Nhưng công ty trách nhiệm hữu hạn là một lĩnh vực mới ở Việt Nam, cho nên các qui định về công ty trách nhiệm hữu hạn nói chung qui định về vốn nói riêng ngày càng thay đổi theo hướng ho
Trang 1rổ ĩ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Ạ
Nguyễn Văn Thanh
NHỮNG VẤN ĐỂ PHÁP LÝ VỂ GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN THEO
LUẬT DOANH NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC s ĩ KHOA HỌC LUẬT
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 50515
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Đình Hảo Viên nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật
Đ Ạ I HỌC QUỐC G IA HÀ NÔI TRUNGTÂMTI!Ô! :f> ĩ!N T H Ư V Ộ
NoV'
Trang 21.4.2 Tài sản góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn 32
Chương n Trực trạng các qui định pháp luật về góp vốn thành 46
2.4 Tài sản góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn 59
2.4.4 Thời điểm chuyển dịch quyền sở hữu tài sản góp vốn và trách 65nhiệm của các thành viên góp vốn
Chương i n Nhu cầu và những giải pháp tiếp tục hoàn thiện các 70
qui định pháp luật về góp vốn thành lập công ty TNHH theo
Luật doanh nghiệp
3.1 Hoàn thiện qui định về vốn điều lệ và vốn p h á p định 703.2 Hoàn thiện qui định về bảo đảm của Nhà nước đối với việc b ỏ 74vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh
3.4 Hoàn thiện qui định về tài sản góp vốn vào công ty TNHH 793.5 Hoàn thiện Hệ thống pháp luật và các thiết chế kinh tế, xã hội 86
Trang
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình đổi mới toàn diện mà đổi mới kinh tế là trọng tâm là một quá trình tất yếu, không thể đảo ngược Hơn 15 năm đổi mới Việt Nam đã thu được những thành tựu đáng kể về chính trị, văn hoá - xã hội và đặc biệt là kinh tế Trong quá trình phát triển kinh tế các doanh nghiệp dân doanh có một vai trò quan trọng và ngày càng khảng định vị trí của mình trong nền kinh tế quốc dân Sự đóng góp của các doanh nghiệp dân doanh có một ý nghĩa to lớn về nhiều mặt, tạo công ăn việc làm cho người lao động, tăng nguồn thu Ngân sách Nhà nước thông qua các loại thuế phải nộp của doanh nghiệp, phát huy được nội lực bằng nguồn vốn đầu tư từ người dân cũng như tính sáng tạo của
họ trong sản xuất, kinh doanh Từ đó tạo ra một môi trường cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế, không ngừng nâng cao năng lực sản xuất, thúc đẩy kinh tế phát triển
Góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế, tạo ra môi trường cạnh tranh, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển có sự đóng góp quan trọng của các doanh nghiệp dân doanh, đặc biệt là các công ty trách nhiệm hữu hạn, một loại hình doanh nghiệp phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế của nước ta hiện nay, tuy nhiên
để đảm bảo cho tính ổn định, bền vững và phát triển của các doanh nghiệp dân doanh nói chung, công trách nhiệm hữu hạn nói riêng đòi hỏi phải có môi trường pháp lý phù hợp, đó là điều tất yếu vì sự điểu chỉnh của pháp luật phải phù hợp với đòi hỏi khách quan, điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội, truyền thống văn hoá, lịch sử , tâm lý
Luật doanh nghiệp được ban hành năm 2000 là một quá trình tất yếu, khách quan của quá trình đổi mới Tuy vậy bên cạnh những mặt tích cực, Luật doanh nghiệp còn có những vấn đề bất cập, đặc biệt là các qui định về góp vốn
Trang 4thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn.
Góp vốn là một trong những vấn đề quan trọng thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, nó là khởi đầu của công việc kinh doanh, là một trong các yếu tố tiền
đề, cơ sở duy trì sự hoạt động cũng như thành công của một công ty, là cơ sở
để phân chia lợi nhuận giữa các thành viên tham gia cũng như sự chuyển nhượng, thừa kế vốn góp và quyền đưa ra các quyết định quan trọng của công
ty Đối với bên ngoài công ty trách nhiệm hữu hạn, vốn nhiều hay ít là một trong các yếu tố tạo uy tín của công ty trên thương trường, niềm tin của khách hàng đối với công ty và khả năng trả nợ của công ty đối với chủ nợ Nghĩa vụ của công ty đối với Nhà nước, thuế thu nhập doanh nghiệp liên quan đến góp vốn, chi phí khấu hao tài sản cố định (tài sản cố định được hình thành từ vốn của chủ sở hữu và vốn vay) là chi phí hợp lý được trừ để tính thu nhập chịu thuế
Liên quan đến góp vốn là sự cần thiết có sự bảo đảm an toàn pháp lý đối với chủ sở hữu doanh nghiệp nói chung, công ty trách nhiệm hữu hạn nói riêng
Sự bảo đảm pháp lý về tài sản của doanh nghiệp, hoạt động kinh doanh và lợi nhuận thu được của doanh nghiệp
Do đó các qui định về góp vốn phải khách quan, minh bạch, rõ ràng và có tính khái quát cao Tôi chọn đề tài " Những vấn đề pháp lý về góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn theo Luật doanh nghiệp" với mong muốn góp phần làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn về góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn và đưa ra các giải pháp hoàn thiện các qui định về góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn của Luật doanh nghiệp
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Doanh nghiệp dân doanh trong đó các công ty đối vốn bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần đối với Việt Nam vẫn còn là điều mới mẻ, mặc dù các loại hình cồng ty này đã ra đời hàng mấy trăm năm ở các nước
Trang 5khác trên thế giới Do đó trong những năm gần đây các đề tài về công ty đối vốn thu hút được rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu của những nhà khoa học ở các lĩnh vực khác nhau như kinh tế, pháp luật trong đó có các luận văn thạc
sỹ và luận án tiến sỹ nghiên cứu về vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn, như:
" Quyền sở hữu tài sản của công ty" luận văn thạc sĩ luật của Lê Thị Châu
" Những vấn đề pháp lý về vốn và tài sản đối với công ty trách nhiệm hữu hạn ở Việt Nam" luận văn thạc sĩ luật của Nguyễn Thị Huệ Dung
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều đề cập đến các vấn đề pháp lý về vốn, như thủ tục góp vốn và những vấn đề liên quan đến vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn
Nhưng công ty trách nhiệm hữu hạn là một lĩnh vực mới ở Việt Nam, cho nên các qui định về công ty trách nhiệm hữu hạn nói chung qui định về vốn nói riêng ngày càng thay đổi theo hướng hoàn thiện, bên cạnh đó vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn là đề tài rộng, do đó cách tiếp cận của các đề tài, phạm vi nghiên cứu, mức độ là khác nhau và các đề tài đó không nghiên cứu chuyên sâu về những vấn đề pháp lý về góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn theo Luật doanh nghiệp mà đề tài này đề cập đến
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
a- M ục đích nghiên cứu của đề tài:
Mục đích của đề tài là nghiên cứu và làm rõ một số vấn đề pháp lý về góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn theo Luật doanh nghiệp, đánh giá thực trạng các qui định của pháp luật hiện hành về việc góp vốn, đầu tư thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn cũng như các qui định khác có liên quan đến tài sản và các hoạt động kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp này Tham khảo pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn trên thế giới, vận dụng những vấn đề lý luận về góp vốn, đề xuất những khuyên nghị nhằm bảo đảm
Trang 6Ip dụng có hiệu quả Luật doanh nghiệp vào đời sống kinh tế và hoàn thiện các jui định về góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn theo Luật doanhIghiệp.
Mục đích nghiên cứu của đề tài được cụ thể hoá bằng những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những qui định về góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn theo Luật doanh nghiệp
- Nghiên cứu các qui định của pháp luật khác liên quan đến tài sản, đầu tư, góp vốn thành lập doanh nghiệp, cụ thể Bộ luật dân sự, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật hôn nhân gia đình, Luật đất đai, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Hiệp đinh thương mại Việt Nam - Mỹ, Hệ thống tài khoản kế toán, pháp luật nước ngoài về công ty trách nhiệm hữu và tình hình thực tế của Việt Nam
- Chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu các qui định về góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn của Luật doanh nghiệp
- Đề xuất những nội dung cơ bản để hoàn thiện các qui định về góp vốn theo Luật doanh nghiệp
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Vốn của doanh nghiệp là vấn đề rất rộng, nó được được qui định trong các văn bản pháp luật khác nhau nhằm điều chỉnh các loại hình doanh nghiệp có hình thức khác nhau thuộc các thành phần kinh tế Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, đề tài được giới hạn trong phạm vi nghiên cứu các qui định về góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn theo Luật doanh nghiệp
5 Những đóng góp của luận văn
Trang 7- Chỉ ra mối liên hệ biện chứng giữa kinh tế và pháp luật, cụ thể chỉ ra mối liên hệ giữa lý thuyết (qui định tài sản góp vốn) với thực tế kinh doanh, đặc biệt là mối liên hệ giữa tài sản góp vốn với Hệ thống tài khoản kế toán của pháp luật tài chính Việt Nam và hệ thống kế toán của các nước có nền kinh tế triển, như Hệ thống kế toán Anh, Mỹ.
- Chỉ ra mối liên hệ giữa tài sản góp vốn của công ty trách nhiệm với các qui định của các văn bản pháp luật khác có liên quan đến tài sản và góp vốn thành lập doanh nghiệp
- Phân tích các qui định về góp vốn của Luật doanh nghiệp hiện hành đưa ra các giải pháp hoàn thiện
- Trong quá trình phân tích chỉ ra những điều bất cập trong các văn bản pháp luật khác
- Đề cập đến vai trò quan trọng của các thiết chế kinh tế trong hoạt động kinh tế
6 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những cơ quan và người làm công tác hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xây dựng pháp luật, những người làm công tác nghiên cứu khoa học pháp lý, học tập và giảng dạy chuyên ngành và không chuyên ngành luật
- Luận văn có thể được các nhà kinh doanh tham khảo để soạn thảo điều lệ công ty, các nhà đầu tư tham khảo trong quá trình góp vốn thành lập doanh nghiệp nói chung, công ty trách nhiệm hữu hạn nói riêng
7 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu của đề tài các phương pháp luận của duy vật biện chứng và duy vật lịch sử luôn được sử dụng, ngoài ra còn sử dụng các
Trang 8phương pháp thu thập thông tin, phân tích, so sánh và qui lạp.
Trong quá trình nghiên cứu có sử dụng tài liệu của các tác giả trong và ngoài nước, các đạo luật của Việt Nam và của các nước trên thế giới
8 Kết cấu của luận văn
Chương I : Một số vấn đề lý luận pháp lý về góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn
Chương II : Thực trạng các qui định pháp luật về góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn theo luật doanh nghiệp
Chương m : Nhu cầu và những giải pháp tiếp tục hoàn thiện các qui định pháp luật về góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn theo Luật doanh nghiệp
Trang 9Chương I MỘT SỐ VẦN ĐỂ LÝ LUẬN PHÁP LÝ VỂ GÓP VỐN
THÀNH LẬP CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
1.1 Khái quát công ty trách nhiệm hữu hạn.
Từ công ty theo từ điển tiếng Anh "company" được hiểu là tập hợp, nhóm người, những người cùng làm việc với nhau hoặc liên kiết với nhau vì cùng chung mục đích, như vậy công ty có những đặc điểm cơ bản:
- Có sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân
- Có cùng mục đích chung
Từ "company" hiểu theo nghĩa rộng đó là các mối liên hệ trong gia đình, hiệp hội, đoàn thể v.v mục đích của những mối liên hệ này rất đa dạng, mục đích của nó có thể nhằm để giải quyết các vấn đề tình cảm, tương trợ giúp đỡ, dịch vụ công cộng, hay kinh doanh sinh lời v.v như vậy mối liên kết của từ "com pany" được hiểu theo nghĩa rộng được điều chỉnh bởi nhiều các qui phạm khác nhau, đó có thể là các qui phạm đạo đức, văn hoá, hay pháp luật
Khoản 1 Điều 9 Chương I của Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa kỳ định nghĩa công ty "Công ty là bất kỳ thực thể nào được thành lập hoặc tổ chức theo luật áp dụng, bất kể hoạt động vì mục đích lợi nhuận hay phi lợi nhuận, do chính phủ hay tư nhân sở hữu hoặc kiểm soát, gồm công ty, công ty tín thác, công ty hợp danh, doanh nghiệp một chủ, chi nhánh, liên doanh, hiệp hội, hoặc tổ chức khác;"[6,Tr'3401
Từ công ty được hiểu dưới khía cạnh điều chỉnh của dân luật n ó là m ột tổ chức được liên k ế t bởi hai hay nhiều thành viên vì m ục đích kinh doanh sinh lời, và m ối liên k ế t giữa cắc thành viên được thông qua m ộ t sự kiện pháp lý
Sự liên kết của các cá nhân để hình thành công ty dựa trên rất nhiều các yếu
Trang 10tố, sự liên kết có thể dựa trên mức độ tin- cậy, quen biết về nhân thân, hoặc mối liên kết dựa trên tài sản góp vốn Chính vì mối liên kết giữa các thành viên trong công ty dựa trên các yếu tố, tiêu chí khác nhau mà sự kiện pháp lý
về mối liên kết này cụng khác nhau, sự điều chỉnh của pháp luật đối với các mối liên kết cũng khác nhau Dưới góc độ pháp lý, người ta chia công ty thành hai loại, công ty đối nhân và công ty đối vốn
Công ty đối nhân là loại hình công ty mà sự liên kết dựa trên yếu tố độ tin cậy về nhân thân giữa các thành viên tham gia, sự góp vốn là thứ yếu, chính vì
sự tham gia chủ yếu dựa trên cơ sở độ tin cậy, yếu tố góp vốn là thứ yếu, do đó công ty đối nhân không có sự tách bạch về tài sản của công ty và các thành viên tham gia Vì không có sự tách bạch về tài sản của công ty và tài sản của các thành viên tham gia cho nên các thành viên tham gia hoặc ít nhất một thành viên phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty Do các thành viên tham gia hoặc ít nhất một thành viên phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty cho nên công ty đối nhân không phải là một chủ thể độc lập trong các quan hệ dân sự và vì điều này nó ít chịu sự qui định bắt buộc của pháp luật
Công ty mà sự liên kết giữa các thành viên dựa trên yếu tố cơ bản là góp vốn vào công ty của các thành viên được gọi là công ty đối vốn Tên gọi "công ty đối vốn" đã cho thấy mối liên hệ dựa trên cơ sở tình cảm, sự gắn bó giữa các thành viên là không quan trọng đối với công ty đối vốn, sự liên kết giữa các thành viên tham gia công ty đối vốn được dựa trên cơ sở góp vốn vào công ty
Sự tham gia của các thành viên được dựa trên cơ sở tài sản góp vốn cho thấy
có sự tách bạch về tài sản đem góp vốn vào công ty của các thành viên và tài sản không đem góp vốn của họ, như vậy có sự tách bạch về tài sản của công ty
và tài sản của các thành viên Vì có sự tách bạch về tài sản của công ty và tài sản của các thành viên tham gia góp vốn cho nên công ty đối vốn có tài sản riêng, do đó công ty đối vôn là một chủ thể độc lập trong các quan hệ dân sự Công ty đối vốn có tư cách pháp nhân chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ
8
Trang 11và các nghĩa vụ tài sản của công ty bằng chính tài sản của công ty, các thành viên tham gia chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty bằng tài sản góp vốn vào công ty của họ.
Như vậy công ty đối vối có một số đặc điểm cơ bản sau:
- Sự liên kết tham gia của các thành viên được dựa trên cơ sở góp vốn, sự quen biết là thứ yếu và không quan trọng
- Các thành viên của công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty bằng phần vốn góp vào công ty, công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty bằng tài sản của công ty
- Công ty đối vốn là một chủ thể độc lập trong quan hệ dân sự, có tư cách pháp nhân, có sự tách bạch về tài sản của công ty và tài sản của các thành viên tham gia góp vốn
- Vì sự tham gia và mối liên kết được dựa trên cơ sở góp vốn, sự quen biết là thứ yếu, do đó công ty đối vốn dễ dàng thay đổi thành viên công ty
- Công ty đối vốn có tư cách pháp nhân là chủ thể độc lập trong quan hệ dân
sự, do đó nó chịu sự điều chỉnh của các qui định pháp luật nhiều hơn so với công ty đối nhân
Ở Việt Nam và hầu hết các nước trên thế giới công ty đối vốn được chia làm hai loại công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn
- Công ty cổ phần (ở một số nước như Anh, Mỹ còn gọi là công ty mở - public corporation) là công ty đối vốn mà vốn của công ty được chia thành các phần bằng nhau và công ty cổ phần có thể huy động vốn thông qua việc phát hành
cổ phiếu rộng rãi trong công chúng
- Công ty trách nhiệm hữu hạn (ở một số nước như Anh, Mỹ còn gọi là công
ty đóng - close company) là công ty đối vốn không được quyền huy động vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu mà chỉ được chuyển nhượng trong các thành viên của công ty
- Bên cạnh đó giữa công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn có
Trang 12một số sự khác biệt về cơ cấu tổ chức.
Điều 26 của Luật Doanh nghiệp qui định:
" 1 Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại doanh nghiệp, trong đó:
a Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp;
b Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên của công ty khi đã chào bán phần vốn đó cho tất cả các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty
và các thành viên của công ty không mua hoặc không mua hết;
c Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi
2 Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu
3 Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh." [14’Tr 27]
Như vậy công tỵ trách nhiệm hữu hạn là loại hình công ty đối vốn, có sự tách bạch về tài sản của công ty và tài sản của cắc thành viên tham gia g óp vốn, công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân, tham gia các giao dịch dân
sự với tư cấch độc lập và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản n ợ và cắc nghĩa vụ tài sản khắc của công tỵ bằng tài sản công ty, công ty trách nhiệm hữu hạn không được p h ắt hành c ổ phiếu.
Qua khái niệm về công ty trách nhiệm hữu hạn cho thấy mặt tích cực và sự hạn chế của công ty trách nhiệm hữu hạn:
- Vì sự tham gia của các thành viên trong công ty được dựa trên cơ sở góp vốn
mà sự quen biết là không quan trọng do đó công ty trách nhiệm hữu hạn có khả năng huy động vốn rộng rãi hơn công ty đối nhân, nhiều người không phải là quen biết, không hiểu biết về kinh doanh vẫn có thể tham gia góp vốn
- Vì các thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản góp vốn, do đó sự điều hành của công ty không nhất thiết phải có sự tham gia, nhất trí của tất cả các thành viên mà chỉ cần một người điều hành, điều
Trang 13này dẫn đến tính chuyên nghiệp của những nhà quản lý, điều hành công ty, đây là tiền đề tạo ra những nhà doanh nghiệp, quản lý vi mô giỏi, có tính chuyên nghiệp.
- Vì các thành viên tham gia góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản góp vốn, do đó nó khuyến khích các nhà đẩu tư vào các lĩnh vực có nhiều rủi ro, phân bổ đều vốn đầu tư trong các lĩnh vực, ngành nghề và địa phương khác nhau, tạo ra môi trường cạnh tranh trong kinh doanh, trách được xung hướng độc quyền và mất cân đối về phát triển giữa các ngành, địa phương
- Công ty trách nhiệm hữu hạn là công ty đối vốn nhưng không được phát hành cổ phiếu, với số lượng thành viên tham gia tối đa là 50, nó phù hợp với loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ, các thành viên góp vốn cũng như các cơ quan quản lý nhà nước dễ kiểm soát được các hoạt động công ty, đổng thời
mô hình cơ cấu tổ chức của loại hình công ty này rất năng động trong việc thay đổi phương hướng kinh doanh, điều này rất cần thiết trong tất cả các nền kinh tế, đặc biệt là những nước có nền kinh tế thị trường mới phát triển như Việt Nam
- Tuy nhiên tính chịu trách nhiệm hữu hạn (công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng tài sản của công
ty và các thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản góp vốn) chỉ đặt ra khi công ty phá sản Như vậy những đặc tính ưu việt của công ty trách nhiệm hữu hạn luôn đòi hỏi phải có sự hoàn thiện về pháp luật phá sản
Bên cạnh những mặt tích cực công ty trách nhiệm hữu hạn cũng có một số hạn chế nhất định:
- Vì tính chịu trách nhiệm hữu hạn do đó công ty trách nhiệm hữu hạn tạo rủi
ro cho những chủ nợ và khách hàng thu hổi nợ trong trường hợp công ty bị phá sản
- Công ty trách nhiệm hữu hạn là một chủ thể độc lập, có tài sản độc lập,
Trang 14như vậy những thành viên tham gia công ty phải hai lần nộp thuế so với công
ty đối nhân Sau khi công ty phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, phân chia lợi nhuận cho các thành viên, số lợi nhuận mà các thành viên có được sẽ phải đóng thuế thu nhập cá nhân Đối với công ty đối nhân công ty không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, các thành viên của công ty chỉ phải nộp thuế thu nhập cá nhân
Độc lập tham gia vào các giao dịch kinh tế dân sự, tự chịu trách nhiệm vé các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác bằng tài sản công ty là đặc tính cơ bản của công ty trách nhiệm hữu hạn Để hiểu rõ về đặc tính này của công ty trách nhiệm hữu hạn cần hiểu rõ về cơ cấu nguồn vốn và tài sản của công ty trách nhiệm hữu hạn Nguồn vốn của một công ty trách nhiệm hữu hạn bao gồm vốn của chủ sở hữu và vốn vay Nguồn vốn vay của công ty trách nhiệm hữu hạn bao giờ cũng được thực hiện sau khi công ty được thành lập Ở đây chủ thể của bên vay là công ty (nó được đại diện bởi người điều hành), công ty chịu trách nhiệm về nguồn vốn vay (trả nợ gốc và lãi vay) này bằng tài sản của công ty
Như vậy có sự khác biệt về nguồn vốn của chủ sở hữu và vốn vay:
- Thời điểm hình thành vốn của chủ sở hữu được thực hiện ngay cả trước khi công ty được thành lập còn vốn vay bao giờ cũng được hình thành sau khi công ty được thành lập, khi bên cho vay (các tổ chức tín dụng hoặc các chủ thể khác của pháp luật dân sự) cho công ty vay vốn, để trở thành một bên của hợp đồng vay công ty phải có tư cách pháp nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn
có tư cách pháp nhân kể từ khi đăng ký kinh doanh (được thành lập) Khi thành viên tham gia góp vốn vay tiền (hoặc tài sản khác) để góp vốn vào công
ty, thành viên đó chịu trách nhiệm vô hạn về số tiền vay (gồm lãi vay và trả nợ gốc) và trách nhiệm này không liên đới đến công ty dù vay tiền để góp vốn vào công ty Một công ty trách nhiệm hữu hạn vay vốn để đầu tư hay mở rộng hoạt động kinh doanh công ty có trách nhiệm về khoản nợ bằng tài sản của
Trang 15công ty, các thành viên tham gia công ty chỉ chịu trách nhiệm về tài sản đã góp vốn vào công ty.
- Chủ thể vay vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn là công ty, còn chủ thể góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn là các thành viên tham gia góp vốn Trách nhiệm về nguồn vốn vay của công ty là tài sản của công ty, còn trách nhiệm của các thành viên tham gia góp vốn là tài sản đã góp vốn vào công ty
- Tài sản góp vốn có thể là hữu hình hoặc vô hình , nhưng tài sản hình thành
từ nguồn vốn vay của công ty luôn là hữu hình (có hình thái vật chất)
Vốn của chủ sở hữu của công ty gồm vốn điều lệ (vốn hình thành do các thành viên tham gia góp vốn góp hoặc cam kết góp vốn vào công ty ghi vào điều lệ công ty) và các quỹ hình thành từ lợi nhuận sau thuế hoặc chênh lệnh
tỷ giá hay chênh lệnh do đánh giá lại tài sản Như vậy vốn của chủ sở hữu của công ty trách nhiệm hữu hạn có thể xảy ra các trường hợp sau:
- Có giá trị bằng vốn điều lệ của công ty
- Có giá trị lớn hơn vốn điểu lệ, đây là trường hợp công ty kinh doanh có lãi hoặc vốn tăng lên do tài sản góp vốn là ngoại tệ có tỷ giá ngoại tệ tăng, hoặc tài sản góp vốn đánh giá lại tăng
- Trường hợp thứ ba là vốn của chủ sở hữu nhỏ hơn vốn điều lệ của công ty, trường hợp này sảy ra khi công ty kinh doanh thua lỗ hoặc vốn giảm do tài sản góp vốn là ngoại tệ có tỷ giá ngoại tệ giảm, tài sản góp vốn đánh giá lại giảm
Tài sản của công ty trách nhiệm hữu hạn được hình thành từ nguồn vốn của chủ sở hưu và vốn vay theo phương trình sau:
Tài sản công ty TNHH = Vốn chủ sở hữu + Vốn vay
Khi nói công ty trách nhiệm hữu hạn chịu trách nhiệm về các khoản nợ và
Trang 16các nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng tài sản của công ty, các thành viên tham gia góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác bằng tài sản góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn Điều này được hiểu khi một công ty trách nhiệm hữu hạn vay nợ, công ty có nghĩa vụ trả nợ vốn vay, nếu chưa đủ trả công ty phải trả bằng vốn của chủ sở hữu và vốn điều
lệ là giới hạn cuối cùng (đây là trường hợp vốn của chủ sở hữu nhỏ hơn vốn điều lệ của công ty), khi công ty lâm vào tình trạng phá sản đã trả nợ đến hết vốn điều lệ mà vẫn còn nợ thì các thành viên tham gia góp vốn không phải lấy tài sản không đem góp vốn của mình để trả nợ cho công ty Do đó về mặt pháp
lý tài sản góp vốn cần được các qui phạm pháp luật điều chỉnh một cách rõ ràng và minh bạch, điều này không chỉ là sự cần thiết của các thành viên tham gia góp vốn mà nó còn ảnh hưởng đến chủ nợ, nhà đầu tư, khác hàng, Nhà nước
1.2 Vốn điều lệ và vốn pháp định.
1.2.1 Vốn điều lệ
Vốn điều lệ theo pháp luật của các nước được hiểu là số vốn góp và cam kết
sẽ góp vốn của các thành viên tham gia góp vốn ghi vào điều lệ công ty Vốn điều lệ được đưa ra theo ý chí chủ quan của các thành viên tham gia góp vốn, nhưng ý chí chủ quan này là sự phản ánh khách quan, một công ty cần vốn điều lộ là bao nhiêu phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, khả năng tài chính của các thành viên tham gia góp vốn, khả năng vay nợ sau khi công ty được thành lập Vì tính chịu trách nhiệm hữu hạn như đã phân tích ở mục 1.1 vốn điều lệ là giá trị cuối cùng để trả nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty Vốn điều lệ có thể nhỏ hơn vốn chủ sở hữu, trong trường hợp này công ty có khả năng trả nợ Trường hợp vốn điều lệ lớn hơn vốn chủ sở hữu đây là trường hợp công ty kinh doanh thua lỗ hoặc trường hợp góp vốn là ngoại tệ có
Trang 17tỷ giá giảm , hoặc tài sản góp vốn (đất đai, nhà xưởng) đánh giá lại giảm Như vậy về thực chất vốn điều lệ của công ty giảm, và trường hợp này khả năng trả
nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty là hạn chế, vì tính chịu trách nhiệm hữu do đó để bảo vệ quyền lợi của chủ nợ, khách hàng, trách những hành vi không minh bạch, rủi ro cho khách hàng, khi vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn giảm cần có sự thay đổi về vốn điều lệ ghi trong điều lệ công ty
Một vấn đề được đặt ra đối với những dự án lớn quá trình huy động vốn được thực hiện trong một thời gian dài và có những trường hợp việc góp vốn tiếp theo của các thành viên là không cần thiết vì dự án không khả thi do các nguyên nhân khác nhau, như vậy mặc dù việc góp vốn và cam kết sẽ góp của các thành viên đã ghi trong điều lệ của công ty, nhưng do những nguyên nhân khác nhau mà việc cam kết sẽ góp không được thực hiện nhưng được sự thống nhất ý trí của các thành viên Nhưng vì tính chất chịu trách nhiệm hữu hạn của công ty trách nhiệm hữu hạn, do đó để bảo vệ khác hàng, những chủ thể cho vay, những nhà tài trợ và các thành viên góp vốn, điều lệ công ty phải ghi rõ tiến trình huy động vốn và trọng trường hợp nào thì tiến trình huy động góp vốn được huỷ bỏ Trường hợp số vốn cam kết sẽ góp nhưng không thực hiện đúng hạn gây ảnh hưởng thiệt hại cho công ty thì thành viên cam kết góp vốn
đó chịu trách nhiệm vô hạn về thiệt hại này
Trang 18được sửa đổi, bổ sung ngày 9-6-2000) qui định " Vốn pháp định cửa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là mức vốn phải có để thành lập doanh nghiệp được ghi trong điều lệ doanh nghiệp"115,Tr 11 ] Từ những qui định trên vốn pháp định được hiểu là vốn điều lệ phải có để thành lập công ty do pháp luật qui định Pháp luật của các nước khác nhau có qui định khác nhau về vốn Ị)háp định, các nước theo Hệ thông pháp luật án lệ như Anh, Mỹ không qui ỉịnh vốn pháp định, nhưng các nước theo Hệ thống pháp luật Âu châu lục địa
lố qui định vốn pháp định, việc qui định vốn pháp định hay không qui định /ốn pháp định là tuỳ vào từng hoàn cảnh kinh tế, chính trị xã hội, truyền thống dnh doanh v.v của mỗi nước
Từ khía cạnh kinh tế ta thấy rằng, một dự án, một doanh nghiệp được thành
ập hoạt động có kết quả, thì vốn là một trong những yếu tố quyết định sự hành công, ngoài ý tưởng kinh doanh, phải cần những chi phí vật chất nhất ỉịnh ban đầu để chi trả các chi phí thiết bị máy móc, nhà xưởng, nhân công, Ìguyên vật liệu cho hoạt động kinh doanh, văn phòng, chi phí quản lý Những :hi phí này tuỳ thuộc vào từng dự án, từng thời điểm khác nhau Dự án thành
ập một nhà máy sản xuất xi mãng nhu cầu góp vốn phải lớn hơn thành lập nột nhà máy may, hay thành lập một công ty kinh doanh xuất nhập khẩu tài
;ản góp vốn phải nhiều hơn một văn phòng tư vấn
Mật khác thực tế đòi sống kinh tế đòi hởi chủ sở hữu tài sản bao giờ cũng có rách nhiệm đối với tài sản của mình cũng như đối với tài sản của người khác lay tài sản đi vay Các nhà tài trợ, chủ nợ hay khác hàng chỉ có thể tin tưởng 'ào doanh nghiệp, khi doanh nghiệp có khả năng tài chính thực sự Hiện tại
ác tổ chức tín dụng quốc tế cho vay thường có yêu cầu về vốn đối ứng của
hủ đầu tư Vậy thì việc qui định vốn pháp định tuỳ từng điều kiện là sự cần hiết
ở đây có thể có những câu hỏi đặt ra, pháp luật của một số quốc ra phát triển ihư hệ thống pháp luật Anh, Mỹ không qui định vốn pháp định và những nước
ló có nền kinh tế phát triển vào bậc nhất thế giới, phải chăng sự qui định vốn
Trang 19pháp định là đi ngược lại sự phát triển? Để giải thích vấn đề này, chúng ta phải
có cái nhìn biện chứng mối quan hệ giữa pháp luật với điều kiện kinh tế, văn hoá xã hội, truyền thống v.v Các nước Anh, Mỹ là những nước có nền kinh
tế thị trường rất phát triển và để điều chỉnh các quan hệ kinh tế thì ngoài pháp luật còn có các thiết chế kinh tế khác như: tư vấn, kiểm toán, luật sư, kế toán, thống kê, ngân hàng, bảo hiểm, truyền thống kinh doanh và uy tín thương trường Những thiết chế này phát triển đạt ở mức cao, do đó luật pháp không cần qui định vốn pháp định là bao nhiêu cho việc thành lập doanh nghiệp Đây
là công việc của những sáng lập viên Họ sẽ thông qua tư vấn đầu tư để thành lập doanh nghiệp phù hợp với số vốn có thể Theo sự nhìn nhận của pháp luật Anh, Mỹ con người có khả năng sáng tạo vô tận họ có thể kinh doanh từ ý tuởng, từ ý tưởng họ có thể vay vốn ngân hàng để thực hiện dự án Ngân hàng các nước này cho vay dựa trên cơ sở khả thi của dự án và họ có các chuyên gia
để thẩm định dự án và cơ chế giám sát thực hiện dự án Ngoài ra, khi một người muốn quan hệ làm ăn với một công ty họ có thể thông qua luật sư riêng của mình, tư vấn để biết được thông tin về đối tác, khách hàng, do đó sự gian dối, lùa đảo được hạn chế Vậy thì thực chất của vấn đề là các thiết chế kinh
tế, truyền thống kinh doanh, tập quán đã tự qui định hay ít nhất cũng đưa ra những dự đoán tương đối chính xác về tính khả thi cũng như số vốn cần phải
có để thành lập một doanh nghiệp, do đó pháp luật không cần phải qui định Điều này không được hiểu rằng kinh doanh không cần vốn, khách hàng, chủ
nợ tự phải bảo vệ mình trước khi khi kinh doanh
Trong điều kiện Việt Nam hiện tại hệ thống pháp luật còn nhiều hạn chế, các thiết chế kinh tế như: kế toán, thống kê, ngân hàng, kiểm toán, tư vấn v.v còn chậm phát triển, kinh tế thị trường mới hình thành, các doanh nghiệp dân doanh chưa có uy tín cũng như kinh nghiệm kinh doanh, vì vậy vai trò của pháp luật là rất quan trọng Pháp luật không chỉ đơn thuần là một khung pháp
lý, tạo một môi trường kinh doanh bình đẳng cho mọi người mà còn có tính định hướng, hướng dẫn, cung cấp thông tin, vừa có tính khái quát nhưng
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỎ! !
Trang 20phải cụ thể rõ ràng, dựa vào pháp luật người dân biết được cái gì không được làm và còn biết có khả năng làm cái gì tốt nhất Cũng dựa vào pháp luật Nhà nước không chỉ dùng pháp luật để xét xử những vi phạm pháp luật mà quan trọng hơn Nhà nước đưa ra pháp luật để điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội và cũng để hạn chế tối đa sự vi phạm pháp luật Từ những lý giải trên Nhà nước nên qui định vốn pháp định cho việc thành lập doanh nghiệp, điều này là phù hợp với sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Tất nhiên có thể đặt ra câu hỏi qui định như vậy là một sự thụt lùi? tạo ra sự phiền hà cho người dân, bởi vì trước đây vấn đề vốn pháp định đã được qui định Để lý giải cho điều này, chúng ta phải có một cách làm khác, vấn đề tuỳ từng thời điểm kinh doanh và từng ngành nghề khác nhau cần một số vốn ban đầu cho phù hợp là điều không thể bàn cãi Do đó những cơ quan quản lỳ vĩ mô tuỳ từng thời điểm sẽ đưa ra những tiêu chí về vốn pháp định để thành lập công trách nhiệm hữu cho ngành mình, để tránh sự tuỳ tiện những tiêu chí về vốn pháp định phải được trình lên Thủ tướng Thủ tướng ban hành quyết định về vốn pháp định Quyết định được công bố công khai, cơ quan đăng ký kinh doanh buộc phải biết và có nghĩa vụ cung cấp thông tin về vốn cũng như các thông tin khác đến người dân, người dân có đủ số vốn trên là đủ điều kiện về vốn để thành lập doanh nghiệp Như vậy tránh được sự phiền hà của các cơ quan quản
lý nhà nước, vai trò của các thiết chế kinh tế cần được tăng lên và một điều quan trọng thông qua sự qui định về vốn pháp định và dựa vào kinh nghiệm, trình độ am hiểu với số vốn đã có, người dàn sẽ có định hướng rõ ràng cho việc ngành nghề kinh doanh cũng như thành lập công ty mà họ hướng tới Như vậy việc qui định vốn pháp định một cách khoa học, phù hợp với thực tế khách quan là một việc cần làm, nó tạo được môi trường kinh doanh ổn định bởi vì không những nó là một khung pháp lý tạo sân " chơi" cho những người kinh doanh trung thực, hạn chế và phần nào loại bỏ những người thành lập công ty với mục đích giả tạo mà nó còn có tính hướng dẫn, định hướng cho những nhà kinh doanh, sự ra đời và hoạt động của những công ty có tính khả
Trang 21thi hơn Mục đích đưa ra vốn pháp định là tạo một môi trường kinh doanh ổn định, lành mạnh, tạo niềm tin vào các doanh nghiệp dân doanh cũng như cung cấp những thông tin cho các nhà doanh ngiệp.
Quan điểm này không chỉ phù hợp với nền kinh tế Việt Nam hiện tại, mà nhiều nước phát triển pháp luật vẫn qui định vốn pháp định cho việc thành lập công ty, như hệ thống pháp luật Âu châu lục địa
tế bỏ vốn đầu tư kinh doanh
Bảo đảm của Nhà nước được hiểu là nghĩa vụ của Nhà nước đối với doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh từ đầu tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đến phân chia lợi nhuận Mọi hành vi xâm hại đến tài sản và lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp là bất hợp pháp Tài sản, các quyền tài sản, hoạt động kinh doanh và lợi nhuận của doanh nghiệp phải được bảo đảm
Trang 22Khuyên khích đầu tư được hiểu là một số ghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước được Nhà nước miễn, giảm, nhằm tăng thêm lợi nhuận cho doanh nnghiệp, như miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu hay tiền thuê đất
Hỗ trợ đầu tư được hiểu là Nhà nước chia xẻ một số các phí tổn về vật chất hay dịch vụ với doanh nghiệp trong quá trình đầu tư và hoạt động kinh doanh, nhằm giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp như hỗ trợ lãi suất, xúc tiến thương mại, đào tạo
Các nhà doanh nghiệp, đầu tư trước khi bỏ vốn kinh doanh, vấn đề quan tâm hàng đầu của họ là sự bảo đảm, chính sách khuyên khích, hỗ trợ từ phía Nhà nước đối với các doanh nghiệp Trong các chính sách trên thì vấn đề quan trọng nhất là sự bảo đảm của Nhà nước đối với việc bỏ vốn đầu tư kinh doanh,
vì đây là nghĩa vụ của Nhà nước đối với tài sản, các quyền tài sản và hoạt động kinh doanh của doanh nghgiệp, tức là sự bảo đảm của của Nhà nước đối với sự tồn tại của doanh nghiệp
Điều kiện để một công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập, là các thành viên có tài sản góp vốn, có cùng sự thiện chí, đồng tình trong việc thành lập công ty, đồng thời công ty có ý tưởng kinh doanh rõ ràng và điều kiện khách quan phù hợp với ý tưởng đó Nhưng để một công ty tồn tại và phát triển thì ngoài những yếu tố trên, đòi hỏi phải có sự thừa nhận vào bảo hộ của Nhà nước đối với việc bỏ vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh Sự thừa nhận và bảo hộ đối với hoạt động kinh doanh của công ty trách nhiệm hữu hạn tức là thừa nhận và bảo hộ sự hợp pháp đối với các thành viên góp vốn từ quá trình góp vốn, hoạt động kinh doanh của công ty, lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh và phân phối lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn mà các thành viên tham gia góp vốn được hưởng Mọi hành vi xâm hại đến tài sản, hoạt động kinh doanh hợp pháp của công ty cũng như lợi nhuận thu được đều được ngăn chặn
Sự tranh chấp xảy ra (nếu có) giữa công ty với các chủ thể khác về tài sản và các quyền tài sản, hoạt động kinh doanh và các lợi ích khác từ hoạt động
Trang 23kinh doanh phải được giải quyết thông qua thương lượng và hoà giải dựa trên các nguyên tắc và qui định của Bộ luật dân sự Nếu không hoà giải và thương lượng được các bên có quyền yêu cầu tổ chức trọng tài hay toà án giải quyết tranh chấp và các phán quyết của trọng tài hay toà án phải được thực thi.
Sự bảo đảm của Nhà nước phải được qui định trong các văn bản pháp luật của Hệ thông pháp luật Các qui định này phải rõ ràng, minh bạch, thống nhất
và phải được thực thi Như vậy sự bảo đảm của Nhà nước đối với việc bỏ vốn đầu tư kinh doanh đòi hỏi sự minh bạch, rõ ràng, thống nhất trong các qui định của luật nội dung và thủ tục, đồng thời công tác thực thi và áp dụng pháp luật được thực hiện nghiêm minh
Các qui định của Chương II "Chế độ kinh tế"[12,Tr 191 Hiến pháp nước cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 thừa nhận và đảm bảo cho sự tồn tại và hoạt động kinh doanh của các thành phần kinh tế, cụ thể Điều 22 của Hiến pháp qui định "Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước, đều bình đẳng trước pháp luật, vốn và tài sản hợp pháp được Nhà nước bảo hộ."[I2,Tr21]
Những qui định của Hiến pháp 1992 đã được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật, đặc biệt trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (Đã được sửa đổi ngày 9-6-2000), Điều 21 của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam qui định "Trong quá trình đầu tư vào Việt Nam, vốn và tài sản hợp pháp khác của các nhà đầu tư nước ngoài không bị trưng dụng hoặc tịch thu bằng biện pháp hành chính, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá."
luật Việt Nam làm thiệt hại đến lợi ích của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên tham gia hợp đồng kinh doanh, thì doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài và các bên tham gia hợp đồng kinh doanh tiếp tục được hưởng các ưu đãi đã qui định trong Giấy phép đầu tư và Luật này hoặc Nhà nước giải quyết thoả đáng theo các biện pháp sau đây:
a) Thay đổi mục tiêu hoạt động của dự án;
Trang 24b) Miễn giảm thuế theo qui định của pháp luật;
c) Thiết hại của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên tham gia hợp đồng kinh doanh được khấu trừ vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp;d) Được xem xét bổi thường thoả đáng trong một số trường hợp cần thiết;"
[I5.Tr.2I]
Các qui định trên là sự tiến bộ, nó ngăn chặn sừ tuỳ tiện duy ý chí của các cơ quan quản lý can thiệp vào các hoạt động kinh doanh bằng các biện pháp hành chính, tạo sự an tâm đầu tư và kinh doanh cho các nhà doanh nghiệp, nhưng bên cạnh đó các qui định này vẫn còn có những hạn chế Các qui định này không đưa ra được cơ chế để tính thiệt hại xảy ra Bồi thường các thiệt hại về vật chất (tài sản, lợi nhuận) nguyên tắc phải bằng vật chất tương ứng, nhưng các qui định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam lại bồi thường bằng chính sách, khi doanh nghiệp không hoạt động được thì các chính sách không
có giá trị, ý nghĩa, bồi thường bằng vật chất chỉ được xem xét trong một số trường hợp, nhưng đó là trường hợp nào không được qui định rõ ràng, không đưa ra cơ chế bồi thường
Bảo đảm quyền sở hữu là vấn đề đặc biệt quan trọng, để hội nhập quốc tế, thu hút đầu tư thì vấn đề bảo đảm của nhà nước với quyền sở hữu là cơ bản và cốt yếu, đây cũng là đồi hỏi khách quan trong quá trình hội nhập của Việt Nam, đặc biệt khi Việt Nam tham gia vào các tổ chức quốc tế, trong đó có tổ chức Thương mại quốc tế (WTO)
Khoản 1 Điều 10 Chương IV Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ qui định một cách rõ ràng, minh bạch về trường hợp tước quyền sở hữu và bồi thường thiết hại "Không Bên nào được tước quyền sở hữu hoặc quốc hữu hoá các khoản đầu tư một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bằng các biện pháp tương
tự như tước quyền sở hữu hoặc quốc hữu hoá (sau đây được gọi là "tước quyền
sở hữu") trừ trường hợp vì mục đích công cộng, theo phương thức không phân biệt đối xử, dựa trên việc thanh toán bồi thường nhanh chóng, đầy đủ và có hiệu quả, phù hợp với thủ tục luật định và các nguyên tắc chung về đối xử
Trang 25được qui định tại Điều 3 Việc bồi thường phải theo đúng giá thị trường của khoản đầu tư bị tước quyền sở hữu tại thời điểm ngay trước khi việc tước quyền sở hữu được thực hiện, phải thanh toán không chậm trễ, bao gồm tiền lãi theo lãi suất thương mại hợp lý tính từ ngày tước quyền sở hữu Giá đúng của thị trường không được phản ánh bất cứ sự thay đổi nào về giá trị do hành động tước quyền sở hữu đã biết trước ngày thực hiện."[6,Tr 471]
Sự bảo đảm của Nhà nước đối với chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn không chỉ được hiểu trong trường hợp trưng dụng vì mục đích công cộng có bổi thường, mà còn bảo đảm về tài sản của công ty trong toàn bộ quá trình hoạt động của công ty cũng như lợi nhuận thu được từ hoạt động của công ty Việc bảo đảm của Nhà nước đối với chủ sở hữu công ty về tài sản không chỉ đơn thuần được hiểu là bảo vệ tiền bạc, nhà của, văn phòng, xưởng máy của công ty mà còn phải bảo vệ cả tài sản vô hình Tên thương mại của hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm, chuyển giao công nghệ phải được bảo
hộ Tên thương mại hay kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm của công ty bị
"nhái" lại, hành vi này không khác gì sản sản công ty bị xâm hại, đánh cắp.Bảo đảm của Nhà nước đối với chủ sở hữu công ty còn được hiểu bảo đảm hoạt động kinh doanh và thị trường của công ty Bảo đảm cho hoạt động kinh doanh và thị trường của sản phẩm được hiểu là phải có một môi trường pháp
lý tạo ra sự bình đẳng cho hoạt động của doanh nghiệp, không có sự phân biệt đối sử đối với các loại hình doanh nghiệp thuộc các hình thức sở hữu khác nhau trong cùng một điều kiện hoạt động, không có sự phân biệt, hạn chế hoặc ngăn cản về thị trường tiêu thụ của sản phẩm cùng loại trong những điều kiện như nhau Những chính sách thuế hoặc những biện pháp hạn chế một loại sản phẩm trên trị trường phải được công bố công khai, dựa trên nguyên tắc không phân biệt đối xử và có lộ trình hợp lý
Sự bảo đảm của Nhà nước đối với chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn còn được hiểu một cách đầy đủ theo đúng bản chất của công ty trách nhiệm hữu hạn đó là trong tình trạng công ty kinh doanh không thuận lợi và
Trang 26không có khả năng thanh toán nợ đến hạn, công ty lâm vào tình trạng phá sản Trong trường hợp này vấn đề thanh toán nợ của công ty đối với chủ nợ và những người có quyền, lợi ích liên quan phải được pháp luật qui định - pháp luật phá sản, nhằm tránh tình trạng dùng "luật rừng" trong các vấn đề thanh toán nợ hay hình sự hoá các vấn đề kinh tế dân sự.
Như vậy sự bảo đảm của Nhà nước đối với việc bỏ vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh được hiểu là bảo đảm về tài sản, các quyền tài sản, lợi ích hợp pháp, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, điều kiện tiếp cận thi trường và tiêu thụ sản phẩm Các bảo đảm này phải được qui định trong pháp luật một các rõ ràng, minh bạch và thống nhất, đổng thời các cơ quan thực thi pháp luật phải thi hành, tuân thủ pháp luật một các nghiêm minh Để bảo vệ mình doanh nghiệp có quyền khởi kiện ra trước toà án bất kỳ một cơ quan có thẩm quyền hoặc cá nhân xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp Quyết định và bản án có hiệu lực của toà án phải được thi hành
1.4 Sự điều chỉnh của các qui định pháp luật về vốn và tài sản góp vốn, phương thức góp vốn và thời điểm góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn.
Từ khái niệm về công ty trách nhiệm hữu hạn cho ta thấy những đặc điểm cơ bản của nó: có tư cách pháp nhân, tham gia các giao dịch dân sự một cách độc lập, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công
ty bằng tài sản của công ty, các thành viên tham gia góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng tài sản góp vốn
Như vậy vấn đề cơ bản để hình thành tư cách pháp nhân của công ty trách nhiệm hữu hạn là có sự tách bạch giữa tài sản của các thành viên tham gia công ty và tài sản công ty, đây là vấn đề cốt yếu và quan trọng Vì công ty trách nhiệm hữu hạn được liên kết dựa trên cơ sơ góp vốn, do đó việc góp
Trang 27vốn nhiều hay ít của các thành viên tham gia sẽ tạo cho họ có ảnh hưởng đến việc cơ cấu tổ chức, điều hành của công ty cũng như phân chia lợi nhuận, đây
là những ảnh hưởng bên trong công ty Vì công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân, là chủ thể độc lập trong quân hệ dân sự và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng tài sản công ty, do đó việc xác định một các rõ ràng và minh bạch tài sản của công ty
là vấn đề quan tâm của chủ nợ, khách hàng và các cơ quan quản lý Nhà nước
Để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng về tài sản của công ty trách nhiệm hữu hạn, vấn đề đặt ra là phải có các qui định pháp luật điều chỉnh quá trình góp vốn của các thành viên tham gia công ty trách nhiệm hữu hạn
Quá trình góp vốn của các thành viên tham gia công ty trách nhiệm hữu hạn bao gồm những vấn đề cơ bản sau:
họ tự đặt ra câu hỏi kinh doanh mặt hàng gì? trên thị trường hiện tại có những
ai kinh doanh mặt hàng đó? làm như thế nào? bán cho ai? giá bao nhiêu? để trả lời cho những câu hỏi đó những nhà doanh nghiệp phải phí tổn về công sức cũng như vật chất nhất định Trong cuộc sống kinh doanh hiện đại để giải đáp được các câu hỏi trên, thường thì nhà doanh nghiệp không thể một mình làm được tất cả, họ phải thông qua các công ty tư vấn, kiểm toán, các chuyên
Trang 28gia trong các lĩnh vực liên quan v.v để nắm bắt thông tin và đi đến quyết định Như vậy trước khi một doanh nghiệp được thành lập đã có những chi phí nhất định bỏ ra và để một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có tính khả thi thì những chi phí về nghiên cứu trị trường, tư vấn đầu tư, khách hàng, tham quan để nghiên cứu thiết bị và công nghệ cho dây chuyền sản xuất, chi phí thành lập doanh nghiệp V.V 1È điều cần thiết Nó là tiền đề đi đến sự thành công của một doanh ngiệp Trong thực tế cuộc sống hầu hết việc thành lập doanh nghiệp đều có sự chuẩn bị này Như vậy nhìn dưới khía cạnh đời sống kinh doanh thực tế, một doanh nghiệp được thành lập đều gắn liền với quá trình chuẩn bị trước đó, trong đó có vấn đề vốn và việc góp vốn Như vậy khi nhìn dưới khía cạnh kinh doanh việc đăng ký kinh doanh của một doanh nghiệp nói chung, công ty trách nhiệm hữu hạn nói riêng là công việc tiếp theo của một quá trình trước đó và chúng có mối liên hệ biện chứng với nhau
Về mặt thời gian, thời điểm góp vốn đối với các doanh nghiệp nói chung, công
ty trách nhiệm hữu hạn nói riêng thường được thực hiện trước khi doanh nghiệp đi vào hoạt động kinh doanh
Cũng nhìn dưới khía cạnh đời sống thực tế, những chi phí trước sản xuất (chi phí trước khi doanh nghiệp được đăng ký kinh doanh) cũng rất quan trọng và cần thiết cho việc tạo lập những cơ sở đi đến tính khả thi và hoạt động có hiệu quả của doanh nghiệp sau này Nhưng những chi phí này bỏ ra không phải bao giờ cũng dẫn đến việc doanh nghiệp được thành lập
Nếu kết quả của điều tra thị trường hoặc các thông tin khác thu nhận được cho nhà doanh nghiệp thấy rằng việc thành lập doanh nghiệp là không khả thi, không hiộu quả, thì điều này dẫn đến hậu quả là doanh nghiệp không được thành lập mặc dù đã phải có những chi phí nhất định về vật chất và công sức cho việc chuẩn bị thành lập doanh nghiệp Đây là nguyên nhân khách quan dẫn đến doanh nghiệp không được thành lập
Hoặc sau khi đã có những chi phí bỏ ra nhưng những thành viên có cùng ý tưởng tham gia góp vốn ban đầu không có được sự thống nhất ý chí chung
Trang 29cho việc thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc bởi các nguyên nhân khác, điều này cũng có khả năng dẫn đến việc công ty không được thành lập.Trong trường hợp doanh nghiệp không được thành lập mặc dù đã có những chi phí bỏ ra, trong trường hợp này các thành viên có cùng mục đích ban đầu
về thành lập côngiy phải tính toán giải quyết những chi phí về vật chất, công việc đã thực hiện giữa họ với nhau, đổng thời các thành viên này có nghĩa vụ liên đới đến các giao dịch dân sự vì mục đích thành lập công ty liên quan đến người thứ ba
Vấn đề đặt ra ở đây là qui định nào điều chỉnh các quan hệ này? tất nhiên không thể là điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn bởi nó chưa được thành lập Trong trường hợp này hợp đồng công ty là cơ sở giải quyết giữa các thành viên với nhau Nhưng tất cả các chi tiết đó có được ghi trong hợp đồng hay không và trường hợp những công việc, chi phí bỏ ra đã thực hiện trước khi có hợp đồng thì cần được giải quyết như thế nào?
Để trả lời cho câu hỏi này chúng ta thấy rằng quyền tự do kinh doanh là một trong các quyền cơ bản của mọi người dân Kinh doanh ngành nghề gì? lựa chọn qui mô, hình thức kinh doanh nào? đó là ý chí của nhà doanh nghiệp, sao cho sự lựa chọn của họ phù hợp với các qui định của pháp luật và khả năng của họ Như vậy việc các thành viên có cùng mục đích thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn được dựa trên cơ sở tự do ý chí, tự nguyện và bình đẳng, đây cũng là nguyên tắc cơ bản của luật dân sự Do đó khi công ty không được thành lập, việc giải quyết các chi phí đã thực hiện bởi một hay nhiều thành viên vì mục đích thành lập công ty được giải quyết dựa trên nguyên tắc cơ bản của luật dân sự, tự do ý chí, tự thoả thuận, tự định đoạt Nếu tranh chấp không thể tự giải quyết giữa các thành viên vói nhau dựa trên nguyên tắc tự do ý chí,
tự nguyện, tư thoả thuận và tự định đoạt thì toà án sẽ là nơi giải quyết tranh chấp Những sáng lập viên đã thực hiện những công việc hay những khoản chi phí về tài sản vì mục đích thành lập công ty phải có nghĩa vụ chứng minh về công việc đã thực hiện hoặc chi phí đã bỏ ra để được hoàn trả, trước toà họ là
Trang 30một nguyên đơn dân sự, những chứng cứ cho những chi phí về tài sản hoặc công việc được thực hiện vì mục đích thành lập công ty là: hoá đơn, hợp đồng, công việc đã làm v.v và phải là những chi phí về tài sản hay công việc thực hiện đã được sự thoả thuận từ trước hay phù hợp với ý chí của các thành viên, phải hợp pháp, công khai, tính được giá trị Đây là vấn đề tranh chấp giữa các thành viên có cùng mục đích thành lập công ty.
Một vấn đề khác đặt ra là công ty không được thành lập, nhưng có sự tranh chấp về tài sản giữa một trong các thành viên có cùng mục đích thành lập công ty với người thứ ba Qui định nào giải quyết vấn đề này?
Khi công ty chưa được thành lập những sáng lập viên có chung mục đích thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn là những chủ thể của pháp luật dân sự,
họ tham gia vào các giao dịch dân sự với tư cách là một chủ thể độc lập và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trong các giao dịch dân sự Do đó vấn đề ở đay đặt ra là khi các thành viên này tham gia vào các giao dịch dân sự vì mục đích thành lập công ty, ở đây có hai trường hợp xảy ra, trường hợp thứ nhất nếu một ngưòi hay một số người thành viên có cùng mục đích tham gia thành lập công ty được sự uỷ quyền của cả nhóm ký kết hợp đồng với người thứ ba cho mục đích thành lập công ty thì các thành viên còn lại có nghĩa vụ liên đới Trường hợp thứ hai xảy ra nếu một trong các thành viên giao kết một giao dịch dân sự với người thứ ba mà không được sự uỷ quyền của cả nhóm nhưng việc giao kết dân sự này vì mục đích thành lập công ty, điều Irước tiên là người tham gia giao dịch với người thứ ba thì thành viên đó phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với người thứ ba Sau khi thực hiện nghĩa vụ người đã tham gia giao dịch dân sự có quyền yêu cầu các thành viên còn lại hoàn trả những chi phí mà mình đã bỏ ra, nhưng đồng thời người đó phải có nghĩa vụ chứng minh rằng việc tham gia giao kết vì mục đích thành lập công
ty và phù hợp với ý chí của các thành viên còn lại, để giải quyết sự việc này có thể áp dụng những qui định của Chương III, Bộ Luật dân sự " Thực hiện công việc không có uỷ quyền"tl0,Tr4131 Như vậy để giải quyết các tranh chấp về
Trang 31những chi phí tài sản, vật chất hay công việc đã thực hiện vì mục đích thành lập công ty nhưng công ty không được thành lập được dựa trên các nguyên tắc
cơ bản của luật dân sự: tự do ý chí, bình đẳng, tự nguyện và tự định đoạt, và các qui định của Bộ Luật dân sự được áp dụng để giải các tranh chấp
Trong trường hợp công ty được thành lập, điều này được dựa trên những nguyên nhân chủ quan và khách quan sau: các sáng lập viên công ty có sự thống nhất ý chí cho việc thành lập công ty, những nghiên cứu về thị trường, công nghệ, khả năng tài chính cho thấy việc thành lập công ty là khả thi Khi công ty được thành lập sẽ có sự chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn của các thành viên tham gia thành tài sản của công ty đồng thời những chi phí
về tài sản, vật chất và công việc đã thực hiện có thể được tính thành tài sản góp vốn của các thành viên công ty thể theo điều lệ công ty Vì công ty trách nhiệm hữu hạn có sự tách bạch về tài sản của công ty và tài sản của các thành viên tham gia góp vốn, công ty là chủ thể độc lập trong các giao dịch kinh tế dân sự, do đó việc chuyển quyền sở hữu tài sản của các thành viên tham gia góp vốn thành tài sản công ty đòi hỏi phải có sự minh bạch rõ ràng Điều này
là cần thiết, bởi vì nó đảm bảo quyền lợi cho các thành viên góp vốn, cơ cấu tổ chức của của công ty phụ thuộc chủ yếu vào phần vốn góp của các thành viên đồng thời đây cũng là tiêu chí để phân chia lợi nhuận cũng như chia xẻ rủi ro, chuyển nhượng và thừa kế vốn góp Ngoài ra việc góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn là điều quan tâm đối với chủ nợ, khách hàng cũng như các cơ quan nhà nước Như vậy những công việc đã được thực hiện, những chi phí về vật chất, tài sản đã bỏ ra trước khi công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập phải được sự thoả thuận hoặc nhất trí của các thành viên tham gia góp vốn và phải hợp pháp Tất nhiên có thể xảy ra những trường hợp công việc được thực hiện, chi phí đã bỏ ra vì mục đích thành lập và hoạt động cùa công ty nhưng không có sự thoả thuận từ trước và không được sự nhất trí của các thành viên Nếu có tranh chấp thì những nguyên tắc và các qui định của Bộ Luận dân sự cũng như hợp đồng công ty và điều lệ công ty là cơ sở để áp dụng giải
Trang 32quyết, chi phí về vật chất, tài sản, công việc đã thực hiện được tính vào vốn góp vào công ty và trong trường hợp không đạt được sự thống nhất ý chí giữa các thành viên công ty thì cần có phán quyết của toà án rằng chi phí đã bỏ ra, công việc đã thực hiện là vì mục đích thành lập, hoạt động của công ty.
Một vấn đề nữa đật ra là sau khi công ty đã được thành lập đi vào hoạt động kinh doanh, do đòi hỏi của thị trường, công ty cần mở rộng sản xuất, điều này dẫn đến việc công ty cần tăng vốn cho kinh doanh, việc tăng vốn có thể thực hiện bằng cách công ty vay vốn, trích từ các quỹ của công ty hoặc các thành viên góp thêm vốn, hay tăng số lượng thành viên Việc tăng vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn sau khi công ty đã được thành lập bằng cách tăng thêm
số lượng thành viên hoặc các thành viên góp thêm vốn có sự khác biệt so với thời điểm góp vốn khi công ty chưa được thành lập vì khi công ty đã được thành lập thì các quan hệ về góp vốn chủ yếu sẽ được điều chỉnh bởi các qui định của điều lệ công ty
1.4.1.2 Thời điểm góp vốn thành lập công ty theo qui định pháp luật hiện hành
Khoản 1 Điều 25 Chương III của Luật Công ty (được sửa đổi theo Luật sửa đổi một số điều của Luật Công ty ngày 22-6-1994) qui định "Phần vốn góp của tất cả các thành viên phải được đóng đủ ngay khi thành lập công ty Các phần vốn góp được ghi rõ trong điều lệ công ty."[l3,Tr221 Theo qui định này được hiểu thời điểm góp vốn được thực hiện trước khi công ty được thành lập, qui định này phù hợp với thực tế kinh doanh của các doanh nghiệp, nhưng bên cạnh đó qui định này còn có điểm bất cập việc qui định các thành viên góp vốn phải đóng đủ ngay là điều không thực tế và không cần thiết, bởi vì việc sử dụng vốn tuỳ thuộc vào qui mô sản xuất, nhu cầu thị trường, tiến độ hoạt động kinh doanh của*từng doanh nghiệp, do đó không nhất thiết các thành viên phải đóng đủ vốn ngay
Trang 33Thời điểm góp vốn và tiến độ góp vốn được qui định một cách rõ ràng và phù hợp với đời sống thực tế trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (Đã được sửa đồi bổ sung ngày 9-6-2000) Điều 9 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam qui định "Giá trị phần vốn góp của mỗi bên trong doanh nghiệp liên doanh được xác định trên cơ sở giá trị thị trường tại thời điểm góp vốn Tiến độ góp vốn do các bên thoả thuận ghi trong hợp đồng liên doanh và được cơ quan quản lý Nhà nước về đầu tư nước ngoài chấp nhận"tl5,Tr'l6J Hợp đồng liên doanh được ký kết giữa các bên để thành lập doanh nghiệp liên doanh, điều này được hiểu góp vốn có thể được thực hiện trước khi doanh nghiệp được thành lập, đồng thời tiến độ góp vốn do các bên thoả thuận và không nhất thiết phải đóng đủ ngay khi thành lập doanh nghiệp.
Trong Hệ thống vãn bản pháp luật hiện hành còn có các văn bản pháp qui điều chỉnh các dự án đầu lư của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế trong lĩnh vực kinh doanh sinh lời Cụ thể Thông tư số 09/2000/TT-BXD ngày 17 tháng 7 năm 2000 của Bộ Xây dựng qui định về " Hướng dẫn việc lập chi phí xây dựng công trình thuộc các dự án đầu tư"íl,Tr l0001 Theo Tông tư này chi phí đầu tư cho một cơ sở sản xuất kinh doanh bao gồm:
Chi phí xây lắp ( xây dựng + lắp đặt thiết bị), chi phí thiết bị và chi phí khác.Chi phí khác trong một dự án đáu tư nói chung, cơ sở sản xuất nói riêng được chia thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
- Giai đoạn đầu tư
- Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng
Trong giai đoạn chuản bị đầu tư bao gồm các chi phí sau:
+ Chi phí lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (đối với các dự án lớn)
+ Chi phí lập báo cáo nghiên cứu khả thi (hoặc báo cáo đầu tư) - Trong báo cáo nghiên cứu khả thi có cả nghiên cứu về thị trường
+ Chi phí tuyên truyền, quảng cáo dự án
+ Chi phí nghiên cứu khoa học, công nghệ đến dự án
Trang 34Như vậy góp vốn thành lập cơ sở sản xuất, doanh nghiệp là một quá trình mà thời điểm góp vốn thường được thực hiện trước khi doanh nghiệp được thành lập, việc xác định thời điểm góp vốn có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân;
-Vì việc thừa nhận thời điểm góp vốn vào doanh nghiệp được thực hiện trước khi doanh nghiệp được thành lập điều này đi đến một hệ quả những chi phí về vật chất, tài sản, công việc đã thực hiện một cách hợp pháp vì mục đích thành lập và duy trì sự hoạt động của doanh nghiệp được sự thoả thuận hay phù hợp với ý chí của các thành viên tham gia khác, được chuyển thành vốn của doanh nghiệp, khi đã trở thành vốn của doanh nghiệp có tư cách pháp nhân thì tài sản
đó tách biệt với tài sản của các thành viên tham gia góp vốn
- Khi có tranh chấp xảy ra giữa các thành viên với nhau hoặc một trong các thành viên với người thứ ba về các giao dịch dân sự được ký kết và thực hiện
vì mục đích thành lập doanh nghiệp hay phục vụ cho sự hoạt động của doanh nghiệp thì hợp đồng được ký kết là cơ sở để giải quyết tranh chấp phát sinh, nếu không có hợp đồng thì các nguyên tắc và các qui định của luật dân sự được áp dụng để giải quyết các tranh chấp
- Việc góp vốn sau khi công ty trách nhiệm hữu hạn đã được thành lập thì quan hệ về góp vốn được điểu chỉnh chủ yếu bởi các qui định của điều lệ công
ty.
1.4.2 Tài sản góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn
1.4.2.1 Về khái niệm tài sản góp vốn vào công ty
Theo qui định của Điều 172 của Bộ luật dân sự " Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản"l'0.Tr.270]
Điều 7 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam qui định
"1 Bên nước ngoài tham gia doanh nghiệp liên doanh góp vón pháp
Trang 35định bằng:
a) Tiền nước ngoài, tiền Việt Nam có nguồn gốc đầu tư tại Việt Nam;
b) Thiết bị, máy móc, nhà xưởng, công trình xây dựng khác;
c) Giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật
2 Bên Việt Nam tham gia doanh nghiệp liên doanh góp vón pháp định bằng:a) Tiền Việt Nam, tiền nước ngoài;
b) Giá trị quyền sở hữu đất theo qui định của pháp luật về đất đai;
c) Các nguồn tài nguyên, giá trị quyền sử dụng mặt nước, mặt biển theo qui định của pháp luật;
d) Thiết bị, máy móc, nhà xưởng, công trình xây dựng khác;
đ) Giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật
3 Việc các bên góp vốn bằng các hình thức khác với các qui định tại khoản 1
và khoản 2 Điều này phải được Chính phủt chấp thuận."115’™51
Từ những qui định này cho thấy tài sản nói chung, tài sản góp vốn nói riêng
là những yếu tố có hình thái vật chất hoặc không có hình thái vật chất nhưng
có giá trị sử dụng trong sinh hoạt thường ngày và trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tài sản có hình thái vật chất được gọi là tài sản hữu hình, tài sản không có hình tài thái vật chất được gọi là tài sản sản vô hình
Tài sản hữu hình là những vật có thực, có hình thái vật chất, có thể nhìn thấy bằng mắt, cầm lắm được, ví dụ: tiền, thiết bị máy móc, nhà xưởng, công trình
Tài sản vô hình là tài sản không có hình thái vật chất, như quyền sở hữu công nghiệp, tên thương mại, bí quyết kỹ thuật, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng mặt nước, mặt biển
Sự phân loại tài sản thành vô hình và hữu hình có giá trị thực tế, phù hợp với
Hệ thống kế toán của Việt Nam và quốc tế, nó thuận lợi cho việc hạch toán kinh doanh, đảm bảo cho sự minh bạch về các báo cáo tài chính của doanh
Trang 36nghiệp nói chung, công ty trách nhiệm hữu hạn nói riêng.
Tài sản vô hình là một khái niệm còn mới đối Việt Nam, trong hệ thống tài khoản kế toán Việt Nam, tài khoản tài sản cố định vô hình mới được đưa vào trong những năm gần đây và trong thực tế việc mua bản quyền hay thoả thuận
để sử dụng nhãn hiệu hàng hoá của một sản phẩm là còn hạn chế ở Việt Nam, nhưng điều này lại phổ biến ở các nước công nghiệp phát triển
Dù có sự khác biệt nhưng tài sản hữu hình và vô hình có cùng những điểm chung:
- Tính được giá trị
- Chuyển giao được
- Có ích trong quá trình kinh doanh sinh lời của doanh nghiệp
Tên thương mại, bản quyền công nghiệp, bí quyết công nghệ, không có hình thái vật chất, có thể không nhìn thấy, không cầm nắm được nhưng việc sử dụng tên thương mại của một sản phẩm, hay kiểu dáng công nghiệp, bí quyết công nghệ đều có thể tăng thêm giá trị của sản phẩm hàng hoá và giá trị này
có thể tính được, đồng thời tên thương mại của một sản phẩm, bí quyết công nghệ được hình thành từ những chi phí về vật chất nhất định
Tuy nhiên ở Việt Nam và các nước khác có những quan niệm khác nhau về tài sản vô hình và hữu hình Đối với hầu hết các nước trên thế giới đất đai là tài sản hữu hình, đất đai có hình thái vật chất, con người có thể nhìn thấy đất đai bằng mắt được, nhưng ở Việt Nam khái niệm quyền sử dụng đất được hiểu như tài sản vô hình Khái niệm này được hình thành trên quan điểm đất đai là
sở hữu toàn dân, người dân không có quyền sở hữu đất đai Tuy nhiên quan điểm này nhiều khi rất phức tạp trong quản lý cũng như sử dụng, chuyển nhượng, trong những năm gần đây thì Luật đất đai thay đổi và có xu hướng gần với quan điểm của các nước có nền kinh tế phát triển, quá trình hội nhập kinh tế, đặc biệt là việc Việt Nam chuẩn bị xin gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO đòi hỏi chúng ta phải thay đổi nhiều đạo luật trong đó có luật đất đai
Trang 37Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm với đặc tính cơ bản của tài
sản góp vốn sau:
Tài sản góp vốn là cấc yếu tố có hình thái vật chất, hoặc không có hình thái
vất chất, tiền, giấy tờ trị giắ bằng tiền và cấc quyền tài sản, tính được giá trị và
có thể chuyển dịch trong giao dịch dân sự.
1.4.2.2 Về điều kiện cần và đủ cho tài sản góp vốn
Tài sản hữu hình hay vô hình phải được phép lưu thông trong các giao dịch
dân sự, vì nếu tài sản đem góp vốn không được phép lưu thông trong các giao
dịch dân sự thì nó không có giá trị khi đem góp vốn, nếu một người đem một
tài sản bị cấm lưu thông trong các giao dịch dân sự để góp vốn vào công ty « điều này là trái lại nguyên tắc "người dân được làm những gì mà pháp luật
không cấm" Ở đây có những trường hợp những tài sản được phép lưu thông
có điều kiện, ví dụ các chất để chế biến tân dược, người dân không thể mua
bán các chất gây nghiện một cách bình thường, nhưng các chất này cần thiết
cho dược phẩm Hoặc nguyên vật liệu dùng cho sản xuất, có những chất bị
nghiêm cấm vì gây hại cho môi trường, hoặc được sử dụng trong điều kiện
nhất định Hoặc những tên thương mại, kiểu dáng sản phẩm vi phạm truyền
thống văn hoá, đạo đức Như vậy điều cần và đủ để một người đem một tài sản
lưu thông có điều kiện làm tài sản góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn là
người góp vốn và công ty đều là đối tượng được phép sở hữu tài sản đó Nếu
chỉ công ty hoặc người góp vốn được phép sở hữu tài sản lưu thông có điều
kiện đều không được, vì công ty được phép sở hữu nhưng người góp vốn
không có đủ điều kiện, điều này sẽ biến một cái không hợp pháp thành hợp
pháp thông qua sự kiện góp vốn, hoặc ngược lại người góp vốn được phép sở
hữu tài sản lưu thông có điều kiện nhưng công ty không được phép thì tài sản
đó không có giá trị đối với công ty
Khi đem một tài sản góp vốn vào công ty, tài sản góp vốn phải thuộc
Trang 38quyền sở hữu của thành viên tham gia góp vốn Một người không thể có ba quyền, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với một tài sản, nếu tài sản đó không phải thuộc quyền sở hữu của chính người đó Ở đây có những vấn đề đặt ra nếu một người vay tài sản để góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, hay tài sản sở hữu chung, hoặc tài sản đang có tranh chấp.
- Trường hợp thành viên tham gia góp vốn bằng tài sản đi vay, trước khi có hành vi tham gia góp vốn, thành viên góp vốn đã tham gia vào một giao dịch dân sự (đi vay), việc cho vay hoặc không cho vay hay cho vay có các biện pháp đảm bảo là sự thoả thuận của bên cho vay và bên vay (thành viên góp vốn), thành viên tham gia góp vốn có trách nhiệm trả nợ tài sản cùng loại (vật hoặc tién) theo đúng số lượng và chất lượng và chỉ trả lãi vay nếu có thoả thuận Trách nhiệm trả nợ này là trách nhiệm vô hạn , Điều 467 của Bộ luật dân sự Đổng thời Điều 469 của Bộ luật dân sự qui định " Bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đô."i'0.Tr.368] j SỊ Ị l i r V ậ y v ị ệ C
một thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn vay tài sản để góp vốn vào công ty là một giao dịch dân sự tách biệt không liên quan đến hành vi góp vốn vào công ty của thành viên đó mặc dù tài sản vay đem làm tài sản góp vốn
Có sự khác biệt giữa nội dung hành vi vay tài sản của thành viên tham gia góp vốn và hành vi vay tài sản của công ty Khi công ty vay tài sản, chủ thể bên vay là công ty, công ty có trách nhiệm trả nợ tài sản cùng loại (cả lãi vay nếu có) bằng tài sản công ty Các thành viên tham ra góp vốn có trách nhiệm
về khoản nợ của công ty bằng tài sản đã góp vào công ty, khi tài sản của công
ty không đủ trả nợ các thành viên không phải lấy tài sản của mình để trả nợ cho công ty Bên cho vay cho công ty vay tài sản trên cơ sở thoả thuận của hợp đồng vay, có thể cho vay có các biện pháp đảm bảo hoặc không Hầu hết các tổ chức tài chính, ngân hàng của các nước phát triển cho các doanh nghiệp vay theo dự án đầu lư Trước khi được vay tiền các doanh nghiệp ñói chung, công ty trách nhiệm hữu hạn nói riêng phải trình những dự án, phương hướng đầu tư, sau khi ngân hàng thẩm định các dự án này (còn gọi là báo cáo
Trang 39nghiên cứu khả thi) ngân hàng quyết định cho vay hay không và khi đã cho vay ngân hàng thường có yêu cầu giám sát đầu tư, phương hướng kinh doanh của doanh nghiệp Việc cho vay như trên có ý nghĩa tích cực trong nền kinh
tế, ngoài vấn đề chu cấp vốn cho đầu tư, các tổ chức tín dụng tài chính phần nào hạn chế các dự án không hiệu quả khả thi, góp phần tích cực trong quản lý kinh doanh, đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp, có khả năng thu hồi nợ, tạo nên sự ổn định và phát triển của xã hội
- Trường hợp một người đem một tài sản sở hữu chung góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn Theo qui định của Bộ luật dân sự hiện hành, tài sản sở hữu chung gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất, tài sản sở hữu chung của vợ chồng là tài sản sở hữu chung hợp nhất Theo qui định của khoản 1 và khoản 2 của Điều 237 của Bộ luật dân sự
" 1 Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình theo thoả thuận hoặc theo qui định của pháp luật
2 Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thoả thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo qui định của pháp luật."[ 10’Tr-289)
Khoản 3 Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình qui định "Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thoả thuận, trừ trường hợp tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo qui định của khoản 1 Điều 29."[16,Tr-2l]
Như vậy tài sản sở hữu chung khi được đem làm tài sản góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn phải được sự nhất trí của các chủ sở hữu chung, điều này không có nghĩa là các chủ sở hữu chung cũng trở thành thành viên góp vốn
- Đối với một tài sản đang có tranh chấp không thể đem làm tài sản góp vốn bởi vì như đã phân tích, một người chỉ có thể đem tài sản thuộc quyền sở hữu của mình (hoặc đã được thoả thuận của các chủ sở hữu khác đối với tài sản thuộc sở hữu chung) góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn Khi một tài
Trang 40sản đang tranh chấp nó chỉ thuộc quyền sở hữu của một chủ thể khi đã có quyết định, bản án của có hiệu lực của toà án hoặc cơ quan nhà nước có thảm quyền, Điều 254 Bộ luật dân sự.
- Trong trường hợp một người góp vốn bằng quyền sử dụng đất, thực tế hiện nay đại đa số bộ phận dân cư sở hữu đất hợp pháp nhưng không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), điều này cũng gây trở gại trong việc góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn bằng quyền sử dụng đất
Từ những phân tích trên cho ta thấy tài sản đem góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn phải đáp ứng được các yêu cầu:
- Tài sản góp vốn phải là tài sản đực phép lưu thông trong giao dịch dân sự, đối với trường hợp lưu thông có điều kiện thì thành viên góp vốn và công ty đều thuộc đối tượng qui định trong điều kiện
- Tài sản phải thuộc quyền sở hữu của thành viên tham gia góp vốn
- Nếu tài sản góp vốn là tài sản sở hữu chung của thành viên tham gia góp vốn với các chủ sở hữu khác thì phải có thoả thuận của các chủ sở hữu chung, nhưng điều này không có nghĩa các chủ sở hữu chung cũng là thành viên tham gia góp vốn
- Tài sản đang có tranh chấp không thể đem làm tài sản góp vốn
1.4.2.3 Về việc định giá tài sản góp vốn
Định giá tài sản góp vốn là điều cần thiết Sự minh bạch, rõ ràng của một công ty bắt đầu từ công việc định giá tài sản góp vốn Định giá tài sản một cách chính xác, hợp lý là cơ sở cho sự nhất trí, đồng tình của các thành viên trong quá trình góp vốn, tránh được sự tranh chấp xảy ra Bên cạnh đó nó cũng góp phần vào bảo vệ chủ nợ, khách hàng, quyền lợi của các thành viên tham gia góp vốn, thuận tiện cho các cơ quan quản lý và tính hợp pháp của công ly Như vậy việc định giá tài sản góp vốn là điều cần thiết của các thành viên tham gia góp vốn, đây là điều cơ bản và thiết yếu, vì công ty trách nhiệm