1. Trang chủ
  2. » Tất cả

K24-TCNH-Do Van Anh- Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại trung tâm CNXL Bom mìn

121 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 2: Luận văn đã trình bày các kết quả nghiên cứu được để mô tả bức tranh toàn cảnh về công tác quản lý tài chính tại Trung tâm Công nghệ xử lý Bom mìn – Bộ Tư lệnh Công binh, làm n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA

TRUNG TÂM CÔNG NGHỆ XỬ LÝ BOM MÌN/ BỘ TƯ LỆNH CÔNG BINH

ĐỖ VÂN ANH

Hà Nội - Năm 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hoàn thiện công tác quản lý tài chính của Trung tâm Công nghệ xử lý bom mìn/ Bộ Tư lệnh Công binh

Ngành: Tài chính – Ngân hàng – Bảo hiểm

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 83.40.201

Họ và tên học viên: Đỗ Vân Anh

Người hướng dẫn: PGS, TS Vũ Hoàng Nam

Hà Nội – Năm 2019

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để luận văn này đạt kết quả tốt đẹp, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn các giảng viên Trường Đại học Ngoại Thương đã tổ chức giảng dạy, truyền đạt cho tôi rất nhiều kiến thức quý báu giúp tôi nâng cao trình độ, hoàn thành tốt chương trình học tập, bảo vệ chuyên đề, tham gia nghiên cứu, sinh hoạt tại Khoa Đồng thời tạo điều kiện cho tôi có đủ khả năng để nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin cũng xin chân thành cảm ơn việc tạo điều kiện và giúp đỡ của Khoa Sau đại học, Khoa Tài chính – Ngân hàng đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, chỉ dẫn và động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đối với PGS TS Vũ Hoàng Nam- Trưởng phòng Quản lý Khoa học – trường Đại học Ngoại Thương là người đã mang hết trách nhiệm và kiến thức của mình để trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn từ khi xây dựng đề cương, bản thảo đến khi hoàn thành Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo đã chỉ dẫn, góp ý kiến để hoàn thiện bản đề cương cũng như luận văn của tôi

Xin gửi tới Ban lãnh đạo Trung tâm Công nghệ xử lý bom mìn, chỉ huy các phòng ban nhất là Trưởng ban Tài chính Thiếu tá Dương Ngọc Lan cùng các anh chị

em đồng nghiệp trong ban lời cảm tạ sâu sắc vì đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình làm việc, nghiên cứu, giúp tôi thu thập số liệu ngoại nghiệp cũng như những tài liệu nghiên cứu cần thiết liên quan tới đề tài tốt nghiệp

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và tất cả học viên lớp Cao học khoá 24-Đại học Ngoại Thương đã luôn luôn giúp đỡ, động viên, góp ý kiến cho tôi

để hoàn thành luận văn cũng như hoàn thành khóa học

Học Viên Đỗ Vân Anh

Trang 5

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN

Luận văn với đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý tài chính của Trung tâm Công nghệ xử lý bom mìn – Bộ Tư Lệnh Công binh” bao gồm 03 chương:

Chương 1: Luận văn trình bày các vấn đề chung về cơ sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu Bên cạnh đó luận văn đã khái quát quá trình nghiên cứu của tác giả đi trước và tính kế thừa từ các luận văn này Chương 1 luận văn cũng đã nói rõ các phương pháp, chỉ tiêu nghiên cứu mà luận văn sẽ thực hiện đồng thời đưa ra khung nghiên cứu của luận văn và bài học kinh nghiệm từ một số đơn vị dự toán trong quân đội

Chương 2: Luận văn đã trình bày các kết quả nghiên cứu được để mô tả bức tranh toàn cảnh về công tác quản lý tài chính tại Trung tâm Công nghệ xử lý Bom mìn – Bộ Tư lệnh Công binh, làm nổi bật thực trạng mà đơn vị đang phải đối mặt và

có những đánh giá về công tác Quản lý tài chính của Trung tâm công nghệ xử lý bom mìn giai đoạn 2014-2018 trên các nội dung: việc tổ chức bộ máy và phân cấp quản lý tài chính; công tác quản lý tài chính từ nguồn ngân sách; quản lý tài chính từ các hoạt động có thu; công tác kế toán, kiểm toán từ đó chỉ ra 5 kết quả, 8 hạn chế và nguyên nhân để làm có sở cho việc đề xuất các giải pháp khắc phục

Chương 3: Bao gồm kết luận về các vấn đề đã thực hiện, đưa ra những giải pháp

để hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Trung tâm Công nghệ xử lý bom mìn –

Bộ Tư lệnh Công binh tập trung vào các nội dung: hoàn thiện công tác quản lý thu, quản lý chi cho phù hợp với loại hình đơn vị; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát

và thanh tra tài chính, đồng thời nêu ra một số kiến nghị để hoàn thiện công tác Quản

lý tài chính tại đơn vị

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẰT vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU viii

DANH MỤC ĐỒ THỊ ix

DANH MỤC SƠ ĐỒ x

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Kết cấu của luận văn 5

CHƯƠNG I 6

LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH 6

1.1 Khái quát về Tài chính đơn vị dự toán trong Quân đội 6

1.1.1 Một số khái niệm 6

1.1.2 Đặc điểm, nội dung của tài chính đơn vị dự toán 8

1.1.3 Nhiệm vụ của tài chính đơn vi dự toán 11

1.2 Quản lý tài chính ở đơn vị dự toán trong quân đội 11

1.2.1 Khái niệm về quản lý tài chính ở đơn vị dự toán 11

1.2.2 Nội dung cơ chế quản lý công tác tài chính 12

1.2.3 Nội dung quản lý tài chính theo quy trình ngân sách 17

1.2.4 Yêu cầu đối với công tác quản lý tài chính ở đơn vị dự toán trong quân đội 20

Trang 7

1.3 Hoàn thiện công tác quản lý tài chính 21

1.3.1 Khái niệm về hoàn thiện công tác quản lý tài chính 21

1.3.2 Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý tài chính 22

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý tài chính 27

1.4 Cơ sở thực tiễn về quản lý tài chính ở một số đơn vị dự toán Quân đội 21

1.4.1 Kinh nghiệm quản lý tài chính ở Học viện Khoa học Quân sự 29

1.4.2 Kinh nghiệm quản lý tài chính tại Cục Hậu Cần – Tổng cục kỹ thuật 30

1.4.3.Bài học rút ra cho Trung tâm Công nghệ xử lý bom mìn trong quản lý tài chính 30

CHƯƠNG 2 32

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TRUNG TÂM CÔNG NGHỆ XỬ LÝ BOM MÌN GIAI ĐOẠN 2014-2018 32

2.1 Tổng quan về Trung tâm công nghệ xử lý bom mìn – Bộ Tư lệnh Công binh (BOMICEN) 32

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Trung tâm Công nghệ xử lý Bom mìn 32

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Công nghệ xử lý Bom mìn 33

2.1.3 Cơ cấu, tổ chức của Trung tâm Công nghệ xử lý Bom mìn 33

2.1.4 Đặc điểm hoạt động của Trung tâm 35

2.1.5 Cơ chế quản lý tài chính 36

2.1.6 Thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý tài chính 36

2.2 Thực trạng công tác quản lý tài chính tại Trung tâm Công nghệ xử lý Bom mìn giai đoạn 2014-2018 39

2.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý và phân cấp quản lý tài chính 39

2.2.2 Quản lý tài chính từ nguồn Ngân sách 41

2.2.3 Quản lý tài chính đối với hoạt động có thu 59

2.2.4 Công tác kế toán, kiểm tra tài chính, kiểm toán 64

2.3 Đánh giá chung về công tác quản lý tài chính tại Trung tâm công nghệ xử lý bom mìn giai đoạn 2014-2018 65

Trang 8

2.3.1 Kết quả đạt được 65

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 67

CHƯƠNG 3 71

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TRUNG TÂM CÔNG NGHỆ XỬ LÝ BOM MÌN ……….71

3.1 Quan điểm, phương hướng mục tiêu hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở Trung tâm Công nghệ xử lý Bom mìn 71

3.1.1 Quan điểm hoàn thiện công tác quản lý tài chính 71

3.1.2 Phương hướng hoàn thiện công tác quản lý tài chính 73

3.1.3 Mục tiêu hoàn thiện công tác quản lý tài chính 74

3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Trung tâm công nghệ xử lý bom mìn 75

3.2.1 Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý tài chính 75

3.2.2 Hoàn thiện quản lý chu trình tài chính từ nguồn ngân sách 80

3.2.3 Hoàn thiện công tác quản lý tài chính các hoạt động có thu 88

3.2.4 Tăng cường kiểm soát chi, kiểm tra, thanh tra tài chính 92

3.2.5 Phát huy vai trò của kế toán, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tài chính 96

3.2.6 Xây dựng ngành tài chính của Trung tâm vững mạnh toàn diện, đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng “Đơn vị quản lý tài chính tốt” 98 3.3 Kiến nghị 101

3.3.1 Đối với Nhà nước 101

3.3.2 Đối với Bộ Quốc Phòng 102

3.3.3 Đối với Binh chủng Công Binh 103

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 9

Công nhân viên Quốc phòng

Dò tìm xử lý

Dự toán ngân sách Đơn vị dự toán

Hạ sĩ quan binh sĩ Giá trị gia tăng Ngân sách Ngân sách nhà nước Nhà xuất bản

Quyết toán ngân sách Quận ủy Trung ương

Rà phá bom mìn vật nổ Sẵn sàng chiến đấu Thu nhập doanh nghiệp Xây dựng cơ bản

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang Bảng 2.1: Kết quả lập dự toán thu và thực hiện thu ngân sách giai đoạn 2014 – 2018

42

Bảng 2.2 - Số thu bảo hiểm giai đoạn 2014-2018 43

Bảng 2.3 - Doanh thu từ hoạt động có thu giai đoạn 2014-2018 44

Bảng 2.4 - Kết quả lập dự toán chi ngân sách giai đoạn 2014-2018 46

Bảng 2.5 - So sánh quân số thực hiện với quân số dự toán ngân sách giai đoạn 2014-2018 49

Bảng 2.6 – Kết quả phân bổ dự toán ngân sách cho các ngành, đơn vị 51

Bảng 2.7 – Số liệu quyết toán Ngân sách Quý 4 từ năm 2014-2018 56

Bảng 2.8 - Tình hình thực hiện dự toán ngân sách giai đoạn 2014-2018 58

Bảng 2.9 –Kết quả Thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động khác 61

Bảng 2.10 – Tình hình sử dụng số thu để bổ sung kinh phí từ năm 2014-2018 63

Trang 11

DANH MỤC ĐỒ THỊ

Trang

Đồ thị 2.1 – Dự toán thu bảo hiểm giai đoạn 2014-2018 43

Đồ thị 2.2 - So sánh doanh thu hoạt động giai đoạn 2014-2018 43

Đồ thị 2.3 – Dự toán ngân sách thường xuyên giai đoạn 2014-2018 45

Đồ thị 2.4 - Dự toán Ngân sách nghiệp vụ giai đoạn 2014-2018 45

Đồ thị 2.5 – Dự toán ngân sách bảo đảm giai đoạn 2014-2018 45

Đồ thị 2.6 - Tổng dự toán chi ngân sách giai đoạn 2014-2018 45

Đồ thị 2.7 - So sánh quân số dự toán với quân số thực hiện (2014-2018) 48

Đồ thị 2.8 - Tỉ lệ % Số Thực hiện so với số Dự toán và chỉ tiêu Ngân sách 57

Trang 12

x

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Trang

Sơ đồ 1.1 – Quy trình ngân sách 13

Sơ đồ 1.2 - Trình tự lập thông báo dự toán ngân sách năm 14

Sơ đồ 1.3 - Mô hình quản trị tài chính công 22

Sơ đồ 1.4 - Quy trình ra quyết định của nhà quản lý 23

Sơ đồ 2.1 - Cơ cấu tổ chức biên chế Trung tâm Công nghệ xử lý Bom mìn 34

Sơ đồ 2.2 - Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tài chính tại Trung tâm công nghệ xử lý bom mìn 40

Sơ đồ 2.3 - Quy trình tổng quát (Tạm ứng/ Thanh toán) 53

Sơ đồ 3.1 – Trình tự lập thông báo dự toán ngân sách năm của các đơn vị dự toán trong quân đội 83

Trang 13

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là đất nước đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh trong nửa cuối thế kỷ

XX Số lượng bom mìn, vật nổ còn sót lại sau chiến tranh còn rất lớn và rải rác trên toàn lãnh thổ, có tác động nhiều mặt đến đời sống của người dân và phát triển kinh tế đất nước Việc rà phà bom mìn còn sót lại để đảm bảo an toàn cho đời sống dân cư

và phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Để đáp ứng yêu cầu trên, ngày 24/9/1996, Bộ Quốc Phòng đã có Quyết định

số 1592/QĐ-QP thành lập Trung tâm Công nghệ xử lý bom mìn - Binh chủng Công Binh (gọi tắt BOMICEN) Đây là đơn vị đầu ngành toàn quân về lĩnh vực rà phá BMVN với chức năng là tham mưu, tư vấn, nghiên cứu và triển khai công nghệ trong lĩnh vực dò tìm, xử lý bom mìn, vật nổ trên phạm vi toàn quốc… Nguồn tài chính bảo đảm cho đơn vị hoạt động chủ yếu do ngân sách nhà nước (NSNN) cấp thông qua Bộ Quốc phòng (BQP) và NSNN giao và thu từ sản xuất, xây dựng kinh tế của Trung tâm

Quản lý tài chính là việc sử dụng một hệ thống cơ chế, chính sách, biện pháp, công cụ một cách có tổ chức, hướng đích của nhà quản trị để tác động điều khiển hoạt động tài chính của tổ chức nhằm thực hiện các mục tiêu đã xác định Mức độ hoàn thiện công tác quản lý tài chính, phản ánh trình độ, năng lực tổ chức, nghệ thuật của các nhà quản trị ở cả tầm vi mô và vĩ mô của nền kinh tế Trong những năm qua, công tác quản lý tài chính ở Trung tâm luôn được coi trọng, đi vào nền nếp trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc, chế độ quản lý ngân sách, quản lý tài chính của Nhà nước, quy định của BQP Hàng năm đơn vị đều được Bộ tư lệnh Binh chủng Công binh (BCCB) tặng bằng khen về “Đơn vị quản lý tài chính tốt” Tuy nhiên trong công tác quản lý tài chính của Trung tâm vẫn còn những hạn chế như: Việc xây dựng kế hoạch ngân sách của các ngành chưa đầy đủ, chất lượng chưa cao; công tác điều hành chi tiêu ngân sách giữa các tháng, quý chưa hợp lý, vẫn còn hiện tượng chi sai nội dung dự toán ngân sách, việc thanh quyết toán các Mệnh lệnh xử lý bom đạn cấp 5, các công trình dò tìm, xử lý bom mìn còn chậm, quản lý các hoạt động có thu chưa chặt chẽ, chưa phản ánh kịp thời doanh thu… làm ảnh hưởng đến chất lượng công tác tài chính

và việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị

Trang 14

2 Chính vì vậy, việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Trung tâm là rất cần thiết và cấp bách Trong bối cảnh đó, học viên lựa chọn đề tài:

“Hoàn thiện công tác quản lý tài chính của Trung tâm Công nghệ xử lý bom mìn –

Bộ Tư Lệnh Công binh” nhằm đánh giá được chính xác tình hình công tác quản lý tài chính trong năm ngân sách Thông qua việc đối chiếu, so sánh số liệu giữa các năm

mà phát hiện những sai lệch để kịp thời điều chỉnh hoặc cần rút ra những bài học kinh nghiệm thực tiễn trong điều hành, quản lý ngân sách và có cơ sở để làm tốt công việc tiếp theo

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Quản lý tài chính là nhiệm vụ tất yếu xuất phát từ chức năng của tài chính Quân đội, từ yêu cầu khách quan của quá trình điều hành hoạt động của hệ thống tài chính quân đội Thông qua công tác quản lý tài chính, các ngành, các đơn vị nắm được thực trạng tình hình tài chính và những thông tin cần thiết; trên cơ sở đó có những biện pháp tác động tích cực tới các đối tượng quản lý, làm cho quá trình phân phối, sử dụng các nguồn tài chính được thực hiện và phát huy vai trò trong thực tiễn, góp phần thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của đơn vị

Trong những năm qua, đã có một số tài liệu đề cập đến quản lý, điều hành ngân sách, quản lý tài chính, kinh phí nghiệp vụ như: Tài liệu giảng dạy môn Tài chính dự toán của Học viện Hậu cần, Tài chính dự toán quân đội (Cục Tài chính/ BQP chủ biên, xuất bản năm 2002, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân); Công tác tài chính đối với người chỉ huy (Khoa Tài chính – Học viện Hậu cần chủ biên, xuất bản năm 2012;vv Cụ thể hơn nữa những năm gần đây có:

Trong luận án tiến sỹ kinh tế đề tài “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chuyên môn kỹ thuật trong lĩnh vực dò tìm xử lý bom mìn vật nổ sau chiến tranh ở Việt Nam” nghiên cứu sinh Nguyễn Trọng Cảnh đã đánh giá về bức tranh tổng thể của ngành DTXL BMVN Việt Nam về nguồn nhân lực chuyên môn kỹ thuật của ngành Luận

án đi sâu vào phân tích đánh giá công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực chuyên môn của ngành và xác định nhu cầu nguồn nhân lực chuyên môn kỹ thuật, xây dựng

kế hoạch đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chuyên môn kỹ thuật cho ngành DTXL BMVN; đề xuất giải pháp để thực hiện kế hoạch đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chuyên môn kỹ thuật cho ngành DTXL BMVN giai đoạn 2008-2015 và tầm nhìn

Trang 15

3

2020

Trong luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Tài chính – Ngân hàng trường học viện Hậu cần, đề tài “Nâng cao chất lượng quản lý tài chính đối với hoạt động có thu từ RPBM vật nổ ở Binh chủng Công binh – Bộ Quốc phòng” của tác giả Phan Duy Hoan 2010, cũng chỉ đề cập đến vấn đề thực trạng quản lý tài chính trong hoạt động có thu, đồng thời đưa ra các giải pháp trong việc quản lý tài chính hoạt động có thu

Trong luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Tài chính Ngân hàng trường Học viện Hậu cần, học viên Lê Văn Thuận 2010 đã nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý kinh phí nghiệp vụ ở Binh chủng Công binh” đã đánh giá thực trang công tác quản lý chi kinh phí nghiệp vụ và giải pháp nâng cao chất lượng trong công tác quản lý chi kinh phí nghiệp vụ

Trong luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Tài chính – Ngân hàng trường Học viện Tài chính, học viên Dương Ngọc Lan (2014) đã nghiên cứu vấn đề “Quản lý tài chính đối với hoạt động có thu từ rà phá bom mìn, vật nổ tại Trung tâm CNXL Bom mìn – Binh chủng Công binh” đã đánh giá thực trạng quản lý tài chính đối với hoạt động có thu

từ Rà phá bom mìn – Binh chủng công binh, tìm ra những bất cập như cơ chế tài chính tại Trung tâm từ đó đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng quản lý tài chính hoạt động có thu từ rà phá bom mìn vật nổ

Trong luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Tài chính – Ngân hàng trường học viện Tài chính của tác giả Nguyễn Văn Mạnh đề tài “Hoàn thiện công tác lập, chấp hành ngân sách cho nhiệm vụ chi quốc phòng tại ban chỉ huy Quân sự huyện Châu Thành – Tây Ninh” đã làm rõ thực trạng công tác lập chấp hành ngân sách địa phương cho nhiệm

vụ chi quốc phòng đồng thời đã đưa ra giải pháp hoàn thiện công tác lập, chấp hành

dự toán ngân sách đối với người chỉ huy, nhân viên tài chính và các cơ quan liên quan

Tóm lại, qua các tài liệu trên, các tác giả chỉ đề cập đến công tác quản lý nguồn nhân lực, công tác chi ngân sách, và quản lý tài chính các hoạt động có thu một cách chung nhất trong đơn vị hành chính sự nghiệp và đơn vị dự toán Tuy nhiên các công trình chỉ để cập đến một mặt hoặc một vấn đề cụ thể của công tác quản lý tài chính trong đơn vị hành chính công, chứ chưa đi sâu vào toàn bộ cơ chế cũng như công tác

Trang 16

4 quản lý tài chính trong lĩnh vực dò tìm xử lý bom mìn, vật nổ, hoặc nâng cao chất lượng quản lý chi ngân sách cho một năm tại một cơ quan đơn vị cụ thể

Cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào trong cả nước cũng như trong quân đội nghiên cứu chung về toàn bộ công tác quản lý tài chính đối với đơn vị

dự toán có thu về lĩnh vực Rà phá bom mìn và xử lý bom đạn cấp 5 Vì vậy, đề tài

nghiên cứu “Hoàn thiện công tác quản lý tài chính của Trung tâm Công nghệ xử

lý bom mìn – Bộ Tư Lệnh Công binh” là thiết thực và cần thiết cả về lý luận và thực

tiễn góp phần từng bước giải quyết những bất cập nêu trên

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu về rà phá bom mìn, vật nổ một cách hiệu quả, thiết thực, tiết kiệm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Trung tâm trong giai đoạn mới

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận cơ bản và thực tiễn về công tác quản lý tài chính đối với đơn vị dự toán trong Quân đội

- Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý tài chính đối với hoạt động có thu từ

rà phá bom mìn, vật nổ, cũng như sử dụng ngân sách nhà nước giao tại Trung tâm Công nghệ xử lý bom mìn – Binh chủng Công binh giai đoạn 2014-2018

- Tìm ra những bất cập và đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại đơn vị dự toán

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là hoạt động quản lý tài chính ở Trung tâm CNXL Bom mìn/ Bộ Tư lệnh Công binh

- Phạm vi nghiên cứu: phạm vi quản lý tài chính trong sử dụng Ngân sách nhà nước giao và ngân sách có được từ các hoạt động có thu từ rà phá bom mìn, vật nổ của Trung tâm Công nghệ xử lý Bom mìn - Binh chủng Công binh (từ năm 2014 đến năm 2018), giải pháp đến năm 2025

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu cụ thể được áp dụng trong nghiên cứu đề tài này là: Phương pháp thu thập thông tin, tổng hợp, so sánh, phân tích, thống kê mô tả

Trang 17

5

- Phương pháp thu thập thông tin, số liệu nhằm cung cấp cơ sở thực tiễn cho phân tích, đánh giá về thực trạng công tác quản lý tài chính ở Trung tâm CNXL Bom mìn thông qua các tài liệu: Báo cáo quyết toán Ngân sách và tổng kết công tác tài chính trong 5 năm (2014-2018), Dự toán Ngân sách 5 năm, các báo cáo kiểm toán của Nhà nước và Bộ Quốc phòng về đơn vị cùng với Thông tư, hướng dẫn, Nghị định…

- Phương pháp tổng hợp: Số liệu thu – chi Tài chính từ Nguồn Ngân sách Nhà nước và Nguồn kinh phí hoạt động có thu qua 5 năm của Trung tâm để xử lý bằng phân tích thống kê đơn giản của Excel và hệ thống số liệu thành các chỉ tiêu tương đối, tuyệt đối và lập thành bảng biểu, sơ đồ nhằm đưa ra những biện pháp hoàn thiện công tác thu, chi và quản lý tài chính

- Phương pháp so sánh: Thông qua số bình quân, số tối đa, số tối thiểu để đánh giá động thái phát triển của hiện tượng, sự vật theo thời gian và không gian Việc so sánh được tiến hành giữa các số thu và chi từ các nguồn kinh phí, so sánh giữa các năm

- Phương pháp thống kê mô tả: mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được bằng các đồ thi mô tả hoặc giúp so sánh dữ liệu, biểu diễn số liệu Từ những thông tin thu thập được đưa ra các biểu đồ về tỉ trọng, tăng trưởng hay những bảng

số liệu phục vụ đề tài qua đó phân tích, đánh giá tình hình công tác quản lý tài chính của đơn vị

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận về công tác quản lý tài chính đối tại đơn vị dự toán trong quân đội

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tài chính tại Trung tâm Công nghệ xử

lý Bom mìn

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Trung tâm Công nghệ xử lý Bom mìn

Trang 18

1.1.1.1 Tài chính, tài chính quân đội

Theo giáo trình Lý thuyết tài chính của Dương Đăng Chỉnh (2005, tr.16): “Tài chính thể hiện ra là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội

Nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội”

Nguồn tài chính là khả năng tài chính mà các chủ thể trong xã hội có thể khai thác sử dụng nhằm thực hiện các mục đích của mình Kết quả của quá trình phân phối các nguồn tài chính là sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định

Theo Từ điển Bách khoa quân sự (2004, tr.22): “Tài chính quân đội là bộ phận của Kinh tế - Quân sự bao gồm những hoạt động quản lý và bảo đảm tài chính cho các đơn vị quân đội Nhiệm vụ chủ yếu: Lập dự toán ngân sách, cấp phát, sử dụng và thanh quyết toán ngân sách; quản lý vốn và tài sản quân đội; tổ chức công tác kế toán, thống kê và thực hiện một số nghiệp vụ về kho bạc, ngân hàng; thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động tài chính của các ngành, các đơn vị và tổ chức kinh tế trong quân đội Hệ thống tài chính quân đội được xây dựng theo tổ chức của quân đội, từ

Bộ Quốc phòng đến đơn vị cơ sở”

Toàn bộ các quan hệ tài chính và vốn bằng tiền do quân đội quản lý và sử dụng, chủ yếu bao gồm: Kinh phí thuộc Ngân sách Nhà nước cấp, tài chính doanh nghiệp quốc phòng, các nguồn lực tự huy động tại các cơ quan, đơn vị

Từ những vấn đề nêu trên có thể rút ra: Tài chính quân đội là tổng thể các quan

hệ tài chính trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của quân đội, bảo đảm cho quân đội tham gia vào quá trình phân phối và phân phối lại sản phẩm xã hội và thu nhập

Trang 19

quốc dân dưới hình thức giá trị nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quân đội

1.1.1.2 Đơn vị dự toán, đơn vị dự toán quân đội

Để quản lý một cách có hiệu quả các khoản chi tiêu của đơn vị cũng như để chủ động trong việc chi tiêu, hàng năm các đơn vị hành chính sự nghiệp phải lập dự toán cho từng khoản chi tiêu của đơn vị mình, dự toán này ngân sách nhà nước cấp phát kinh phí cho đơn vị Vì vậy đơn vị hành chính sự nghiệp còn được gọi là đơn vị dự toán

Đơn vị dự toán hoạt động theo dự toán được cấp có thẩm quyền giao và được NSNN cấp toàn bộ hoặc một phần dự toán được duyệt Hoạt động phong phú, đa dạng, phức tạp mang tính chất phục vụ, hầu hết không có thu hoặc có thu nhưng chỉ

đủ đáp ứng nhu cầu chi tiêu một phần các khoản chi cho các hoạt động chủ yếu được trang trải bằng nguồn kinh phí của Ngân sách nhà nước

Nghị định số 10/2014/NĐ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2004 của Chính phủ quy định các ĐVDT thuộc BQP gồm:

- BQP là đơn vị dự toán cấp 1, quan hệ trực tiếp với Bộ Tài chính

- Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, Binh chủng, Tổng cục và các đơn vị tương đương là các ĐVDT cấp 2, quan hệ trực tiếp với ĐVDT cấp 1

- Sư đoàn và đơn vị tương đương là ĐVDT cấp 3, quan hệ trực tiếp với ĐVDT cấp 2 Riêng học viện, nhà trường trực thuộc Bộ là ĐVDT cấp 3, được quan hệ trực tiếp với ĐVDT cấp 1

- Trung đoàn và đơn vị tương đương là ĐVDT cấp 4, quan hệ trực tiếp với ĐVDT cấp 3

Theo giáo trình Tài chính dự toán của Học viện Hậu cần (2004, tr.5): “Đơn vị

dự toán quân đội là những đơn vị chủ yếu làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu… được bảo đảm tài chính để thực hiện nhiệm vụ từ nguồn ngân sách chi cho quốc phòng là cơ bản”

Theo Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam (2004, tr.22): “Đơn vị dự toán là cơ quan, đơn vị trực tiếp nhận, phân phối và sử dụng các khoản tiền được cấp phát từ quỹ NSNN Có nhiệm vụ và quyền hạn trong việc lập DTNS thuộc phạm vi trách nhiệm; phân

bổ DTNS cho đơn vị cấp dưới và tổ chức thực hiện DTNS được giao; tổ chức thực hiện

Trang 20

công tác kế toán, quyết toán ngân sách của cấp mình và các đơn vị cấp dưới; hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện thu, chi ngân sách và xét duyệt báo cáo QTNS của các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc”

Như vậy ĐVDT trong quân đội (gọi tắt là đơn vị dự toán quân đội) là những đơn vị thụ hưởng NSNN trong quân đội, đơn vị dự toán ngân sách

Các đơn vị cấp phân đội không có ngân sách độc lập, là cấp dự toán chi tiêu cơ

sở, kế toán thực hiện ghi chép việc nhận kinh phí do cấp trên cấp và thanh quyết toán kinh phí với cấp trên

1.1.1.3 Tài chính đơn vị dự toán

Hệ thống tài chính quân đội là tổng thể các quan hệ tài chính trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của quân đội, nhưng thống nhất với nhau về hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định với bộ máy quản lý tương ứng kèm theo

Tài chính ĐVDT là một bộ phận của hệ thống tài chính quân đội Là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị, các luồng vận động và chuyển hoá các nguồn tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm thực hiện nhiệm vụ thường trực sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện chiến đấu, công tác, tham gia lao động sản xuất làm kinh tế, tạo nguồn thu tài chính để cải thiện, nâng cao đời sống của bộ đội và

bổ sung kinh phí hoạt động

Tài chính dự toán Quân đội là một hệ thống những vấn đề chung về tài chính quân đội, những nội dung chủ yếu về tổ chức bảo đảm và quản lý tài chính đơn vị dự toán quân đội thuộc lĩnh vực tài chính công, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh

tế nảy sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các quĩ công nhằm phục vụ thực hiện các chức năng của quân đội và đáp ứng các nhu cầu lợi ích chung của xã hội

Nguyên tắc cấp phát tài chính ĐVDT thực hiện phương pháp cấp phát không hoàn trả trực tiếp, bảo đảm nhu cầu chi của đơn vị, không phụ thuộc vào việc các hoạt động của đơn vị có mang lại các khoản thu cho NSNN hay không

1.1.2 Đặc điểm, nội dung của tài chính đơn vị dự toán

1.1.2.1 Đặc điểm của tài chính đơn vị dự toán trong quân đội

Trang 21

- Hoạt động chủ yếu của tài chính ĐVDT trong quân đội là quản lý và sử dụng NSNN bảo đảm cho việc thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị

Mục tiêu của tài chính ĐVDT trong quân đội là đáp ứng tốt nhất nhu cầu tài chính cho việc xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, góp phần xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đủ sức hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ quân sự và quốc phòng; quốc phòng kết hợp với kinh tế, kinh tế kết hợp với quốc phòng Nguồn bảo đảm chủ yếu là kinh phí do NSNN cấp

- Tài chính ĐVDT trong quân đội là một phạm trù kinh tế, quân sự, bị chi phối bởi các quy luật kinh tế và các quy luật chiến tranh

Tài chính ĐVDT trong quân đội trước hết chịu sự tác động của các qui luật kinh tế như: Quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ… Tài chính ĐVDT trong quân đội chịu sự chi phối của các hoạt động quân sự, của quy luật chiến tranh vì tài chính ĐVDT trong quân đội phục vụ cho hoạt động quân sự Hoạt động tài chính ĐVDT trong quân đội phải lấy việc hoàn thành nhiệm vụ quân sự là mục tiêu hàng đầu, song không phải chi tiêu với bất cứ giá nào; tổ chức quản lý phải phù hợp với yêu cầu hoạt động quân sự và thích ứng với bảo đảm theo từng cấp chiến lược, chiến dịch, chiến thuật, trong tình huống khẩn trương có thể bảo đảm vượt cấp

- Hệ thống bảo đảm và quản lý tài chính ĐVDT trong quân đội được xây dựng trên cơ

sở kết hợp giữa phân cấp theo ngành bảo đảm vật chất và theo đơn vị sử dụng từng cấp Quyền quản lý, sử dụng tổng hợp các nguồn tài chính trên cơ sở tuân thủ chế

độ, chính sách chung của đơn vị từng cấp được thực hiện nhằm phát huy tính tích cực chủ động và trách nhiệm cụ thể của đơn vị từng cấp Vai trò của các ngành bảo đảm vật chất được phát huy nhằm tăng cường tính tập trung, thống nhất trong bảo đảm và quản

lý đối với phạm vi toàn quân

Đặc điểm này ảnh hưởng trực tiếp đến phương thức tổ chức và quản lý việc phân phối, cấp phát, chi tiêu sử dụng, thanh quyết toán tài chính trong đơn vị

1.1.2.2 Nội dung của tài chính đơn vị dự toán trong quân đội

Hoạt động chủ yếu của tài chính ĐVDT là quản lý và sử dụng NSNN bảo đảm cho việc thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị, được thể hiện cụ thể qua:

Trang 22

* Hoạt động thu (tạo lập quỹ tiền tệ tập trung)

- Ngân sách Nhà nước cấp: Đây là hoạt động tài chính chủ yếu để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung ở đơn vị, bảo đảm nhu cầu tài chính cho đời sống, sinh hoạt của bộ đội và thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị Được thực hiện thông qua quy trình NSNN trong quân đội

- Thu Bảo hiểm xã hội: BHXH, bảo hiểm y tế quân nhân, CNVQP phải nộp theo Luật BHXH Quỹ BHXH trong các ĐVDT quân đội được quản lý tập trung, thống nhất theo quy chế quản lý tài chính của Nhà nước, BQP và được sử dụng đúng mục đích nhằm bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHXH

- Thu từ hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế… trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao, không trái với Pháp luật và Điều lệnh quản lý bộ đội, tạo nguồn thu tài chính

bổ sung kinh phí cải thiện đời sống bộ đội và đóng góp một phần cho NSNN Đơn vị phải quản lý chặt chẽ mọi khoản thu, tính toán và phản ánh kịp thời, đầy đủ các khoản thu trong quá trình sản xuất, làm kinh tế

- Các khoản thu khác: Thu từ thanh lý, nhượng bán tài sản chuyên dùng phục

vụ quốc phòng, tài sản phục vụ quản lý không còn sử dụng được, không cần dùng tại đơn vị theo quyết định của cấp có thẩm quyền

* Hoạt động chi (sử dụng quỹ tiền tệ tập trung)

- Chi từ ngân sách được giao

+ Đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần, chính sách cho bộ đội, CNVQP và lao động hợp đồng

+ Huấn luyện, điều động kiểm tra sẵn sàng chiến đấu và thường trực chiến đấu;

di chuyển quân, vận chuyển hàng quân sự

+ Diễn tập theo kế hoạch hàng năm, đào tạo nghiên cứu khoa học, thực hiện các chương trình, đề tài, dự án

+ Mua sắm, cải tiến, sửa chữa và bảo quản vũ khí, trang thiết bị và các phương tiện kỹ thuật

+ Xây dựng mới, sửa chữa các công trình chiến đấu, trụ sở làm việc, sinh hoạt

Trang 23

của bộ đội, doanh trại, kho tàng của đơn vị, nhà xe pháo

+Dự trữ sẵn sàng chiến đấu

+Đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn đầu tư tập trung của NSNN

+Chi các hoạt động khác theo quy định của pháp luật (Quỹ BHXH, sản xuất )

1.1.3 Nhiệm vụ của tài chính đơn vi dự toán

- Nắm vững các nguồn tài chính, khai thác động viên mọi tiềm năng và nguồn lực, thực hiện cân đối tài chính tích cực

- Bảo đảm tài chính đúng, đủ và kịp thời cho các nhu cầu của đơn vị phù hợp với khả năng trong từng thời kỳ

- Thực hiện quản lý tài chính, bảo đảm cho các nguồn tài chính, và các nguồn khác được sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả, các hoạt động tài chính được thực hiện đúng pháp luật, chế độ, chính sách (Cục Tài chính, 2002)

1.2 Quản lý tài chính ở đơn vị dự toán trong quân đội

1.2.1 Khái niệm về quản lý tài chính ở đơn vị dự toán

Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Có thể trình bày khái quát các quan niệm khác nhau về quản lý như sau:

Theo Fayel: “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, bao gồm 5 yếu tố tạo thành: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh

và kiểm soát” Định nghĩa này đúng, song, chỉ mô tả được các hoạt động quản lý, chưa nêu ra được bản chất quản lý là để làm gì?

Theo Tailor: “Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm” Hard Koont cho rằng: “Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định” Các định nghĩa này rất đúng, nêu được mục đích quản lý (là hiệu quả) nhưng khá trìu tượng, không đề cập đến phương pháp, hay công cụ quản lý

Peter F.Dalark: “Quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó Theo đó, quản lý bao gồm quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công”

Trang 24

Những quan niệm nêu trên là hoàn toàn đúng đắn Tuy nhiên các quan niệm này thiên

về mô tả, liệt kê hành động, đặc điểm quản lý, chưa lột tả được bản chất của quản lý Trong thực tiễn, quản lý tài chính ở ĐVDT quân đội gồm các hoạt động tổ chức, chỉ huy, điều hành và giám sát, đôn đốc đối với các hoạt động tài chính trong đơn vị Thông qua công tác quản lý tài chính, các ngành, các đơn vị nắm được thực trạng tình hình hoạt động tài chính và những thông tin cần thiết; trên cơ sở đó có những biện pháp tác động tới các đối tượng quản lý, làm cho quá trình phân phối, sử dụng các nguồn tài chính và các nguồn lực khác đạt hiệu quả tốt

Từ những vấn đề nêu trên có thể khái quát về quản lý tài chính ở ĐVDT quân đội

như sau: “Quản lý tài chính ở ĐVDT quân đội là hoạt động của các chủ thể quản lý tài chính ĐVDT thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý và các công

cụ quản lý để tác động và điều khiển hoạt động của tài chính đơn vị dự toán nhằm đạt được các mục tiêu đã định”

Chủ thể quản lý tài chính ở ĐVDT quân đội là tổng hợp vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, chỉ huy đơn vị, vai trò tham mưu và tổ chức thực hiện của cơ quan tài chính, các ngành nghiệp vụ cùng với sự tham gia quản lý tích cực, dân chủ của mọi cá nhân, tổ chức trong đơn vị

Trong quản lý tài chính, các chủ thể nêu trên có thể sử dụng các phương pháp

và công cụ quản lý khác nhau như: Phương pháp tổ chức, phương pháp kinh tế, hệ thống pháp luật thuộc lĩnh vực tài chính quân đội, thanh tra, kiểm tra, đánh giá…

1.2.2 Nội dung cơ chế quản lý công tác tài chính

Nội dung cơ chế quản lý công tác tài chính quân đội hiện nay quy định về quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan tài chính và các ngành nghiệp vụ các cấp, gắn với chu trình thực hiện các khâu của chu trình ngân sách Trong đó cơ quan tài chính và ngành nghiệp

vụ các cấp cùng phối hợp thực hiện: lập, chấp hành và quyết toán ngân sách

Trong các nguồn tài chính ở ĐVDT quân đội, nguồn do NSNN cấp là nguồn cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất vì nó chiếm tỉ trọng rất lớn Quá trình bảo đảm tài chính cho thực hiện nhiệm vụ của đơn vị chủ yếu là cấp phát, sử dụng kinh phí được NSNN cấp thông qua hệ thống cơ cấu tổ chức tài chính quân đội đối với khối ĐVDT Vì vậy quản lý

Trang 25

quy trình NSNN là nội dung cơ bản trong quản lý tài chính ở ĐVDT quân đội

Quy trình ngân sách (chu trình ngân sách) là toàn bộ hoạt động của năm ngân sách

kể từ khi bắt đầu hình thành cho đến khi kết thúc chuyển sang năm ngân sách mới Một chu trình ngân sách gồm ba khâu nối tiếp nhau (Sơ đồ 1.1)

Sơ đồ 1.1 – Quy trình ngân sách

- Công tác kế hoạch tài chính tại các đơn vị dự toán (Sơ đồ 1.2)

Trên cơ sở dự toán ngân sách quốc phòng hàng năm các đơn vị dự toán xây dựng kế hoạch, cơ quan tài chính cấp trên xây dựng kế hoạch thu nộp bao gồm: thu nộp ngân sách nhà nước, thu nộp quốc phòng trong đó có nguồn thu từ hoạt động có thu của các đơn vị dự toán Trên cơ sở đó xây dựng dựng kế hoạch tài chính năm

1.2.2.1 Lập dự toán ngân sách

Lập DTNS là công việc khởi đầu có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ các khâu của chu trình ngân sách Lập DTNS thực chất là lập kế hoạch (dự toán) các khoản thu, chi của ngân sách trong một niên độ nhất định Một dự toán thu, chi ngân sách được lập chính xác, đầy đủ cơ sở khoa học và thực tiễn sẽ có tác dụng quan trọng trong việc điều hành và quản lý ngân sách, quản lý tài chính

- Dự toán ngân sách năm của đơn vị được lập trên những căn cứ chủ yếu sau: + Phương hướng, chủ trương, nhiệm vụ xây dựng và phát triển quân đội của Đảng và Nhà nước; các chỉ thị và mệnh lệnh của Bộ trưởng BQP, của cấp trên và của người chỉ huy; các nhiệm vụ kế hoạch trong năm của đơn vị

+ Tổ chức, biên chế và trang bị của đơn vị: Tổ chức, biên chế và trang bị là cơ sở để lập DTNS đồng thời là đối tượng của việc bảo đảm và quản lý tài chính

+ Hệ thống chế độ, tiêu chuẩn, định mức và giá cả

Lập Ngân sách

• Lập dự toán

Ngân sách

Chấp hành Ngân sách

• Phân bổ dự toán và thực hiện

Quyết toán Ngân sách

• Cấp phát và thanh quyết toán Ngân sách

Trang 26

+ Số dự kiến giao DTNS do cơ quan có thẩm quyền thông báo và căn cứ vào mức tồn kho năm trước chuyển sang

+ Kinh nghiệm lập DTNS và tình hình thực hiện DTNS năm trước

Sơ đồ 1.2 - Trình tự lập thông báo dự toán ngân sách năm

của các đơn vị dự toán Quân đội (Luật Ngân sách cũ)

(Nguồn: Cục Tài chính, Tài chính dự toán Quân đội, 2004, tr.27)

Dự toán của ngành nghiệp

vụ

Dự toán Ngân sách đơn vị lập

Thông báo chính thức dự toán Ngân sách

Trang 27

- Nội dung lập DTNS

+ Dự toán thu: Căn cứ vào từng hoạt động cụ thể phản ánh toàn bộ số thu tại đơn

vị, số nộp ngân sách, số được để lại chi theo chế độ và số được trích lập quỹ đơn vị + Dự toán chi: Bao gồm chi tiền lương, phụ cấp, trợ cấp, tiền ăn; chi hoạt động của các ngành nghiệp vụ tại đơn vị; chi thường xuyên thuộc ngân sách sử dụng các khoản chi có tính chất đầu tư xây dựng cơ bản Dự toán chi NSNN giao theo các lĩnh vực chi: Bao gồm chi chương trình, mục tiêu quốc gia, chi đầu tư XDCB, chi BHXH… Có thể sử dụng những phương pháp sau:

Phương pháp 1: Căn cứ vào định mức, tiêu chuẩn

𝑁ℎ𝑢 𝑐ầ𝑢 𝑐ℎ𝑖 𝑐ả 𝑛ă𝑚 = Đị𝑛ℎ 𝑚ứ𝑐 𝑥 𝑆ố 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑥 𝑇ℎờ𝑖 𝑔𝑖𝑎𝑛 𝑝ℎả𝑖 đả𝑚 𝑏ả𝑜 Phương pháp 2: Căn cứ vào nhiệm vụ cụ thể

1.2.2.2 Chấp hành ngân sách

Chấp hành ngân sách là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, tài chính

và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi ghi trong DTNS thành hiện thực Thông qua việc chấp hành DTNS mà tiến hành công tác kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chế

độ, tiêu chuẩn, định mức kinh tế tài chính của Nhà nước, của quân đội ở đơn vị

Chấp hành DTNS được thực hiện thông qua các bước sau:

- Công khai DTNS: Công khai DTNS là một trong những nội dung của công khai tài chính nhằm bảo đảm thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của các cơ quan, đơn

vị, của quân nhân, CNVQP trong quá trình phân phối, quản lý, sử dụng tài chính, tài sản của nhà nước và quân đội, các khoản thu tại đơn vị; thực hành có hiệu quả Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Trang 28

- Phân bổ và giao DTNS: Sau khi nhận được DTNS đơn vị cấp trên giao, đơn vị phải tiến hành phân bổ và giao DTNS cho các ngành, các đơn vị trực thuộc theo nguyên tắc

- Cấp phát, thanh toán các khoản chi kinh phí: Cấp phát kinh phí là bước thực hiện DTNS,

là việc cấp, chuyển tiền cho các ngành, các đơn vị để chi tiêu cho thực hiện các nhiệm vụ được giao cấp phát kinh phí phải bảo đảm đầy đủ, kịp thời, đúng mức cho thực hiện nhiệm vụ, đủ điều kiện chi ngân sách; phải có trọng tâm, trọng điểm và quán triệt nguyên tắc tiết kiệm triệt để, toàn diện; phải nắm được kết quả hiệu quả chi tiêu sử dụng tài chính

Thanh toán phải đúng nội dung, thủ tục qui định, phải trung thực, chính xác, kịp thời, chặt chẽ, phải đánh giá được hiệu quả chi tiêu

Việc cấp phát, thanh toán chi kinh phí phải dựa trên cơ sở DTNS được giao, hệ thống định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhà nước, quân đội ban hành Thông qua cấp phát, thanh toán kinh phí không những bảo đảm đủ, kịp thời nguồn kinh phí theo DTNS được giao cho thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị mà còn kiểm tra tình hình thực hiện chế độ tiêu chuẩn định mức và DTNS ở đơn vị (Cục Tài chính, 2002)

1.2.2.3 Quyết toán ngân sách

Quyết toán ngân sách là việc tổng hợp, xem xét kết quả chấp hành DTNS trong một kỳ nhất định, khâu cuối cùng của qui trình quản lý ngân sách

Quyết toán ngân sách có vai trò rất quan trọng trong quá trình quản lý tài chính

ở ĐVDT quân đội Thông qua quyết toán Ngân sách cơ quan tài chính, chỉ huy đơn

vị nắm được tình hình nhận, cấp phát, sử dụng và thanh toán các khoản kinh phí, tình hình chấp hành các chế độ, tiêu chuẩn, nguyên tắc, kỷ luật tài chính; phân tích, đánh giá chính xác kết quả, hiệu quả sử dụng kinh phí của từng ngành, từng đơn vị cho thực hiện nhiệm vụ trong một thời gian nhất định Trên cơ sở đó có biện pháp sát thực

để thực hiện tốt DTNS năm tiếp theo

- Quyết toán ngân sách phải thực hiện tốt các yêu cầu: trung thực, chính xác; đầy đủ, toàn diện; chặt chẽ về thủ tục quy định; nhanh gọn, kịp thời

- Nguyên tắc quyết toán ngân sách

+ Các ngành các đơn vị có chi tiêu sử dụng ngân sách cho nhiệm vụ của ngành, đơn vị thì phải thực hiện quyết toán ngân sách

Trang 29

+ Quyết toán phải đúng chỉ tiêu, nội dung DTNS

+ Quyết toán phải có chứng từ hợp pháp hợp lệ

+ Quyết toán phải đúng chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức đã ban hành

Ở các ĐVDT quân đội, QTNS bao gồm quyết toán ngân sách tháng, quý và tổng quyết toán ngân sách năm

1.2.3 Nội dung quản lý tài chính theo quy trình ngân sách

1.2.3.1 Quản lý các khoản tiền lương, phụ cấp, trợ cấp, tiền ăn

- Tiền lương trong quân đội là một bộ phận tiền lương của Nhà nước, nhằm bù đắp những hao phí, sức lao động mà Quân nhân, CNVQP đã cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Tiền lương trong quân đội được xây dựng theo những nguyên tắc cơ bản của chính sách tiền lương do NN qui định và có tính đến những đặc thù về lao động trong quân đội

- Tiền ăn trong quân đội là một khoản chi của ngân sách quốc phòng, dùng để mua lương thực, thực phẩm và chất đốt phục vụ cho việc ăn uống hàng ngày của bộ đội, nhằm tái tạo sức lao động bị hao phí trong quá trình luyện tập, công tác và chiến đấu

Theo Điều lệ công tác tài chính quân đội nhân dân Việt Nam: “Quân nhân, công nhân, viên chức quốc phòng thuộc biên chế đơn vị nào do đơn vị đó cấp phát tiền lương, phụ cấp, trợ cấp và bảo đảm ăn Khi quân nhân, công nhân, viên chức quốc phòng được điều động

đi đơn vị khác, đi học tập trung từ ba tháng trở lên; đi điều trị tại các bệnh viện, đội điều trị quân đội thì đơn vị cũ có trách nhiệm chi trả hết tháng và chuyển giấy giới thiệu cung cấp tài chính đến đơn vị mới để chi trả từ tháng tiếp theo”

1.2.3.2 Quản lý kinh phí nghiệp vụ

Kinh phí nghiệp vụ là các khoản chi ngân sách, được bảo đảm và quản lý trên cơ sở

tổ chức, biên chế, chế độ, tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước và BQP; chức năng, nhiệm

vụ về quản lý ngân sách và phương thức bảo đảm của các ngành nghiệp vụ

Theo chức năng, nhiệm vụ, mỗi ngành chịu trách nhiệm bảo đảm một hoặc một

số mặt hoạt động Phương thức bảo đảm cơ bản hiện nay là cấp trên bảo đảm cho cấp dưới và cấp dưới tự bảo đảm

Trang 30

Kinh phí nghiệp vụ liên quan đến tất cả các ngành, các cấp; phương thức bảo đảm và quản lý đòi hỏi phải phù hợp với phương thức bảo đảm của các ngành, kết hợp bảo đảm với quản lý theo đơn vị Từ ngành nghiệp vụ bảo đảm toàn quân xuống đến ngành nghiệp vụ cơ sở có nhiều cấp, ở từng cấp việc bảo đảm và quản lý kinh phí nghiệp vụ có mức độ khác nhau, đáp ứng yêu cầu từng mặt công tác

Ở các ĐVDT quân đội, kinh phí nghiệp vụ được cấp để chi tiêu, mua sắm thực hiện theo dự toán năm và kế hoạch chi quí được duyệt Bao gồm nhiều khoản chi lớn,

do nhiều ngành quản lý và sử dụng như: Chi mua sắm hàng hoá, chi huấn luyện, chi

về chuyên môn nghiệp vụ, chi về tiền thưởng, phúc lợi tập thể

Kinh phí nghiệp vụ có loại do đơn vị tự mua sắm, có loại do cấp trên thực hiện cấp phát theo phương thức cung ứng, có khoản chi vừa do đơn vị chi tiêu mua sắm, vừa do ngành nghiệp vụ cấp trên bảo đảm bằng hiện vật

Phạm vi chi kinh phí nghiệp vụ ở các ĐVDT quân đội rất rộng, gồm nhiều nội dung, tính chất chi tiêu phức tạp Quá trình quản lý và sử dụng kinh phí nghiệp vụ có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình thực hiện nhiệm vụ của đơn vị

Chi tiêu sử dụng kinh phí nghiệp vụ phải căn cứ vào DTNS được giao, hệ thống tiêu chuẩn định mức được cấp có thẩm quyền ban hành Phải quán triệt nguyên tắc tiết kiệm triệt để, chống phô trương hình thức, sử dụng hợp lý và có hiệu quả vật tư, tài sản, tiền vốn của quân đội, của đơn vị

1.2.3.3 Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản

Đối với các ĐVDT, nguồn vốn đầu tư xây dựng chủ yếu hình thành từ các nguồn sau: Ngân sách quốc phòng thường xuyên; Nhà nước; Tự bổ sung của đơn vị; Chương trình mục tiêu quốc gia

Quản lý tài chính vốn đầu tư và xây dựng bao gồm quản lý tài chính đối với dự

án đầu tư xây dựng, quản lý chi phí đầu tư xây dựng thông qua các khâu: Dự toán vốn đầu tư, cấp phát, thanh toán vốn đầu tư, thẩm định và quyết toán vốn đầu tư Trong ĐVDT quân đội phải tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý đầu tư và xây dựng, về quản lý ngân sách và các quy định khác có liên quan đến BQP

Vốn đầu tư chỉ được cấp phát cho các dự án, công trình đã có đầy đủ thủ tục đầu

Trang 31

tư và xây dựng theo quy định và được ghi vốn năm kế hoạch Cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm kiểm tra và giám sát mọi dự án đầu tư thuộc tất cả các nguồn vốn: Trực tiếp cấp phát, thanh toán, quyết toán cho các dự án, công trình thuộc phạm vi được giao

1.2.3.4 Quản lý các khoản chi chính sách xã hội

Chính sách xã hội thực hiện đối với Quân nhân, CNVQP là một bộ phận trong

hệ thống chính sách xã hội chung của nhà nước, nhằm bảo đảm quyền lợi vật chất, tinh thần cho quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng khi đang công tác, khi nghỉ công tác hay chuyển ra ngoài quân đội Ở các ĐVDT quân đội các khoản chi chính sách xã hội bao gồm:

- Chi thực hiện chế độ BHXH đối với Quân nhân, CNVQP đang làm việc, công tác tại đơn vị, thuộc biên chế của đơn vị; Đối với người có công với cách mạng; Trợ cấp phục viên đối với quân nhân là sỹ quan, QNCN thôi phục vụ tại ngũ; Trợ cấp đối với HSQ-BS xuất ngũ; Trợ cấp thôi việc đối với CNVQP thôi việc

Quản lý các khoản chi chính sách xã hội ở đơn vị phải chấp hành nghiêm những quy định về lập dự toán, cấp phát, thanh quyết toán Các khoản thu, chi BHXH phải được phản ánh đầy đủ, chính xác, trung thực trong sổ kế toán Các đơn vị không được

tự đặt ra các khoản thu, chi bảo hiểm xã hội và sử dụng quỹ BHXH trái với quy định của Pháp luật

1.2.3.5 Quản lý tài chính đối với hoạt động có thu

Trong quá trình sản xuất, làm kinh tế và thực hiện các hoạt động có thu khác đơn

vị phải quản lý chặt chẽ mọi khoản thu, chi và tính đúng, tính đủ các chi phí Tính toán

và phản ánh kịp thời, đầy đủ các khoản thu, chi vào sổ kế toán

Kết thúc chu kỳ sản xuất, làm kinh tế và các hoạt động có thu khác hoặc định

kỳ (quí, năm) các đơn vị phải xác định kết quả, hiệu quả hoạt động sản xuất, làm kinh

tế, hoạt động có thu báo cáo đơn vị cấp trên và công khai đối với đơn vị

* Quản lý tài chính đối với các hoạt động có thu ở đơn vị dự toán bao gồm: Quản lý vốn, Quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và Quản lý quá trình phân phối, sử dụng thu nhập từ các

hoạt động này (Bộ Quốc phòng, Quyết định số 3365/2001/QĐ-BQP ngày 17/12/2001, mục

Trang 32

2.2, điều 11 và Chỉ thị số 47/2002/CT-BQP ngày 2/4/2002, mục c, phần II)

Các đơn vị tổ chức các hoạt động có thu phải thực hiện công tác kế toán, báo cáo kết quả hoạt động có thu theo đúng chế độ kế toán đơn vị dự toán ban hành theo Quyết định số 709/QĐ-CTC ngày 11/03/2015 của Cục trưởng Cục Tài chính - BQP

1.2.4 Yêu cầu đối với công tác quản lý tài chính ở ĐVDT trong quân đội

Khi thực hiện nhiệm vụ quản lý tài chính ở ĐVDT trong quân đội cần phải chú trọng đáp ứng một số yêu cầu cơ bản sau:

- Phải tuân thủ các nguyên tắc quản lý tài chính trên cơ sở chấp hành đúng chủ trương, đường lối của Đảng, Pháp luật của nhà nước và các chế độ, tiêu chuẩn, định mức, quy định của quân đội

- Thống nhất chỉ đạo, điều hành, phân cấp quản lý Hiện nay, tổ chức ngành tài chính quân đội được xây dựng theo hệ thống Tổ chức của quân đội từ BQP đến các đơn vị cơ sở Phân cấp hoạt động quản lý thu, chi tài chính được thực hiện theo nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ Tư tưởng chỉ đạo trong phân cấp quản lý tài chính là: Phân định cụ thể, rõ ràng nhiệm vụ thu, chi cho mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi đơn vị

- Kết hợp biện pháp hành chính và biện pháp kinh tế Trong quản lý tài chính ở ĐVDT quân đội có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp tổ chức, hành chính, phương pháp kinh tế… và nhiều công cụ quản lý khác nhau

- Quản lý chuyên trách và thực hiện dân chủ công khai Công tác bảo đảm trong quân đội được tổ chức theo từng ngành, theo chức năng, nhiệm vụ, mỗi ngành chịu trách nhiệm bảo đảm một hoặc một số mặt hoạt động theo phương thức cấp trên bảo đảm cho cấp dưới kết hợp cấp dưới tự bảo đảm

- Chấp hành nghiêm chỉnh các nguyên tắc, thủ tục trong cấp phát chi tiêu, thanh quyết toán tài chính Thực hiện tốt sẽ tránh được sơ hở trong quản lý, dẫn đến vi phạm nguyên tắc và kỷ luật tài chính, bảo đảm tính thống nhất trong quản lý tài chính

- Nâng cao trách nhiệm vật chất trong công tác quản lý tài chính

- Kết hợp quản lý chỉ tiêu phần tiền với chỉ tiêu phần hiện vật theo phương thức tiền tệ hóa

Trang 33

- Thực hiện tốt chế độ kiểm tra tài chính và dân chủ kinh tế Kiểm tra tài chính

là biện pháp thường xuyên quan trọng trong quản lý tài chính Thông qua kiểm tra tài chính, chủ thể kiểm tra và khánh thể kiểm tra tài chính thấy được điểm mạnh, điểm yếu trong quản lý tài chính của đơn vị, đề ra các biện pháp phù hợp nhằm phát huy nhân tố tích cực, điều chỉnh, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần thúc đẩy đơn

vị hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý

1.3 Hoàn thiện công tác quản lý tài chính

1.3.1 Khái niệm về hoàn thiện công tác quản lý tài chính

Công tác quản lý tài chính ở các ĐVDT quân đội là một hoạt động cơ bản của công tác tài chính, một quy trình tổ chức hoạt động thực tiễn gồm các hoạt động: Tổ chức, chỉ huy, điều hành và giám sát, đôn đốc đối với các hoạt động tài chính trong đơn vị Thông qua công tác quản lý tài chính các cấp, các ngành, các đơn vị nắm được tình hình tài chính, hoạt động ngân sách, công tác đảm bảo, quản lý tài chính và các thông tin cần thiết, trên cơ sở đó

có những biện pháp tác động tới các đối tượng quản lý, làm cho quá trình phân phối, sử dụng các nguồn tài chính và các nguồn lực khác một cách có hiệu quả hơn

Mục tiêu của công tác quản lý tài chính công nói chung và đơn vị dự toán nói riêng chính là hiện đại hóa công tác quản lý ngân sách nhà nước từ lâu lập kế hoạch/ lập dự toán, thực hiện ngân sách/ chấp hành ngân sách, báo cáo ngân sách và tăng cường trách nhiệm ngân sách của các cơ quan, đơn vị nhà nước, nâng cao tính minh bạch trong quản lý tài chính công, hạn chế tiêu cực trong việc sử dụng ngân sách, đảm bảo an ninh tài chính trong quá trình phát triển và hội nhập

Theo khuôn mẫu lấy lý thuyết về quản trị tài chính công (PEM – Sơ đồ 1.3) hiện nay thì việc quản trị tài chính đối với đơn vị dự toán là một hệ thống liên hệ đến khía cạnh tài chính của việc sử dụng các dịch vụ, hàng hóa công mà những điều này được định hướng trước và được kiểm soát theo các mục tiêu đối với mỗi đơn vị, khu vực công Một chu trình

cơ bản của mô hình quản trị tài chính công sẽ bao gồm bốn thành phần, và bốn thành phần này sẽ tác động qua lại, có mối quan hệ chặt chẽ và vận hành theo một trình tự thống nhất

để làm cho tài chính công của một quốc gia đạt được sự bền vững

Từ những phân tích trên có thể khái niệm về hoàn thiện công tác quản lý tài

chính ở ĐVDT quân đội như sau: Hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở đơn vị dự

Trang 34

toán quân đội là mức độ hoàn thành các nội dung quản lý tài chính đã xác định so với yêu cầu, mục tiêu đã đặt ra và mức độ sử dụng đầy đủ khả năng của hệ thống tổ chức, quản lý trong một môi trường điều kiện cụ thể, nhất định

Sơ đồ 1.3 - Mô hình quản trị tài chính công

(Nguồn: Framework of Public Finance Management, 2012)

Hay nói cách khác: Hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở ĐVDT quân đội

là việc đẩy mạnh, làm tăng lên mức độ hoàn thành tốt hơn các hoạt động phối hợp và các nội dung đã xác định trong quá trình quản lý tài chính Đồng thời nâng cao mức

độ sử dụng đầy đủ hơn khả năng của hệ thống tổ chức quản lý tài chính nhằm đảm bảo cho các nội dung quản lý tài chính luôn được thực hiện đúng yêu cầu quản lý, đúng pháp luật, chính sách, chế độ và đạt hiệu quả kinh tế quân sự cao nhất

1.3.2 Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý tài chính

1.3.2.1 Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý tài chính

Bất kỳ một nhà quản trị nào khi đại diện cho tổ chức để điều hành hoạt động

Kế toán Ngân sách

Thực hiện kế toán ngân sách theo nội dung

đã điều chỉnh từ tài chính được phân bổ

Quản trị Tài chính công

Giám sát ngân sách nhà nước hàng năm và định kỳ

Báo cáo công

Trang 35

và đặc biệt là các nhà quản trị đều gắn liền với những chức năng cơ bản như: Lập kế hoạch, tổ chức điều hành, và kiểm soát Do vậy, Công tác quản lý tài chính ở ĐVDT quân đội cũng cần những chức năng như vậy (Sơ đồ 1.4)

Sơ đồ 1.4 - Quy trình ra quyết định của nhà quản lý

(Nguồn: Trường đại học Ngoại Thương, Giáo trình Kế toán Quản trị, 2012)

Ở các khía cạnh khác nhau công tác quản lý tài chính cũng cần có các tiêu chí

Xác định mục đích, mục tiêu hoặc vấn đề

Xác định các giải pháp, cơ hội có thể thay thế

nhau trong việc đạt được mục tiêu đề ra

Thu thập các phân tích, các thông tin cho từng

sự lựa chọn

Đưa ra quyết định lựa chọn Đưa ra kết quả đạt

được và đảm bảo kết quả đó vẫn phù hợp với

mục tiêu tổng quát của đơn vị

Thực hiện quyết định

Thu thập thông tin về kết quả thực tế

So sánh kết quả thực tế với kết quả dự kiến

Đánh giá kết quả đạt được

Lập Kế hoạch

Tổ chức điều hành

Kiểm soát

Trang 36

đánh giá cụ thể khác nhau Song khái quát lại có thể đưa ra một số tiêu chí sau:

Một là: Tính hợp lý của hệ thống tổ chức quản lý tài chính ở đơn vị Tính hợp

lý của hệ thống tổ chức quản lý tài chính biểu hiện ở các nhân tố cấu thành gồm:

- Cơ cấu tổ chức: Thể hiện sự đầy đủ, hợp lý của tổ chức biên chế và các chức danh quản lý tài chính

- Chức năng, nhiệm vụ của hệ thống: Thể hiện ở sự xác lập đầy đủ cụ thể và tính phù hợp của các chủ thể tham gia quản lý tài chính

- Biên chế nhân lực, trang bị kỹ thuật quản lý: Thể hiện ở sự đầy đủ, phù hợp

về số lượng, chất lượng cán bộ nhân viên; tính đồng bộ, hiện đại của trang bị quản lý phục vụ chuyên môn

Hai là: Tính đúng đắn, hiệu quả trong việc sử dụng các phương pháp, công cụ

quản lý tài chính

Tiêu chí này có thể được đo lường bằng các đại lượng sau:

- Các mệnh lệnh, quyết định của người chỉ huy; chỉ thị, hướng dẫn của cơ quan tài chính cấp trên; các kế hoạch triển khai nhiệm vụ của cơ quan tài chính đơn vị… được thực thi như thế nào?

- Việc duy trì và thực hiện các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức, nguyên tắc, kỷ luật tài chính và qui chế quản lý tài chính có thường xuyên đúng, đủ, kịp thời, chặt chẽ không

Ba là: Mức độ thỏa mãn yêu cầu về quản lý tài chính thông qua việc đánh giá

các nội dung quản lý tài chính Tiêu chí này có một số đại lượng được lượng hóa hoặc mang tính định tính dễ nhận biết gồm:

- Trong quản lý chu trình ngân sách: Các chỉ tiêu DTNS phải sát đúng nhu cầu thực tế, thể hiện ở sự so sánh giữa số thực hiện với số dự toán cả số tuyệt đối và số tương đối Phân bổ chỉ tiêu, giao DTNS cho các cơ quan, đơn vị cấp dưới; cấp phát, thanh quyết toán kinh phí bảo đảm đầy đủ, kịp thời, đúng DTNS đã được giao, đúng điều kiện chi ngân sách Quyết toán tài chính (kinh phí) bảo đảm chặt chẽ, chính xác, trung thực, rõ ràng, kịp thời, tổng hợp QTNS đúng mục lục ngân sách và mẫu biểu quy định Có thể so sánh với số DTNS, số cấp phát, thanh toán

Trang 37

- Trong quản lý các khoản tiền lương, phụ cấp, trợ cấp tiền ăn; các khoản chi chính sách xã hội; bảo đảm cấp phát, chi trả đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng được hưởng, đúng chính sách, chế độ, tiêu chuẩn; đúng thủ tục, quy định về lập DTNS, cấp phát, QTNS theo Luật NSNN, Điều lệ công tác tài chính Quân đội nhân dân Việt Nam và các văn bản pháp luật khác có liên quan

- Trong quản lý kinh phí nghiệp vụ, vốn đầu tư và xây dựng: Thực hiện đúng quy trình, thủ tục, chế độ quy định đối với từng nội dung, mục chi…

- Trong quản lý các hoạt động có thu: Quản lý chặt chẽ mọi khoản thu, chi; tính đúng, tính đủ chi phí, thu nhập và phân phối kết quả đúng chế độ quy định; phản ánh đầy đủ kịp thời, chính xác các khoản thu, chi vào sổ kế toán

- Trong kiểm tra, thanh tra, kiểm toán: Tình hình và kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán theo kế hoạch và đột xuất có phản ánh chính xác, khách quan không

Bốn là: Tính hiệu quả, hiệu lực trong quản lý, sử dụng tài chính Hiệu quả quản

lý và sử dụng tài chính được hiểu là phạm trù thể hiện mối quan hệ giữa kết quả thực hiện nhiệm vụ so với quy mô ngân sách bảo đảm cho việc thực hiện nhiệm vụ tương ứng được giao Tiêu chí hiệu quả mang nhiều yếu tố định tính, khó lượng hóa Tuy nhiên có thể xem xét đánh giá một số khía cạnh như sau:

- Tính kinh tế: So sánh chi phí thực tế của các yếu tố đầu vào (số quyết toán) so với định mức chi tiêu (số dự toán); các báo cáo thanh tra, kiểm toán tài chính hàng năm của Kiểm toán Nhà nước, của Bộ Quốc phòng, của đơn vị, cơ quan cấp trên để thấy mức độ tiết kiệm hay lãng phí

- Tính hiệu lực: Xem xét sự tác động của kết quả thực hiện nhiệm vụ đến các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội … Cần thấy rõ rằng sự lan tỏa của chính sách, chế

độ tiền lương, phụ cấp, trợ cấp, tiền ăn… Trong các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung là rất to lớn Vì vậy quản lý tài chính chặt chẽ sẽ góp phần quan trọng vào tính hiệu lực, hiệu quả trong quá trình quản lý ngân sách

Như vậy, công tác quản lý tài chính ở ĐVDT quân đội được xem xét đánh giá toàn diện dựa trên các tiêu chí nêu trên Trong đó tiêu chí thứ ba là quan trọng nhất,

nó là hệ quả tất yếu của tiêu chí một và tiêu chí hai Đồng thời khi phân tích toàn diện công tác tài chính để đánh giá được mức độ quản lý thì mục tiêu quan trọng nhất đối

Trang 38

với đơn vị dự toán vẫn là thực hiện nhiệm vụ

1.3.2.2 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

Để đánh giá công tác quản lý tài chính ở ĐVDT quân đội cần xây dựng các chỉ tiêu nghiên cứu với cách lượng hóa nó một cách tối đa Ở các khía cạnh khác nhau có các chỉ tiêu nghiên cứu khác nhau Song khái quát lại có thể đưa ra một số chỉ tiêu sau:

- Đánh giá việc Lập – Thực hiện – Quyết toán ngân sách qua các chỉ tiêu: + Tỷ lệ (%) DTNS đơn vị lập so với chỉ tiêu trên thông báo:

𝑇ỷ 𝑙ệ (%)𝐷𝑇𝑁𝑆 đơ𝑛 𝑣ị 𝑙ậ𝑝 𝑠𝑜 𝑣ớ𝑖 𝑐ℎỉ 𝑡𝑖ê𝑢 𝑡𝑟ê𝑛 𝑡ℎô𝑛𝑔 𝑏á𝑜

= 𝑆ố 𝐷𝑇𝑁𝑆 đơ𝑛 𝑣ị 𝑙ậ𝑝

Số chỉ tiêu thông báo𝑥 100%

Chỉ tiêu này cho phép đánh giá chất lượng lập DTNS của đơn vị Nếu kết quả

so sánh lớn hơn hay nhỏ hơn khá lớn, chứng tỏ đều không sát với giới hạn trần ngân sách hoặc không sát với khả năng và nhu cầu chi của đơn vị

+ Tỷ lệ (%) số thực hiện so với DTNS được lập:

+ Tỷ lệ (%) số thực hiện so với chỉ tiêu trên thông báo:

𝑇ỷ 𝑙ệ (%)𝑠ố 𝑡ℎự𝑐 ℎ𝑖ệ𝑛 𝑠𝑜 𝑣ớ𝑖 𝑐ℎỉ 𝑡𝑖ê𝑢 𝑡𝑟ê𝑛 𝑡ℎô𝑛𝑔 𝑏á𝑜

= 𝑆ố 𝑡ℎự𝑐 ℎ𝑖ệ𝑛Chỉ tiêu trên thông báo𝑥 100%

Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất, cho phép đánh giá xác đáng 2 vấn đề:

Một là, kết quả lớn hơn 100% (thiếu Ngân sách) hoặc nhỏ hơn 100% (Thừa Ngân sách) Như vậy phải xem xét 2 yếu tố: số thực hiện nếu đúng thực tế, đúng chế

độ tiêu chuẩn, định mức thì phải tính toán số chỉ tiêu trên phân bổ Ngược lại, phải

Trang 39

tăng cường làm tốt công tác thẩm định trước quyết toán

Hai là, Ngân sách là có hạn, việc bổ sung ngân sách trong năm ngân sách về nguyên tắc là rất ít (trừ trường hợp có nhiệm vụ đột xuất quan trọng được nhà nước

và Bộ quốc phòng quyết định) Vì vậy, qua chỉ tiêu này, Cục Tài chính – Bộ Quốc phòng với tư cách là cơ quan chủ trì tham mưu giúp Quân ủy trung ương và thủ trưởng

Bộ quốc phòng về công tác tài chính quân đội sẽ đánh giá Ngân sách tiết kiệm được

ở phạm vi toàn quân trong mỗi năm theo công thức sau:

Số kinh phí tiết kiệm = ∑𝑛1𝑆ố 𝑐ℎỉ 𝑡𝑖ê𝑢 𝑁𝑔â𝑛 𝑠á𝑐ℎ 𝑡ℎô𝑛𝑔 𝑏á𝑜 − 𝑆ố 𝑡ℎự𝑐 ℎ𝑖ệ𝑛 Trong đó: n: Tổng số các đơn vị trong toàn quân

+ Tỉ lệ % phân bổ dự toán ngân sách cho các ngành

𝑇ỷ 𝑙ệ (%) 𝑝ℎâ𝑛 𝑏ổ 𝑑ự 𝑡𝑜á𝑛 𝑛𝑔à𝑛ℎ

= 𝑆ố 𝑝ℎâ𝑛 𝑏ổ 𝑑ự 𝑡𝑜á𝑛 1 𝑛𝑔à𝑛ℎTổng số phân bố của tất cả các ngành𝑥 100%

- Việc duy trì thực hiện quy trình Ngân sách có kịp thời hay không, thực hiện các chính sách chế độ, tiêu chuẩn định mức, nguyên tắc, kỷ luật tài chính có thường xuyên đúng, đủ hay không Biểu hiện ở mức độ các vụ việc vi phạm, tính chất vi phạm và hậu quả của nó; tác động cụ thể của việc thực hiện các chế độ kiểm tra, thanh tra tài chính, kiểm soát chi, dân chủ kinh tế tài chính Được lượng hóa bằng các chỉ

số (Số lần thực hiện đúng chu trình về mặt thời gian, Tỉ lệ các sai sót trong văn bản lập, thực hiện, quyết toán Ngân sách)

- Các hoạt động có thu: So sánh số tương đối và tuyệt đối tình hình thực hiện

kế hoạch theo các quy định trong hoạt động có thu

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý tài chính

* Nhân tố khách quan

- Cơ chế quản lý kinh tế tài chính

- Văn bản pháp luật của Nhà nước và Bộ Quốc phòng về quản lý nguồn thu vào mục đích kinh tế

Trang 40

- Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 có hiệu lực từ năm 2017 có nhiều nội dung thay đổi Tuy nhiên, do mô hình tổ chức và quản lý trong Quân đội có sự khác biệt khá nhiều so với Nhà nước, nên cần có thời gian để nghiên cứu xây dựng Cơ chế quản lý tài chính cho phù hợp với đặc thù Quân đội Vì vậy, việc ban hành cơ chế quản lý tài chính quân đội bao giờ cũng có độ trễ Do vậy, năm 2017 áp dụng luật ngân sách mới nhưng vẫn theo cơ chế chế độ kế toán cũ, chỉ đến năm 2019 mới bắt đầu áp dụng cơ chế chế độ kế toán mới (Chế độ kế toán 5555 – phần mềm kế toán mới)

* Nhân tố chủ quan

- Hệ thống tổ chức quản lý tài chính

Đây là nhân tố cơ bản, có ý nghĩa quan trọng quyết định và ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ quá trình quản lý tài chính trong quân đội nói chung, trong hoạt động khai thác, sử dụng nguồn thu hoạt động sản xuất, làm kinh tế và ngân sách nói riêng ở các ĐVDT quân đội Nhân tố này bao gồm:

+ Vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng và chỉ huy đơn vị đối với công tác tài chính

để đơn vị hoạt động đúng đắn, đúng hướng và hiệu quả

+ Trách nhiệm và trình độ, năng lực và phẩm chất của cán bộ tài chính các cấp không đồng đều, nhiều đồng chí chưa tích cực học tập, nghiên cứu, dẫn đến việc tham mưu, đề xuất cho cấp ủy, chỉ huy đơn vị còn nhiều hạn chế

+ Các tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý, sử dụng tài chính tài sản ở đơn vị + Hệ thống định mức, tiêu chí làm cơ sở phân bổ dự toán ngân sách của từng lĩnh vực hoặc đặc thù từng ngành, đơn vị còn thiếu, lạc hậu hoặc chưa đầy đủ + Việc quán triệt Nghị quyết của Thường vụ QUTW về công tác tài chính Quân đội ở một số cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp chưa sâu sắc; nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy ở một số cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp về thực hiện quy chế lãnh đạo công tác tài chính có thời điểm chưa được coi trọng

+ Cơ chế quản lý tài chính hiện nay đã được duy trì nhiều năm, đã đi vào tiềm thức của nhiều thế hệ trong Bộ Quốc phòng, dẫn đến việc tham mưu, đề xuất cho cấp

ủy, chỉ huy đơn vị còn nhiều hạn chế

Ngày đăng: 25/02/2020, 07:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w