Kháng sinh được chỉ định trước khi các mô hoặc dịch vô trùng bị nhiễm khuẩn được xem là dự phòng. Mục tiêu của kháng sinh dự phòng là ngăn ngừa nhiễm khuẩn vết mổ. Liệu pháp kháng sinh kinh nghiệm (presumptive antibiotic therapy) được chỉ định khi nghi ngờ có nhiễm khuẩn nhưng chưa có bằng chứng rõ ràng. Nhiễm khuẩn vết mổ được phân loại theo vị trí xâm nhập (VD: viêm mô tế bào tại vị trí rạch dao) hoặc các cơ quan, tổ chức liên quan (VD: viêm màng não). Nhiễm khuẩn vết mổ có thể xảy ra tại bề mặt (da hoặc lớp dưới da) hoặc vị trí sâu (các lớp cân hoặc lớp cơ). Cả 2 loại này, theo như định nghĩa, xảy ra trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật. Quá trình này có thể kéo dài tới 1 năm trong trường hợp nhiễm khuẩn sâu liên quan tới phẫu thuật cấy ghép bộ phận giả.
Trang 1Chương 48: Kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật Dịch: DS Dương Thị Thanh, đang học cao học ĐH Dược HN
Hiệu đính: DS Nguyễn Thị Quỳnh Trang, BV Đa Khoa Đà Nẵng
Nguồn: Pharmacotherapy Handbook 8 th
edition (2012), Barbara G.Wells et al
Tài liệu được dịch nhằm mục đích tổng hợp cho dự án viết sách "Dược điều trị" do Nhịp cầu Dược lâm sàng tổ chức Tài liệu dịch CHƯA xin phép bản quyền từ tác giả, nhà xuất bản Mỹ nên tài liệu nên được sử dụng với mục đích cá nhân Không chia sẽ công cộng dưới mọi hình thức
Định nghĩa
- Kháng sinh được chỉ định trước khi các mô hoặc dịch vô trùng bị nhiễm khuẩn được xem là
dự phòng Mục tiêu của kháng sinh dự phòng là ngăn ngừa nhiễm khuẩn vết mổ
- Liệu pháp kháng sinh kinh nghiệm (presumptive antibiotic therapy) được chỉ định khi nghi ngờ có nhiễm khuẩn nhưng chưa có bằng chứng rõ ràng
- Nhiễm khuẩn vết mổ được phân loại theo vị trí xâm nhập(VD: viêm mô tế bào tại vị trí rạch dao) hoặc các cơ quan, tổ chức liên quan (VD: viêm màng não) Nhiễm khuẩn vết mổ có thể xảy ra tại bề mặt (da hoặc lớp dưới da) hoặc vị trí sâu (các lớp cân hoặc lớp cơ)
Cả 2 loại này, theo như định nghĩa, xảy ra trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật Quá trình này
có thể kéo dài tới 1 năm trong trường hợp nhiễm khuẩn sâu liên quan tới phẫu thuật cấy ghép
bộ phận giả
Các yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn vết mổ
Hệ thống phân loại truyền thống được xây dựng bởi Hội đồng nghiên cứu quốc gia (National Research Council-NRC), theo đó loại phẫu thuật được phân loại theo nguy cơ nhiễm khuẩn như ở
Bảng 48-1 Phân loại theo NRC cho một phẫu thuật cụ thể được xác định theo quá trình phẫu thuật và
chủ yếu là để xác định có sử dụng kháng sinh dự phòng hay không
Trang 2Bảng 48-1 Phân loại vết mổ theo NRC, nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ và chỉ định sử dụng kháng sinh
Phân
loại
Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết
mổ (%)
KS trước
phẫu thuật
Không có
KS trước phẫu thuật
Tiêu chuẩn Kháng sinh
Sạch 5.1 0.8 Không có sự viêm nhiễm cấp tính và
không rạch dao tới đường tiêu hóa, miệng-hầu, sinh dục-tiết niệu, túi mật hay đường hô hấp Mổ chương trình, không phạm lỗi vô khuẩn trong khi
mổ
Không chỉ định trừ trường hợp phẫu thuật có nguy cơ cao
Sạch
nhiễm
10.1 1.3 Mổ có kiểm soát các cơ quan như trên
với vết rạch nhỏ hoặc lỗi vô khuẩn nhẹ
Kháng sinh dự phòng được chỉ định
Nhiễm 21.9 10.2 Có sự viêm cấp tính, dịch tiết không
có mủ Có vết rạch lớn/ lỗi vô khuẩn trong phẫu thuật sạch nhiễm
Kháng sinh dự phòng được chỉ định
Bẩn Không xác
định
Không xác định
Nhiễm khuẩn từ trước (có sự hiện diện của áp xe, mủ, mô hoại tử)
Liệu pháp kháng sinh được yêu cầu
Phẫu thuật có nguy cơ cao là quá trình phẫu thuật cấy ghép các bộ phận giả và các phẫu thuật khác
mà trong đó có nhiễm khuẩn vết mổ thì sẽ liên quan tới tỷ lệ tử vong cao
Nghiên cứu về hiệu quả của chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện SENIC đã phân tích hơn 100.000 ca phẫu thuật và xác định các yếu tố gồm phẫu thuật ổ bụng, phẫu thuật kéo dài hơn
2 giờ, phẫu thuật nhiễm hoặc bẩn và phẫu thuật có nhiều hơn 3 chẩn đoán bệnh lý được xem là các
yếu tố có liên quan làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ Phân loại theo NRC như Bảng 48-1 đã
phân loại theo số lượng yếu tố nguy cơ hiện diện, tỷ lệ nhiễm khuẩn thay đổi bởi một trong 15 yếu tố
ở cùng một bậc phân loại phẫu thuật
Thang điểm của hội gây mê hồi sức Hoa Kỳ (American Society of Anesthesiology - ASA) (Bảng
48-2) cũng được sử dụng như một tiêu chí kỹ thuật để đánh giá nguy cơ trong nghiên cứu SENIC Nguy
cơ nhiễm khuẩn vết mổ tăng lên khi điểm đánh giá theo ASA > 3
Trang 3Bảng 48-2 Bảng phân loại tình trạng thể chất theo ASA
1 Bệnh nhân có sức khỏe bình thường
2 Bệnh hệ thống nhẹ
3 Bệnh hệ thống nặng nhưng không kèm thương tổn
4 Bệnh hệ thống nặng kèm thương tổn và đe dọa đến tính mạng
5 Có nguy cơ tử vong trong vòng 24h kể cả trường hợp mổ hay không mổ
Vi sinh học
Vi khuẩn liên quan tới nhiễm khuẩn vết mổ có thể mắc phải từ hệ vi khuẩn bình thường của bệnh nhân (nội sinh) hoặc nhiễm phải từ quá trình phẫu thuật (ngoại sinh)
Việc mất hệ vi khuẩn bảo vệ do dùng kháng sinh có thể làm mất cân bằng và cho phép các vi khuẩn gây bệnh phát triển, làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn
Hệ vi khuẩn bình thường có thể trở thành nguyên nhân gây bệnh nếu chúng di chuyển tới những mô/dịch vô trùng trong quá trình phẫu thuật
Theo Hệ thống giám sát nhiễm khuẩn mắc phải quốc gia (National Nosocomial Infections Surveillance System), 5 vi khuẩn gây bệnh thường gặp trong nhiễm khuẩn vết mổ là
Staphylococcus aureus, Staphylococci coagulase âm tính, Enterococci, Escherichia coli, và Pseudomonas aeruginosa
Suy giảm hàng rào bảo vệ cơ thể, tình trạng tắc nghẽn mạch, chấn thương mô và sự có mặt của tác nhân bên ngoài là những điều kiện dẫn đến nhiễm trùng vết mổ dù chỉ với một số lượng nhỏ vi khuẩn mắc phải
Kháng sinh và kế hoạch sử dụng kháng sinh
Những nguyên tắc dưới đây cần phải được cân nhắc khi sử dụng kháng sinh trong dự phòng phẫu thuật:
Kháng sinh nên được phân bố đến vị trí phẫu thuật trước thời điểm rạch dao Chúng nên được
sử dụng cùng với thuốc gây mê, ngay trước thời điểm rạch dao Không nên chỉ định kháng sinh đột xuất để dùng ngay tại phòng phẫu thuật
Nồng độ kháng sinh diệt khuẩn tại mô nên được duy trì trong suốt thời gian phẫu thuật
Chiến lược sử dụng kháng sinh hợp lý được miêu tả trong Bảng 48-3
Trang 4Bảng 48-3 Chiến lược thực hiện một chương trình cơ sở để đảm bào sử dụng kháng sinh dự phòng hợp lý trong phẫu thuật
1 Giáo dục
Phát triển chương trình giáo dục trong đó nhấn manh tầm quan trọng và sự hợp lý của việc dự phòng kháng sinh đúng thời điểm
Triển khai chương trình giáo dục này đến tất cả các nhân viên y tế có liên quan đến công tác chăm sóc bệnh nhân
2 Chuẩn hóa quy trình
Thiết lập một protocol (ví dụ: một biểu mẫu trình tự được in trước) trong đó các tiêu chuẩn lựa chọn kháng sinh tuân theo các bằng chứng hiện hành được công bố, các dạng thuốc hiện có, tình hình đề kháng thuốc tại cơ cở và chi phí
3 Chuẩn hóa quá trình phân phối và sử dụng thuốc
Sử dụng một hệ thống để đảm bảo kháng sinh được chỉ định và đưa tới khu vực lưu giữ vào thời gian phù hợp
Dùng thuốc trong vòng 1 giờ trước thời điểm phẫu thuật
Xác lập trách nhiệm và tính khả thi của việc sử dụng kháng sinh
Cung cấp các lưu ý cần thiết tới việc kê đơn và sử dụng kháng sinh dự phòng (ví dụ: bảng kiểm tra danh mục checklist)
Phát triển hệ thống để nhắc nhở phẫu thuật viên hoặc y tá việc sử dụng thêm kháng sinh trong quá trình phẫu thuật trong trường hợp phẫu thuật kéo dài
4 Cung cấp phản hồi
Theo dõi các báo cáo thường qui về biến chứng và tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ
Lựa chọn kháng sinh
Việc lựa chọn kháng sinh dự phòng phụ thuộc vào loại phẫu thuật, vi khuẩn gây bệnh thường gặp, tính an toàn và hiệu quả của kháng sinh, các bằng chứng hiện có hỗ trợ việc sử dụng kháng sinh đó và chi phí
Thông thường, kháng sinh có phổ gram dương sẽ được lựa chọn trong dự phòng phẫu thuật
Bởi vì S.aureus và S epidemidis là những chủng vi khuẩn thường có trên bề mặt da
Kháng sinh đường tiêm thường được lựa chọn hơn bởi vì đảm bảo đạt được nồng độ thích hợp tại mô
Cephalosporin thế hệ I (đặc biệt là cefazolin) thường được ưu tiên lựa chọn, đặc biệt là trong các phẫu thuật sạch Kháng sinh cephalosporin có phổ trên vi khuẩn kỵ khí (như cefoxitin hoặc cefotetan) là lựa chọn phù hợp khi mong muốn phủ phổ lên vi khuẩn kỵ khí và gram âm
Vancomycin có thể được cân nhắc trong dự phòng phẫu thuật có liên quan tới cấy ghép bộ
phận giả khi các phẫu thuật này có nguy cơ cao nhiễm S.aureus kháng methicillin (MRSA)
Nếu nguy cơ nhiễm MRSA thấp và bệnh nhân mẫn cảm với kháng sinh nhóm beta-lactam thì
có thể sử dụng clindamycin thay thế cefazolin để hạn chế việc sử dụng vancomycin
Trang 5Khuyến cáo cho các loại phẫu thuật cụ thể
Bảng 48-4: Các tác nhân gây bệnh thường gặp và khuyến cáo cụ thể cho kháng sinh dự phòng phẫu thuật
Loại phẫu
thuật
Tác nhân gây bệnh thường gặp
Kháng sinh khuyến cáo a Ghi chú
Mức độ khuyến cáo b Phẫu thuật đường tiêu hóa
Dạ dày-tá tràng Trực khuẩn
đường ruột gram (-), cầu khuẩn gram (+),
VK kỵ khí ở miệng
Cefazolin 1g x 1 (xem khuyến cáo phần thăm dò dạ dày nội soi qua da)
Chỉ sử dụng cho bệnh nhân có nguy cơ cao (tắc nghẽn, xuất huyết, bệnh lý ác tính, đang điều trị ức chế acid dạ dày, bệnh béo phì)
IA
Cắt bỏ túi mật Trực khuẩn
đường ruột gram (-), VK kỵ khí
Cefazolin 1g x 1 cho bện nhân nguy cơ cao
Nội soi ổ bụng:
không dùng
Chỉ dùng cho bệnh nhân nguy cơ cao (viêm túi mật cấp tính, sỏi ống mật chủ, tiền sử phẫu thuật mật, vàng
da, > 60 tuổi, béo phì, đái tháo đường)
IA
Đặt shunt cửa –
chủ trong gan
qua tĩnh mạch
cảnh (TIPS)
Trực khuẩn đường ruột gram (-), VK kỵ khí
Ceftriaxon 1g x 1 Ưu tiên các
cephalosporin có thời gian tác dụng dài hơn
IA
Cắt bỏ ruột thừa Trực khuẩn
đường ruột gram (-), VK kỵ khí
Cefoxitin hoặc cefotetan 1g x 1
Cefoxitin liều thứ 2 trong khi mổ có thể được yêu cầu khi phẫu thuật kéo dài trên 3 giờ
IA
Đại trực tràng Trực khuẩn
đường ruột gram (-), VK kỵ khí
Đường uống:
neomycin 1g + erythromycin dạng base vào lúc 13h, 14h và 23h vào ngày trước phẫu thuật kết hợp làm sạch ruột cơ học
Dạng tiêm tĩnh mạch: cefoxitin hoặc cefotetan 1g x 1
Lợi ích của việc kết hợp đường uống và đường tiêm tĩnh mạch còn đang tranh cãi trừ trường hợp phẫu thuật cắt bỏ trực tràng và tao hậu môn nhân tạo
IA
Nội soi tiêu hóa Thay đổi, phụ
thuộc vào loại phẫu thuật, nhưng điển hình
là trực khuẩn đường ruột
Đường uống:
amoxicillin 2g x 1
ampicillin 2g x 1 hoặc cefazolin 1g x
1
Chỉ dùng cho bệnh nhân nguy cơ cao phải trải qua quá trình phẫu thuật có nguy cơ cao (xem phần dưới)
IA
Trang 6gram (-), cầu khuẩn gram (+),
VK kỵ khí ở miệng
Phẫu thuật đường tiết niệu
Cắt bỏ tuyến
tiền liệt, tán sỏi
bằng sóng xung
kích, nội soi
niệu quản
Escherichia coli Uống ciprofloxacin
500mg hoặc 1 viên liều cao (gấp đôi thông thường) trimethoprim-sulfamethoxazon
Tất cả bệnh nhân có kết quả nuôi cấy nước tiểu dương tính trước khi
mổ nên được điều trị một đợt kháng sinh
IA-IB
Rút sonde tiểu ,
chụp bàng
quang có thuốc
cản quang, test
niệu động học,
nội soi bàng
quang đơn giản
500mg hoặc 1 viên liều cao (gấp đôi thông thường)
trimethoprim-sulfamethoxazon
Chỉ nên cân nhắc sử dụng cho những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ (xem phần dưới)
IB
Phẫu thuật phụ khoa
Mổ lấy thai Trực khuẩn đường
ruột gram (-), VK kỵ khí, liên cầu nhóm
B, cầu khuẩn đường ruột
Cefazolin 2g x 1 Có thể chỉ định trước
khi rạch dao hoặc sau khi kẹp rốn
IA
Cắt bỏ tử
cung
Trực khuẩn đường ruột gram (-), VK kỵ khí, liên cầu nhóm
B, cầu khuẩn đường ruột
Đường âm đạo:
cefazolin 1g x 1 Đường ổ bụng:
cefotetan 1g x 1 hoặc cefazolin 1g x
1
Metronidazol 1 g x 1 (đường tĩnh mạch ) được khuyến cáo thay thế cho trường hợp dị ứng penicillin
IA
Phẫu thuật đầu và cổ
Phẫu thuật
hàm mặt
Staphylococcus
khuẩn kỵ khí ở miệng
Cefazolin 2g hoặc clindamycin 600mg
Lặp lại liều trong quá trình phẫu thuật nếu phẫu thuật kéo dài trên
4 giờ
IA
Cắt bỏ khối
ung thư ở
đầu và cổ
S aureus, liên cầu
khuẩn kỵ khí ở miệng
Clindamycin 600mg trước lúc phẫu thuật, dùng tiếp 2 liều sau mỗi
8 giờ
Thêm gentamycin trong phẫu thuật sạch-nhiễm
IA
Phẫu thuật tim – lồng ngực
Phẫu thuật
tim
epidermidis, Corynebacterium
Cefazolin 1g, 8 giờ/lần trong vòng
48 giờ
Bệnh nhân > 80kg (176Ib) nên dùng liều 2g cefazolin; ở khu vực
nguy cơ cao có S
aureus kháng thuốc nên
IA
Trang 7cân nhắc sử dụng vancomycin
Phẫu thuật
lồng ngực
epidermidis, Corynebacterium,
Trực khuẩn đường ruột gram (-)
Cefuroxim 750mg (tĩnh mạch), 8 giờ/lần trong vòng
48 giờ
Các cephasporin thế hệ
1 được cho là chưa đủ
và khoảng thời gian dự phòng ngắn hơn chưa được nghiên cứu đầy
đủ
IA
Phẫu thuật mạch máu
Phẫu thuật
động mạch
chủ ổ bụng
và mạch chi
dưới
khuẩn đường ruột gram (-)
Cefazolin 1g ở liều đầu tiên, dùng tiếp
2 liều sau mỗi 8 giờ
Mặc dù các biến chứng
do nhiễm khuẩn hiếm khi xảy ra, nhiễm khuẩn khi cấy ghép mạch máu có liên quan tới tỷ lệ tử vong một cách có ý nghĩa
IB
Phẫu thuật chỉnh hình
Thay khớp S.aureus,
S.epidermidis
Cefazolin 1g trước phẫu thuật, dùng tiếp 2 liều sau mỗi
8 giờ
Vancomycin được dùng cho những bệnh nhân dị ứng với penicillin hoặc tại địa
phương có lưu hành S
methicillin
IA
Sửa chữa
gãy xương
hông
S.aureus, S.epodermidis
Cefazolin trước phẫu thuật, sau đó 8 giờ/lần trong vòng
48 giờ
Các trường hợp gãy (nứt) phức tạp được điều trị như có nhiễm khuẩn
IA
Gãy xương
hở/ phức tạp
S.aureus, S.epodermidis, trực khuẩn gram (-), đa vi khuẩn
Cefazolin 1g trước phẫu thuật, sau đó 8 giờ/lần trong 1 liệu trình (giả định là có nhiễm khuẩn)
Kháng sinh phổ gram (-) thường được chỉ định trong các trường hợp gãy xương hở nặng
IA
Phẫu thuật thần kinh
Đặt shunt
dẫn lưu dịch
não tủy
S.aureus, S.epidermidis
Cefazolin 1g, 8 giờ/lần x 3 hoặc ceftriaxon 2g x 1
Chưa có kháng sinh nào cho thấy hiệu quả tốt hơn cefazolin trong các thử nghiệm so sánh ngẫu nhiên
IA
Phẫu thuật
cột sống
S.aureus, S.epidermidis
Cefazolin 1g x1 Các thử nghiệm lâm
sàng so sánh các phác
đồ điều trị khác nhau còn hạn chế
IB
Phẫu thuật
cắt mở sọ
não
S.aureus, S.epidermidis
Cefazolin 1g x 1 hoặc cefotaxim 1g
x 1
Trimethoprim-sulfamethoxazol (160/800mg) (tĩnh
IA
Trang 8mạch) x 1 được dùng cho bệnh nhân dị ứng với penicillin
a
Liều 1 lần là liều thấm tối ưu vào thời điểm gây mê trừ các trường hợp đã chú thích
Lặp lại liều dùng được yêu cầu trong trường hợp phẫu thuật kéo dài Tham khảo ở phần dưới
b
Độ mạnh của khuyến cáo
IA: Khuyến cáo mạnh và được hỗ trợ bởi các thử nghiệm được thiết kế tốt, các nghiên cứu lâm sàng hoặc dịch tễ học
IB: Khuyến cáo mạnh và được hỗ trợ bởi một số thử nghiệm, nghiên cứu lâm sàng và dịch tễ học và
lý thuyết có tính hợp lý cao
II: Được đề xuất và hỗ trợ bởi các nghiên cứu lâm sàng, dịch tễ học có tính gợi ý hoặc lý thuyết hợp
lý
Phẫu thuật dạ dày- tá tràng
Nguy cơ nhiễm khuẩn tăng với những điều kiện như tăng pH dạ dày và những tình trạng dẫn đến sự phát triển quá mức của các vi khuẩn, như trong trường hợp tắc nghẽn, xuất huyết, bệnh
lý ác tính, điều trị ức chế acid (phẫu thuật sạch- nhiễm)
Liều đơn đường tĩnh mạch cefazolin đủ dự phòng cho hầu hết các trường hợp Dạng uống ciprofloxacin có thể được sử dụng cho những bệnh nhân dị ứng với beta-lactam
Điều trị kháng sinh sau phẫu thuật có thể được chỉ định nếu trong quá trình phẫu thuật phát hiện ra lỗi vô trùng, phụ thuộc vào việc tình trạng nhiễm khuẩn có được thiết lập hay không
Phẫu thuật đường mật
Kháng sinh dự phòng được chứng minh có lợi trong phẫu thuật liên quan đến đường mật
Vi khuẩn gây bệnh chủ yếu là E.coli, Klebsiella và Enterococci Dự phòng bằng liều đơn cefazolin đang được khuyến cáo hiện nay Ciprofloxacin và levofloxacin có thể sử dụng thay
thế cho bệnh nhân mẫn cảm với beta-lactam
Với những bệnh nhân có nguy cơ thấp mà phải phẫu thuật cắt túi mật bằng phương pháp nội soi theo chương trình, kháng sinh dự phòng không mang lại lợi ích và không được khuyến cáo
Một số phẫu thuật viên sử dụng kháng sinh kinh nghiệm cho những trường hợp viêm túi mật cấp hoặc viêm đường mật và trì hoãn phẫu thuật cho đến khi bệnh nhân cắt sốt, nhằm giảm tỷ
lệ nhiễm khuẩn trong tương lai nhưng việc này vẫn còn gây tranh cãi trên thực hành lâm sàng
Phát hiện ổ nhiễm khuẩn đang hoạt động trong quá trình phẫu thuật (hoại tử túi mật hoặc viêm đường mật có mủ) được chỉ định kháng sinh điều trị sau phẫu thuật
Trang 9Phẫu thuật đại trực tràng
Các vi khuẩn kỵ khí và vi khuẩn hiếu khí gram (-) chiếm ưu thế trong gây nhiễm khuẩn vết
mổ (xem bảng 48-4), mặc dù vi khuẩn hiếu khí gram (+) cũng quan trọng Do đó, nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ khi không sử dụng kháng sinh dự phòng hợp lý là đáng kể
Giảm thiểu lượng vi khuẩn bằng phác đồ làm sạch ruột (4 lít dung dịch polyethylen glycol hoặc 90ml sodium phosphat được sử dụng đường uống cho bệnh nhân vào ngày trước phẫu thuật) còn đang bàn cãi, dù vậy biện pháp này đang được sử dụng bởi hầu hết các phẫu thuật viên
Việc kết hợp 1g neomycin và 1g erythromycin dạng base được uống vào các thời điểm trước phẫu thuật 19 giờ, 18 giờ và 9 giờ là phác đồ uống được sử dụng phổ biến ở Mỹ
Kháng sinh đường tĩnh mạch bổ sung thêm đường uống có làm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn vết
mổ hay không vẫn còn đang được bàn luận Những bệnh nhân không dùng được kháng sinh dạng uống thì nên được sử dụng đường tĩnh mạch
Trường hợp không sự cố ngoài dự kiến nào xảy ra trong quá trình phẫu thuật thì việc sử dụng kháng sinh sau phẫu thuật là không cần thiết
Phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa
Kháng sinh cephalosporin có hoạt tính trên vi khuẩn kỵ khí như cefoxitin hay cefotetan đang được khuyến cáo hiện nay như một lựa chọn đầu tay Cefotetan có thể được ưa dùng hơn trong các phẫu thuật kéo dài do tác dụng của nó dài hơn
Liệu pháp đơn liều bằng cefotetan là đủ Dùng thêm liều cefoxitin trong quá trình phẫu thuật được yêu cầu nếu quá trình kéo dài hơn 3 giờ
Phẫu thuật đường tiết niệu
Chỉ cần nước tiểu vô khuẩn trước phẫu thuật thì nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ sau phẫu thuật đường tiết niệu là thấp và lợi ích của kháng sinh dự phòng trong những trường hợp này còn
đang tranh luận E.coli là tác nhân gây bệnh phổ biến nhất
Kháng sinh dự phòng nên được dùng cho tất cả bệnh nhân cắt bỏ tuyến tiền liệt qua niệu đạo,
u bàng quang, tán sỏi bằng sóng xung kích, phẫu thuật thận qua da, nội soi niệu quản
Khuyến cáo cụ thể được liệt kê ở bảng 48-4
Các phẫu thuật tiết niệu đòi hỏi sự xâm lấn ổ bụng như cắt bỏ thận hay cắt bỏ bàng quang đòi hỏi phải dự phòng hợp lý cho loại phẫu thuật ổ bụng sạch- nhiễm
Trang 10Mổ lấy thai
Kháng sinh có tác dụng ngăn ngừa các nhiễm khuẩn vết mổ ở phụ nữ phải phẫu thuật mổ lấy thai bất kể có yếu tố nguy cơ hay không
Cefazolin, 2g đường tĩnh mạch, là thuốc được lựa chọn Sử dụng kháng sinh có phổ rộng hơn
ví dụ như cefoxitin tác dụng trên vi khuẩn kỵ khí hay piperacillin với phổ tác dụng trên cả
Pseudomonas hay enterococci, không có tác dụng làm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ sau
phẫu thuật ở các nghiên cứu so sánh
Thời điểm dùng kháng sinh còn đang tranh cãi, một số ủng hộ việc đưa thuốc ngay sau khi kẹp dây rốn để tránh phơi nhiễm kháng sinh cho trẻ sơ sinh, trong khi một số khác lại tán thành việc dùng thuốc trước khi rạch dao
Phẫu thuật cắt bỏ tử cung
Phẫu thuật cắt bỏ tử cung liên quan tới tỷ lệ lớn nhiễm khuẩn sau mổ khi phẫu thuật không sử dụng kháng sinh dự phòng
Liều đơn trước phẫu thuật của cefazolin hay cefoxitin được khuyến cáo trong phẫu thuật cắt
bỏ tử cung Đối với bệnh nhân mẫn cảm với beta-lactam, liều đơn metronidazol hoặc doxycyclin trước phẫu thuật là có hiệu quả
Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ sau phẫu thuật cắt bỏ tử cung qua đường bụng thấp hơn tỷ lệ nhiễm khuẩn trong phẫu thuật cắt bỏ tử cung qua âm đạo Tuy nhiên, kháng sinh dự phòng vẫn được khuyến cáo bất kể là có yếu tố nguy cơ hay không
Cả cefazolin và các cephalosporin có tác dụng trên vi khuẩn kỵ khí (ví dụ: cefoxitin và cefotetan) đã được nghiên cứu một cách rộng rãi trong phẫu thuật cắt bỏ tử cung qua đường bụng Liều đơn cefotetan được ưa dùng hơn so với liều đơn cefazolin Liệu trình kháng sinh không nên kéo dài quá 24 giờ
Phẫu thuật đầu và cổ
Sử dụng kháng sinh dự phòng trong quá trình phẫu thuật đầu và cổ phụ thuộc vào loại phẫu thuật Phẫu thuật sạch, như cắt bỏ tuyến mang tai hay nhổ răng đơn thuần, có tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ thấp Phẫu thuật đầu và cổ có rạch dao qua lớp màng nhầy có nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ cao
Khuyến cáo cụ thể cho dự phòng được liệt kê ở bảng 48-4
Mặc dù liều thông thường của cefazolin không có tác dụng đối với nhiễm khuẩn kỵ khí, nhưng liều 2g theo khuyến cáo đạt nồng độ cao đủ để ức chế những vi khuẩn này Liệu trình