Sự nghiệp này đặt ra yêu cầu mới đối với ngành giáo dục đó là phải hướng tới đào tạo “Những con người có ý thức hợp tác và phát huy tính tích cực chủ động của cá nhân, làm chủ tri thức k
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ VÂN
TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO GÓC NỘI DUNG KIẾN THỨC
CHƯƠNG “KHÚC XẠ ÁNH SÁNG”
SÁCH GIÁO KHOA VẬT LÍ 11 NÂNG CAO
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu của tôi tại Đại học Giáo dục- ĐHQG Hà Nội Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Thầy, các Cô trong trường Đại học Giáo dục- ĐHQG Hà Nội đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện
đề tài này
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Phó giáo sư Tiến sĩ Đỗ Hương Trà đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để viết đề tài luận văn này
Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn đến Sở Giáo Dục và Đào tạo Hà Nội, cảm ơn các thầy cô giáo trường THPT Thuận Thành 1, Thuận Thành 2, Thuận Thành 3- Bắc Ninh, bạn bè, các em học sinh đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Cuối cùng dù rất tâm huyết và hết sức cố gắng song bản luận văn chắc chắn còn nhiều thiếu sót Kính mong sự chỉ dẫn của các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Thị Vân
Trang 3DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCH TƢ : Ban chấp hành trung ƣơng
CPB : Chƣa phân ban
Trang 4MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 5
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Mẫu khảo sát 6
6 Câu hỏi nghiên cứu 6
7 Giả thuyết nghiên cứu 6
8 Phương pháp chứng minh luận điểm 6
9 Dự kiến luận cứ 7
10 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 8
1.1 Phương pháp dạy học tích cực 8
1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực 8
1.1.2 Các đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực 11
1.1.3 Các yếu tố thúc đẩy dạy học tích cực 16
1.1.4 Các biểu hiện của tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trong học tập 18
1.2 Dạy học theo góc 18
1.2.1 Khái niệm dạy học theo góc 18
1.2.2 Cơ sở của dạy học theo góc 19
1.2.3 Đặc điểm của dạy học theo góc 25
1.2.4 Các loại hình dạy học theo góc 26
1.2.5 Các tiêu chí của dạy học theo góc 28
1.2.6 Vai trò của GV và HS trong dạy học theo góc 29
1.2.7 Quy trình tổ chức dạy học theo góc 30
1.2.8 Ưu – nhược điểm của dạy học theo góc 35
Kết luận chương 1 36
Trang 5Chương 2: THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC THEO GÓC
MỘT SỐ NỘI DUNG KIẾN THỨC CHƯƠNG “KHÚC XẠ ÁNH
SÁNG” SGK VẬT LÍ 11 NÂNG CAO
37 2.1 Nội dung kiến thức và phân phối chương trình chương “Khúc xạ ánh sáng” 37
2.1.1 Trung học cơ sở 37
2.1.2 Ở cấp Trung học phổ thông 38
2.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung kiến thức chương “Khúc xạ ánh sáng” 39
2.3 Kiến thức, kỹ năng cần đạt khi học chương “Khúc xạ ánh sáng” 39
2.4 Tìm hiểu thực tế dạy học nội dung kiến thức chương “Khúc xạ ánh sáng” SGK Vật lí lớp 11 nâng cao 40
2.4.1 Mục đích điều tra 40
2.4.2 Phương pháp điều tra 40
2.4.3 Nội dung và kết quả điều tra 41
2.5 Thiết kế tiến trình dạy học theo góc kiến thức chương “Khúc xạ ánh sáng” 44
2.5.1 Bài “Khúc xạ ánh sáng” 44
2.5.2 Bài “Phản xạ toàn phần” 58
Kết luận chương 2 72
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 73
3.2 Đối tượng thực nghiệm 73
3.3 Thời điểm thực nghiệm sư phạm 73
3.4 Những khó khăn gặp phải và cách khắc phục khi làm thực nghiệm sư phạm 73
3.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 74
3.6 Phân tích các kết quả thực nghiệm sư phạm 75
3.7 Phân tích đánh giá bài kiểm tra cuối mỗi tiết học 81
3.7.1 Đánh giá định lượng kết quả thông kê ở các bài kiểm tra 82
Trang 63.7.2 Khúc xạ ánh sáng 85
3.7.3 Phản xạ toàn phần 91
Kết luận chương 3 95
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang bước vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chuyển từ nền văn minh nông nghiệp lên nền văn minh công nghiệp và tiến thẳng lên nền văn minh trí tuệ Sự nghiệp này đặt ra yêu cầu mới đối với ngành giáo dục đó là phải hướng tới đào tạo “Những con người
có ý thức hợp tác và phát huy tính tích cực chủ động của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt có tư duy sáng tạo và có năng lực giải quyết vấn đề” ( Nghị quyết hội nghị lần thứ hai BCH TƯ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII)
Đối với công tác dạy và học, việc rèn luyện tư duy sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh cần được thực hiện thường xuyên, ngay trong quá trình dạy học ở trường phổ thông ở tất cả các môn học Qua đó, bồi dưỡng các phương pháp nhận thức, phát triển hoạt động trí tuệ và óc sáng tạo của học sinh Trong suốt những năm gần đây, công tác giảng dạy đã quen với phương pháp dạy học cũ: Phương pháp thuyết trình, giáo điều Học sinh thụ động trong việc tiếp thu kiến thức, là bình chứa kiến thức, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, chưa đáp ứng được mục tiêu đào tạo những con người lao động mới để phục vụ cho sự nghiệp hiện đại hóa và công nghiệp hóa của đất nước
Nhận thức được vấn đề đó, định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1 - 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12 - 1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12 - 1998), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và
Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4 - 1999) Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi
"Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
Trang 8học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Nghị quyết Trung ương lần IV BCH TƯ Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa VII đã chỉ rõ: cần
phải “Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học bậc học, áp
dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề” Đổi mới phương pháp dạy
học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh nhằm làm tăng khả năng tư duy và tính chủ động cho học sinh trong học tập cũng như trong
cuộc sống Không chỉ nhằm cung cấp kiến thức mà còn xây dựng năng lực tư duy, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, đồng thời còn phải rèn luyện cho học sinh phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và khoa học Vật lí nói riêng
Tuy nhiên phương pháp dạy học các bộ môn khoa học tự nhiên và môn Vật lí nói riêng ở trường phổ thông vẫn mang nặng tính chất thông báo, tái hiện và mới chỉ đáp ứng được các mục tiêu bậc 1 (nhớ), bậc 2 (hiểu) và bậc 3 (áp dụng làm bài tập trong các tình huống tương tự) trong thang bậc nhận thức của Bloom Người giáo viên ít để ý đến việc hình thành cho học sinh khả năng tư duy phê phán, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề Hệ quả là các em học tập một cách thụ động, học đối phó, học để trả bài rồi đến khi kết thúc môn học có nhiều học sinh không biết mình học để làm gì Môn học đó
có ứng dụng gì trong cuộc sống? Các môn học có mối quan hệ với nhau hay không? Chính vì vậy các em không tìm được hứng thú trong học tập và kết quả dạy và học tập đều đạt chất lượng chưa cao
Dạy học theo góc là một phương pháp tổ chức hoạt động học tập theo
đó người học thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại vị trí cụ thể trong không gian lớp học, đáp ứng nhiều phong cách học khác nhau Học theo góc người
Trang 9học được lựa chọn hoạt động và phong cách học tạo cơ hội cho người học
“Khám phá”, „Thực hành”; cơ hội mở rộng, phát triển, sáng tạo; Cơ hội đọc hiểu các nhiệm vụ và hướng dẫn bằng văn bản của người dạy; cơ hội cá nhân
tự áp dụng và trải nghiệm Do vậy, học theo góc kích thích người học tích cực hoạt động; Mở rộng sự tham gia, nâng cao hứng thú và cảm giác thoải mái, đảm bảo học sâu, hiệu quả bền vững, tương tác mang tính cá nhân cao giữa thầy và trò, tránh tình trạng người học phải chờ đợi Phương pháp dạy học theo góc đã được áp dụng thành công ở nhiều nước phát triển trên thế giới và đem lại hiệu quả Phương pháp này cũng bắt đầu áp dụng tại Việt Nam trong vài năm trở lại đây
Chương “Khúc xạ ánh sáng – Vật lí lớp 11” cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về sự khúc xạ ánh sáng, về hiện tượng phản xạ toàn phần Nắm được kiến thức cơ bản của chương này góp phần nền tảng cho học sinh tiếp thu tốt các phần khác của phần quang học như: Vẽ đường đi của tia sáng qua lăng kính, thấu kính, giải các bài tập về lăng kính, thấu kính, kính hiển vi, thiên văn…
Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có nhiều nghiên cứu lý luận
về đổi mới phương pháp dạy học nói chung và dạy học vật lý nói riêng, đưa học sinh vào vị trí trung tâm của hoạt động dạy học Có thể kể đến các công trình nghiên cứu:
“Dạy học vật lý ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động học tích cực, tự chủ, sáng tạo và tư duy khoa học” của tác giả Phạm Hữu Tòng (2001)
“Phương pháp dạy học vật lý ở trường phổ thông” của nhóm tác giả Nguyễn Đức Thâm- Nguyễn Ngọc Hưng- Phạm Xuân Quế (2003) Nghiên cứu dạy học một số kiến thức “Phần quang học”, đã có các luận văn thạc sĩ
và luận văn tiến sĩ sau:
Trang 10“Hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề bằng cách sử dụng mô hình, hình vẽ trong dạy học vật lý phần Quang hình học lớp 12, đề tài thấu kính và
hệ thấu kính”, luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của tác giả Trần Thị Mỹ Quang (1997)
“Phát triển hứng thú, tính tích cực, tự chủ tham gia giải quyết vấn đề của học sinh thông qua việc đề xuất và thảo luận lựa chọn và phương án thiết
kế các ứng dụng của vật lý trong dạy học chương “ Mắt và các dụng cụ quang học”( lớp 11 chương trình chưa phân ban), luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của tác giả Phạm Hoàng Hưng(2000)
“Phối hợp sử dụng các phương tiện dạy học truyền thông và hiện đại trong việc dạy học một số kiến thức về dụng cụ quang học theo chương trình thí điểm vật lý 11- Ban KHTN, luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của tác giả Đinh Thị Thu Hà (2004)
“Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn sử dụng đề kiểm tra đánh giá chất lượng một số kiến thức phần “Quang học” vật
lý 11 (nâng cao), luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của tác giả Lê Thị Thúy Bắc (2007)
“Nghiên cứu xây dựng tình huống dạy học theo hướng phát triển năng lực tự chủ, chiếm lĩnh tri thức và tư duy khoa học kỹ thuật của học sinh khi dạy phần “Quang học” ở lớp 8 THCS, luận án tiến sĩ giáo dục của tác giả Ngô Diệu Nga (2000)
Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu việc dạy học theo góc để tổ
chức dạy học nội dung kiến thức chương “Khúc xạ ánh sáng ” – Vật lí 11
nâng cao
Xuất phát từ các lí do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: Tổ chức dạy học theo góc nội dung kiến thức chương “Khúc xạ ánh sáng” sách giáo khoa vật lý 11 nâng cao
Trang 11
2 Lịch sử nghiên cứu
Quan điểm dạy học tích cực đã được nhà giáo dục người Mỹ Robert
Marzano nêu lên trong công trình A Different Kind of Classroom: Teaching
with Dimension of Learning do Association for Supervision and Curriculum
Development xuất bản Dạy và học tích cực cũng đã được Dự án Việt – Bỉ, là
Dự án song phương giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam với Cơ quan Hợp tác Kĩ thuật Bỉ triển khai áp dụng tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam
Đã có nhiều phương pháp dạy học tích cực được nghiên cứu và áp dụng thành công ở nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam cũng đang từng bước triển khai áp dụng Trong đề tài này chúng tôi đề cập đến việc nghiên cứu và vận dụng phương pháp dạy học theo góc, hiện đang còn tương đối mới ở Việt
Nam Bài báo khoa học “Dạy học theo góc – hình thức dạy học tích cực áp
dụng trong giảng dạy môn Hóa học ở trường phổ thông” (tạp chí Giáo dục
số 221, trang 45, 46 – 2009 của Th.s Nguyễn Thị Thủy – Trường CĐSP Hà Giang) đã đề cập đến những ưu điểm của phương pháp này khi thử nghiệm trong dạy học môn Hoá học, nhưng cho đến nay chưa có luận văn nào đi theo hướng nghiên cứu này
3 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng hệ thống quan điểm lý luận dạy học hiện đại về việc tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động tích cực chiếm lĩnh tri thức vật lý của học
sinh Tổ chức dạy học theo góc nội dung kiến thức chương “Khúc xạ ánh
sáng” sách giáo khoa vật lý 11 nâng cao theo hướng phát huy tính tích cực, tự chủ của học sinh bằng cách lôi cuốn học sinh tham gia vào giải quyết vấn đề trong quá trình chiếm lĩnh tri thức
4 Phạm vi nghiên cứu
+ Nội dung kiến thức chương “Khúc xạ ánh sáng” - Sách giáo khoa Vật lí
11 nâng cao Cụ thể:
Trang 12- Bài 45 Phản xạ toàn phần
+ Phạm vi không gian và thời gian: Các hoạt động dạy và học của giáo viên
và học sinh Trường phổ thông Thuận Thành 1 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong năm học 2009-2010
5 Mẫu khảo sát: Học sinh lớp 11A3 và 11A4 tại trường trung học phổ thông
Thuận Thành 1 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh được chọn làm đối tượng thực nghiệm
6 Câu hỏi nghiên cứu
Tổ chức dạy học theo góc nội dung kiến thức chương Khúc xạ ánh sáng” như thế nào để có thể phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trong học tập?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Việc vận dụng cơ sở lí loận dạy học theo góc cùng với việc đảm bảo
những yêu cầu hoạt động nhận thức vật lý có thể tổ chức dạy học theo góc các nội dung của chương “Khúc xạ ánh sáng” - Sách giáo khoa Vật lí 11 nâng cao theo phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập
8 Phương pháp chứng minh luận điểm
8.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Nghiên cứu các tài liệu về lí luận dạy học để làm sáng tỏ những quan điểm về
vận dụng phương pháp dạy học theo góc trong quá trình dạy học môn Vật lí
- Nghiên cứu chương trình, nội dung sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài
liệu tham khảo về phần “Khúc xạ ánh sáng- Vật lí 11 nâng cao” cùng với những ứng dụng thực tiễn của chúng để xác định mức độ kiến thức cũng như các kĩ năng mà học sinh cần nắm vững
8.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Tiến hành dạy học thực nghiệm để kiểm tra giả thuyết
- Phân tích, so sánh hoạt động nhận thức của học sinh lớp học đối chứng và lớp học thực nghiệm, đánh giá sản phẩm của học sinh để rút ra những kết luận cần thiết
Trang 138.3 Phương pháp chuyên gia
- Tìm hiểu việc dạy học (thông qua dự giờ, trao đổi với giáo viên) nhằm đánh
giá sơ bộ tình hình dạy học vật lí nói chung và dạy học chương “Khúc xạ ánh sáng” - Vật lí 11 nâng cao nói riêng tại trường phổ thông
8.4 Phương pháp điều tra, khảo sát
Tìm hiểu việc dạy học (thông qua trao đổi với học sinh, dự giờ, phân tích các sản phẩm của học sinh)
9 Dự kiến luận cứ
9.1 Luận cứ lí thuyết
- Các cơ sở lí luận về dạy học tích cực, dạy học theo góc
- Các biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh
9.2 Luận cứ thực tế
- Phiếu dự giờ trao đổi với giáo viên
- Phiếu điều tra, khảo sát trên học sinh
- Minh chứng của diễn biến dạy học thực nghiệm (Biên bản quan sát giờ học, ảnh chụp )
- Các bài kiểm tra học sinh
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Thiết kế tiến trình dạy học theo góc một số nội dung kiến thức chương “Khúc xạ ánh sáng” - SGK Vật lí 11 nâng cao
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Phương pháp dạy học tích cực[ 15]
1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực
Như chúng ta đã biết, mỗi một phương pháp dạy học truyền thống hay hiện đại đều nhấn mạnh lên một khía cạnh nào đó của cơ chế dạy-học hoặc nhấn mạnh lên mặt nào đó thuộc về vai trò của người thầy Chúng tôi cho rằng, cho dù các phương pháp thể hiện hiệu quả như thế nào thì nó vẫn tồn tại một vài khía cạnh mà người học và người dạy chưa khai thác hết Chính vì thế mà không có một phương pháp dạy học được cho là lý tưởng Mỗi một phương pháp đều có ưu điểm của nó do vậy người thầy nên xây dựng cho mình một phương pháp riêng phù hợp với mục tiêu, bản chất của vấn đề cần trao đổi, phù hợp với thành phần nhóm lớp học, các nguồn lực, công cụ dạy-học sẵn có và cuối cùng là phù hợp với sở thích của mình
Theo chúng tôi, phương pháp dạy học gọi là tích cực nếu hội tụ được các yếu tố sau:
- Thể hiện rõ vai trò của nguồn thông tin và các nguồn lực sẵn có
- Thể hiện rõ được động cơ học tập của người học khi bắt đầu môn học
- Thể hiện rõ được bản chất và mức độ kiến thức cần huy động
- Thể hiện rõ được vai trò của người học, người dạy, vai trò của các mối tương tác trong quá trình học
- Thể hiện được kết quả mong đợi của người học
a Thế nào là tính tích cực học tập?
Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người, bởi vì để tồn tại và phát triển con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội Vì vậy, hình thành và phát triển TTC xã hội là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục
Trang 15Tính tích cực học tập - về thực chất là TTC nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong qúa trình chiếm lĩnh tri thức TTC nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với
động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực Tính tích cực
sản sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo Ngược lại, phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập TTC học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn…
TTC học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao như:
- Bắt chước: gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn…
- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau về một số vấn đề…
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu
b Phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
"Tích cực" trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động,
chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo
nghĩa trái với tiêu cực
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động
Trang 16người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Chẳng hạn, có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp giáo viên hăng hái áp dụng PPDH tích cực nhưng không thành công vì học sinh chưa thích ứng, vẫn quen với lối học tập thụ động Vì vậy, giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công Như vậy, việc dùng thuật ngữ
"Dạy và học tích cực" để phân biệt với "Dạy và học thụ động"
c Mối quan hệ giữa dạy và học tích cực với dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Từ thập kỉ cuối cùng của thế kỷ XX, các tài liệu giáo dục ở nước ngoài
và trong nước, một số văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo thường nói tới việc cần thiết phải chuyển dạy học lấy giáo viên làm trung tâm sang dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Dạy học lấy học sinh làm trung tâm còn có một số thuật ngữ tương đương như: dạy học tập trung vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học hướng vào người học… Các thuật ngữ này có chung một nội hàm là nhấn mạnh hoạt động học và vai trò của học sinh trong qúa trình dạy học, khác với cách tiếp cận truyền thống lâu nay là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của giáo viên
Lịch sử phát triển giáo dục cho thấy, trong nhà trường một thầy dạy cho một lớp đông học trò, cùng lứa tuổi và trình độ tương đối đồng đều thì
Trang 17giáo viên khó có điều kiện chăm lo cho từng học sinh nên đã hình thành kiểu dạy "thông báo - đồng loạt" Giáo viên quan tâm trước hết đến việc hoàn thành trách nhiệm của mình là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong chương trình và sách giáo khoa, cố gắng làm cho mọi học sinh hiểu và nhớ những điều giáo viên giảng Cách dạy này đẻ ra cách học tập thụ động, thiên
về ghi nhớ, ít chịu suy nghĩ, cho nên đã hạn chế chất lượng, hiệu quả dạy và học, không đáp ứng yêu cầu phát triển năng động của xã hội hiện đại Để khắc phục tình trạng này, các nhà sư phạm kêu gọi phải phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, thực hiện "dạy học phân hóa" quan tâm đến nhu cầu, khả năng của mỗi cá nhân học sinh trong tập thể lớp Phương pháp dạy học tích cực, dạy học lấy học sinh làm trung tâm ra đời từ bối cảnh đó
Trên thực tế, trong quá trình dạy học người học vừa là đối tượng của hoạt động dạy, lại vừa là chủ thể của hoạt động học Thông qua hoạt động học, dưới
sự chỉ đạo của thầy, người học phải tích cực chủ động cải biến chính mình về kiến thức, kĩ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách, không ai làm thay cho mình được Vì vậy, nếu người học không tự giác chủ động, không chịu học, không có phương pháp học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế
Như vậy, khi đã coi trọng vị trí hoạt động và vai trò của người học thì đương nhiên phải phát huy tính tích cực chủ động của người học Tuy nhiên,
dạy học lấy học sinh làm trung tâm không phải là một phương pháp dạy học
cụ thể Đó là một tư tưởng, quan điểm giáo dục, một cách tiếp cận quá trình
dạy học chi phối tất cả quá trình dạy học về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá… chứ không phải chỉ liên quan đến phương pháp dạy và học
1.1.2 Các đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
Các dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy và học tích cực có thể
là:[8]
Trang 18Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động "dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức
đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức
mà còn hướng dẫn hành động Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng
Trong dạy và học tích cực, người học được cuốn hút tham gia vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó, tự lực khám phá, tìm tòi kiến thức không thụ động trông chờ vào việc truyền thụ của giáo viên Người học được hoạt động, được trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề, vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống theo khả năng nhận thức, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân
b Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Dạy học tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì không thể nhồi nhét vào đầu óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho học sinh phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng
Trang 19Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn
luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học
thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển
biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học
ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên
Dạy học tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả học tập mà còn là một mục tiêu dạy học
Trong xã hội hiện đại với sự bùng nổ thông tin, sự phát triển như vũ bão của khoa học, kĩ thuật, công nghệ, thời gian trên lớp học không đủ để trang bị cho người học mọi tri thức và không thể nhồi nhét vào đầu óc người học quá nhiều kiến thức Vì vậy cần phải dạy PP học ngay từ bậc tiểu học và càng lên bậc học cao hơn thì càng phải được chú trọng
c Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập, áp dụng dạy học tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá
Trang 20luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuát hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức
tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh
Để phát huy tính tích cực của người học đòi hỏi phải có sự phân hóa
về trình độ, cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập Cần tăng cường
cá thể hoá hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh Các bài học được thiết kế thành một chuỗi nhiệm vụ phù hợp với khả năng nhận thức của từng đối tượng người học Như vậy học tập cá thể đáp ứng được trình độ của người học, phù hợp với phong cách học của mỗi cá nhân Qua đó người học rèn luyện ý thức tự lực, ý thức trách nhiệm với kết quả học tập của mình
Tuy vậy, lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức.Thông qua thảo luận, tranh luận trong nhóm, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ và được chia sẻ HS không chỉ có điều kiện học tập với nhau mà còn
Trang 21học tập lẫn nhau.Kiến thức mà người học thu được là sự đóng góp của nhiềungười Đồng thời qua học tập hợp tác, các kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thuyết phục, kĩ năng lắng nghe tích cực, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ được rèn luyện và phát triển
Dạy học thông qua hợp tác nhóm tạo nên mối quan hệ tương tác giữa trò với trò, giữa thày với trò, tạo nên sự bình đẳng trong quan hệ giữa các thành viên và tạo nên môi trường học tập an toàn Trong môi trường đó mỗi
cá nhân được phép thể hiện tối đa khả năng nhận thức và kinh nghiệm của mình một cách tự tin và thoải mái bởi cảm giác an toàn Học tập hợp tác theo nhóm còn phát triển ở HS kỹ năng tổ chức, kỹ năng điều khiển và lãnh đạo Thông qua đó hình thành ở HS những phẩm chất của người lao động
d Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi
để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế
Trang 22Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành
người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ
để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy
và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở,
xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng,
tranh luận sôi nổi của học sinh Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên
1.1.3 Các yếu tố thúc đẩy dạy học tích cực
* Không khí học tập và các mối quan hệ trong lớp/nhóm
Xây dựng môi trường học tập thân thiện, mang tính kích thích: Như bố trí bàn ghế, trang trí trên tường, cách sắp xếp không gian lớp học, quan tâm tới sự thoải mái về tinh thần Hỗ trợ cá nhân một cách tích cực, tạo cơ hội để
HS giao tiếp, thể hiện quan điểm, giá trị, mơ ước, chia sẻ kinh nghiệm, và hợp tác trong các hoạt động học tập, tạo ra môi trường học tập thoải mái, không căng thẳng, không nặng nề, không gây phiền nhiễu Cho phép có các hoạt động giải trí nhẹ nhàng, truyện vui, hài hước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
* Sự phù hợp với mức độ phát triển của HS
Để thúc đẩy quá trình học tập của học sinh, cần phải kể đến sự phù
hợp với các mức độ phát triển của học sinh Đầu tiên là sự phân hóa về nhịp
Trang 23độ học tập giữa các đối tượng HS khác nhau từ đó dẫn tới sự khác biệt về trình độ phát triển của HS Do vậy yêu cầu người giáo viên phải trình bày rõ ràng về những mong đợi của thày đối với trò (nhất trí thoả thuận), đưa ra các yêu cầu rõ ràng, tránh mơ hồ, đa nghĩa Đồng thời khuyến khích HS giúp
đỡ lẫn nhau, từ đó dành thời gian đặt các câu hỏi yêu cầu HS động não và
hỗ trợ cá nhân Ngoài ra có thể quan sát học sinh học tập để tìm ra phong cách và sở thích học tập của từng HS, tạo điều kiện trao đổi với HS về nhiệm vụ học tập
* Sự gần gũi với thực tế
Nỗ lực gắn nội dung/nhiệm vụ với các mối quan tâm của HS và với thế giới thực tại xung quanh như gắn với các công việc trong gia đình hàng ngày Hướng dẫn HS tận dụng mọi cơ hội có thể để tiếp xúc với vật thực/tình huống thực, sử dụng các công cụ dạy học hấp dẫn (trình chiếu, video, tranh ảnh,…) để “đưa” HS lại gần đời sống thực tế Đồng thời giao các nhiệm vụ vận dụng kiến thức/kĩ năng trong môn học có ý nghĩa với HS từ đó giúp HS khai thác những đề tài vượt ra ngoài giới hạn của các môn học riêng rẽ, kích thích khả năng tư duy, tính tích cực, chủ động ở HS
* Mức độ và sự đa dạng của hoạt động
Hạn chế tối đa thời gian chết và thời gian chờ đợi, với các đối tượng
HS khác nhau cần có những yêu cầu khác nhau có như vậy mới tăng cường
sự tham gia tích cực, hoặc có thể tạo ra các thời điểm hoạt động và trải nghiệm tích cực, tích hợp các hoạt động học mà chơi (các trò chơi giáo dục) như tham gia hoạt động giải ô chữ theo lĩnh vực yêu thích Thay đổi xen kẽ các hoạt động và nhiệm vụ học tập để có thể đảm bảo đủ thời gian thực hàn Đảm bảo hỗ trợ đúng mức (HS hỗ trợ lẫn nhau và hỗ trợ từ GV), giáo viên không làm hộ HS, chỉ hỗ trợ hướng dẫn đến một mức nào đó, yêu cầu học sinh tăng cường các trải nghiệm thành công có như vậy mới tạo hứng thú học
Trang 24* Phạm vi tự do sáng tạo
HS thường xuyên được lựa chọn hoạt động phù hợp với bản thân, HS lên kế hoạch/đánh giá bài học, thực hiện nhiệm vụ và hoạt động, khi trải nghiệm trong thực tế HS có quyền thay đổi kế hoạch cho phù hợp với mục tiêu đặt ra Trong khuôn khổ một số nhiệm vụ nhất định, HS tự do xác định quá trình thực hiện và xác định sản phẩm mà mình tạo ra, có thể thay đổi sản phẩm tạo ra cho phù hợp với thực tiễn, có như vậy HS được giao nhiệm vụ mới đáp ứng cơ sở thực tiễn của nhà trường và thực tế của nhóm
1.1.4 Các biểu hiện của tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trong học tập [16]
Khi HS có xu hướng tìm tòi, khám phá vấn đề cần nghiên cứu, điều này sẽ kích thích khả năng tư duy cho HS, do vậy HS không chỉ tìm ra hướng giải quyết cho vấn đề cần nghiên cứu mà còn sáng tạo vấn đề theo nhiều khía cạnh khác nhau như: So sánh, phân tích, kiểm tra; Thực hành, xây dựng; Giải thích, trình bày, thể hiện, hướng dẫn; Giúp đỡ, làm việc chung, liên lạc; Thử nghiệm, giải quyết vấn đề, phá bỏ…
Do vậy GV cần: Động viên khuyến khích HS tự giải quyết vấn đề, có thể khuyến khích bằng cách cho điểm hoặc đặt các câu hỏi mở, thay vì các câu hỏi đóng mang tính nhắc lại (cho phép HS đào sâu suy nghĩ sáng tạo) Không chỉ đặt câu hỏi cho một đối tượng HS, có thể đặt ra các câu hỏi mở với nhiều đối tượng HS để tạo điều kiện và cơ hội để HS tham gia
1.2 Dạy học theo góc
1.2.1 Khái niệm dạy học theo góc [8]
Học theo góc là một phương pháp tổ chức hoạt động học tập theo đó
người học thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại vị trí cụ thể trong không gian lớp học, đáp ứng nhiều phong cách học khác nhau Học theo góc người học được lựa chọn hoạt động và phong cách học: Cơ hội “Khám phá”, „Thực hành”; Cơ hội mở rộng, phát triển, sáng tạo; Cơ hội đọc hiểu các nhiệm vụ và
Trang 25hướng dẫn bằng văn bản của người dạy; Cơ hội cá nhân tự áp dụng và trải nghiệm Do vậy, học theo góc kích thích người học tích cực thông qua hoạt động; Mở rộng sự tham gia, nâng cao hứng thú và cảm giác thoải mái, đảm bảo học sâu, hiệu quả bền vững, tương tác mang tính cá nhân cao giữa thầy
và trò, tránh tình trạng người học phải chờ đợi Ví dụ: Với chủ đề môi trường
hoặc giao thông có thể tổ chức các góc: Viết; Đọc; Vẽ tranh: Xem băng hình; Thảo luận về nội dung chủ đề
Ưu điểm của học theo góc nói riêng và trong dạy học nói chung là người dạy có thể giao nhiều nhiệm vụ với các mức độ và năng lực khác nhau theo từng nội dung học tập, mỗi cá nhân tự hoàn thành nhiệm vụ với sự tương tác của người dạy và thành viên trong nhóm Mỗi góc phải chuẩn bị đầy đủ các phương tiện đáp ứng nội dung học tập và nhiệm vụ các góc cùng hướng tới mục tiêu bài học Dạy học theo góc có thể áp dụng ở hầu hết các dạng bài học và các bài tập tích hợp kiến thức nhiều môn học
Ví dụ: Vẽ theo mẫu - Vẽ tĩnh vật - vẽ mầu
(Bài 30 - Lớp 8 - Chương trình Mỹ thuật Trung học cơ sở)
Góc 1: Tìm hiểu các bước vẽ - Khám phá
Góc 2: Quan sát, nhận xét các bước vẽ - Trải nghiệm
Góc 3: Quan sát, nhận xét mẫu - Phân tích
Góc 4: Thực hành - Áp dụng
Việc phân chia các góc theo các phong cách và nội dung học tập không nhất thiết phải đủ tất cả 4 góc như trên, mà có thể linh hoạt tổ chức 2 hoặc 3 góc tùy theo điều kiện và nội dung học tập, nhằm đảm bảo học sâu, thoải mái
1.2.2 Cơ sở của dạy học theo góc
1.2.2.1 Dạy học khai thác và vận dụng các chức năng của não trái và não
phải [15]
Não người…Đó là một bí ẩn mà nhân loại còn đang khám phá Điều kì
Trang 26nơi lưu giữ “kí ức”, suy nghĩ, tính cách, đặc điểm, cảm xúc và ý thức của con người Bộ não người có kích thước chỉ bằng 2 nắm tay Nhưng khi trải phẳng
ra, kích thước của não người có thể to bằng kích thước của một quả bóng rổ Não người được chia thành 2 bán cầu: bán cầu não trái và bán cầu não phải + Não trái chi phối các hoạt động tư duy logic và đảm nhận các thao tác của nửa bên phải của cơ thể Người chịu sự chi phối nhiều của bán cầu não trái thường có khuynh hướng thiên về phân tích, suy luận Họ trội hơn người khác khi thực hiện các phép tính toán
+ Não phải chi phối cảm xúc, hình ảnh và đảm nhận các thao tác của nửa bên trái của cơ thể, công thức và kỹ năng sử dụng ngôn ngữ Những người chịu ảnh hưởng nhiều bởi bán cầu não phải có khuynh hướng thiên về trực giác và giàu trí tưởng tượng Họ có cái nhìn tổng thể, thích thú với các mẫu vẽ, hình dạng, kích thước Những người có não phải phát triển thường thiên về nghệ thuật như ca hát, hội họa, văn chương, điêu khắc
Hình 1.1: Tư duy não người
Nói như vậy không có nghĩa những người thuận não trái hoặc não phải
sẽ không sử dụng phần não còn lại Ngay từ lúc mới ra đời, trẻ chưa được
Trang 27định sẵn sẽ thiên về não trái hay phải Chính cách giáo dục của bố mẹ và nhà trường sẽ tạo nên thế chênh lệch cho sự phát triển của hai bán cầu não
Mối quan hệ giữa giáo dục và sự phát triển trí thông minh sáng tạo
Những năm gần đây, các kết quả nghiên cứu về sự khác biệt giữa bán cầu não trái và bán cầu não phải đã làm sáng tỏ quá trình hoạt động trí óc và mối quan hệ giữa trí thông minh và óc sáng tạo Theo quan điểm cũ, bán cầu não trái luôn được coi là trội hơn, nó như một đặc điểm chung, bẩm sinh, di truyền Tuy nhiên ngày nay người ta cho rằng sở dĩ có vấn đề này chủ yếu là
do sự học tập chứ không phải do gien di truyền
Não trái Não phải
- Não trái là trung tâm điều khiển các
chức năng trí tuệ như ghi nhớ, ngôn
ngữ, lý luận, tính toán, sắp xếp, phân
loại, viết, phân tích và tư duy quy
nạp
- Não phải là trung tâm kiểm soát các chức năng như trực giác, ngoại cảm, thái độ, xúc cảm, liên hệ về thị giác và không gian, cảm nhận âm nhạc, nhịp điệu, vũ điệu, các hoạt động phối hợp thể lực, các quá trình tư duy tổng hợp
và tư duy suy diễn
- Các chức năng não trái có đặc điểm
- Tư duy não trái là tố chất phát triển
Trang 28Con người khi sinh ra có thể có sự phát triển trội ở một trong hai bán cầu não, nhưng hai bán cầu não cần phải hoạt động, phát triển cân bằng và phối hợp tốt với nhau để con người phát triển toàn diện về cả trí tuệ và thể lực, về cả suy nghĩ và hành động
Trong hệ thống giáo dục mà kiến thức được cung cấp theo quy trình liên tục và tuần tự, trong đó chương trình thiết lập theo kiểu gần như tuyến tính, phù hợp với học sinh có não trái phát triển trội vì đó cũng là cách thu nhận và xử lý thông tin của họ, việc dạy học tất nhiên sẽ làm cho các chức năng của não trái ngày càng phát triển Những học sinh có não phải phát triển trội gặp khó khăn vì họ thường không xử lý thông tin theo cách đó, họ có xu hướng diễn giải mọi thông tin theo cách tổng thể hơn là chi tiết Họ có xu hướng nắm cái toàn thể sau đó mới đi ngược lại và mổ xẻ vấn đề, họ có tầm nhìn toàn thể
Để khắc phục những hạn chế của PPDH thụ động cần phải đổi mới PPDH để không những làm cho học sinh có não phải phát triển trội tìm thấy
sự thích ứng mà còn làm sao để mọi học sinh được phát triển cân bằng chức năng của cả hai bán cầu não, bởi vì chức năng của cả hai bán cầu não đều cần thiết để con người giải quyết các vấn đề khác nhau, thành công trong các lĩnh vực hoạt động thực tiễn khác nhau
1.2.2.2 Dạy học đáp ứng các phong cách học tập của người học [15]
Quá trình học được chia thành các khu vực (các góc) bằng cách phân chia nhiệm vụ và tư liệu học tập, để có một cái nhìn tổng quát tốt, một cấu trúc rõ ràng sẽ được áp dụng nhằm giú p học sinh có thể độc lập lựa chọn cách thức học tập riêng trong nhiệm vụ chung Các em biết những khu vực nào đang sẵn sàng và cần làm gì khi hoàn thành nhiệm vụ: liệu các em có cần các tư liệu để tự sửa chữa, trong điều kiện nào các em có thể tự chuyển sang một khu vực khác vv Tất cả đều được tổ chức để tạo ra một bầu không khí
Trang 29nhẹ nhàng và không ồn ào Có thể áp dụng cách vẽ hình như một biện pháp
hỗ trợ thực hiện nhằm khuyến khích hoa ̣t đô ̣ng và thúc đẩy viê ̣c h ọc tập Các tư liệu và nhiệm vụ học tập là những thử thách , là những tình huống có vấn đề , những mâu thuẫn nhâ ̣n thức mà ho ̣c sinh cần phải giải quyết Mục đích là để học sinh khám phá các giới hạn của việc học và tăng cường sự tiến bộ của các em
Ví dụ: Các phong cách học của học sinh
Các hoạt động có tính đa dạng cao về nội dung và bản chất
Mỗi khu vực học tập đều đa dạng, do đó HS có sở thích và năng lực khác nhau, nhịp độ học tập và phong cách học khác nhau đều có thể tự tìm cách để thích ứng và thể hiện năng lực của mình Điều này cho phép GV giải quyết vấn đề đa dạng trong nhóm
Hướng tới việc thực hành, khám phá và thực nghiệm
HS sẽ bị cuốn vào việc học tập một cách tích cực, không chỉ với việc thực hành các nội dung học tập mà còn khám phá các cơ hội học tập mới mẻ Việc trải nghiệm và khám phá trong học tập sẽ có nhiều cơ hội được phát huy
Các phong cách học
HOẠT ĐỘNG Trải nghiệm
QUAN SÁT Suy ngẫm về các hoạt động đã thực hiện
ÁP DỤNG Hoạt động có
hỗ trợ
PHÂN TÍCH Suy nghĩ
Hình 1.2: Các phong cách học của học sinh
Trang 30hơn khi học theo góc HS sẽ có cảm giác gần gũi hơn với tư liệu Mỗi HS đều
có cơ hội để phát triển “câu truyện” về mình theo những cách khác nhau
1.2.2.3 Cơ sở tâm lý [29]
Theo nhà tâm lý học, giáo dục học, triết học và logic hoc người Thuỵ Sĩ- Jean Piaget: “Học là một quá trình tích cực và xây dựng ý nghĩa” Theo Jean Piaget, mọi cơ thể đều có xu thế thích nghi với môi trường Tổ chức và thích nghi là hai quá trình của cùng một cơ chế, bổ sung cho nhau Thích nghi bao hàm hai quá trình bổ sung cho nhau: đồng hoá và điều ứng Đồng hóa là quá trình thống nhất hóa các yếu tố từ môi trường: chủ thể tiếp nhận khách thể, đồng hóa khách thể vào cấu trúc hành động, tức là con người xử lý tác động từ bên ngoài vào nhằm đạt một mục tiêu nào đó Đồng hóa là quá trình khớp thực tế với tổ chức nhận thức hiện tại Mỗi người áp dụng cái mình biết để hiểu đặc tính của vật và sự vật, cũng như những quan hệ giữa đặc tính và sự vật Có 4 kiểu đồng hóa trong tất cả các thời kì và giai đoạn: đồng hóa tái diễn, đồng hóa khái quát hoá, đồng hóa công nhận, đồng hóa lẫn nhau của các sơ cấu Điều ứng liên quan đến những yêu cầu khớp với thực tế, mỗi vật và sự vật có những đặc tính cần được sớm muộn tính đến Điều ứng xảy ra bởi vì các cấu trúc hiện tại đã thất bại trong lý giải một vật hoặc sự vật một cách thoả đáng Kết quả tổ chức lại tư duy dẫn tới một sự đồng hóa khác thoả đáng hơn Trong quá trình điều ứng, chủ thể đem cấu trúc hành động đã được tạo ra trước đó áp theo khách thể, điều ứng cấu trúc hành động với khách thể, với môi trường Đồng hóa và điều ứng đan kết chặt chẽ với nhau trong mỗi hoạt động nhận thức từ khi sinh ra đến hết đời Theo Piaget, thích nghi là sự cân bằng giữa đồng hóa và điều ứng đồng thời hiện hữu trong mỗi hành vi và kích thích sự phát triển nhận thức
Thuyết nhận thức của Jean Piaget được vận dụng vào thực tiễn dưới tên gọi “thuyết kiến tạo” cho rằng mục đích của dạy học không chỉ là truyền thụ kiến thức mà chủ yếu là làm thay đổi hoặc phát triển các quan niệm của
Trang 31người học, qua đó người học kiến tạo kiến thức mới đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách của mình Trong quá trình đồng hoá, người học có thể vận dụng kiến thức cũ để giải quyết tình huống mới và sắp xếp kiến thức mới thu nhận được vào cấu trúc kiến thức đã có Trong quá trình điều ứng, người học thay đổi cấu trúc đã có, tạo ra cấu trúc mới cho phù hợp với hoàn cảnh mới Theo thuyết kiến tạo, học sinh phải là chủ thể tích cực xây dựng nên kiến thức cho bản thân dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm đã có Giáo viên chỉ là người tổ chức, điều khiển Do đó trong quá trình dạy học, cần tăng cường dạy học hợp tác, dạy học khám phá- phát hiện, bồi dưỡng khuyến khích người học tự học, tự khám phá-phát hiện và giải quyết vấn đề
1.2.3 Đặc điểm của dạy học theo góc
Khi nói tới học theo góc, chúng ta tạo ra một môi trường học tập có tính khuyến khích hoạt động và thúc đẩy việc học tập Các hoạt động có tính đa dạng cao về nội dung và bản chất, hướng tới việc thực hành, khám phá và thực nghiệm
Khi tổ chức dạy học theo góc, chúng ta tạo ra một môi trường học tập trong đó có một cấu trúc cụ thể được đưa vào
Quá trình học được chia thành các khu vực (các góc) bằng cách phân chia nhiệm vụ và tư liệu học tập , để có một cái nhìn tổng quát tốt , một cấu trúc rõ ràng sẽ được áp dụng nhằm giúp học sinh có thể độc lập lựa chọn
cách thức học tập riêng trong nhiệm vụ chung Các em biết những khu vực nào đang sẵn sàng và cần làm gì khi hoàn thành nhiệm vụ: liệu các em có cần các tư liệu để tự sửa chữa, trong điều kiện nào các em có thể tự chuyển sang một khu vực khác Tất cả đều được tổ chức để tạo ra một bầu không khí nhẹ nhàng và không ồn ào Có thể áp dụng cách vẽ hình
như một biện pháp hỗ trợ thực hiện nhằm khuyến khích hoa ̣t đô ̣ng và thúc đẩy viê ̣c ho ̣c tâ ̣p
Trang 32Dạy học theo góc nhằm khuyến khích họat động và thúc đẩy việc học tập
Các tư liệu và nhiệm vụ học tập là những thử thách , là những tình huống
có vấn đề, những mâu thuẫn nhâ ̣n thức mà ho ̣c sinh cần phải giải quyết Mục đích là để học sinh khám phá các giới hạn của việc học và tăng cường sự tiến
bộ của các em
Các hoạt động có tính đa dạng cao về nội dung và bản chất
Mỗi khu vực học tập đều đa dạng, do đó học sinh có sở thích và năng lực khác nhau, nhịp độ học tập và phong cách học khác nhau đều có thể tự tìm cách để thích ứng và thể hiện năng lực của mình Điều này cho phép giao viên giải quyết vấn đề đa dạng trong nhóm
Hướng tới việc thực hành, khám phá và thực nghiệm
HS sẽ bị cuốn vào việc học tập một cách tích cực, không chỉ với việc thực hành các nội dung học tập mà còn khám phá các cơ hội học tập mới mẻ Việc trải nghiệm và khám phá trong học tập sẽ có nhiều cơ hội được phát huy hơn khi học theo góc HS sẽ có cảm giác gần gũi hơn với tư liệu Mỗi HS đều
có cơ hội để phát triển “câu truyện” về mình theo những cách khác nhau
1.2.4 Các loại hình dạy học theo góc
* Tổ chức hoạt động học tập tại các góc theo cách luân chuyển
Giáo viên có thể tổ chức hoạt động học theo hệ thống luân chuyển theo vòng tròn và nối tiếp.Đối với hình thức tổ chức lớp học này, giáo viên sẽ tao cho học sinh một môi trường học tập hiệu quả Giáo viên sẽ tạo ra nhiều góc học tập với nhiệm vụ khác nhau không chỉ là các bài tập trên giấy mà còn là các bài tập ngôn ngữ, tự luận, thực nghiệm cảm nhận vv.Nói cách khác: giáo viên sẽ đưa ra những dạng bài tập khác nhau để giải quyết các kĩ năng và mức năng lực khác nhau
Trang 33
Khi so sánh với các các dạng hoạt động học tập, học theo góc có những lợi ích khi tính tới số lượng học sinh được hưởng lợi và trong điều kiện số lượng tài liệu học tập có hạn Trong hệ thống quay vòng, tất cả các học sinh có đều có cơ hội như nhau để tiếp cận với tài liệu học tập Điều này
có nghĩa bạn không cần phải chuẩn bị nhiều tài liệu học tập
Nhưng một điểm bất lợi trong phương pháp này, đặc biệt khi các nhiệm vụ được thực hiện đơn lẻ, là những học sinh nhanh/thông minh sẽ phải chờ tới khi có dấu hiệu chuyển vòng chúng ta có thể khắc phục điều này bằng việc lựa chon thẻ học học cá nhân
*Tổ chức học tập tại các góc vượt khỏi phạm vi lớp
Bạn có thể làm tăng hiệu quả học tập theo góc bằng cách liên kết các lowpshocj với nhau Bằng cách này, học sinh có thể tận dụng được nguồn tư liệu học tập khác, thực hiện các bài tập khác bên cạnh các bài tập đã làm trên lớp, và sẽ làm tăng giá trị xã hội Làm việc với những bạn mới đồng thời hoàn thành nhiệm vụ trong một nhóm gồm nhiều học sinh thuộc các lớp khác nhau cũng đòi hỏi năng lực xã hội cao
Một ích lợi khác là giáo viên có thể chia sẻ mô hình tổ chức: chúng ta không đơn độc khi làm mà chúng ta có sự hỗ trợ của đồng nghiệp
*Tổ chức hoạt động học tập theo góc dưới hình thức “Hội thảo học tập”
“Hội thảo học tập” là hình thức đặc biệt của học theo góc “Hội thảo học tập” thực hiện trong thời gian độc lập để học sinh lựa chọn các hoạt động
và tư liệu học tập, không gian làm việc và đôi khi có cả những khách mời đặc biệt Với hình thức học theo góc, học sinh sẽ thực hiện nhiệm vụ theo một cách khác.“Hội thảo học tập” đem đến cho học sinh cơ hội để duy trì hoạt động trong thời gian dài hơn
Nội dung “Hội thảo học tập” phải đảm bảo sự đa dạng của các hoạt
Trang 34làm việc với các tư liệu và kĩ thuật đặc biệt sẽ thách thức người học, đồng thời tạo cảm hứng cho trí tưởng tượng của các em theo nhiều cách khác nhau Một phòng học trống sẽ trở nên hữu ích cho “Hội thảo học tập” Giáo viên có thể để các tư liệu chưa hoàn thành và các tư liệu có kích thước lớn
Một người từ bên ngoài phòng học, cha mẹ hoặc người thân của học sinh, có thể đưa ra những hướng dẫn từ bên ngoài Họ có thể gợi ý thông tin mang tính chất chuyên môn Chỉ cần chú ý quan sát chúng ta có thể tìm được đúng người cần tìm để chia sẻ với học sinh Tất nhiên chúng ta có rtheer mời một chuyên gia hay nghệ sỹ, là những người hoạt động chuyên nghiệp và đã quen thuộc với phạm trù lên quan đến truyền thống, sáng tạo nghệ thuật và các lĩnh vực khác Trọng tâm chính là sử dụng các tư liệu và hoạt động Số lượng các lựa chọn tăng lên có thể giúp học sinh khám phá thêm các hoạt động phù hợp với nhu cầu Việc giáo viên đưa ra nhiều cách khác nhau để học sinh sử dụng tư liệu cũng vậy
“Hội thảo học tập” sẽ đạt được hiệu quả cao nhất khi được tổ chức chung giữa các lớp và giữa các nhóm học sinh đồng đẳng Học sinh sẽ phát triển các kĩ năng xã hội và còn hơn thế: Giáo viên chỉ có thể giám sát tối đa hai nhóm làm việc cùng một lúc Khi kết hợp với nhau, giáo viên có thể cùng một giám sát 4 nhóm hoạt động Khi được tổ chức chặt chẽ, các “hội thảo học tập” sẽ mang lại động lực hành động tích cực cho cả giáo viên và học sinh
1.2.5 Các tiêu chí của dạy học theo góc
Tính phù hợp: Nhiệm vụ và cách tổ chức hoạt động học tập thực sự là
phương tiện để đạt mục tiêu, tạo ra giá trị mới chứ không chỉ là hình thức.Nhiệm vụ giàu ý nghĩa, thiết thực, mang tính kích thích, thúc đẩy đối
với HS
Sự tham gia: Nhiệm vụ và cách tổ chức dạy học mang lại hoạt động trí
tuệ ở mức độ cao HS tham gia vào hoạt động một cách chủ động, tích cực từ
đó biết áp dụng kiến thức vào thực tế
Trang 35Tương tác và sự đa dạng: Tương tác giữa GV và HS, HS với HS được
thúc đẩy đúng mức từ đó tạo cơ hội cho HS áp dụng những kinh nghiệm đã
có
1.2.6 Vai trò của GV và HS trong dạy học theo góc
Vai trò của giáo viên
Giáo viên có vai trò đảm bảo môi trường học tập phong phú Giáo viên
là người chọn nội dung bài học sao cho phù hợp, thiết kế kế hoạch bài học bao gồm các nhiệm vụ , tư liệu tại các góc, và là người tổ chức hoạt động tại các góc cho học sinh Giáo viên hướng dẫn , kèm cặp các học sinh gặp khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ; đưa ra ý kiến phản hồi trước kết quả học sinh hay các nhóm học sinh thu được để giúp các em định hướng đúng đường đi; kịp thời chỉnh sửa sai lầm học sinh gặp phải trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ Giáo viên cần xây dựng những tiêu chuẩn cần đạt được và học sinh theo
đó để đo mức độ thành công của mình Giáo viên là người tạo đà thúc đẩy quá trình học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh thông qua những lời động viên, khen ngợi kịp thời
Vai trò của học sinh
Trong dạy học tích cực nói chung, dạy học theo góc nói riêng, học sinh
là chủ thể chủ động tìm kiếm tri thức, tích cực và sáng tạo trong việc giải quyết vấn đề nhằm chiếm lĩnh tri thức Học sinh- đối tượng của hoạt động
“dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động học tập do giáo viên tổ chức, chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ, chưa có chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, học sinh trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó vừa nắm được kiến thức, kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kĩ năng đó; không rập theo những khuôn mẫu sẵn
Trang 36giá các ý kiến, quan điểm, các sản phẩm hoạt động học tập của bản thân và
của bạn bè
1.2.7 Quy trình tổ chức dạy học theo góc
1.2.7.1 Chọn nội dung, không gian lơ ́ p học phù hợp
Căn cứ vào đă ̣c điểm ho ̣c theo góc cần cho ̣n nô ̣i dung bài ho ̣c cho phù
hơ ̣p theo các phong cách ho ̣c khác nhau hă ̣c theo các hình thức hoa ̣t đô ̣ng khác nhau
Không gian lớp ho ̣c là đ iều kiê ̣n chi phối viê ̣c tổ chức ho ̣c theo góc Không gian phải phù hợp với số ho ̣c sinh để có thể dễ dàng bố trí bàn ghế , đồ dùng học tập trong các góc và các hoạt động của HS tại các góc
1.2.7.2 Thiết kế kế hoa ̣ch bài học
Mục tiêu bài học: Ngoài mục tiêu cần đạt được của bài học theo chuẩn
kiến thức , kĩ năng , cũng có thể nêu thêm mục tiêu về kĩ năng làm việc độc
lâ ̣p, khả năng làm việc chủ động của HS khi thực hiện học theo góc
Các phương pháp dạy học chủ yếu : Phương pháp ho ̣c theo góc cần
phối hơ ̣p với mô ̣t số phương pháp khác như : Phương pháp thí nghiê ̣m , phương pháp trực quan, học tập hợp tác theo nhóm, giải quyết vấn đề…
Chuẩn bi ̣: GV cần chuẩ n bi ̣ thiết bi ̣, phương tiê ̣n và đồ dùng da ̣y ho ̣c ,
xác định nhiệm vụ cụ thể và kết quả cần đạt được ở mỗi góc tạo điều kiện để
HS tiến hành các hoa ̣t đô ̣ng nhằm đa ̣t mục tiêu da ̣y ho ̣c
Xác định tên của mỗi góc và nhiê ̣m vụ phù hợp
Ở mỗi góc cần có : tên góc, phiếu giao viê ̣c , đồ dùng thiết bi ̣, tài liệu
phù hợp với hoạt động của góc Ví dụ: SGK, tài liệu cho góc phân tích ; tivi,
máy vi tính,…tài liê ̣u cho góc quan sát
Thiết kế các nhiê ̣m vụ và hoạt động ở mỗi góc : Căn cứ vào nô ̣i dung
cụ thể của bài học , vào đặc trưng của phương pháp học theo góc và không gian của lớp ho ̣c, GV cần:
- Xác định số góc và tên mỗi góc
Trang 37- Xác định nhiệm vụ ở mỗi góc và quy định thời gian tối đa dành cho HS ở mỗi góc
- Xác định những thiết bị , đồ dù ng , phương tiê ̣n cần thiết cho ho ̣c sinh hoa ̣t
đô ̣ng
- Hướ ng dẫn HS cho ̣n góc theo sở thích (khi cần GV có thể tự cho ̣n góc suất phát cho HS) và luân chuyển qua đủ các góc
Lưu ý:
- Nhiệm vụ ở các góc phải rõ ràng , cụ thể
- Mỗi góc phải có đủ điều kiê ̣n , phương tiê ̣n để HS hoàn thành nhiê ̣m vụ
- Thờ i gian cần đươ ̣c quản lí và phân bố phù hơ ̣p với nhiê ̣m vụ c ủa mỗi góc
và quỹ thời gian bài học Ví dụ: giờ ho ̣c 45 phút thì thời gian hoạt động tối đa của học sinh ở mỗi góc là 10 phút (nếu có 4 góc)
- Trong học theo góc , HS có thể làm viê ̣c cá nhân hoă ̣c theo că ̣p hoă ̣c theo nhóm ta ̣i mỗi góc Giáo viên cần rèn luyện cho học sinh tính tự giác , tích cực, chủ động và kỉ luật trong học tập
Thiết kế hoạt động đánh giá và củng cố nội dung bài học : Vào cuối
giờ ho ̣c sau khi HS đã được ho ̣c luâ n chuyển qua đủ các góc , GV tổ chức cho học sinh báo cáo , thảo luận, bổ sung kết quả ho ̣c tâ ̣p ở mỗi góc Trên cơ sở ý kiến của ho ̣c sinh , GV nhâ ̣n xét , đánh giá, chốt la ̣i vấn đề tro ̣ng tâm , đảm bảo cho HS ho ̣c sâu và ho ̣c thoải mái
1.2.7.3 Tổ chư ́ c dạy học theo góc
Trên cơ sở kế hoa ̣ch bài ho ̣c đã thiết kế , GV tổ chức các hoa ̣t đô ̣ng cho phù hợp với đặc điểm học theo góc :
- Sắp xếp góc ho ̣c tâ ̣p trước khi vào giờ ho ̣c , phù hợp với không gian lớp ho ̣c
- Mỗi góc có đủ tài liê ̣u , đồ dùng, phương tiê ̣n ho ̣c tâ ̣p phù hơ ̣p với nhiê ̣m vụ học tập tại mỗi góc
Trang 38- Tổ chứ c các hoa ̣t đô ̣ng da ̣y ho ̣c : GV giới thiê ̣u bài ho ̣c , phương pháp ho ̣c theo góc, nhiê ̣m vụ ta ̣i các góc , thời gian tối đa để thực hiê ̣n nhiê ̣m vụ ta ̣i các góc và cho phép học sinh chọn góc suất phát
- Học sinh lắng nghe , tìm hiểu và quyết định chọn góc theo sở thích , tuy nhiên GV sẽ phải điều chỉnh nếu như có số HS quá đông cù ng cho ̣n mô ̣t góc hoă ̣c nếu cần thiết giáo viên có thể tự sắp xếp các góc xuất phát theo ý mình
- Học sinh thực hiện nhiệm vụ tại các góc , giáo viên quan sát , hỗ trợ
- Hết thờ i gian hoa ̣t đô ̣ng ta ̣i mỗi góc , giáo viên yêu cầu HS luân chuyển góc
- Kết thú c giờ ho ̣c ta ̣i các góc , GV yêu cầu đa ̣i diê ̣n các góc trình bày kết quả , các HS khác nhận xét , đánh giá Cuối cùng là nhâ ̣n xét của GV về kết quả học tập của HS, chốt la ̣i kiến thức tro ̣ng tâm của bài ho ̣c
Có rất nhiều khả năng để tổ chức học theo góc có hiệu quả Đối với mỗi GV khi muốn triển khai học theo góc , nên bắt đầu từ viê ̣c phân tích lớp học và bối cảnh trường học Viê ̣c tổ chức tốt phụ thuộc vào một số yếu tố quan trọng như sau:
a) Đi ̣nh hướng hoạt động học của học sinh
Để tổ chức tốt học tập theo góc, điều quan trọng nhất là phải trả lời cho được câu hỏi: Mức độ tự định hướng của HS như thế nào? Mức độ hoạt động độc lập nào các em có thể thực hiện?
Khả năng tự định hướng của HS càng tốt thì việc tổ chức lớp học càng
ít phải bận tâm Do đó, HS sẽ có sự tự do để sáng tạo trong lớp học Và tất nhiên sẽ có nhiều hơn một khả năng để thực hiện: từ hình thức GV kiểm soát lớp học (định hướng từ bên ngoài) chuyển thành hình thức HS được thỏa sức đưa ra các sáng kiến
Trong quá trình tổ chức dạy học theo góc, sự định hướng của GV với
HS được thể hiện qua bảng theo dõi học theo góc hoặc thẻ góc cá nhân
Không giống như hệ thống luân chuyển do GV chỉ định như sẽ trình bày dưới đây, cách tổ chức này sẽ cho các em thêm cơ hội để thể hiện các sáng kiến
Trang 39Các thỏa thuận sau sẽ được áp dụng:
- Mỗi một nhiệm vụ học theo góc phải được hoàn thành trong một khoảng thời gian nhất định
- Học sinh được quyền lựa chọn thứ tự các góc
Chúng ta có thể minh họa cách thức hai học sinh (A và B) giải quyết vấn đề tại các góc khác nhau bằng sơ đồ “Hình 1.3”
Cách tổ chức này là trong điều kiê ̣n lí tưởng , với điều kiê ̣n của hầu hết các nhà trường phổ thông ở Việt Nam thì còn gặp nhiều khó khăn khi thực hiê ̣n theo cách thức tổ chức này
Để giám sát những HS đã hoàn thành xong các nhiệm vụ, GV có thể
áp dụng hai hệ thống
- GV có thể sử dụng “Bảng theo dõi học theo góc” (bảng nam châm hay bảng phấn đều được) để học sinh đánh dấu các góc các em đã hoàn thành Bằng cách này, GV có thể xác định được những HS đang bị tụt lại và cần giúp đỡ ngay tức thì
- GV cũng có thể sử dụng “Thẻ góc cá nhân” để mỗi học sinh sẽ đánh dấu các góc đã hoàn thành
Tất cả chủ đề và thành phần của chủ đề học tập có thể được lồng ghép trong các góc Nhiều GV có xu hướng chọn các góc với các tư liệu dạy học
đã có sẵn trên lớp Điều này hoàn toàn chấp nhận được Học theo góc không
Góc dành cho HS có
tốc đô ̣ ho ̣c nhanh
A
B
Hình 1.3: Sơ đồ biểu diễn cách thức học sinh giải quyết vấn đề tại các góc
Trang 40b) Tổ chư ́ c không gian học theo góc
Một yếu tố quan trọng là mối quan hệ giữa số HS và kích thước của không gian học tập Chúng ta không sử dụng từ “phòng học” trong trường hợp này vì hoạt động học tập có thể diễn ra tại các không gian bên ngoài phòng học truyền thống Một cách tự nhiên, những GV có không gian lớn hơn có thể dễ dàng bố trí các góc hơn các đồng nghiệp có diện tích nhỏ hơn
và có nhiều học sinh
Học theo góc đòi hỏi việc tổ chức lại không gian lớp học kể cả trong các điều kiện giới hạn Có thể thực hiện điều này theo một số cách đơn giản : ghép các bàn học lại với nhau , chia HS thành cặp , đặt các tư liệu dạy ho ̣c lên phía trước lớp học
Nếu các góc có thể được giữ nguyên trong lớp trong một khoảng thời gian, GV sẽ có thêm các khả năng khác và giảm bớt hoạt động tổ chức lớp học HS cũng có thể quay lại vị trí đang làm việc Do đó phương pháp học tập sẽ trở lên minh bạch hơn đối với các em Các tấm bình phong để ngăn riêng các góc có thể hỗ trợ việc sắp xếp không gian
c) Tổ chư ́ c tư liê ̣u trong học theo góc
Việc triển khai dạy học theo góc phụ thuộc vào chất lượng của tư liệu/tài liệu đang có ở trường Chúng ta có thể tạo ra một môi trường lớp học
ở mức độ nào? Tình huống hiện tại ở trường học như thế nào? Tôi có thể mượn gì từ đồng nghiệp trong trường? Chúng ta nên đặt những câu hỏi như vậy trước khi tiến hành bố trí lại các khu vực trong lớp học
Một môi trường học tâp được tổ chức là một yếu tố chủ yếu để hỗ trợ
sự học tập tích cực Sự đa dạng của các tư liệu (vật liệu) có ích lợi với trẻ em, đặt tại các góc khác nhau cần được chuẩn bị sẵn sàng trong tất cả thời gian để
HS có thể thao tác và khai thác nó