồn tại các doanh nghiệp đối thủ, vẫn có sự cạnh tranh nhất định
Vì mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có VTTLTT nên trong phạm vi nghiên cứu của Luận án này, doanh nghiệp có VTTLTT sẽ được hiểu theo cách tiếp cận hẹp hơn của pháp luật Việt Nam, tức là sẽ không bao gồm doanh nghiệp có vị trí độc quyền
Như vậy, có rất nhiều cách xác định VTTLTT, nhưng tựu chung lại, có hai nhóm quan điểm Quan điểm thứ nhất cho rằng thống lĩnh thị trường là khả năng của doanh nghiệp (hay nhóm doanh nghiệp) duy trì tác động HCCT trên thị trường (chẳng hạn như khả năng loại bỏ đối thủ cạnh tranh) Quan điểm thứ hai cho rằng quyền lực thị trường là khả năng của doanh nghiệp hành động một cách độc lập với các đối thủ của nó (mà biểu hiện rõ nhất là khả năng duy trì giá cả trên mức cạnh tranh mà vẫn thu được lợi nhuận)
Có thể rút ra định nghĩa chung về VTTLTT như sau: Vị trí thống lĩnh thị
trường là vị trí của doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp nắm giữ sức mạnh thị trường đáng kể có khả năng gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường liên quan và hành xử một cách độc lập với đối thủ cạnh tranh, khách hàng và người tiêu dùng 1.1.1.2 Khái niệm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Dưới góc độ kinh tế, hành vi lạm dụng VTTLTT tồn tại một cách khách quan Với mong muốn duy trì và củng cố quyền lực thị trường mà mình đã dày công vun đắp, các thương nhân thường sử dụng lợi thế có sẵn để làm gia tăng lợi nhuận và ở mức độ nhất định, việc khai thác lợi thế này của các thương nhân nắm quyền lực thị trường còn có tác dụng thúc đẩy cạnh tranh phát triển Tuy nhiên, việc sử dụng quyền lực thị trường này phải dừng lại ở giới hạn hợp lý Nếu vượt qua giới hạn này, hành vi của các thương nhân nói trên sẽ trở thành hành vi lạm dụng VTTLTT,
Trang 37ảnh hưởng nghiêm trọng đến cạnh tranh [28, tr 66]
Từ góc độ khoa học pháp lý, định nghĩa thế nào là lạm dụng VTTLTT phụ thuộc vào mục tiêu của luật cạnh tranh mỗi nước Chắc chắn nếu coi hiệu quả kinh tế là mục tiêu chính, thì các hành vi làm giảm phúc lợi phải được coi là lạm dụng Hoặc cho rằng thương mại công bằng là mục tiêu chính thì hành vi khai thác lợi thế từ vị trí thống lĩnh
để đặt ra điều kiện thương lượng có thể bị coi là lạm dụng [76, tr 10]
Theo Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên Hợp Quốc được thông qua ngày 22/04/1980 và Luật mẫu về cạnh tranh của UNCTAD [92], “hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền để HCCT là hành vi HCCT mà doanh nghiệp có
vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền sử dụng để duy trì hay tăng cường vị trí của nó trên thị trường bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh”
Luật cạnh tranh EU không có định nghĩa rõ ràng về "hành vi lạm dụng VTTLTT" thay vào đó, Điều 102 TFEU liệt kê các hành vi nhất định bị coi là lạm dụng VTTLTT Tuy nhiên, những hành vi này chỉ là những dạng hành vi lạm dụng điển hình nhất, chứ không phải là một bảng liệt kê đầy đủ Tương tự như khái niệm VTTLTT, khái niệm lạm dụng VTTLTT cũng được giải thích qua thực tiễn các vụ việc điển hình Theo tòa án tư pháp châu Âu (ECJ), hành vi của doanh nghiệp có VTTLTT có bị coi là lạm dụng hay không căn cứ vào tác động của hành vi đó đối với môi trường cạnh tranh Chẳng hạn như trong vụ Hoffmann-La Roche & Co AG kiện
Ủy ban châu Âu, khái niệm lạm dụng vị trí thống lĩnh được xem là: hành vi của
doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, có tác động đến cấu trúc thị trường, làm suy giảm mức độ cạnh tranh của thị trường thông qua việc sử dụng các phương pháp khác biệt với những phương pháp cạnh tranh được sử dụng trong điều kiện cạnh tranh thông thường của hàng hóa, dịch vụ trên cơ sở các giao dịch của các thương gia, gây trở ngại cho việc duy trì mức độ cạnh tranh đang tồn tại trên thị trường hoặc sự gia tăng mức độ cạnh tranh của thị trường đó [46, đoạn 285] Như vậy, khái niệm lạm dụng
vị trí thống lĩnh mà ECJ đưa ra đã bám vào bản chất và có khả năng bao quát được các dạng hành vi lạm dụng cụ thể khác nhau Do đó, các hành vi lạm dụng được liệt
kê trong Điều 86 hiệp định EC (hiện tại là Điều 102 TFFEU) chỉ là những dạng hành
vi lạm dụng điển hình nhất, chứ không phải là một bảng liệt kê đầy đủ Quan điểm
này được chỉ rõ trong các vụ việc AKZO [49, đoạn 112], [51] Trên thực tế, việc xác
định một hành vi của doanh nghiệp có VTTLTT có phải là lạm dụng hay không phải dựa trên việc đánh giá tác động của hành vi đó đối với môi trường cạnh tranh Một hành vi, dù không nằm trong những trường hợp điển hình được liệt kê tại Điều 102
Trang 38TFEU vẫn có thể bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh nếu nó do một doanh nghiệp thống lĩnh thị trường thực hiện và có ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường cạnh tranh Luật Cạnh tranh và người tiêu dùng 2010 của Úc đề cập đến hành vi đơn phương của các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường đáng kể, ngưỡng này thấp hơn so với các doanh nghiệp thống lĩnh
Cụ thể, Điều 1 Mục 46 của CCA nghiêm cấm các công ty có sức mạnh thị trường đáng kể lạm dụng sức mạnh thị trường đó trên thị trường liên quan hoặc bất
kỳ thị trường nào khác với một trong các mục đích sau (có thể được xác định bằng suy luận):
(i) Loại bỏ hoặc làm tổn hại nghiêm trọng đối thủ cạnh tranh;
(ii) Ngăn chặn việc gia nhập thị trường liên quan hoặc bất kỳ thị trường nào khác; hoặc là
(iii) Ngăn chặn hoặc cản trở hoạt động cạnh tranh trên thị trường liên quan hoặc bất kỳ thị trường nào khác
Mục 46 (1AA) cấm các doanh nghiệp có mức thị phần đáng kể trên thị trường định giá dưới giá thành trong một khoảng thời gian liên tục
Mục 46A cấm các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường đáng kể lạm dụng quyền lực thị trường ở các thị trường xuyên Đại Tây Dương
Như vậy, có thể quy định theo những cách khác nhau, nhưng quan điểm về hành vi lạm dụng VTTLTT về cơ bản là tương đồng Theo đó, hành vi lạm dụng VTTLTT là hành vi của doanh nghiệp thống lĩnh thị trường và đồng thời đáp ứng các điều kiện:
- Phản ánh việc thực thi quyền lực thị trường của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh
- Duy trì, củng cố quyền lực của doanh nghiệp đó, tạo ra tác hại kinh tế cho các nhà cung cấp, khách hàng hoặc đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp thống lĩnh đó, và
- Những tác hại như vậy sẽ không thể được tạo ra nếu hành vi được thực hiện bởi các doanh nghiệp không có VTTLTT
Do đó, có thể rút ra định nghĩa chung về hành vi lạm dụng VTTLTT như sau:
Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là hành vi của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, khai thác quyền lực thị trường mà nó có để duy trì, tăng cường vị trí của doanh nghiệp trên thị trường, gây cản trở cạnh tranh, tổn hại cho các đối thủ
và khách hàng của doanh nghiệp
Cạnh tranh là hiện tượng riêng có của nền kinh tế thị trường khi mà các doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh và lợi nhuận là yếu tố trung tâm, là động lực thúc
Trang 39đẩy sự phát triển của sản xuất, kinh doanh Lạm dụng VTTLTT thực chất là hành vi cạnh tranh của các doanh nghiệp có VTTLTT trái pháp luật, đạo đức và văn hóa kinh doanh, vượt qua ranh giới của quyền tự do kinh doanh Do vâỵ, có thể nói, hành vi lạm dụng VTTLTT, cũng như cạnh tranh, là một hiện tượng đặc thù của kinh tế thị trường
1.1.1.3 Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Dù có những khác biệt nhất định trong các quy định về hành vi lạm dụng, song pháp luật của các nước đều thống nhất rằng nhóm hành vi này có ba đặc trưng sau đây:
a Chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc doanh nghiệp có vị trí độc quyền trên thị trường liên quan
Đặc điểm này thể hiện tính đặc thù về chủ thể của hành vi lạm dụng VTTLTT
Cơ sở để một doanh nghiệp có thể thực hiện được hành vi lạm dụng chính là dựa vào VTTLTT mà nó có, do đó, nếu hành vi không được thực hiện bởi doanh nghiệp
có VTTLTT thì sẽ không bị coi là hành vi lạm dụng VTTLTT, cho dù hành vi đó được mô tả trong luật Vì vậy, dấu hiệu đầu tiên cần phải chứng minh khi xác định
có tồn tại một hành vi lạm dụng VTTLTT trên thực tế là chủ thể thực hiện hành vi
là doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp có VTTLTT
Đương nhiên một doanh nghiệp (hay nhóm doanh nghiệp) nắm giữ VTTLTT không có nghĩa là doanh nghiệp (hay nhóm doanh nghiệp) đó vi phạm luật cạnh tranh, nếu việc có được VTTLTT là hợp pháp Vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền có thể được hình thành từ sự tích tụ trong quá trình cạnh tranh, từ những điều kiện tự nhiên của thị trường như: yêu cầu về quy mô hiệu quả tối thiểu, sự biến dị của sản phẩm, sự tồn tại của các rào cản gia nhập thị trường; hoặc sự bảo hộ của quyền lực Nhà nước… [22, tr 12] Vị trí thống lĩnh đem lại cho doanh nghiệp quyền lực thị trường và khả năng chi phối các quan hệ trên thị trường, đặc biệt là thể hiện ở khả năng kiểm soát các yếu tố của thị trường (giá cả, chất lượng, sản lượng, nguồn nguyên liệu…) đối với loại hàng hoá hoặc dịch vụ mà họ bán hoặc mua Thực tế là cùng một hành vi nhưng được thực hiện bởi doanh nghiệp có VTTLTT sẽ có thể gây ra những tác động mang tính chi phối đến thị trường nhưng nếu được thực hiện bởi những doanh nghiệp thông thường lại không có khả năng đó Bởi vậy, chỉ khi doanh nghiệp thống lĩnh thị trường tận dụng khả năng chi phối thị trường mà nó có (nhờ vào việc nắm giữ sức mạnh thị trường hay VTTLTT) để thực hiện những hành
vi gây tác động tiêu cực đến cạnh tranh, cản trở cạnh tranh hiệu quả, công bằng thì
Trang 40Luật cạnh tranh mới cần can thiệp Lúc này, sự can thiệp của luật cạnh tranh không
có nghĩa là phủ nhận sự tồn tại hợp pháp của các doanh nghiệp có VTTLTT mà chỉ
là chống lại những hành vi lạm dụng bất hợp pháp của chúng bởi những hậu quả tiêu cực mà hành vi gây ra cho sự cạnh tranh
b Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh đã hoặc đang thực hiện hành vi lạm dụng gây tác động tiêu cực cho sự cạnh tranh trên thị trường
Hành vi lạm dụng, về bản chất là việc doanh nghiệp khai thác lợi thế mà quyền lực thị trường đem lại để hạn chế, bóp méo cạnh tranh nhằm trục lợi hoặc loại bỏ đối thủ cạnh tranh Như đã phân tích ở trên, những hành vi này chỉ có thể thực hiện và gây tác động cho thị trường khi chủ thể tiến hành là doanh nghiệp có VTTLTT Tương ứng với lợi thế của doanh nghiệp thống lĩnh thị trường chính là sự yếu thế của đối thủ, của khách hàng Do đó, trong mối quan hệ với doanh nghiệp thống lĩnh thị trường, các chủ thể này hoàn toàn ở thế bị động, không có quyền tự
do lựa chọn mà buộc phải chấp nhận sự chi phối hay những điều kiện do doanh nghiệp có VTTLTT đưa ra Do đó, các quy định về hành vi lạm dụng thực chất chính là vạch ra giới hạn cho các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường khi cạnh tranh trên thị trường Dưới góc độ pháp lý, các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh có nghĩa
vụ đặc thù là “không được làm giảm mức độ cạnh tranh hiện có trên thị trường” thông qua việc tận dụng những lợi thế mà nó có do sức mạnh thị trường đem lại Quan điểm về nghĩa vụ đặc thù của doanh nghiệp có VTTLTT được ECJ thể
hiện rõ ràng vụ Michelin [51] khi cho rằng:
Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường bản thân nó không phải là một sự
vi phạm mà chỉ có nghĩa là, với bất kể lý do nào mà nó có được vị trí đó, doanh nghiệp có nghĩa vụ đặc biệt không cho phép hành vi của mình làm giảm hay suy yếu sự cạnh tranh trên thị trường chung
Khi doanh nghiệp thống lĩnh thực hiện những hành vi lạm dụng, tức là vi phạm nghĩa vụ đặc thù của nó thì môi trường cạnh tranh sẽ không vận hành theo đúng quy luật hoặc bị cản trở, bị triệt tiêu nên pháp luật cần can thiệp để tái thiết lập các điều kiện thuận lợi cho cạnh tranh hoạt động trở lại Bằng những phương thức khác nhau, Luật cạnh tranh các nước đều cố gắng chỉ ra một ranh giới rõ ràng cho việc xác định đâu là hành vi lạm dụng Chỉ khi nào các doanh nghiệp có VTTLTT vượt qua giới hạn đó, thực hiện những hành vi bị coi là lạm dụng và bị cấm thì mới
bị xử lý
Một số nước (trong đó có Việt Nam) liệt kê những hành vi nhất định bị coi là lạm dụng trong Luật cạnh tranh và doanh nghiệp thống lĩnh thị trường chỉ bị coi là