1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

NHIÊM TRUNG ĐƯƠNG TIÊT NIÊU VA VIÊM TUYÊN TIÊN LIÊT

16 40 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 548,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiêm trung đương tiêt niệu bao gôm cac hội chứng lâm sàng rất đa dang như viêm niệu đao (urethritis), viêm bàng quang (cystitis), viêm tuyên tiên liệt (prostatis), và viêm thận – bể thận (pyelonephritis). ● Nhiêm trung đương tiêt niệu đươc xac đinh khi co sư hiện diện cua vi khuẩn trong nươc tiểu (vơi điêu kiện nươc tiểu không bi nhiêm bẩn từ bên ngoài trong quá trình lấy mẫu). Cac vi khuẩn này co khả năng tấn công và gây viêm cac mô cua đương tiêt niệu và cac cấu truc lân cận. ● Nhiêm trung đương tiêt niệu dươi bao gôm viêm bàng quang, viêm niệu đao, viêm tuyên tiên liệt và viêm mào tinh hoàn. Nhiêm trung đương tiêt niệu trên gây bệnh cho thận và cac cấu truc liên quan, đươc goi chung là viêm thận bể thận. ● Nhiêm trung đương tiêt niệu không biên chứng là nhiêm trùng xảy ra ở những bệnh nhân không có bất thương vê cấu truc hay cơ chê thần kinh ở đương tiêt niệu. Nhiêm trung đương tiêt niệu biên chứng là những nhiêm trùng xảy ra như là kêt quả cua những tổn thương đương tiêt niệu như di tật bẩm sinh hay biên dang cua đương tiêt niệu, soi, ống thông tiểu, phi đai tiên liệt tuyên, tăc nghen, hoăc khiêm khuyêt vê thần kinh, làm cản trở dong chảy binh thương cua nươc tiểu và hoat động cua hệ thống bảo vệ ở đương tiêt niệu.

Trang 1

Chương 50: NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG TIẾT NIỆU VÀ VIÊM TUYẾN TIỀN LIỆT

NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG TIẾT NIỆU

Dịch: DS Trần Anh Vũ, Bệnh viện phụ sản - nhi Đà Nẵng

Hiệu đính: DS Lê Thùy Dung

Nguồn: Pharmacotherapy Handbook 8 th

edition (2012), Barbara G.Wells et al

Tài liệu được dịch nhằm mục đích tổng hợp cho dự án viết sách "Dược điều trị" do Nhịp cầu Dược lâm sàng tổ chức Tài liệu dịch CHƯA xin phép bản quyền từ tác giả, nhà xuất bản Mỹ nên tài liệu nên được sử dụng với mục đích cá nhân Không chia sẽ công cộng dưới mọi hình thức

1 ĐỊNH NGHĨA

● Nhiễm trùng đường tiết niệu bao gồm các hội chứng lâm sàng rất đa dạng như viêm niệu đạo (urethritis), viêm bàng quang (cystitis), viêm tuyến tiền liệt (prostatis), và viêm thận – bể thận (pyelonephritis)

● Nhiễm trùng đường tiết niệu được xác định khi có sự hiện diện của vi khuẩn trong nước tiểu (với điều kiện nước tiểu không bị nhiễm bẩn từ bên ngoài trong quá trình lấy mẫu) Các vi khuẩn này có khả năng tấn công và gây viêm các mô của đường tiết niệu và các cấu trúc lân cận

● Nhiễm trùng đường tiết niệu dưới bao gồm viêm bàng quang, viêm niệu đạo, viêm tuyến tiền liệt và viêm mào tinh hoàn Nhiễm trùng đường tiết niệu trên gây bệnh cho thận và các cấu trúc liên quan, được gọi chung là viêm thận - bể thận

● Nhiễm trùng đường tiết niệu không biến chứng là nhiễm trùng xảy ra ở những bệnh nhân không có bất thường về cấu trúc hay cơ chế thần kinh ở đường tiết niệu Nhiễm trùng đường tiết niệu biến chứng là những nhiễm trùng xảy ra như là kết quả của những tổn thương đường tiết niệu như dị tật bẩm sinh hay biến dạng của đường tiết niệu, sỏi, ống thông tiểu, phì đại tiền liệt tuyến, tắc nghẽn, hoặc khiếm khuyết về thần kinh, làm cản trở dòng chảy bình thường của nước tiểu và hoạt động của hệ thống bảo vệ ở đường tiết niệu

● Nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát là khi có 3 hay nhiều hơn 3 đợt nhiễm trùng đường tiết niệu trong một năm Trong nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát, có đợt viêm

có nhiều triệu chứng xen kẽ với những đợt không có triệu chứng Những nhiễm trùng tái phát này là có thể là do tái nhiễm hay do vi khuẩn còn sót lại tái phát Nhiễm trùng tái phát do tái nhiễm là nhiễm trùng gây ra bởi các chủng vi sinh vật khác nhau và đây là dạng hay gặp của các trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát Nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát do vi khuẩn còn sót lại là nhiễm trùng gây ra bởi cùng một loại vi khuẩn trước đó

2 SINH LÝ BỆNH

Trang 2

Nhịp cầu Dược lâm sàng Trang 2/16

● Các vi khuẩn gây ra nhiễm trùng đường tiết niệu thường xuất phát từ hệ vi khuẩn đường ruột của người bệnh

● Nhiễm trùng đường tiết niệu có thể do vi khuẩn xâm nhập qua 3 đường khác nhau: đường ngược dòng, đường máu và đường bạch huyết

● Ở các bệnh nhân nữ, do độ dài của niệu đạo ngắn và ở gần hậu môn, nên làm cho vi khuẩn xâm nhập vào đường tiết niệu dễ dàng hơn ở nam giới Lúc đó, các vi khuẩn xâm nhập ngược dòng từ niệu đạo rồi lên bàng quang Khi ở trong bàng quang, các vi sinh vật này nhân lên nhanh chóng và có thể tiếp tục xâm nhập ngược dòng lên phần trên của niệu quản để tới thận

● Ba yếu tố quyết định sự phát triển của viêm đường tiết niệu là: mức độ nhiễm khuẩn, độc lực của vi khuẩn và cơ chế bảo vệ tự nhiên của người bệnh

● Những bệnh nhân không thể thải nước tiểu hoàn toàn (tiểu sót) thường có nguy cơ cao cho diễn biến nặng của viêm đường tiết niệu và cũng thường gặp tình trạng nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát

● Một trong những yếu tố quan trọng quyết định độc lực của vi khuẩn gây bệnh đó là khả năng bám vào các tế bào biểu mô của đường tiết niệu bằng các khuẩn mao, dẫn đến sự thâm nhiễm đường tiết niệu, bàng quang và viêm thận-bể thận Các yếu tố độc lực khác là yếu tố tan máu và aerobactin Yếu tố tan máu là một loại protein do vi khuẩn tạo ra, gây độc tế bàovà có thể làm phân giải nhiều loại tế bào như hồng cầu, bạch cầu đa nhân và

các bạch cầu đơn nhân.Aerobactin giúp cho việc gắn kết và hấp thu sắt của Escherichia

coli

3 VI SINH HỌC

● Nguyên nhân phổ biến nhất của viêm đường tiết niệu không biến chứng là vi khuẩn

E.coli, chiếm khoảng 80% đến 90% các trường hợp nhiễm trùng mắc phải ở cộng đồng

Các vi sinh vật gây bệnh khác là Staphylococcus saprophyticus (tụ cầu không tiết coagulase), Klebsiella pneumonia, các loài Proteus, Pseudomonas aeruginosa và loài

Enterococcus

● Các tác nhân gây nhiễm trùng đường tiết niệu biến chứng và nhiễm trùng bệnh viện có

thể bao gồm E.coli, chiếm khoảng >50% c các trường hợp, loài Proteus, K.pneumoniae, loài Enterobacter, P.aeruginosa, tụ cầu khuẩn, và cầu khuẩn đường ruột Loài Candida

cũng là tác nhân gây bệnh thường gặp ở những bệnh nhân bệnh nặng và bệnh nhân đặt ống thông tiểu dài hạn

● Đa số các trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu được gây ra bởi một loại vi khuẩn duy nhất; tuy nhiên ở những bệnh nhân sỏi thận, đặt ống thông tiểu trong, hoặc áp-xe thận mãn tính có thể do nhiều loại vi khuẩn gây nên

4 BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

Trang 3

Nhịp cầu Dược lâm sàng Trang 3/16

● Các triệu chứng điển hình của viêm đường tiết niệu trên và dưới được nêu trong Bảng

50-1

Bảng 50-1: Các biểu hiện lâm sàng của nhiễm trùng đường tiết niệu ở người lớn Dấu hiệu và triệu chứng

- Viêm đường tiết niệu trên: tiểu khó, tiểu gấp, tiểu nhiều lần, tiểu đêm, cảm giác đau, nặng vùng trên xương mu

- Tiểu ra máu

- Viêm đường tiết niệu dưới: đau bên sườn, sốt, buồn nôn, nôn mửa, khó chịu

Thăm khám thực thể

Nhiễm trùng đường tiết niệu trên: đau điểm sườn cột sống

Các xét nghiệm

- Vi khuẩn niệu

- Mủ niệu (Số lượng bạch cầu>10/mm3)

- Nitrit nước tiểu dương tính (đối với vi khuẩn khử nitrit)

- Men esterase của bạch cầu trong nước tiểu dương tính

- Vi khuẩn bao bọc bởi kháng thể (trong viêm đường tiết niệu trên)

● Chỉ dựa vào triệu chứng không đủ tin cậy để chẩn đoán nhiễm khuẩn đường tiết niệu

do vi khuẩn Yếu tố quan trọng để chẩn đoán nhiễm khuẩn đường tiết niệu là sự phát hiện được một số lượng đáng kể vi khuẩn có trong mẫu nước tiểu (cần loại bỏ nguy cơ nhiễm bẩn trong quá trình lấy mẫu)

● Những bệnh nhân cao tuổi thường không có những triệu chứng ở đường tiết niệu đặc trưng, nhưng họ sẽ có những sự thay đổi về tâm thần, vềthói quen ăn uống, hoặc các triệu chứng đường tiêu hóa

● Xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu thông thường nên được tiến hành khi đánh giá bệnh nhân ban đầu Kiểm tra nước tiểu bằng phương pháp kính hiển vi nên được thực hiện bằng cách nhuộm Gram của nước tiểu ly tâm hay không ly tâm Sự có mặt của ít nhất một vi sinh vật trong mỗi vùng vi trường có dầu soi của mẫu nước tiểu không ly tâmtương đương với >100.000 đơn vị tạo thành khuẩn lạc (CFU-colony forming unit) trong một ml nước tiểu (105CFU/ml) nước tiểu

● Tiêu chuẩn xác định vi khuẩn niệu được liệt kê trong Bảng 50-2

Bảng 50-2: Tiêu chuẩn chẩn đoán vi khuẩn niệu

- Bệnh nhân nữ có triệu chứng: ≥ 102 CFU vi khuẩn coliform/ml hoặc ≥ 105 CFU không phải coliform/ml.- Bệnh nhân nam có triệu chứng: ≥ 103 CFU/ml - Bệnh nhân không có triệu chứng: ≥ 105 CFU vi khuẩn/ml ở 2 mẫu liên tiếp

- Bệnh nhân có triệu chứng và có ống thông đoạn trên xương mu: Mọc vi khuẩn bất kì

- Bệnh nhân có đặt ống thông: ≥ 102 CFU /ml

● Mủ niệu (>10 tế bào bạch cầu/mm3) ở bệnh nhân có biểu hiện triệu chứng tương đương với vi khuẩn niệu

● Xét nghiệm Nitrit nước tiểu được sử dụng để phát hiện sự có mặt của vi khuẩn khử

nitrat trong nước tiểu (ví dụ như E.coli)

● Xét nghiệm men esterase của bạch cầu là một phương pháp kiểm tra nhanh bằng que

để phát hiện mủ niệu

Trang 4

Nhịp cầu Dược lâm sàng Trang 4/16

● Phương pháp chẩn đoán nhiễm trùng đường tiết niệu chính xác nhất là định lượng mẫu nước tiểu đã được nuôi cấy Bệnh nhân bị nhiễm đường tiết niệu thường có nhiều hơn 105

vi khuẩn/ml nước tiểu, mặc dù khoảng một phần ba phụ nữ có triệu chứng nhiễm trùng nhưng chứa ít hơn 105 vi khuẩn/ml nước tiểu

● Một phương pháp xác định nhiễm khuẩn đường tiết niệu trên là phản ứng tìm vi khuẩn

có kháng thể bao bọc (antibody-coated bacteria – ACB) làmột phương pháp sử dụng miễn dịch huỳnh quang để xác định vi khuẩn được bọc bởi globulin miễn dịch trong nước tiểu mới thải

5 ĐIỀU TRỊ

Mục tiêu điều trị của nhiễm khuẩn đường tiết niệu là tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh, ngăn ngừa hoặc điều trị các hậu quả toàn thân củanhiễm trùng và phòng ngừa tái phát

5.1 NGUYÊN TẮC CHUNG

● Quá trình điều trị một bệnh nhân nhiễm trùng đường tiết niệu bao gồm: đánh giá ban đầu, chọn thuốc kháng sinh, thời gian điều trị , và đánh giá theo dõi

● Việc lựa chọn kháng sinh ban đầu cơ bản dựa trên mức độ nghiêm trọng của các dấu hiệu và triệu chứng, vị trí nhiễm trùng và nhiễm trùng thuộc dạng biến chứng hay không biến chứng

5.2 THUỐC ĐIỀU TRỊ

● Khả năng diệt khuẩn của kháng sinh trong nhiễm trùng đường tiết niệu liên quan trực tiếp đến tính nhạy cảm của vi sinh vật và nồng độ kháng sinh đạt được trong nước tiểu

● Điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu nên dựa vào phân loại nhiễm trùng: viêm bàng quang cấp không biến chứng, nhiễm trùng có triệu chứng nhưng không khuẩn niệu, nhiễm trùng có khuẩn niệu không triệu chứng nhưng có khuẩn niệu, nhiễm trùng biến chứng, nhiễm khuẩn tái phát, hoặc viêm tiền liệt tuyến

● Bảng 50-3 liệt kê những kháng sinh thường được dùng nhất trong điều trị nhiễm khuẩn

đường tiết niệu

Bảng 50-3: Các kháng sinh thường sử dụng trong điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu

Thuốc Đặc điểm

Kháng sinh đường uống

Trimethoprim-sulfamethoxazole

- Hiệu quả cao đối với hầu hết các vi khuẩn đường ruột ưa khí

ngoại trừ Pseudomonas aeruginosa

- Đạt được nồng độ cao trong các mô đường tiết niệu và nước tiểu,

do đó đóng vai trò quan trọng trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu biến chứng Hiệu quả trong dự phòng nhiễm trùng tái phát Nhóm Penicillin:

- Ampicillin

- Amoxicillin –

clavulanic acid

- Ampicillin là penicillin có phổ kháng khuẩn rộng

- Sự gia tăng đề kháng của E.coli đã hạn chế việc sử dụng

amoxicillin trong điều trị viêm bàng quang cấp

- Là thuốc lựa chọn cho các nhiễm trùng do cầu khuẩn đường ruột nhạy cảm với penicillin

Trang 5

Nhịp cầu Dược lâm sàng Trang 5/16

- Amoxicillin – clavulanat được ưu tiên cho các trường hợp đề kháng

Nhóm

Cephalosporin:

- Cephalexin

- Cefaclor

- Cefadroxil

- Cefuroxim

- Cefixim

- Cefzil

- Cefpodoxim

- Không có ưu điểm vượt trội so với các nhóm kháng sinh khác trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu , và có giá thành cao

- Hữu ích trong những trường hợp đề kháng với amoxicillin và trimethoprim-sulfamethoxazole

- không có hiệu quả với các cầu khuẩn đường ruột

Nhóm Tetracycline:

- Tetracyclin

- Doxycyclin

- Minocyclin

- Hiệu quả trong giai đoạn đầu của nhiễm trùng đường tiết niệu

- Do tình trạng đề kháng thuốc nên được sử dụng hạn chế

- Các thuốc này còn dẫn đến sự phát triển quá mức của nấm candida

- được sử dụng chủ yếu cho nhiễm Clamydia

Nhóm

Fluoroquinolon:

- Ciprofloxacin

- Levofloxacin

- Các quinolon thế hệ mới có phổ kháng khuẩn rộng, kể cả với

P.aeruginosa

hiệu quả trong điều trị viêm thận – bể thận và viêm tiền liệt tuyến Tránh sử dụng ở phụ nữ mang thai và trẻ em

Không nên sử dụng Moxifloxacin do không đạt được đủ nồng độ trong nước tiểu

Nitrofuratoin - hiệu quả cho cả điều trị và dự phòng ở những bệnh nhân nhiễm

trùng đường tiết niệu tái phát

- Ưu điểm chính của thuốc này là không bị đề kháng ngay cả khi điều trị lâu dài

Phản ứng bất lợi của thuốc làm hạn chế sử dụng (như không dung nạp ở đường tiêu hóa, bệnh thần kinh, và các phản ứng ở phổi) Azithromycin Dùng liều duy nhất cho nhiễm trùng Clamydia

Fosfomycin Dùng liều duy nhất cho nhiễm trùng không biến chứng

Kháng sinh đường tiêm

Nhóm

Aminoglycosid:

- Gentamicin

- Tobramycin

- Amikacin

- Gentamicin và Tobramycin có hiệu quả tương tự nhau nhưnggentamicin có giá thành thấp hơn

Tobramycin hiệu quả hơn đối với chủng pseudomonas, do đó đóng vai trò quan trọng trong các nhiễm trùng nặng toàn thân

Amikacin thường được dự trữ cho các trường hợp vi khuẩn đa kháng thuốc

Nhóm Penicillin:

- Ampicillin

-

Ampicillin-sulbactam

-

Ticarcillin-clavulanat

-

Piperacillin-tazobactam

- Những thuốc này có hiệu quả tương tự nhau đối với các vi khuẩn nhạy cảm

- Các penicillin phổ rộng có hiệu quả cao hơn đối với

P.aeruginosa ,các cầu khuẩn đường ruột và thường được ưu tiên

sử dụng hơn các cephalosporin

- Hữu ích cho những bệnh nhân bị suy thận hoặc tránh sử dụng aminoglycosid

Nhóm

Cephalosporin thế

hệ 1, thế hệ 2 và thế

- Cephalosporin thế hệ 2 và 3 có phổ kháng khuẩn rộng đối với các vi khuẩn Gram âm nhưng không có hiệu quả đối với các cầu

khuẩn đường ruột và ít hiệu quả đối với P.aeruginosa

Trang 6

Nhịp cầu Dược lâm sàng Trang 6/16

hệ 3 - Ceftazidim và cefepim hiệu quả đối với P.aeruginosa Do đó,

chúng hữu dụng cho các nhiễm trùng bệnh viện và nhiễm khuẩn niệu do các vi khuẩn nhạy cảm

Carbapenem/

monobactam

Imipenem-cilastatin

Meropenem

Ertapenem

Doripenem

- Phổ kháng khuẩn rộng, bao gồm vi khuẩn Gram dương, Gram

âm, và kị khí

- Imipenem, Meropenem và Doripenem có hiệu quả đối với

P.aeruginosa và cầu khuẩn đường ruột, nhưng Ertapenem thì

không

- Tất cả đều có thể gây ra bội nhiễm nấm

Monobactam

Aztreonam

Monobactam chỉ có hiệu quả đối với vi khuẩn Gram âm, bao gồm

một vài chủng P.aeruginosa

- Chủ yếu được dùng cho nhiễm trùng bệnh viện khi bệnh nhân hạn chế dùng aminoglycosid và mẫn cảm với penicillin

Nhóm

Fluoroquinolon:

- Ciprofloxacin

- Levofloxacin

- có phổ kháng khuẩn rộng với cả 2 vi khuẩn Gram dương và Gram âm

- Đạt nồng độ cao trong mô , trong nước tiểu và thải trừ ở dạng còn hoạt tính ở bệnh nhân suy giảm chức năng thận

● Bảng 50-4 đưa ra một tổng quan về những cách lựa chọn kháng sinh điều trị nhiễm

khuẩn đường tiết niệu cho những bệnh nhân ngoại trú

Bảng 50-4: Tổng quan về kháng sinh điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu cho bệnh nhân ngoại trú ở người lớn

Chỉ định Kháng sinh Liều* Khoảng cách

dùng Thời gian dùng Nhiễm trùng đường tiết niệu dưới

Không biến

chứng

mg

2 lần/ ngày 3 ngày

Amoxicillin – clavulanat 500mg Mỗi 8 giờ 5-7 ngày

Nitrofurantoin dạng tinh thể lớn

100mg Mỗi 6 giờ 7 ngày

Nitrofurantoin monohydrate

100mg 2 lần /ngày 5 ngày

mg

2 lần/ ngày 7-10 ngày Ciprofloxacin 250-500mg 2 lần /ngày 7-10 ngày

Trang 7

Nhịp cầu Dược lâm sàng Trang 7/16

Amoxicillin – clavulanat 500mg Mỗi 8 giờ 7-10 ngày

mg

Một lần/ ngày 6 tháng

Hội chứng niệu

đạo cấp

mg

2 lần/ ngày 3 ngày

Thất bại khi sử

TMP-SMX

Viêm thận-bể thận cấp

mg

2 lần /ngày 14 ngày

Amoxicillin – clavulanat 500mg Mỗi 8 giờ 14 ngày (*) Liều dùng cho bệnh nhân có chức năng thận bình thường

● Bảng 50-5 mô tả các phác đồ điều trị theo kinh nghiệm cho những thể lâm sàng

Bảng 50-5 Điều trị theo kinh nghiệm cho các nhiễm trùng đường tiết niệu và viêm tiền liệt tuyến

Chẩn đoán Tác nhân gây

bệnh

Khuyến cáo điều trị

Nhận xét

Viêm bàng

quang cấp

không biến

chứng

Escherichia coli Staphylococcus saprophyticus

1 TMP-SMX dùng trong 3 ngày (A,I)*

điều trị ngắn ngày hiệu quả hơn dùng liều duy nhất

2 Fluoroquinolon trong 3 ngày (A, II)*

3 Nitrofurantoin trong 5 ngày (B,I)*

4 Beta-lactam trong

3 ngày (E,II)*

Beta-lactam không hiệu quả hơn TMP-SMX trong điều trị viêm bàng quang cấp

Phụ nữ mang

thai

Amoxicillin-clavulanat trong 7 ngày

2 Cephalosporin trong 7 ngày

3 TMP-SMX trong

7 ngày

Tránh sử dụng TMP-SMX trong 3 tháng cuối

Viêm thận-bể thận cấp

Không biến

chứng

ngày (A,I)*

Có thể điều trị ngoại trú

Trang 8

Nhịp cầu Dược lâm sàng Trang 8/16

2 TMP-SMX 14 ngày (nếu nhạy cảm) (B,II)*

Vi khuẩn Gram dương 1 Amoxicillin hoặc

Amoxicillin-clavulanat trong 14 ngày (B,II)*

Biến chứng E.coli

Proteus mirabilis Klebsiella

pneumonia Pseudomonas aeruginosa Enterococcus faecalis

1 Quinolon trong 14 ngày (B,II)*

2 Penicillin phổ rộng

+aminoglycosid (B,II)*

- Mức độ nặng của bệnh quyết định thời gian điều trị

- Kết quả cấy nước tiểu định hướng cho việc lựa chọn kháng sinh

- Thuốc uống có thể dùng đến 14 ngày

Viêm tiền liệt

tuyến

E.coli

K pneumonia

LoàiProteus

P aeruginosa

1 TMP-SMX trong 4-6 tuần

2 Quinolon trong

4-6 tuần

- Viêm tiền liệt tuyến cấp có thể cần phải sử dụng đường tiêm tĩnh mạch lúc đầu điều trị

- Viêm tiền liệt tuyến mãn tính có thể phải điều trị lâu dài hơn hoặc phải phẫu thuật

*

Mức độ khuyến cáo:

Mức A: khuyến cáo có mức độ bằng chứng mạnh mức B: khuyến cáo có bằng chứng trung bình; mức C: khuyến cáo có mức độ bằng chứng yếu hoặc chống lại, mức D: khuyến cáo có bằng chứng chống lại mức trung bình, mức E: khuyến cáo có bằng chứng chống lại rõ ràng

*

Mức độ bằng chứng:

Mức I: có ít nhất 1 nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng; mức II: có một thử nghiệm lâm sàng được thiết kế tốt; mức III: dựa trên kinh nghiệm lâm sàng, ý hiến hay nhận định của các chuyên gia

5.3 ĐIỀU TRỊ CÁC THỂ LÂM SÀNG

5.3.1 Viêm bàng quang cấp không biến chứng

● Các nhiễm trùng này thường gây ra chủ yếu bởi E.coli, vì vậy kháng sinh điều trị nên

hướng đến nhóm vi khuẩn này trước tiên Bởi vì các vi sinh vật gây bệnh và độ nhạy cảm của chúng thường đã biết được nênphương pháp điều trị cân bằng giữa chi phí – hiệu quả được khuyến cáo là xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu và bắt đầu điều trị bằng kháng

sinh theo kinh nghiệm mà không cần cấy nước tiểu (Biểu đồ 50-1)

Trang 9

Nhịp cầu Dược lâm sàng Trang 9/16

Triệu chứng viêm đường tiết niệu dưới

Tổng phân tích nước tiểu/ nhuộm Gram

Khuẩn niệu

Triệu chứng viêm đường tiết niệu trên, viêm thận-bể thận

Thể có triệu chứng nhưng không

có vi khuẩn niệu

Cấy nước tiểu Điều trị ngắn ngày

Bệnh nặng, nguy cơ cao

Có đáp ứng điều trị

Thất bại

Uống thuốc

trong 2 tuần

Nhập viện, tiêm kháng sinh

Cấy nước tiểu

Thể có triệu chứng nhưng không có vi khuẩn niệu

Điều trị lại trong 2 tuần

Cấy nước tiểu sau 2 tuần điều

trị

Có đáp ứng Nhiễm trùng tái phát

Do tái nhiễm

Do vi khuẩn còn tồn tại

Ít thường xuyên Thường xuyên

Điều trị từng đợt

Kiểm tra chuyên khoa tiết niệu

Liệu pháp ức chế tái nhiễm sau giao hợp

Trang 10

Nhịp cầu Dược lâm sàng Trang 10/16

Yes

Không

Không

Khoa tiết niệu kiểm tra

Tái nhiễm trùng Thường xuyên Ít xảy ra

Xem xét sử dụng liệu pháp ức chế liệu pháp sau giao hợp

Điều trị mỗi đợt

Điều trị bằng

đường uống 2 tuần

Nhập viện – Kháng sinh đường tĩnh mạch

Cấy nước tiểu

Không có vi khuẩn niệu nhưng có triệu chứng Điều trị lại 2 tuần nữa

Cấy lại nước tiểu 2 sau khi điều trị

Đáp ứng lâm sàng Tái phát

Các triệu chứng ở đường dưới

Xét nghiệm nước tiểu/nhuộm Gram

Vi khuẩn hiện diện đáng kể trong

nước tiểu

Không có vi khuẩn niệu nhưng có triệu

chứng

Triệu chứng của đường tiểu trên – viêm bàng quang Cấy mẫu nước tiểu Điều trị ngắn ngày

Bệnh nhân bệnh nặng

có nguy cơ cao Có đáp ứng lâm sàng Thất bại

Tái phát lại

Ngày đăng: 24/02/2020, 22:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm