LỜI CẢM ƠN Được sự phân công của Khoa Sau Đại học trường Đại học Ngoại Thương, và sự đồng ý hướng dẫn của PGS, TS Vũ Thị Kim Oanh, tác giả đã thực hiện đề tài: “Thu hút đầu tư trực tiếp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
`
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO
LĨNH VỰC TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
ĐẶNG THỊ THANH MAI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” là
công trình nghiên cứu của riêng tác giả dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Vũ Thị Kim Oanh Các kết quả nghiên cứu của luận văn có tính độc lập, số liệu và dữ liệu
sử dụng trong luận văn được trích dẫn theo đúng quy định
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2019
Tác giả luận văn
ĐẶNG THỊ THANH MAI
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Sau Đại học trường Đại học Ngoại Thương, và
sự đồng ý hướng dẫn của PGS, TS Vũ Thị Kim Oanh, tác giả đã thực hiện đề tài:
“Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp”
Lời đầu tiên, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và cảm ơn chân thành tới toàn thể các thầy cô giáo trong Ban Giám hiệu, Khoa Sau Đại học trường Đại học Ngoại Thương, cùng các thầy cô đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt cho học viên chúng tác giả những kiến thức và rất nhiều thông tin bổ ích trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS, TS Vũ Thị
Kim Oanh vì sự hướng dẫn nhiệt tình và quan tâm sát sao của cô trong quá trình
thực hiện luận văn này
Do thời gian có hạn, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội – 2019
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
DANH MỤC HÌNH vii
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN viii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI 5
1.1 Khái niệm và đặc điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Đặc điểm 6
1.1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 8
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 11
1.2.1 Khung chính sách về đầu tư trực tiếp nước ngoài của nước nhận đầu tư 12
1.2.2 Các yếu tố của môi trường kinh tế 14
1.2.3 Các yếu tố tạo thuận lợi trong kinh doanh 16
1.3 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài với lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng 18
1.3.1 Ứng dụng công nghệ mới trong hiện đại hóa lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng 18
1.3.2 Nâng cao năng lực tài chính, quản trị của các tổ chức Tài chính - Ngân hàng 18
1.3.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các tổ chức Tài chính - Ngân hàng 19
1.3.4 Phát triển nguồn nhân lực trình độ cao 19
1.4 Các chỉ số đánh giá thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 20
Trang 61.4.2 Quy mô vốn của dự án 21
1.4.3 Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đối tác hợp tác đầu tư 24
1.4.4 Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức 26
1.4.5 Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo lãnh thổ 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM 32
2.1 Thực trạng của ngành Tài chính - Ngân hàng Việt Nam hiện nay 32
2.1.1 Những thành tựu đạt được 32
2.1.2 Khó khăn, hạn chế 42
2.2 Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2016-2018 44
2.2.1 Quy mô số lượng dự án đầu tư 44
2.2.2 Quy mô vốn bình quân dự án đầu tư 46
2.2.3 Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đối tác hợp tác đầu tư 48
2.2.4 Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức 51
2.2.5 Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo lãnh thổ 52
2.3 Đánh giá thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng tại Việt Nam 53
2.3.1 Kết quả đạt được 53
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 58
2.4 Kinh nghiệm về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng của một số quốc gia trên thế giới 66
2.4.1 Kinh nghiệm của Campuchia 66
2.4.2 Kinh nghiệm của Singapore 67
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM 71
3.1 Định hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2019 – 2030 71
3.1.1 Xu hướng đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài 71
3.1.2 Định hướng thu hút đầu tư của Việt Nam giai đoạn 2019 – 2030 72
Trang 73.1.3 Cơ hội và thách thức 73
3.2 Một số giải pháp chủ yếu 75
3.2.1 Đổi mới nhận thức, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 75 3.2.2 Xây dựng kế hoạch thu hút đầu tư có chọn lọc, có trọng điểm nhằm phục vụ cho chiến lược phát triển lâu dài 79 3.2.3 Hoàn thiện cơ sở hạ tầng 80 3.2.4 Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan tới đầu tư trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng 81 3.2.5 Quản lý chặt chẽ các chính sách ưu đãi đầu tư 83 3.2.6 Nâng cao vai trò và năng lực của bộ máy quản lý nhà nước 84 3.2.7 Tăng cường và nâng cao chất lượng của hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng 87
KẾT LUẬN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển châu Á
AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do ASEAN BOT Build – Operation – Transfer Xây dựng – Vận hành – Chuyển giao
BTO Build – Transfer – Operation Xây dựng – Chuyển giao – Vận hành CMCN 4.0 Industry 4.0 Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA Free trade agreement Hiệp định thương mại tự do
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
HĐHTKD Business Cooperation
M&A Merger & Acquisition Sáp nhập và mua lại
TCTD Credit institutions Tổ chức tín dụng
TNCs Transnational Corporation Các công ty – tập đoàn xuyên quốc gia
UNCTAD United Nations conference on
Trade and Development Hội nghị liên hợp quốc về thương mại
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Báo cáo số lượng dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2018 21
Bảng 1.2 Báo cáo vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2018 22
Bảng 1.3 Top 20 đối tác thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2018 25
Bảng 1.4 Top 20 đối tác thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 26
Bảng 1.5 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo hình thức đầu tư 29
Bảng 1.6 Top 30 địa phương thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2018 31
Bảng 2.1 Thu hút FDI vào lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng từ năm 2016 – 2018 45 Bảng 2.2 Quy mô vốn bình quân dự án vào lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng từ năm 2016 – 2018 47
Bảng 2.3 So sánh vốn thực hiện và vốn đăng ký các dự án FDI vào lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng từ năm 2016 – 2018 48
Bảng 2.4 Thu hút FDI vào lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng theo đối tác từ năm 2016 – 2018 49
Bảng 2.5 Thu hút FDI vào lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng theo hình thức đầu tư từ năm 2016 – 2018 51
Bảng 2.6 Thu hút FDI vào lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng theo địa phương từ năm 2016 – 2018 53
Bảng 2.7 Tổng hợp các FTA của Việt Nam tính đến tháng 04/2019 55
Bảng 2.8 Thu hút FDI vào lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng theo đối tác đầu tư 57
Bảng 2.9 Thu hút FDI vào lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng theo hình thức đầu tư59 Bảng 2.10 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Singapore năm 2017 68
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Số lượng tài khoản nhà đầu tư (tính đến tháng 05/2018) 35
Biểu đồ 2.2 Tăng trưởng GDP và lạm phát 50
Biểu đồ 2.3 Số lượng lao động theo trình độ chuyên môn kỹ thuật quý 2/2018 và quý 2/2017 64
DANH MỤC HÌNH Hình 2.1 Chỉ số VN-Index chốt phiên giao dịch ngày 09/04/2018 34
Trang 10TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Với mục tiêu nghiên cứu, đánh giá thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thu hút nguồn vốn này, tác giả đã chọn đề tài: “Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng
và giải pháp” làm đề tài cho luận văn của mình
Luận văn gồm các nội dung chủ yếu sau:
Chương 1 - Cơ sở lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo đó, chương 1 tập trung làm rõ một số khái niệm, vấn đề liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung, vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng, các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và các chỉ số đánh giá thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương 2 - Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng tại Việt Nam Chương 2 đi sâu vào phân tích thực trạng thu hút FDI vào lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn 2016 - 2018,
về quy mô, cơ cấu cũng như các kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế đó Bên cạnh đó, chương 2 cũng đưa ra kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng của Campuchia và Singapore để làm cơ sở cho các giải pháp được nêu ở chương 3 Chương 3 - Giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng tại Việt Nam Từ việc nghiên cứu định hướng của Nhà nước trong lĩnh vực này, chương 3 đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm tăng cường thu hút nguồn vốn này
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đã và đang diễn ra ở một số quốc gia phát triển như Mỹ, EU, Nhật Bản, Singapore CMCN 4.0 giống như một luồng gió mới nhưng với tốc độ của một cơn siêu bão, đem đến cho mỗi quốc gia, mỗi cộng đồng, tổ chức, doanh nghiệp, mỗi cá nhân những cơ hội lớn lao chưa từng
có để có thể vươn lên, phát triển thậm chí hoán đổi vị trí trên bản đồ kinh tế thế giới Song song với những cơ hội, CMCN 4.0 cũng mang đến đầy thách thức với nhân loại, đòi hỏi chính phủ mỗi quốc gia cần phải đưa ra những giải pháp hợp lý trong nhiều lĩnh vực để có thể đưa đất nước vượt qua cơn sóng lớn, trong đó có Việt Nam Sau nhiều năm vươn mình hội nhập, những liên kết, hợp tác kinh tế song phương và đa phương của Việt Nam đã trở nên rộng lớn và sâu sắc là những điều kiện rất cần thiết và thuận lợi cho sự tham gia vào CMCN 4.0 Đầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Foreign Direct Investment) vào Việt Nam nói riêng vừa là phương thức vừa là kết quả của hội nhập tạo điều kiện thuận lợi cho CMCN 4.0 Trong hơn 30 năm qua, Việt Nam đã thu hút được một số lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài vào nhiều lĩnh vực trọng điểm của quốc gia Đặc biệt, lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng – lĩnh vực nắm giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế đất nước, đã thu hút được rất nhiều vốn đầu tư từ các tổ chức tín dụng (TCTD) nước ngoài, nhất là từ khi Việt Nam ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (có hiệu lực từ năm 2002) và gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), số lượng các TCTD nước ngoài hiện diện tại Việt Nam có xu hướng gia tăng Việc các TCTD nước ngoài tăng cường hoạt động và hiện diện tại Việt Nam cho thấy môi trường đầu tư tại Việt Nam ngày càng thông thoáng hơn, hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư nước ngoài, đem lại cho Việt Nam một lượng vốn cần thiết, tạo thêm nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động
Trong thời kỳ CMCN 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, việc đề ra những giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI vào lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng trở thành một nhu cầu bức thiết, một nhiệm vụ quan trọng với Việt Nam hiện nay Xuất phát từ yêu cầu khách quan đó, tác giả lựa chọn đề tài “Thu hút đầu tư trực tiếp nước
Trang 12ngoài vào lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Ngoài nước: Chỉ mới có những công trình nghiên cứu chung về FDI tại Việt Nam, chưa đặc biệt nghiên cứu về FDI trong lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng tại Việt Nam Ví dụ như Bài nghiên cứu “Policy Competition for Foreign Direct Investment” của tác giả Charles Oman, thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, xuất bản năm 2000 Nghiên cứu này tập trung phân tích các chính sách nhằm thu hút FDI của các nước phát triển và đang phát triển
Trong nước: Đã có những đề tài nghiên cứu về dòng vốn FDI vào lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng tại Việt Nam, có thể nêu một số dẫn chứng như sau:
(1) Bài viết “Để thu hút và sử dụng hiệu quả vốn FDI trong lĩnh vực ngân hàng” của tác giả Hoài Ngân đăng tải trên trang Nhà đầu tư (nhadautu.vn) ngày 28 tháng
02 năm 2018 Tác giả đã nêu lên thực trạng thu hút FDI vào ngành ngân hàng trong hơn 30 năm qua, các đóng góp của các nhà đầu tư nước ngoài với nền kinh tế Việt Nam Cùng với đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI vào lĩnh vực ngân hàng
(2) Bài viết “Hàn Quốc và “làn sóng” đầu tư thứ tư vào Việt Nam” của tác giả Nha Trang trên Diễn đàn Doanh nghiệp (https://enternews.vn) ngày 28 tháng 07 năm 2018 Bài viết đã nêu lên sự dịch chuyển đầu tư của các doanh nghiệp Hàn Quốc và những tín hiệu lạc quan trong đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Tài chính – Ngân hàng trong thời gian tới
Các bài nghiên cứu trên đã phân tích thực trạng và xu hướng của dòng vốn FDI vào Việt Nam trong lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng, tuy nhiên chưa có đề tài nào tập trung nghiên cứu kỹ về dòng vốn FDI trong lĩnh vực này vào Việt Nam giai đoạn 2016 - 2018 Bởi vậy, đề tài luận văn “Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” sẽ tập trung làm r vấn đề này
Trang 133 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở vận dụng những lý luận cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài để phân tích, đánh giá đúng thực trạng tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng tại Việt Nam, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút nguồn vốn này
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, đề tài phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa những nội dung cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Phân tích thực trạng, nguyên nhân, kết quả, hạn chế của hoạt động thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng tại Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng tại Việt Nam
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết, phương pháp thu thập và nghiên cứu số liệu thực tế, số liệu từ các nguồn thống kê sẵn có Sau đó,
Trang 14luận văn sử dụng phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp và tổng kết kinh nghiệm để làm rõ các luận điểm trong luận văn
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham
khảo,… nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương 2: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực Tài
chính - Ngân hàng tại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng tại Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1 Khái niệm và đặc điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1 Khái niệm
Có nhiều định nghĩa về FDI nhưng dù theo bất kỳ một cách hiểu nào đều có thể khẳng định FDI là một hình thức “đầu tư” - xuất hiện khi một nhà đầu tư ở một nước mua tài sản có ở một nước khác với ý định quản lý nó Quyền kiểm soát (control – tham gia vào việc đưa ra các quyết định quan trọng liên quan đến chiến lược và các chính sách phát triển của công ty) là tiêu chí cơ bản giúp phân biệt giữa FDI và đầu tư chứng khoán
Theo các chuẩn mực của Quỹ tiền tệ Thế giới (IMF - International Monetary Fund) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD - Organization for Economic Cooperation and Development), FDI được định nghĩa bằng một khái niệm rộng hơn
Trong cuốn “Cẩm nang thanh toán - Balance of Payments Manual”, xuất bản
lần thứ 5 năm 1993, trang 86, IMF định nghĩa: “ Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
là một loại hình đầu tư quốc tế trong đó một tổ chức cư trú tại một nền kinh tế thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác Lợi ích lâu dài ở đây hàm ý sự tồn tại trong thời gian dài của một mối quan hệ giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp và mức độ ảnh hưởng đáng kể của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp này”
OECD thì đưa ra khái niệm: “Đầu tư trực tiếp được thực hiện nhằm thiết lập
các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu
tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: (i) Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; (ii) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; (iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới; (iv) Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm)”
(trích dẫn Benchmark Definition of Foreign Direct Investment, OECD, 1996)
Hai định nghĩa trên nhấn mạnh đến mục tiêu thực hiện các lợi ích dài hạn của một chủ thể cư trú tại một nước, được gọi là nhà đầu tư trực tiếp thông qua một chủ
Trang 16thể khác cư trú ở nước khác, gọi là doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp Mục tiêu lợi ích dài hạn đòi hỏi phải có một mối quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp, đồng thời nhà đầu tư có một mức độ ảnh hưởng đáng kể với việc quản lý doanh nghiệp này
Theo khoản 2 và khoản 12 điều 3 trong Luật đầu tư năm 2005 của Việt Nam thì có các khái niệm về “ Đầu tư”, “ Đầu tư trực tiếp” và “ Đầu tư nước ngoài” … nhưng không có khái niệm “ Đầu tư trực tiếp nước ngoài” Tuy nhiên, từ các khái
niệm trên có thể hiểu: “ FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn
đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”
Từ những khái niệm trên đây, có thể hiểu một cách khái quát về FDI là “một
hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần
đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó” (Vũ Chí Lộc 2012, tr 113) Như vậy, FDI bao giờ
cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nước ngoài với hai đặc điểm cơ bản là:
có sự dịch chuyển tư bản trong phạm vi quốc tế và chủ đầu tư (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn và quản lý đối tượng đầu tư
là lợi nhuận
- FDI được thực hiện bằng vốn của các pháp nhân hoặc tư nhân do các chủ đầu
tư tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả của hoạt
Trang 17động sản xuất kinh doanh (lỗ hoặc lãi) Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có ràng buộc về chính trị
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu tùy theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp đầu tư Chủ đầu tư nước ngoài phải điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc phải tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tùy theo tỉ lệ góp vốn của mình
- Nguồn vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định mà còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp (DN) để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được trong quá trình hoạt động
- FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư thông qua việc cung cấp tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị) và tài sản vô hình (độc quyền, bằng phát minh, sáng chế, bí quyết kỹ thuật, phương thức điều hành quản lý kinh doanh…)
Các dự án FDI cũng có những đặc điểm khác với các dự án đầu tư trong nước,
cụ thể như sau:
- Chủ đầu tư nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý, điều hành dự án
- Tính đa quốc tịch trong một dự án, một dự án FDI cũng bao gồm ít nhất hai bên có hai quốc tịch khác nhau, một bên nước sở tại, một bên nước ngoài
- Tính đa ngôn ngữ của các bên tham gia dự án, đòi hỏi phải sử dụng ngôn ngữ quốc tế và ngôn ngữ nước sở tại trong các văn bản của dự án và trong toàn bộ quá trình hoạt động của dự án
- Dự án đầu tư quốc tế chịu sự chi phối đồng thời của nhiều hệ thống pháp luật (Luật pháp nước sở tại và luật pháp quốc tế)
- Hầu hết các dự án FDI đều gắn liền với quá trình chuyển giao công nghệ với những nội dung, mức độ và hình thức khác nhau
- Các nhà đầu tư nước ngoài vừa là chủ sở hữu, vừa chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh tế của dự án FDI và phân chia lợi ích được tiến hành theo nguyên tắc thỏa thuận trong khuôn khổ pháp luật của nước sở tại
Trang 181.1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Cũng trong cuốn Đầu tư quốc tế (Vũ Chí Lộc 2012, tr 115-119), đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được phân loại như sau:
1.1.3.1 Phân loại theo cách thức xâm nhập
Theo tiêu chí này, FDI được phân chia thành hai hình thức:
- Đầu tư mới (Greenfield investment): Chủ đầu tư nước ngoài góp vốn để xây dựng một cơ sở sản xuất, kinh doanh mới tại nước nhận đầu tư Hình thức này thường được các nước nhận đầu tư đánh giá cao vì có khả năng tăng thêm vốn, tạo công ăn việc làm và giá trị gia tăng cho nước này
- Sáp nhập và mua lại qua biên giới (Cross-border Merger & Acquisition): Chủ đầu tư nước ngoài mua lại hoặc sáp nhập một cơ sở sản xuất kinh doanh đã có sẵn ở nước nhận đầu tư Theo quy định của Luật cạnh tranh được Quốc hội Việt Nam
thông qua tháng 12 năm 2004 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2005: Sáp
nhập (Merger) doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập; Mua lại (Acquisition) doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại FDI chủ yếu diễn ra dưới hình thức mua lại Hình thức
M&A được nhiều chủ đầu tư ưa chuộng hơn hình thức đầu tư mới vì chi phí đầu tư thường thấp hơn và cho phép chủ đầu tư tiếp cận thị trường nhanh hơn
1.1.3.2 Phân loại theo quan hệ về ngành nghề, lĩnh vực giữa chủ đầu tư và đối tượng tiếp nhận đầu tư
Theo tiêu chí này FDI được chia thành ba hình thức
- FDI theo chiều dọc (Vertical FDI): nhằm khai thác nguyên, nhiên vật liệu (Backward vertical FDI) hoặc để tiếp cận gần người tiêu dùng hơn thông qua việc mua lại các kênh phân phối ở nước nhận đầu tư (Forward vertical FDI) Như vậy, doanh nghiệp chủ đầu tư và doanh nghiệp nhận đầu tư nằm trong cùng một dây chuyên sản xuất và phân phối một sản phẩm cuối cùng
Trang 19- FDI theo chiều ngang (Horizontal FDI): hoạt động FDI được tiến hành nhằm sản xuất cùng loại sản phẩm hoặc các sản phẩm tương tự như chủ đầu tư đã sản xuất
ở nước chủ đầu tư Như vậy, yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của hình thức FDI này chính là sự khác biệt của sản phẩm Thông thường FDI theo chiều ngang được tiến hành nhằm tận dụng các lợi thế độc quyền hoặc độc quyền nhóm đặc biệt là khi việc phát triển ở thị trường trong nước vi phạm luật chống độc quyền
- FDI hỗn hợp (Conglomerate FDI): Doanh nghiệp chủ đầu tư và doanh nghiệp tiếp nhận đầu tư hoạt động trong các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau
1.1.3.3 Phân loại theo định hướng của nước nhận đầu tư
Theo tiêu chí này FDI được chia thành ba hình thức:
- FDI thay thế nhập khẩu: Hoạt động FDI được tiến hành nhằm sản xuất và cung ứng cho thị trường nước nhận đầu tư các sản phẩm mà trước đây nước này phải nhập khẩu Các yếu tố ảnh hưởng nhiều đến hình thức FDI này là dung lượng thị trường, các rào cản thương mại của nước nhận đầu tư và chi phí vận tải
- FDI tăng cường xuất khẩu: Thị trường mà hoạt động đầu tư này nhắm tới không phải hoặc không chỉ dừng lại ở nước nhận đầu tư mà là các thị trường rộng lớn hơn trên toàn thế giới và có thể có cả thị trường ở nước chủ đầu tư Các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến dòng vốn FDI theo hình thức này là khả năng cung ứng các yếu tố đầu vào với giá rẻ của các nước nhận đầu tư như nguyên vật liệu, bán thành phẩm
- FDI theo các định hướng khác của chính phủ: Chính phủ nước nhận đầu tư có thể áp dụng các biện pháp khuyến khích đầu tư để điều chỉnh dòng vốn FDI chảy vào nước mình theo đúng ý đồ của mình, ví dụ như tăng cường thu hút FDI để giải quyết tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán
1.1.3.4 Phân loại theo định hướng của chủ đầu tư
Theo tiêu chí này FDI được chia thành hai hình thức:
- FDI phát triển (Expansionary FDI): nhằm khai thác các lợi thế về quyền sở hữu của doanh nghiệp ở nước nhận đầu tư Hình thức đầu tư này giúp chủ đầu tư tăng lợi nhuận bằng cách tăng doanh thu nhờ mở rộng thị trường ra nước ngoài
Trang 20- FDI phòng ngự (Defensive FDI): nhằm khai thác nguồn lao đông rẻ ở các nước nhận đầu tư với mục đích giảm chi phí sản xuất và như vậy lợi nhuận của các chủ đầu tư cũng sẽ tăng lên
1.1.3.5 Phân loại theo hình thức pháp lý
Tùy theo quy định của luật pháp nước nhận đầu tư, FDI có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau Ở Việt Nam, FDI được tiến hành dưới các hình thức pháp lý chủ yếu là:
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh (HĐHTKD): là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam trong đó quy định trách nhiệm chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới Hình thức FDI này có sự tham gia của cả chủ đầu tư Việt Nam và chủ đầu tư nước ngoài Điểm đặc biệt của hình thức này là không hình thành pháp nhân mới (các bên đối tác thực hiện quyền và nghĩa vụ của hợp đồng với tư cách pháp nhân cũ của mình) Hình thức này thường áp dụng đối với một số ngành kinh tế đặc biệt như viễn thông, dầu khí… hoặc chỉ áp dụng khi các chủ đầu tư nước ngoài thâm nhập vào một thị trường mới mà họ chưa biết rõ
- Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên
cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa hai bên hoặc nhiều bên, trường hợp đặc biệt có thể được thành lập trên cơ sở hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với chính phủ nước ngoài, để tiến hành đầu tư , kinh doanh tại Việt Nam
Trong hình thức FDI này, cũng có sự tham gia của cả chủ đầu tư Việt Nam và chủ đầu tư nước ngoài Khác với HĐHTKD, liên doanh hình thành pháp nhân mới ở Việt Nam và là pháp nhân Việt Nam
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp thuộc sở hữu của chủ đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Khác với hai hình thức trên, hình thức FDI này không có sự tham gia của chủ đầu tư Việt Nam Cũng giống như liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cũng hình thành pháp nhân mới ở Việt Nam và
là pháp nhân Việt Nam
Trang 21Ngoài ra, FDI ở Việt Nam còn được tiến hành bằng các hình thức Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT), Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (BTO), Xây dựng - Chuyển giao ( BT)
- Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (Building Operate Transfer –BOT) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định, hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước
- Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao - Kinh doanh (Building Transfer Operate –BTO) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước, Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận
- Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao (Building Transfer – BT) là hình thức đầu
tư được ký giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước, Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng BT
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo Hội nghị của Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD - United Nations Conference on Trade and Development), các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của nước tiếp nhận đầu tư được chia thành 3 nhóm sau:
Trang 221.2.1 Khung chính sách về đầu tư trực tiếp nước ngoài của nước nhận đầu tư
Khung chính sách về FDI của nước nhận đầu tư gồm các quy định liên quan trực tiếp đến FDI và các quy định có ảnh hưởng gián tiếp đến FDI
Các quy định của luật pháp và chính sách liên quan trực tiếp FDI bao gồm các quy định về việc xâm nhập, thành lập và hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài (cho phép, hạn chế, cấm đầu tư vào đầu tư thiếu một số ngành, lĩnh vực; cho phép
tự do hay hạn chế quyền sở hữu của các chủ đầu tư nước ngoài đối với các dự án; cho phép tự do hoạt động hay áp đặt một số điều kiện hoạt động; có hay không các
ưu đãi nhằm khuyến khích FDI…), các tiêu chuẩn đối xử đối với FDI (phân biệt hay không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư có quốc tịch khác nhau…) và cơ chế hoạt động của thị trường trong đó có sự tham gia của thành phần kinh tế có vốn ĐTNN (cạnh tranh có bình đẳng hay không; có hiện tượng độc quyền không; thông tin trên thị trường có rõ ràng mình bạch không …) Các quy định này ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng và kết quả của hoạt động FDI Các quy định thông thoáng,
có nhiều ưu đãi, không có hoặc ít có các rào cản hạn chế hoạt động FDI sẽ góp phần tăng cường thu hút FDI vào và tạo thuận lợi cho các dự án FDI trong quá trình hoạt động Ngược lại, hành lang pháp lý và cơ chế chính sách có nhiều quy định mang tính chất hạn chế và ràng buộc đối với FDI sẽ khiến cho FDI không vào được hoặc các chủ đầu tư không muốn đầu tư Các quy định của luật pháp và chính sách sẽ được điều chỉnh tùy theo định hướng, mục tiêu phát triển của từng quốc gia trong từng thời kỳ, thậm chí có tính đến cả các phương án quy hoạch ngành và vùng lãnh thổ
Bên cạnh đó, một số các quy định, chính sách trong một số ngành, lĩnh vực khác nhau cũng có ảnh hưởng đến quyết định của chủ đầu tư như:
+ Chính sách thương mại: ảnh hưởng rất lớn đến quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư vì FDI gắn với sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ Ví dụ các nước theo đuổi chiến lược phát triển sản xuất trong nước để thay thế nhập khẩu sẽ thu hút được nhiều FDI vào sản xuất các hàng tiêu dùng phục vụ nhu cầu trong nước nhưng sau một thời gian, khi thị trường đã bão hòa nếu nước đó không thay đổi chính sách thì sẽ không hấp dẫn được FDI
Trang 23+ Chính sách tư nhân hóa: liên quan đến việc cổ phần hóa, mua bán lại các công
ty Những nước cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào quá trình tư nhân hóa sẽ tạo cho các nhà đầu tư nước ngoài nhiều cơ hội, nhiều sự lựa chọn hơn khi đưa ra những quyết định đầu tư
+ Chính sách tiền tệ và chính sách thuế: có ảnh hưởng quan trọng đến sự ổn định của nền kinh tế bởi sự tác động của các chính sách này đến tốc độ lạm phát, khả năng cân bằng ngân sách của nhà nước, lãi suất trên thị trường Do vậy, các chính sách này ảnh hưởng rất nhiều đến quyết định đầu tư của chủ đầu tư nước ngoài Tâm lý chung của các chủ đầu tư là đều muốn đầu tư vào các thị trường có tỷ lệ lạm phát thấp do lạm phát thấp sẽ tạo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, môi trường kinh doanh thuận lợi cho các nhà đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó lạm phát thấp sẽ đảm bảo cho các cân đối kinh tế ổn định và tạo điều kiện tốt để thực hiện mục tiêu tái cấu trúc nền kinh tế Lãi suất trên thị trường nước nhận đầu tư sẽ ảnh hưởng đến chi phí vốn, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập của các chủ đầu tư nước ngoài Chính sách thuế của nước nhận đầu tư cũng thu hút được sự quan tâm rất lớn
từ các chủ đầu tư Ví dụ như thuế thu nhập doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của các dự án FDI; Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế tiêu thụ đặc biệt,… ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm Nhìn chung các chủ đầu tư đều có xu hướng tìm cách đầu tư ở những nước có các loại thuế thấp + Chính sách tỷ giá hối đoái: ảnh hưởng đến giá trị các tài sản ở nước nhận đầu
tư, giá trị các khoản lợi nhuận các chủ đầu tư thu được và năng lực cạnh tranh của các hàng hóa xuất khẩu của các chi nhánh nước ngoài Một số nước theo đuổi chính sách đồng tiền quốc gia yếu sẽ có lợi trong việ thu hút ĐTNN và xuất khẩu hàng hóa Chính vì vậy chính sách này cũng có ảnh hưởng đến thu hút FDI
+ Chính sách liên quan đến cơ cấu các ngành kinh tế và các vùng lãnh thổ: khuyến khích phát triển ngành nào, vùng nào; ngành nào đã bão hòa rồi; ngành nào, vùng nào không cần khuyến khích,…
+ Chính sách lao động: có hạn chế hay không hạn chế sử dụng lao động nước ngoài; ưu tiên hay không ưu tiên cho lao động trong nước…
Trang 24+ Chính sách giáo dục, đào tạo, y tế,…: ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lao động cung cấp cho các dự án FDI
+ Các quy định trong các hiệp định quốc tế mà nước nhận đầu tư tham gia ký kết Ngày nay, các quy định này thường tạo thuận lợi cho FDI vì nó bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư, hướng tới không phân biệt các chủ đầu tư theo quốc tịch… Nhìn chung các chủ đầu tư nước ngoài thích đầu tư vào những nước có hành lang pháp lý, cơ chế, chính sách đầy đủ, đồng bộ, thông thoáng, minh bạch và có thể
dự đoán được Điều này đảm bảo cho sự an toàn của vốn đầu tư
1.2.2 Các yếu tố của môi trường kinh tế
Nhóm các yếu tố kinh tế là tổng thể các nhân tố hữu hình và vô hình, có sẵn và tạo ra cấu thành của một nền kinh tế và cũng là thước đo để đánh giá tầm vóc của nền kinh tế quốc gia Nhiều nhà kinh tế cho rằng các yếu tố kinh tế của nước nhận đầu tư là những yếu tố có ảnh hưởng quyết định trong thu hút FDI Tùy động cơ của chủ đầu tư nước ngoài mà có thể có các yếu tố sau của môi trưởng kinh tế ảnh hưởng đến thu hút dòng vốn FDI:
- Các chủ đầu tư có động cơ tìm kiếm thị trường sẽ quan tâm đến các yếu tố như dung lượng thị trường và thu nhập bình quân đầu người; tốc độ tăng trưởng của thị trường; khả năng tiếp cận thị trường khu vực và thế giới; các sở thích đặc biệt của người tiêu dùng ở nước nhận đầu tư và cơ cấu thị trường
Đối với các chủ đầu tư muốn mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm thì dung lượng thị trường của nước tiếp nhận đầu tư là một yếu tố rất quan trọng khi chủ đầu
tư cân nhắc để lựa chọn địa điểm đầu tư Một quốc gia với dân số đông, GDP (Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội) bình quân đầu người cao, GDP tăng trưởng với tốc độ cao, sức mua lớn sẽ có sức hấp dẫn đối với FDI vì đem lại cho chủ đầu tư cơ hội tăng thị phần và lợi nhuận
Thị trường trong nước tiếp nhận đầu tư cũng rất quan trọng đối với các chủ đầu tư là các hãng cung ứng dịch vụ Lý do chính trong trường hợp này không phải
vì hàng rào thuế quan hay phi thuế quan mà do tính đặc thù của sản phẩm dịch vụ là không thể vận chuyển sản phẩm từ nước này sang nước khác, từ nơi này sang nơi
Trang 25khác Chính vì vậy để đáp ứng nhu cầu dịch vụ ở nước ngoài các công ty dịch vụ phải thiết lập các cơ sở cung ứng ở chính nước đó
Bên cạnh thị trường trong nước, các chủ đầu tư nước ngoài ngày càng quan tâm nhiều hơn đến khả năng tiếp cận thị trường khu vực và thế giới của hàng hóa sản xuất ra tại nước tiếp nhận đầu tư Trong xu thế tăng cường liên kết kinh tế quốc
tế và khu vực ngày nay, những quốc gia tham gia vào nhiều các liên kết quốc tế sẽ
có lợi thế trong thương mại quốc tế vì hàng hóa từ nước này xuất khẩu sang các nước thành viên khác trong liên kết sẽ được hưởng chế độ thương mại ưu đãi hơn hàng hóa từ các nước không phải thành viên Chính vì vậy chủ đầu tư nước ngoài chỉ cần đầu tư vào một nước có tham gia vào nhiều các liên kết kinh tế khu vực và thế giới sẽ có cơ hội tiếp cận một thị trường rộng lớn hơn rất nhiều thị trường nước nhận đầu tư Đây là một lợi thế mà các chủ đầu tư nước ngoài không thể bỏ qua khi cân nhắc lựa chọn địa điểm đầu tư
- Các chủ đầu tư tìm kiếm nguồn nguyên liệu và tài sản sẽ quan tâm đến tài nguyên thiên nhiên; lao động chưa qua đào tạo với giá rẻ; lao động có tay nghề; công nghệ, phát minh, sáng chế và các tài sản do doanh nghiệp sáng tạo ra (thương hiệu, ); cơ sở hạ tầng phần cứng (cảng, đường bộ, hệ thống cung cấp năng lượng, mạng lưới viễn thông) Sự phát triển của cơ sở hạ tầng kinh tế của một quốc gia và một địa phương luôn là điều kiện vật chất hàng đầu để các chủ đầu tư có thể nhanh chóng thông qua các quyết định đầu tư và triển khai trên thực tế các dự án đầu tư đã cam kết Một tổng thể hạ tầng phát triển phải bao gồm một hệ thống giao thông vận tải đồng bộ và hiện đại với các cầu, cảng, đường sá, kho bãi và các phương tiện vận tải đủ sức bao phủ quốc gia và đủ tầm hoạt động quốc tế; một hệ thống bưu điện thông tin liên lạc viễn thông với các phương tiện nghe - nhìn hiện đại, có thể nối mạng thống nhất toàn quốc và liên thông với toàn cầu; hệ thống điện nước dồi dào
và phân bổ tiện lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đời sống và một hệ thống mạng lưới cung cấp các loại dịch vụ khác (y tế, giáo dục, giải trí, các dịch vụ hải quan, tài chính, thương mại, quảng cáo, kỹ thuật, v.v ) phát triển rộng khắp, đa dạng và có chất lượng cao Như vậy, việc phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng không chỉ là điều kiện cần để tăng sự hấp dẫn của môi trường đầu tư của mình, mà
Trang 26đó còn là cơ hội để nước và địa phương tiếp nhận đầu tư có thể và có khả năng thu lợi đầy đủ hơn từ dòng vốn nước ngoài đã thu hút được (thông qua tăng thu nhập từ dịch vụ vận tải, thương mại, tài chính, tư vấn thông tin phục vụ các dự án đầu tư đang và sẽ triển khai)
- Các chủ đầu tư tìm kiếm hiệu quả sẽ chú trọng đến chi phí mua sắm các nguồn tài nguyên và tài sản được đề cập ở phần trên, có cân đối với năng suất lao động; các chi phí đầu vào khác như chi phí vận chuyển và thông tin liên lạc đi/đến hoặc trong nước nhận đầu tư; chi phí mua bán thành phẩm; tham gia các hiệp định hội nhập khu vực tạo thuận lợi cho việc thành lập mạng lưới các doanh nghiệp toàn khu vực
Khi các chủ đầu tư chú trọng đến việc giảm chi phí thì một trong những chi phí được các chủ đầu tư chú ý nhiều đó là chi phí lao động Điều này đặc biệt đúng trong những ngành, những lĩnh vực sử dụng nhiều lao động Các chủ đầu tư sẽ tìm đến những thị trường có nguồn lao động rẻ, phù hợp Tất nhiên chủ đầu tư cũng phải tính toán cân đối giữa tiền lương, chi phí đào tạo, các chi phí khác liên quan đến việc sử dụng lao động với năng suất lao động để quyết định đầu tư ở địa điểm nào có hiệu quả sử dụng lao động cao nhất Các ngành có tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu cao trong giá thành sản phẩm lại chú ý nhiều đến việc giảm các chi phí liên quan đến việc mua các nguyên vật liệu,
1.2.3 Các yếu tố tạo thuận lợi trong kinh doanh
Các yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh tại nước nhận đầu tư là các biện pháp mà chính phủ hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm các chính sách xúc tiến đầu tư, các ưu đãi, khuyến khích đầu tư (miễn, giảm thuế, thuế ưu đãi, ưu đãi thuê mặt bằng…); các biện pháp nhằm giảm tiêu cực phí (minh bạch, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tăng hiệu quả công tác quản lý, giảm và loại trừ tham nhũng); các biện pháp cải thiện và nâng cao chất lượng dịch
vụ tiện ích, công cộng nhằm nâng cao chất lượng sống của con người(các trường song ngữ, chất lượng cuộc sống…); các dịch vụ hậu đầu tư Trong đó:
+ Hoạt động xúc tiến đầu tư bao gồm việc quảng bá ra bên ngoài về hình ảnh, chính sách, lợi thế, tiềm năng của nước nhận đầu tư nhằm cung cấp thông tin trung
Trang 27thực nhất, cập nhất nhất để nhà đầu tư hiểu đúng về môi trường kinh doanh của quốc gia mình, mục đích để tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài
+ Các biện pháp khuyến khích đầu tư là những biện pháp của chính phủ nước sở tại, là lợi thế kinh tế có thể đo lường được đối với một doanh nghiệp (nhà đầu tư) nhất định, nhằm tăng tỷ lệ lợi nhuận và giảm các chi phí cũng như rủi ro Các hình thức khuyến khích đầu tư chủ yếu là khuyến khích về tài khoá như giảm tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp, trợ cấp đầu tư và tái đầu tư, miễn giảm thuế, khuyến khích
về tài chính như hỗ trợ của chính phủ dưới dạng tín dụng trợ cấp, tham gia vốn nhà nước, bảo hiểm tín dụng của chính phủ Ngoài ra, còn có các ưu đãi về thị trường như hỗ trợ độc quyền, bảo vệ cạnh tranh nhập khẩu, các hợp đồng chính phủ ưu tiên (trong các chương trình mua sắm công) và đối xử ưu đãi về trao đổi ngoại hối và dịch vụ cơ sở hạ tầng
+ Biện pháp kiểm soát các loại tiêu cực phí và đảm bảo công bằng các dịch vụ tiện ích Đây là yếu tố có thể giảm sự hấp dẫn đối với nhà đầu tư nếu không kiểm soát được chặt chẽ tình trạng quan liêu, tham nhũng và cửa quyền của các cơ quan công quyền Hiện nay , tình trạng này rất phổ biến ở các nước đang và chậm phát triển và là mối lo không chỉ của các doanh nghiệp nước ngoài mà còn cả các doanh nghiệp trong nước muốn làm ăn bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh
+ Các dịch vụ hỗ trợ sau đầu tư là các biện pháp, quy định của chính phủ nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư thiết lập các chi nhánh ở nước ngoài để giải quyết các công việc hàng ngày Một khi nhà đầu tư làm ăn có hiệu quả thì họ sẽ muốn duy trì hoạt động của mình lâu dài ở nước sở tại bằng cách tái đầu tư thu nhập của mình (tái đầu tư) Mặt khác, khi tỷ lệ tái đầu tư càng lớn, số các nhà đầu tư mong muốn tái đầu tư ở một nước tiếp nhận đầu tư càng tăng, thì chứng tỏ môi trường đầu tư của nước đó tốt, hấp dẫn và vì thế cũng sẽ lôi kéo các nhà đầu tư khác cũng tham gia đầu tư vào quốc gia đó
Từ lâu các nước nhận đầu tư đã ý thức được tầm quan trọng của các yếu tố này,
vì vậy chính phủ các nước thường tìm cách cải tiến các yếu tố này nhằm tạo thuận
lợi nhiều hơn cho các chủ đầu tư nước ngoài
Trang 281.3 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài với lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng
1.3.1 Ứng dụng công nghệ mới trong hiện đại hóa lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng
Như đã trình bày trong mục 1.1.2, một trong những đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài là FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ mới cho các nước tiếp nhận đầu tư Việc chuyển giao này được thực hiện bằng chuyển giao công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và nghiên cứu ứng dụng, cải tiến và phát triển tạo thành công nghệ mới phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nước nhận đầu tư Chuyển giao công nghệ được thực hiện chủ yếu từ các công ty – tập đoàn xuyên quốc gia (TNCs) Đây là nguồn lực luôn được các nước đang phát triển quan tâm với nhiều
ưu đãi khi thu hút FDI Đồng thời, TNCs đầu tư thành lập các trung tâm nghiên cứu
và phát triển tại nước tiếp nhận FDI, mà phần lớn hoạt động nghiên cứu và phát triển này nhằm cải biến, ứng dụng công nghệ mới cho phù hợp với điều kiện sử dụng của địa phương, góp phần đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ các ngành nghề, lĩnh vực, hiện đại hóa nền kinh tế, trong đó có Tài chính - Ngân hàng
Đặc biệt, trong thời kỳ CMCN 4.0 đang diễn ra rộng khắp, đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng đang tập trung phát triển mạnh các sản phẩm, dịch vụ gắn với yếu tố công nghệ mới và tận dụng mạng lưới toàn cầu, đặc biệt là các kênh giao dịch điện tử Trong đó, nổi bật là các sản phẩm phát sinh
về ngoại hối, lãi suất, tỷ giá, tiền tệ và tài sản tài chính khác, các dịch vụ thanh toán, tài trợ thương mại, quản lý tài sản, bảo lãnh Điều này cũng đem lại nhiều lợi ích cũng như nhiều lựa chọn hơn về dịch vụ tài chính, ngân hàng cho các khách hàng tại quốc gia nhận đầu tư
1.3.2 Nâng cao năng lực tài chính, quản trị của các tổ chức Tài chính - Ngân hàng
Sự hiện diện của dòng vốn FDI và các TCTD nước ngoài cũng góp phần tạo nên sự đa dạng các loại hình TCTD trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng tại nước nhận đầu tư, là yếu tố tạo sức ép buộc các tổ chức Tài chính - Ngân hàng trong nước phải luôn ưu tiên đổi mới, nâng cao và tự chủ không chỉ về công nghệ mà song song
Trang 29còn phải đẩy mạnh, tăng cường năng lực tài chính, năng lực quản trị Tài chính - Ngân hàng của bản thân Với vị thế là các tổ chức tài chính lớn trên thế giới, có nhiều kinh nghiệm về tài chính, quản trị, điều hành, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ mang lại sự hỗ trợ, tư vấn rất lớn cho các tổ chức Tài chính - Ngân hàng của nước nhận đầu tư trong quá trình phát triển, tái cấu trúc, hoàn thiện bộ máy tổ chức, hiện đại hóa hệ thống quản trị Tài chính - Ngân hàng Nhờ vậy, năng lực tài chính, quản trị hiện nay của các tổ chức Tài chính - Ngân hàng trong nước có vốn đầu tư nước ngoài sẽ có nhiều thay đổi tích cực, tiếp cận gần hơn vơi các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế
1.3.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các tổ chức Tài chính - Ngân hàng
Bên cạnh việc nâng cao năng lực tài chính, quản trị của các tổ chức Tài chính - Ngân hàng, đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng minh bạch Sự xuất hiện của các dự
án FDI đi kèm công nghệ, máy móc, thiết bị hiện đại đã giúp nâng cao chất lượng,
đa dạng hóa các mặt hàng, dịch vụ, gia tăng lợi thế kinh doanh trên thị trường trong nước và quốc tế Kinh nghiệm quốc tế và các báo cáo đánh giá cho thấy những nền kinh tế có hệ thống Tài chính - Ngân hàng hoạt động cạnh tranh, cởi mở trên cơ sở thông tin công khai, minh bạch thì hệ thống Tài chính - Ngân hàng đó phát triển bền vững, an toàn hơn và có nhiều khả năng ứng phó linh hoạt với các cú sốc, các nguy
cơ gây khủng hoảng luôn có thể xảy ra
1.3.4 Phát triển nguồn nhân lực trình độ cao
Phát triển nguồn nhân lực, tạo công ăn việc làm cho người dân tại nước nhận đầu tư cũng là một vai trò nổi bật của đầu tư trực tiếp nước ngoài Hơn thế nữa, FDI không chỉ tạo việc làm trực tiếp mà còn tạo việc làm gián tiếp Theo điều tra của Ngân hàng Thế giới thì mỗi việc làm do FDI trực tiếp tạo ra sẽ tạo thêm cho từ một tới hai việc làm gián tiếp khác Đồng thời, khi các nhà đầu tư nước ngoài tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh trên lãnh thổ các quốc gia đang phát triển, họ sẽ cung cấp các chuyên gia giỏi cũng như phương thức quản lý doanh nghiệp hiện đại
và chuyên nghiệp Như vậy, những người lao động cũng như các doanh nghiệp
Trang 30nước đó sẽ có điều kiện và cơ hội để học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật cũng như kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp
Trong bối cảnh CMCN 4.0 và tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, thị trường lao động trong ngành Tài chính - Ngân hàng sẽ thay đổi theo hướng giảm giao dịch viên, giao dịch chi nhánh… và gia tăng nguồn nhân lực trình độ cao, giỏi
cả chuyên môn nghiệp vụ tài chính, ngân hàng và công nghệ thông tin Nhân sự chất lượng cao là một thách thức đối với không chỉ ngành Tài chính - Ngân hàng
mà cả những ngành khác khi robot, công nghệ dần chiếm ưu thế hơn con người Chất lượng nguồn nhân lực không chỉ là trình độ nghiệp vụ Tài chính - Ngân hàng
mà đi liền với đó là kỹ năng vận hành công nghệ số, tính tuân thủ về quy trình vận hành cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng trong môi trường công nghệ thông tin
1.4 Các chỉ số đánh giá thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.4.1 Quy mô số lượng dự án
Chỉ số đầu tiên khi đánh giá thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của một quốc gia là quy mô số lượng dự án Quốc gia thu hút số lượng lớn dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài cho thấy sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước đối với nhà đầu tư nước ngoài Nguồn vốn từ những dự án này sẽ là nguồn lực tài chính quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt vốn đầu tư cũng như là một nguồn thu cho ngân sách nhà nước, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, góp phần tạo ra động lực cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội
Trong năm 2018, tại Việt Nam có 3,046 dự án mới được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, tăng 17.6% so với số lượng dự án cấp mới năm 2017, với tổng vốn đăng ký cấp mới gần 18 tỷ USD, bằng 84.5% so với cùng kỳ năm 2017; có 1,169 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm 7.59 tỷ USD, bằng 90.3% so với cùng kỳ năm 2017 Cũng trong 12 tháng năm 2018, cả nước có 6,496 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị vốn góp 9.89 tỷ USD, tăng 59.8% so với cùng kỳ 2017 Tính lũy kế đến ngày 20/12/2018, cả nước có 27,353 dự án còn hiệu lực với vốn đăng ký 349.1 tỷ USD, vốn thực hiện 191.4 tỷ USD, bằng 56.2% tổng vốn đăng ký Nhà đầu tư nước ngoài
đã đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân Trong đó,
Trang 31công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là ngành thu hút được nhiều vốn nhất với 195.3
tỷ USD, chiếm 57.4% vốn đăng ký; kinh doanh bất động sản 57.9 tỷ USD, chiếm 17.0%; sản xuất, phân phối điện, khí nước 23.0 tỷ USD, chiếm 6.7%
Bảng 1.1 Báo cáo số lượng dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2018
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, Báo cáo FDI 12.2018
Sự gia tăng của số lượng các dự án đầu tư nước ngoài cho thấy Việt Nam vẫn đang là điểm đến có nhiều sức hút với nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên cũng từ những số liệu trên, có thể thấy hai năm trở lại đây, dòng vốn FDI vào Việt Nam có
sự phân hóa mạnh ở cách thức đầu tư Đáng chú ý, lượng vốn từ các dự án đăng ký mới và tăng vốn - thường được cho là phát triển từ các ý tưởng kinh doanh của nhà đầu tư, bao hàm trong đó là công nghệ hiện đại và quản trị tiên tiến có thể giúp Việt Nam tiếp cận được với trình độ sản xuất cao hơn - đang ghi nhận đà giảm tốc qua các năm Trong khi đó, góp vốn mua cổ phần liên tục tăng trưởng cao
1.4.2 Quy mô vốn của dự án
Bên cạnh chỉ số về quy mô số lượng dự án, quy mô vốn của dự án cũng được
sử dụng để đánh giá thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Chỉ số này thể hiện khả năng tài chính cũng như sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư của một quốc giá Quốc gia thu hút được nhiều dự án có vốn đầu tư “khủng” chứng tỏ quốc gia đó thành công trong công cuộc thu hút FDI, và chính những dự án này sẽ đóng góp vai trò không nhỏ trong đẩy mạnh tăng trưởng dòng vốn FDI, đem lại những tác động tích cực đến thị trường trong nước, làm thay đổi diện mạo và góp phần làm cho nền kinh tế, xã hội phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn Đồng thời quy mô vốn của dự án càng cao càng chứng tỏ triển vọng, sức hút của môi trường đầu tư trong nước, sự ổn định về kinh tế, chính trị, và hấp dẫn thêm nhiều nhà đầu tư nước ngoài khác
Số dự án
Cấp mới dự án 2,591 3,046 117.6% Tăng vốn lượt dự án 1,188 1,169 98.4% Góp vốn, mua cổ phần lượt dự án 5,002 6,496 129.9%
Trang 32Trong suốt hơn 30 năm thu hút FDI, Việt Nam đã chứng kiến sự hiện diện của những nhà đầu tư nước ngoài, điển hình là các tập đoàn đa quốc gia hàng đầu thế giới như: Honda, Intel, Samsung, Yamaha, Panasonic, Microsoft, LG Những dự
án “tỷ đô” của các tập đoàn kinh tế hàng đầu cho thấy Việt Nam đã và đang là điểm đến đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài Riêng trong năm 2018, đóng góp cho FDI có thể kể đến một số dự án “tỷ đô” như:
- Dự án Thành phố thông minh tại xã Hải Bối, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu
tư ngày 14/7/2018 Vĩnh Ngọc, Đông nh Hà Nội, tổng vốn đầu tư 4,138 tỷ USD do Sumitomo Corporation (Nhật Bản) đầu tư với mục tiêu xây dựng khu đô thị thông minh, đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội…
- Dự án Nhà máy sản xuất polypropylene và kho ngầm chứa khí dầu mỏ hóa lỏng tại Việt Nam, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ngày 30/5/2018 với tổng vốn đầu tư đăng ký 1,201 tỷ USD do HYOSUNG CORPOR TION (Hàn Quốc) đầu tư tại Bà Rịa – Vũng Tàu
- Dự án Công ty TNHH Laguna (Việt Nam), cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu
tư ngày 07/03/2007 do nhà đầu tư Singapore đầu tư tại Thừa Thiên Huế đã điều chỉnh tăng vốn đầu tư thêm 1.12 tỷ USD vào ngày 25/5/2018
- Dự án nhà máy LG Innitek Hải Phòng (Hàn Quốc), cấp giấy chứng nhận đăng
ký đầu tư ngày 01/9/2016 với mục tiêu Sản xuất mô đun Camera điều chỉnh tăng vốn đầu tư thêm 501 triệu USD vào ngày 23/2/2018
- Dự án LG Display Hải Phòng (Hàn Quốc), cấp phép ngày 15/4/2016 tại Hải Phòng điều chỉnh tăng vốn đầu tư thêm 500 triệu USD vào ngày 9/8/2018
Bảng 1.2 Báo cáo vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2018
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, Báo cáo FDI 12.2018
TT Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2017 Năm 2018 So cùng kỳ
2.1 Đăng ký cấp mới triệu USD 21,275.89 17,976.17 84.5% 2.2 Đăng ký tăng thêm triệu USD 8,416.84 7,596.65 90.3% 2.3 Góp vốn, mua cổ phần triệu USD 6,191.11 9,892.73 159.8%
Trang 33Tuy nhiên những dự án “tỷ đô” kể trên chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số
dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Từ bảng 1.1 và 1.2, có thể thấy tuy số lượng
dự án FDI trong năm 2018 tại Việt Nam có tăng lên, nhưng chủ yếu vẫn là những
dự án có quy mô vốn bình quân vừa và nhỏ Quy mô vốn bình quân một dự án FDI được cấp phép mới trong năm 2018 là 5.9 triệu USD Xét trong quãng thời gian 10 năm, con số này đã sụt giảm gấp hơn 3 lần Điều này đã khiến cho FDI thu hút được trong năm 2018 tuy vẫn cao, nhưng chưa thực sự đột phá
Đồng thời, khi nhắc đến quy mô vốn của dự án, song song với những số liệu
về vốn đăng ký các dự án FDI, cũng cần cân nhắc đến số liệu về vốn thực hiện (vốn giải ngân) Trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, quan trọng nhất là vốn thực hiện phải tiệm cận gần với số vốn đăng ký Điều đó mới đánh giá đúng thực chất hiệu quả của hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và tạo nên những đóng góp thực sự đối với nền kinh tế - xã hội đất nước
Theo bảng 1.2, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giải ngân trong năm 2018 tăng tới 9.1% so với cùng kỳ năm 2017 Như vậy đây là năm thứ ba liên tiếp số vốn FDI giải ngân liên tục tăng mạnh, từ 15.8 tỉ USD của năm 2016 lên 17.5 tỉ USD năm
2017 và đạt 19.1 tỉ USD năm 2018 Tuy nhiên nếu so sánh với tổng số vốn đăng ký trong năm này, số vốn thực hiện chỉ bằng khoảng 53% tổng vốn đăng ký
Các số liệu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho thấy, tính đến hết năm 2018,
số vốn đầu tư nước ngoài cam kết vào Việt Nam đã đạt trên 333 tỷ USD Tuy nhiên, cho đến nay, hơn 150 tỷ USD vốn FDI đăng ký vẫn chưa được thực hiện Với nền kinh tế mở như Việt Nam, việc tận dụng nguồn vốn FDI đã giải ngân mới là vốn thực, có ý nghĩa thực sự với nền kinh tế Còn theo các chuyên gia, số “vốn ảo” đăng
ký này nếu không được nhìn nhận rõ ràng, sẽ kéo theo những sai lệch về số liệu và
dự báo, ảnh hưởng đến dự báo tốc độ phát triển của đất nước Còn ở khía cạnh địa phương, mặt trái của cuộc đua thành tích thu hút FDI là nhiều dự án “tỷ đô” đăng ký đến nay vẫn “đắp chiếu”, chưa được triển khai Trong số này phải kể đến Dự án Saigon Atlantis Hotel (vốn đăng ký 4.1 tỷ USD); Dự án Hóa dầu Long Sơn (4.5 tỷ USD); Dự án Thành phố mới Nhơn Trạch Berjaya (2 tỷ USD); Dự án Khu đô thị đại học quốc tế (3.5 tỷ USD); Dự án Kobelco (1 tỷ USD)…
Trang 341.4.3 Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đối tác hợp tác đầu tư
Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đối tác hợp tác đầu tư thể hiện phần nào khả năng vận động, kêu gọi xúc tiến đầu tư của một quốc gia Bên cạnh những lợi thế rõ rệt trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ khung chính sách, các yếu
tố của môi trường kinh tế, các yếu tố tạo thuận lợi trong kinh doanh, nếu việc quảng
bá những tiềm năng, thế mạnh của quốc gia đó ra thế giới được thực hiện bài bản,
có tầm nhìn chiến lược, cùng với đó có nhiều những chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp FDI và được thực hiện triệt để, sẽ là điểm mạnh để tác động đến quyết định đầu tư của các đối tác nước ngoài
Trong bối cảnh CMCN 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, ưu tiên thu hút FDI một số ngành và sản phẩm công nghệ cao, tạo ra giá trị gia tăng lớn như công nghệ thông tin, điện tử, internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo, thực tế ảo, tương tác thực tại ảo, điện toán đám mây, phân tích dữ liệu lớn, cơ khí chế tạo, tự động hóa đang là xu hướng thiết yếu của các quốc gia khi đánh giá cơ cấu đối tác hợp tác đầu tư, nhằm định hướng đối tác phù hợp, và đưa ra các chính sách để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các đối tác đó một cách hiệu quả Các đối tác hợp tác đầu tư được ưa thích trong những năm gần đây chủ yếu vẫn đến từ các quốc gia thuộc nền kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc…
Trang 35Bảng 1.3 Top 20 đối tác thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2018
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, Báo cáo FDI 12.2018
Tại Việt Nam, trong năm 2018 có tổng số 112 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự
án đầu tư FDI Nhật Bản đứng vị trí thứ nhất với tổng vốn đầu tư là 8.59 tỷ USD, chiếm 24.2% tổng vốn đầu tư; Hàn Quốc đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký 7.2 tỷ USD, chiếm 20.3% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Singapore đứng vị trí thứ
3 với tổng vốn đầu tư đăng ký là 5 tỷ USD, chiếm 14.2% tổng vốn đầu tư Bên cạnh nguyên nhân là những nhà đầu tư hàng đầu và uy tín, thường có những dự án với quy mô vốn lớn, triển khai dự án nhanh chóng, hiệu quả, thì nền công nghệ phát triển vượt bậc cũng là một yếu tố quan trọng giúp các nhà đầu tư từ các quốc gia này được lựa chọn trở thành đối tác chiến lược trong thu hút FDI tại Việt Nam những năm gần đây
Lũy kế đến ngày 20/12/2018, đã có 130 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam với 27,353 dự án, tổng vốn đăng ký 340.1 tỷ USD, trong đó đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký 62.5 tỷ USD (chiếm 18.3%
TT Đối tác Số dự án
cấp mới
Vốn đăng
ký cấp mới (triệu USD)
Số lượt
dự án tăng vốn
Vốn đăng
ký tăng thêm (triệu USD)
Số lượt góp vốn mua cổ phần
Giá trị góp vốn, mua cổ phần
Tổng vốn đăng ký (triệu USD)
Trang 36tổng vốn đầu tư) Nhật Bản đứng thứ hai với 57 tỷ USD (chiếm 16.7% tổng vốn đầu tư), tiếp theo lần lượt là Singapore và Đài Loan, Britishvirgin Islands, Hồng Kông
Bảng 1.4 Top 20 đối tác thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
(Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 20/12/2018)
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, Báo cáo FDI 12.2018
1.4.4 Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức
Chỉ số này thể hiện xu hướng đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài Với những mục đích đầu tư khác nhau, cân nhắc giữa thuận lợi và khó khăn của từng hình thức đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài sẽ xác định cho mình hình thức đầu tư phù hợp và mang lại lợi ích cao nhất Trong phạm vi luận văn này sẽ chỉ đề cập đến các số liệu
về hình thức đầu tư phân loại theo khía cạnh pháp lý Các hình thức đầu tư này, đối với nước tiếp nhận đầu tư hay nhà đầu tư nước ngoài đều có những thuận lợi và khó khăn nhất định, cụ thể như sau:
Tổng vốn đầu tư đăng ký (Triệu USD)
Trang 37- Đối với nước tiếp nhận đầu tư:
+ Thuận lợi: Giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, thiếu công nghệ, tạo ra thị trường nhưng vẫn đảm bảo an ninh quốc gia và nắm quyền điều hành dự án
+ Khó khăn: Khó thu hút đầu tư, chỉ thực hiện ở một số ít lĩnh vực dễ sinh lời
+ Thuận lợi: Tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của nước tiếp nhận đầu
tư vào những lĩnh vực hạn chế đầu tư, không mất thời gian, chi phí cho việc nghiên cứu thị trường mới, không bị tác động lớn do khác biệt về văn hóa, chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư
+ Khó khăn: Không được trực tiếp quản lý điều hành dự án, quan hệ hợp tác với nước tiếp nhận đầu tư thiếu tính chắc chắn khiến nhiều nhà đầu tư e ngại
1.4.4.2 Doanh nghiệp liên doanh
+ Thuận lợi: Giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, đa dạng hóa danh mục sản phẩm, đổi mới công nghệ, tạo ra thị trường mới và tạo cơ hội cho người lao động làm việc và học tập kinh nghiệm quản lý, công nghệ của nước ngoài
+ Khó khăn: Mất nhiều thời gian thương thảo các vấn đề liên quan đến dự án đầu tư, thường xuất hiện mâu thuẫn trong quá trình quản lý điều hành doanh nghiệp,
do nhà đầu tư nước ngoài thường quan tâm đến lợi ích toàn cầu, vì vậy đôi lúc liên doanh phải chịu thua thiệt vì lợi ích ở các nơi khác
+ Thuận lợi: Tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của nước tiếp nhận đầu
tư, được đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh dễ thu lời, những lĩnh vực bị hạn chế đối với hình thức DN 100% vốn nước ngoài Không mất thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối quan hệ Chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư
+ Khó khăn: Khác biệt về nhìn nhận chi phí đầu tư giữa hai bên đối tác, mất nhiều thời gian thương thảo mọi vấn đề liên quan đến dự án đầu tư, không chủ động trong việc quản lý điều hành doanh nghiệp, dễ bị mất cơ hội kinh doanh khi khó giải quyết khác biệt về tập quán, văn hóa
Trang 381.4.4.3 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
+ Thuận lợi: Nhà nước thu được ngay tiền thuê đất, tiền thuế kể cả khi doanh nghiệp kinh doanh bị lỗ, giải quyết được vấn đề công ăn việc làm mà không cần bỏ vốn đầu tư, tập trung thu hút vốn và công nghệ của nước ngoài vào những lĩnh vực khuyến khích xuất khẩu, tiếp cận được thị trường nước ngoài
+ Khó khăn: Khó tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ nước ngoài để năng cao trình độ quản lý hay cán bộ kỹ thuật ở các doanh nghiệp trong nước
+ Thuận lợi: Chủ động trong quá trình quản lý điều hành doanh nghiệp thực hiện các chiến lược toàn cầu của tập đoàn, triển khai nhanh dự án đầu tư, được quyền chủ động chọn và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển chung của tập đoàn
+ Khó khăn: Chủ đầu tư phải chịu toàn bộ rủi ro trong đầu tư, phải chi phí nhiều hơn cho nghiên cứu tiếp cận thị trường mới, không xâm nhập được vào những lĩnh vực nhiều lợi nhuận của thị trường trong nước, khó quan hệ với các cơ quan quản lý Nhà nước của nước sở tại
Trong vài năm trở lại đây, hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài vẫn luôn duy trì vị thế đứng đầu của mình, tiếp tục chiếm ưu thế cả về số lượng dự án lẫn tổng vốn đầu tư đăng ký, vượt trội hơn hẳn các hình thức đầu tư nước ngoài còn lại vào Việt Nam nhờ những thuận lợi hình thức này đem lại cho cả nước tiếp nhận đầu
tư và nhà đầu tư nước ngoài Lũy kế đến hết năm 2018, số dự án đầu tư 100% vốn nước ngoài là 23,087 dự án với 244,580.143 triệu USD, chiếm 84.4% tổng số dự án
và 71.9% tổng vốn đầu tư đăng ký của cả nước
Trang 39Bảng 1.5 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo hình thức đầu tư
(Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 20/12/2018)
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, Báo cáo FDI 12.2018
Xét về mặt tích cực, điều này thể hiện sự tin tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư của Việt Nam cũng như cho thấy xu hướng hoạt động đang trở nên độc lập hơn mà không phải dựa vào các đối tác trong nước để khai thác những yếu tố thuận lợi như các giai đoạn trước Với hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài, quyền điều hành hoàn toàn thuộc về chủ đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý toàn bộ và chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của dự án FDI, vì vậy tạo tâm lý thoải mái, tự chủ, không chịu sự rằng buộc cho nhà đầu tư Cục Đầu tư nước ngoài nhận định đây là ưu điểm lớn khiến hình thức này luôn chiếm ưu thế trong cơ cấu vốn FDI của cả nước so với các hình thức đầu tư khác
Tuy nhiên, việc khuyến khích đầu tư chủ yếu theo hình thức này sẽ phản tác dụng, tạo sự chèn ép với các doanh nghiệp trong nước nếu trong thời gian tới không
có những chính sách quản lý đi kèm và thực thi hiệu quả đối với hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài Chưa kể, như đã nêu ở trên, hình thức đầu tư này cản trở tác động lan tỏa của FDI về công nghệ, khả năng chuyển giao phương thức quản lý Xu hướng thành lập các doanh nghiệp 100% vốn là cách các tập đoàn, công ty đa quốc gia phương Tây sử dụng để dễ triển khai sản xuất và kinh doanh Điều này cho phép
họ giảm thiểu tối đa những rủi ro về rò rỉ công nghệ Thực tế nhiều năm qua đã cho thấy, Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc thúc đẩy chuyển giao công nghệ, học hỏi kỹ năng và bí kíp kinh doanh Việt Nam cũng chưa tạo được mạng liên kết giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước do khoảng cách công nghệ và trình độ lao động
Tổng vốn đầu tư đăng ký (Triệu USD)
Trang 401.4.5 Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo lãnh thổ
Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo lãnh thổ cho thấy sức hút của môi trường đầu tư tại từng địa phương đối với nhà đầu tư nước ngoài Ngoài một số địa phương vốn có ưu thế trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, những thành phố lớn, đia bàn trọng điểm, phát triển mạnh về kinh tế xã hội, thì những chính sách
ưu đãi dành cho nhà đầu tư nước ngoài tại mỗi địa phương cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định của chủ đầu tư Những địa phương được chính quyền sở tại tập trung phát triển, hoàn thiện cơ sở hạ tầng tại các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế; ban hành nhiều cơ chế, chính sách minh bạch, thông thoáng, giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư, phát triển sản xuất; lãnh đạo địa phương thường xuyên quan tâm, đồng hành cùng doanh nghiệp, nhà đầu tư để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc nảy sinh… sẽ thu hút được càng nhiều sự chú ý của chủ đầu tư nước ngoài
Năm 2018, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 59 tỉnh, thành phố của Việt Nam, trong đó Hà Nội là địa phương thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất với tổng số vốn đăng ký là 7.5 tỷ USD, chiếm 21.2% tổng vốn đầu tư TP Hồ Chí Minh đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký là 5.9 tỷ USD, chiếm 16.7% tổng vốn đầu tư Hải Phòng đứng thứ 3 với tổng số vốn đăng ký 3.1 tỷ USD chiếm 8.7% tổng vốn đầu tư Với những điều kiện về vị trí địa lý thuận lợi, nhiều tài nguyên quý giá, hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển, đồng bộ, có nguồn nhân lực chất lượng cao đồng thời là các trung tâm kinh tế lớn của cả nước cũng như cửa ng giao thương quốc tế, các địa phương này là địa điểm lựa chọn ưa thích hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài với nhiều dự án có số vốn đăng ký lên đến hàng tỷ USD