1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổ chức dạy học dự án nội dung kiến thức phản ứng hạt nhân môn vật lý chương trình đào tạo bậc đại học ở trường sĩ quan phòng hóa

113 132 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 2,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Tổ chức dạy học dự án nội dung kiến thức “phản ứng hạt nhân” môn Vật lý chương trình đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá” nhằm phát huy tính tích cực, chủ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN NGỌC THANH

TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN NỘI DUNG KIẾN THỨC

“PHẢN ỨNG HẠT NHÂN” MÔN VẬT LÝ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO BẬC ĐẠI HỌC Ở TRƯỜNG SĨ QUAN PHÒNG HOÁ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÝ

HÀ NỘI – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN NGỌC THANH

TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN NỘI DUNG KIẾN THỨC

“PHẢN ỨNG HẠT NHÂN” MÔN VẬT LÝ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO BẬC ĐẠI HỌC Ở TRƯỜNG SĨ QUAN PHÒNG HOÁ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÝ CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC (BỘ MÔN VẬT

LÝ)

Mã số: 60 14 10

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS Đỗ Hương Trà

HÀ NỘI – 2012

Trang 3

3 Mục tiêu nghiên cứu

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

8 Giả thuyết khoa học

9 Phương pháp nghiên cứu đề tài

10 Cấu trúc luận văn

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học dự án

1.2 Đặc điểm về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học đại học và

đặc điểm của quá trình dạy học ở các trường quân sự

1.2.1 Đặc điểm về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học đại học

1.2.2 Đặc điểm của quá trình dạy học ở các trường quân sự 13

i

ii iii

Trang 4

1.3.2 Mục tiêu của dạy học dự án 19

1.3.4 Nội dung Vật lý có thể tổ chức dạy học dự án 23

1.3.6 Các bước chuẩn bị của giáo viên và học sinh cho một dự án học tập

1.4 Đặc điểm và thực trạng dạy học bậc đại học ở trường Sĩ quan

1.4.1 Mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá 32 1.4.2 Đặc điểm về đối tượng đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan

1.4.3 Thực trạng của viêc dạy học nói chung và việc dạy học nội dung

kiến thức “phản ứng hạt nhân” môn Vật lý chương trình đào tạo bậc đại

học ở trường Sĩ quan Phòng hoá

Kết luận chương 1

Chương 2: Tổ chức dạy học dự án nội dung kiến thức “phản ứng

hạt nhân” môn Vật lý chương trình đào tạo bậc đại học ở trường

2.2 Phân tích nội dung kiến thức “phản ứng hạt nhân”

2.3 Tổ chức dạy học dự án nội dung kiến thức “phản ứng hạt nhân” môn

Vật lý chương trình đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá

Trang 5

2.3.2 Sơ đồ cấu trúc việc tổ chức dạy học dự án nội dung kiến thức

“phản ứng hạt nhân” môn Vật lý chương trình đào tạo bậc đại học ở

trường Sĩ quan Phòng hoá

2.3.3 Bộ câu hỏi định hướng

2.3.4 Xây dựng ý tưởng dự án và quyết định chủ đề

2.3.5 Mục tiêu, sản phẩm dự kiến, thời gian thực hiện của các dự án;

vai trò của giáo viên, học viên trong thực hiện dự án

2.3.6 Cách đánh giá và tiêu chí đánh giá dự án

2.3.7 Nguồn tài nguyên

Kết luận chương 2

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm

3.2 Đối tượng của thực nghiệm sư phạm

3.3 Thời gian thực nghiệm sư phạm

3.4 Những thuận lợi và khó khăn khi tiến hành thực nghiệm sư phạm

3.4.1 Thuận lợi

3.4.2 Khó khăn

3.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

3.6 Kế hoạch thực hiện

3.7 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm

3.7.1 Phân tích diễn biến thực nghiệm sư phạm

3.7.2 Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nước ta đang trong quá trình quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nước luôn xác định con người là nhân tố quyết định cho quá trình này Chính vì vậy chiến lược cho giáo dục và đào tạo luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng Điều này được thể hiện trong nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước và những quy định của các cấp, ban, ngành Trong Điều 9, luật Giáo dục năm 2005 quy định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực” 24 tr, 3 Trong Luật cũng quy định rõ: “Phát triển giáo dục phải gắn liền với nhu cầu phát triển kinh tế -

xã hội, tiến bộ khoa học, công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh… Kết hợp giữa đào tạo và sử dụng” 24 tr, 3

Để tạo ra nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giáo dục đại học giữ vai trò quan trọng Mục tiêu của giáo dục đại học được quy định trong Điều 39, luật Giáo dục năm 2009 quy định: “Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc” 24 tr, 11 Để thực hiện được mục tiêu này cần có phương pháp đào tạo phù hợp Trong luật Giáo dục năm 2005 có nêu:

“Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học phải coi trọng bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển

tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng” 24 tr, 12

Ngày nay, chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của khoa học, công nghệ Khoa học, công nghệ đã và đang phát triển hết sức mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu vô cùng to lớn Kho tàng tri thức của nhân loại ngày càng dày lên nhanh chóng Cùng với đó, sự phát triển của công nghệ thông tin và xu

Trang 7

hướng hội nhập của các quốc gia, của các nhà trường khiến cho kiến thức

không còn nằm trong phạm vi nhà trường Theo đó, hệ thống giáo dục ở mỗi

quốc gia liên tục phải có những đổi mới để phù hợp với tình hình, đặc biệt là

đổi mới giáo dục ở bậc đại học – bậc học tạo ra nguồn nhân lực chất lượng

cao cho mỗi quốc gia Ở nước ta, việc đổi mới giáo dục ở bậc đại học đặc biệt

được đề cao trong những năm gần đây, trong đó đổi mới về phương pháp đào

tạo là một khâu quan trọng Tháng 11 năm 2005, Chính phủ ra Nghị quyết “về

đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt nam giai đoạn

2006 – 2020” Trong Nghị quyết có nêu: “Triển khai đổi mới phương pháp

đào tạo theo 3 tiêu chí: trang bị cách học; phát huy tính chủ động của người

học; sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động dạy và học

Khai thác các nguồn tư liệu giáo dục mở và nguồn tư liệu trên mạng internet

Lựa chọn, sử dụng các chương trình, giáo trình tiên tiến của các nước”

8 tr, 5 Như vậy, cốt lõi của việc đổi mới giáo dục ở bậc đại học là chuyển từ

đào tạo kiến thức và kỹ năng sang chủ yếu là đào tạo về năng lực Những chủ

trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về giáo dục - đào tạo luôn được

Bộ Quốc phòng quán triệt và tổ chức thực hiện ở hệ thống các trường trong

Quân đội Đảng uỷ Quân sự Trung ương (nay là Quân uỷ Trung ương) đưa ra

Nghị quyết số 86 về công tác giáo dục – đào tạo trong tình hình mới, trong đó

có nêu: “Đẩy mạnh vận dụng phương pháp dạy học hiện đại, sát thực tế, phát

huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và bồi dưỡng năng lực tư duy, rèn luyện

năng lực hoạt động thực tiễn cho người học ” 11 tr, 21

Trường Sĩ quan Phòng hóa – binh chủng Hoá học là nơi đào tạo chủ

chốt nguồn nhân lực cho bộ đội Hoá học - lực lượng chuyên môn của Quân

đội nhân dân Việt Nam, có chức năng bảo đảm hoá học cho các hoạt động tác

chiến và làm nòng cốt trong phòng chống vũ khí huỷ diệt lớn (vũ khí hạt

nhân, vũ khí hoá học và vũ khí sinh học) Tháng 9 năm 1998, Thủ tướng

Chính phủ đã ký quyết định giao nhiệm vụ đào tạo bậc đại học cho Nhà

trường Từ đó, đối tượng đào tạo có trình độ đại học trở thành đối tượng đào

Trang 8

tạo trọng tâm, mũi nhọn của Nhà trường

Trong những năm gần đây, tại trường Sĩ quan Phòng hoá, để nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là đối tượng đào tạo bậc đại học thì việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng của Đảng, Chính phủ và Bộ Quốc phòng được Nhà trường xác định là một trong những giải pháp hàng đầu Tuy đạt được nhiều kết quả khả quan trong công tác này nhưng vẫn còn một số hạn chế nhất định, nhất là ở một số môn khoa học cơ bản Trong hệ thống các môn học tại Nhà trường, môn Vật lý là một trong những môn học quan trọng

Ở đó, kiến thức về “Phản ứng hạt nhân” là kiến thức cơ sở cho nhiều môn học khác Thực tế tại trường Sĩ quan Phòng hoá, việc dạy học nội dung “Phản ứng hạt nhân” đang được tiến hành theo phương pháp thuyết trình truyền thống và việc dạy học nội dung này theo phương pháp truyền thống hiện nay đang gặp phải những khó khăn nhất định Kiến thức về phản ứng hạt nhân đặc biệt là những ứng dụng của nó rất phức tạp Những ứng dụng của phản ứng hạt nhân

vô cùng đa dạng và vẫn tiếp tục phát triển Điều đó đòi hỏi kiến thức về phản ứng hạt nhân cần liên tục được cập nhật để phù hợp với thực tiễn tình hình Chính vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học ở nội dung kiến thức này cần coi trọng bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng là hết sức cần thiết Một trong những kiểu tổ chức dạy học đáp ứng tốt những yêu cầu

đó là “dạy học theo dự án”

Với những lí do như trên, tôi lựa chọn đề tài: “Tổ chức dạy học dự án

nội dung kiến thức “phản ứng hạt nhân” môn Vật lý chương trình đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá”

Trang 9

đó được du nhập vào một số quốc gia mà trước hết là được sử dụng trong một

số trường đại học Ban đầu dạy học dự án xuất hiện ở một số môn học về kiến trúc, sau đó là các môn xã hội và tự nhiên Ở những môn học khác nhau có những cách tiếp cận dạy học dự án theo những cách riêng

Trong khoảng thời gian từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa cuối thế kỷ XIX, dạy học dự án được áp dụng khá phổ biến ở một số trường kỹ thuật ở Pháp, Đức và Thuỵ Sĩ

Dạy học dự án được du nhập vào Mỹ vào năm 1896, người giới thiệu là William B Rogers Tuy nhiên đến đầu thế kỷ XX, cơ sở lí luận dạy học dự án mới được các nhà sư phạm ở Mỹ xây dựng và sau này nhanh chóng được phát triển ở Mỹ Năm 1918, Kilpartrick đưa ra kiểu tổ chức dạy học dự án mà ở đó tập trung chủ yếu vào hoạt động có tính mục đích trong một môi trường xã hội của sinh viên Hoạt động có tính mục đích dựa trên sự quan tâm, nhu cầu, thái độ và khả năng của sinh viên

Ở Việt Nam, đã có những nghiên cứu về dạy học dự án Điển hình là năm 2003, dạy học dự án được nghiên cứu và thực hiện trong chương trình

“dạy học cho tương lai” được Bộ Giáo dục – Đào tạo kết hợp với công ty Intel Việt Nam phối hợp thực hiện; dự án Việt – Bỉ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng giáo viên các trường tiểu học và trung học cơ sở các tỉnh miền núi phía Bắc

Dạy học dự án được PGS TS Đỗ Hương Trà (Đại học Sư phạm Hà Nội) nghiên cứu và áp dụng vào dạy học môn Vật lý, đặc biệt là dạy học Vật

lý ở trường THPT Những nghiên cứu này được trình bày trong cuốn sách:

“Các kiểu tổ chức dạy học hiện đại trong dạy học Vật lý ở trường phổ thông”

do Nxb Đại học Sư phạm phát hành năm 2011

Tiếp đó, dạy học dự án được nghiên cứu, áp dụng dạy học cho một số nội dung cụ thể trong chương trình Vật lý phổ thông bởi một số tác giả, tiêu biểu như: đề tài nghiên cứu về việc “Tổ chức dạy học dự án nội dung kiến thức dòng điện xoay chiều – sách lớp 12 nâng cao” được tác giả Vũ Văn Dụng thực

Trang 10

hiện trong luận văn cao học tại trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia

Hà Nội vào năm 2009; đề tài nghiên cứu về việc “Tổ chức dạy học dự án nội dung kiến thức dòng điện trong chất bán dẫn – sách giáo khoa Vật lý lớp 11 nâng cao” được tác giả Phạm Văn Hoạch thực hiện trong luận văn cao học tại trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2009

Dạy học dự án vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu và áp dụng vào thực tiễn dạy học ở các cấp, các ngành học, các nhà trường và ở các môn học khác nhau Tuy nhiên, đến nay những nghiên cứu về việc áp dụng dạy học dự án ở các trường quân sự và ở trường Sĩ quan Phòng hoá vẫn chưa được thực hiện Chưa có những công bố về việc nghiên cứu và áp dụng dạy học dự án trong việc dạy học Vật lý chương trình đào tạo bậc đại học ở các trường quân đội và cũng chưa có những công bố về việc nghiên cứu và áp dụng dạy học dự án trong việc dạy học nội dung kiến thức “phản ứng hạt nhân” ở Việt Nam

3 Mục tiêu nghiên cứu

Tổ chức dạy học dự án nội dung kiến thức “phản ứng hạt nhân” môn Vật lý chương trình đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá” nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và rèn luyện năng lực nghiên cứu khoa học, hoạt động thực tiễn cho người học

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Học viên đào tạo bậc đại học tại trường Sĩ quan Phòng hoá, binh chủng Hoá học, một số giảng viên đã và đang tham gia giảng dạy môn Vật lý, chương trình môn Vật lý ở trường Sĩ quan Phòng hoá

4.2 Đối tượng nghiên cứu

- Nội dung kiến thức “Phản ứng hạt nhân” môn Vật lý chương trình đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá

- Hoạt động dạy học trong dạy học dự án

5 Mẫu khảo sát

Học viên đào tạo sĩ quan chỉ huy kỹ thuật hoá khoá 2010 - 2014, khoá

Trang 11

2009 - 2013 và một số giảng viên đã và đang trực tiếp giảng dạy môn Vật lý ở trường Sĩ quan Phòng hoá

lý chương trình đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá?

8 Giả thuyết khoa học

Vận dụng những quan điểm lí luận dạy học hiện đại nói chung và lí luận về dạy học dự án nói riêng vào tổ chức dạy học dự án nội dung kiến thức

“Phản ứng hạt nhân” môn Vật lý chương trình đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo và rèn luyện năng lực nghiên cứu khoa học, hoạt động thực tiễn cho người học

9 Phương pháp nghiên cứu đề tài

- Nghiên cứu lí thuyết: nghiên cứu lí luận dạy học đại học, dạy học trong các trường quân đội và dạy học dự án

- Phỏng vấn, phát phiếu điều tra tới một số giảng viên đã và đang giảng dạy, các học viên đã và đang học tập môn Vật lý tại trường Sĩ quan Phòng hoá nhằm điều tra thực trạng dạy học nội dung kiến thức “Phản ứng hạt nhân” môn Vật lý chương trình đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá

- Thực nghiệm sư phạm: tổ chức dạy học thực nghiệm để đánh giá tính khả thi của đề tài

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Trang 12

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học dự án Chương 2: Tổ chức dạy học dự án nội dung kiến thức “Phản ứng hạt nhân” môn Vật lý chương trình đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC

DẠY HỌC DỰ ÁN 1.1 Bản chất của quá trình dạy học

1.1.1 Bản chất của quá trình dạy học

Theo PGS TS Phạm Viết Vượng: “Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm, với một nội dung khoa học, được thực hiện theo một phương pháp sư phạm đặc biệt, do nhà trường tổ chức, giáo viên thực hiện nhằm giúp học sinh, sinh viên, học viên (gọi chung là người học) nắm vững hệ thống kiến thức khoa học và hình thành kỹ năng, nâng cao năng lực hoạt động, nâng cao trình độ học vấn, phát triển trí tuệ và hoàn thiện nhân cách”30 tr, 23

Dạy học là hoạt động phối hợp của hai chủ thể, đó là giáo viên và người học, trong đó giáo viên là chủ thể của hoạt động dạy, người học là chủ thể của hoạt động học tập Giáo viên là người tổ chức, định hướng hoạt động học tập của người học, làm cho việc học tập của người học trở thành hoạt động độc lập có ý thức Đối tượng hoạt động của giáo viên là hệ thống kiến thức, sự phát triển trí tuệ và nhân cách của người học Mục đích của hoạt động dạy là làm cho học sinh chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng hoạt động, từ đó phát triển trí tuệ và nhân cách của người học Nội dung của hoạt động dạy là tổ chức cho học sinh nhận thức, rèn luyện kỹ năng và kiểm tra, định hướng hoạt động học Hoạt động dạy dù diễn ra dưới hình thức nào cũng không thể làm thay việc cho hoạt động học Hoạt động học tập được tiến hành bởi người học và là hoạt động có ý thức, mang tính chủ động, tích cực và sáng tạo Người học phải xác định mục đích học tập, có động cơ và thái độ học tập đúng đắn, có kế hoạch học tập chủ động và luôn tích cực thực hiện tốt kế hoạch đó Đối tượng của hoạt động học là hệ thống tri thức và hệ thống kỹ năng, năng lực tương ứng Người học phải chủ động tích cực chiếm lĩnh kiến thức trong chương trình học để sử dụng chúng trong những tình huống học tập và thực tiễn cuộc sống Mục đích của hoạt động học là tiếp thu nền tri

Trang 14

thức nhân loại để chuyển hoá thành trí tuệ và nhân cách bản thân để trở thành người lao động thông minh, năng động và sáng tạo

Theo quan điểm của dạy học hiện đại, hoạt động dạy học phải luôn hướng về người học, hướng về hoạt động học (quan điểm này được nhiều nhà

lí luận dạy học gọi là “dạy học lấy học sinh làm trung tâm”) Người học vừa

là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình dạy học Người học là trung tâm của những cải tiến về nội dung, phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học Dù theo quan điểm nào thì hoạt động dạy và hoạt động học tập luôn gắn bó không thể tách rời, chúng thống nhất biện chứng với nhau tạo thành hoạt động chung

1.1.2 Bản chất của quá trình dạy học đại học

Quá trình dạy học đại học là bộ phận quan trọng của quá trình dạy học và mang những đặc thù riêng Theo quan điểm tiếp cận hoạt động, quá trình dạy học đại học là quá trình hoạt động phối hợp thống nhất giữa giảng viên và sinh viên, trong đó giảng viên là chủ thể của hoạt động dạy và sinh viên là chủ thể của hoạt động học tập nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ dạy học đại học

Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt: “Quá trình nhận thức và học tập của sinh viên ở các trường đại học là quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu Trong quá trình học tập ở trường đại học, mỗi sinh viên phải tự mình chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng, phải nắm vững những cơ sở nghề nghiệp tương lai ở trình độ đại học và có tiềm năng vươn lên thích ứng với những yêu cầu do thực tiễn nghề nghiệp đòi hỏi và những yêu cầu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đặt ra Khi tiến hành hoạt động học tập ở đại học, người sinh viên tiến hành hoạt động nhận thức có tính chất nghiên cứu trên cơ

sở khả năng tư duy độc lập, sáng tạo và phát triển ở mức độ cao Điều này có nghĩa dưới vai trò chủ đạo của giảng viên, sinh viên không tiếp nhận máy móc tri thức sẵn có, mà họ tiếp nhận kiến thức với óc phê phán, có thể khẳng định, hoài nghi, phủ định, lật ngược vấn đề, đào sâu hoặc mở rộng vv Mặt khác, trong quá trình học tập ở đại học, sinh viên cũng tham gia vào quá trình

Trang 15

tìm kiếm chân lí mới, đó là hoạt động nghiên cứu khoa học Quá trình nghiên cứu khoa học giúp sinh viên từng bước vận dụng tri thức khoa học, phương pháp luận khoa học, phương pháp nghiên cứu, tự tu dưỡng, rèn luyện những phẩm chất, tác phong của nhà nghiên cứu nhằm góp phần giải quyết một cách khoa học những vấn đề do thực tiễn xã hội, thực tiễn cuộc sống và thực tiễn nghề nghiệp đặt ra Rõ ràng có thể thấy, hoạt động học tập, nhận thức của sinh viên cao hơn quá trình học tập, nhận thức của học sinh phổ thông và tiếp cận với quá trình nhận thức của các nhà khoa học” 15 tr, 44

Nếu như quá trình dạy học ở bậc trung học phổ thông giúp hình thành ở người học thế giới quan khoa học, cơ sở nhân sinh quan khoa học và những phẩm chất của một người công dân nói chung thì quá trình dạy học đại học giúp hình thành ở người học thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng và những phẩm chất của một người cán bộ khoa học kỹ thuật, người cán bộ quản lí có trình độ cao

1.2 Đặc điểm về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học đại học và đặc điểm của quá trình dạy học ở các trường quân sự

1.2.1 Đặc điểm về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học đại học

Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học là hai thành tố đặc biệt quan trọng của quá trình dạy học đại học Hai thành tố này quyết định trực tiếp đến chất lượng của dạy học đại học

a Phương pháp dạy học đại học

Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt: “Phương pháp dạy học ở đại học là tổng hợp các cách thức hoạt động của giáo viên và sinh viên nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học ở đại học, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật, cán bộ quản lí, nghiệp vụ có trình độ đại học” 15 tr, 120

Phương pháp dạy đại học tạo nên cách thức hoạt động của giảng viên

và sinh viên trong trong quá trình tổ chức điều khiển hoạt động dạy và quá trình tổ chức, tự điều khiển hoạt động học Phương pháp dạy học đại học bị chi phối bởi nội dung dạy học đại học, tức là phương pháp dạy học đại học

Trang 16

phải phù hợp với nội dung dạy học đại học Nếu như lựa chọn và vận dụng hợp lí các phương pháp dạy học thì nội dung dạy học sẽ trở thành một bộ phận hữu cơ trong vốn kinh nghiệm riêng của sinh viên đại học

Phương pháp dạy học đại học mang những đặc điểm đặc trưng riêng biệt Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt, phương pháp dạy học đại học có các đặc điểm sau:

“Phương pháp dạy học đại học gắn liền với nghề nghiệp đào tạo ở trường đại học Đặc điểm này thể hiện tính mục đích đào tạo rõ nét của trường đại học, nó đòi hỏi phương pháp dạy học các bộ môn cơ bản, cơ sở và chuyên ngành phải hướng vào mục tiêu đào tạo của nhà trường, nó yêu cầu người giảng viên ngoài việc trang bị kiến thức khoa học còn cần phải chú ý rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp cho sinh viên

Phương pháp dạy học đại học gắn liền với thực tiễn xã hội, thực tiễn cuộc sống và phát triển của khoa học, công nghệ Đặc điểm này phản ảnh mối liên kết có tính quy luật giữa giáo dục – đào tạo với khoa học và sản xuất của các trường đại học Nó đòi hỏi người giáo viên trong quá trình giảng dạy phải luôn bám sát yêu cầu thực tiễn kinh tế - xã hội và sự phát triển của khoa học, công nghệ để kịp thời đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo ở đại học

Phương pháp dạy học đại học ngày càng tiếp cận với phương pháp nghiên cứu khoa học Đặc điểm này phản ánh yêu cầu cao về mục đích, nội dung dạy học ở đại học Nó đòi hỏi giáo viên trong quá trình giảng dạy phải chú ý trình bày các quan điểm khác nhau, các học thuyết khác nhau về một vấn đề nào đó, phải quan tâm bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên

Phương pháp dạy học đại học có tác dụng phát huy cao độ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của sinh viên Đặc điểm này một mặt phản ánh yêu cầu của mục đích, nội dung dạy học ở đại học, mặt khác phản ánh đặc điểm của đối tượng sinh viên Nó đòi hỏi thầy giáo phải tôn trọng ý kiến của sinh viên,

Trang 17

tổ chức, điều khiển sinh viên tích cực tham gia hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học

Phương pháp dạy học hiện đại rất đa dạng và thay đổi tuỳ theo loại trường đại học, đặc điểm của môn học, điều kiện, phương tiện dạy học, đặc điểm nhân cách của giảng viên và sinh viên Đặc điểm này phản ánh tính chất phong phú, phức tạp của hoạt động dạy học ở đại học; nó đòi hỏi người giảng viên trong quá trình dạy học phải vận dụng các phương pháp dạy học đại học một cách linh hoạt, sáng tạo, sao cho phù hợp với các yếu tố nói trên, đặc biệt

là đặc điểm của bộ môn và đối tượng sinh viên

Phương pháp dạy học đại học ngày càng gắn liền với các thiết bị và các phương tiện dạy học hiện đại Đặc điểm này phản ánh mối quan hệ hữu cơ giữa phương pháp và phương tiện dạy học; nó đòi hỏi người giáo viên, các cán bộ quản lí cần quan tâm tới việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho dạy học, phải tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là các phương tiện dạy học hiện đại nhằm đạt hiệu quả tối ưu trong dạy học”

15,tr.120122

b Hình thức tổ chức dạy học đại học

“Hình thức tổ chức dạy học ở đại học là hình thức hoạt động dạy học tổ chức theo trật tự và chế độ nhất định nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học đại học đã quy định Trong đó, có sự thể hiện thống nhất giữa mục đích, nhiệm vụ, nội dung, các phương pháp và phương tiện dạy học” 15 tr, 157

Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt: “Cho đến nay, vẫn chưa có sự phân loại rõ ràng về các hình thức tổ chức dạy học ở đại học Tuy nhiên, dựa theo lịch sử phát triển của các hình thức tổ chức dạy học nói chung, căn cứ vào kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn của các nhà lý luận dạy học, các cán bộ giảng dạy ở đại học, căn cứ vào tính chất và chức năng của các loại hình tổ chức dạy học ở đại học chúng ta có thể chia các hình thức tổ chức dạy học ở đại học thành 3 loại sau đây:

Loại 1: các hình thức tổ chức dạy học nhằm giúp sinh viên tìm tòi tri

Trang 18

thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo Các hình thức này bao gồm: diễn giảng, thảo luận, Xêmina, tự học, giúp đỡ riêng, làm bài tập, thí nghiệm, thực hành học tập và thực hành sản xuất, bài tập nghiên cứu, khóa luận, luận văn (đồ án) tốt nghiệp, dạy học chương trình hóa…

Loại 2: các hình thức tổ chức dạy học nhằm kiểm tra và đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của sinh viên Bao gồm các hình thức: kiểm tra, sát hạch, thi (thi học kỳ, thi lên lớp hoặc thi hết học phần, thi chuyển giai đoạn, thi tốt nghiệp), bảo vệ khóa luận, luận văn (đồ án) tốt nghiệp

Loại 3: các hình thức tổ chức dạy học có tính chất ngoại khóa Bao gồm: các nhóm ngoại khóa theo môn học của sinh viên, câu lạc bộ khoa học của sinh viên, các hình thức nghiên cứu và phổ biến khoa học của sinh viên, các hoạt động xã hội của sinh viên, hội nghị học tập của sinh viên…”

15,tr.157159

Trong quá trình dạy học ở các trường đại học hiện nay, các hình thức tổ chức dạy học hay được sử dụng như: diễn giảng, Xêmina, thực hành, tự học ở đại học và nghiên cứu khoa học Trong đó, nghiên cứu khoa học là hình thức đặc biệt quan trọng và không thể thiếu Bởi lẽ, qua nghiên cứu khoa học, sinh viên bước đầu tập vận dụng một cách tổng hợp những tri thức đã học về nghề nghiệp tương lai của mình, qua đó có thể mở rộng, đào sâu và hoàn thiện vốn hiểu biết của họ Trong quá trình học tập ở trường đại học, sinh viên thường tham gia các hình thức nghiên cứu khoa học theo mức độ từ thấp đến cao: làm bài tập nghiên cứu, khóa luận, luận văn tốt nghiệp (đồ án, thiết kế tốt nghiệp)

1.2.2 Đặc điểm của quá trình dạy học ở các trường quân sự

Các trường quân sự là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống nhà trường của mỗi quốc gia Ở nước ta, các trường quân sự là những trung tâm hàng đầu về đào tạo các cán bộ sĩ quan, nhân viên chuyên môn kỹ thuật cho Quân đội nhân dân Việt Nam; bồi dưỡng nâng cao trình độ quân sự, chính trị quân sự cho các cán bộ trong và ngoài quân đội

Quá trình dạy học trong các nhà trường quân sự vừa mang những đặc

Trang 19

điểm chung của quá trình dạy học và vừa mang những đặc điểm đặc thù riêng

Theo tác giả Đặng Đức Thắng: “Quá trình dạy học trong các nhà trường quân sự là một bộ phận của quá trình sư phạm nhà trường quân sự, là quá trình có mục tiêu, có tổ chức, phối hợp thống nhất giữa hoạt động của người dạy và người học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, năng lực nghề nghiệp quân sự, phát triển khả năng tư duy sáng tạo, giáo dục những phẩm chất cần thiết cho học viên đáp ứng yêu cầu của quân đội và xã hội”

26,tr.5859

“Quá trình dạy học trong nhà trường quân sự không chỉ diễn ra trong trường, lớp, phòng thí nghiệm mà còn ở hoạt động dã ngoại, trên không, trên biển, trong những tình huống gần với chiến đấu Quá trình dạy học được tiến hành trong môi trường hoạt động quân sự, tuân theo những yêu cầu kỷ luật quân sự Quá trình dạy học trong nhà trường quân sự không chỉ góp phần đào tạo một chuyên gia quân sự mà còn đào tạo họ trở thành nhà tổ chức, nhà sư phạm quân sự, nhà giáo dục, người thầy của cấp dưới” 26,tr.5960

a Nhiệm vụ của quá trình dạy học trong các nhà trường quân sự

Theo tác giả Đặng Đức Thắng, quá trình dạy học trong các nhà trường quân sự có nhiệm vụ sau đây:

“- Trang bị hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, năng lực tương ứng với ngành nghề, một chức danh quân sự nhất định Đây chính là nhiệm vụ

“dạy chữ, dạy nghề”, một nhiệm vụ cơ bản hàng đầu của quá trình dạy học trong các nhà trường quân sự Nhiệm vụ này đòi hỏi nhà trường quân sự phải làm cho cho người học có được hệ thống kiến thức khoa học cơ bản, cơ sở chuyên ngành, các kiến thức của khoa học tự nhiên, xã hội, quản lý, quân sự vv Bên cạnh đó phải giúp cho người học có được hệ thống các kỹ năng, kỹ xảo, năng lực tương ứng với chức trách, nghiệp vụ trong tương lai, hệ thống các kỹ năng hoạt động sáng tạo trong điều kiện hoạt động quân sự và các quy tắc, chuẩn mực thái độ ứng xử của người sĩ quan, người cán bộ quân đội

- Phát triển trí tuệ cho người học Quá trình dạy học trong nhà trường

Trang 20

quân sự còn thực hiện nhiệm vụ quan trọng khác là phát triển trí tuệ, phát triển khả năng sáng tạo cho học viên Đối với nghệ thuật quân sự, cần đặc biệt quan tâm phát triển tư duy lý luận, tư duy nghề nghiệp, bồi dưỡng phương pháp tự học, phương pháp nghiên cứu khoa học cho người học để họ có thể sử dụng chúng trong hoạt động nghề nghiệp quân sự

- Hình thành thế giới quan khoa học, lý tưởng, phẩm chất đạo đức cách mạng Đây chính là nhiệm vụ “dạy người” của quá trình dạy học trong các nhà trường quân sự Nhiệm vụ này nhằm hình thành ở người học các quan điểm, niềm tin đúng đắn, hình thành các chuẩn mực văn hoá, đạo đức, các nét tính cách, phẩm chất cần thiết của người cán bộ trong quân đội cách mạng

- Chuẩn bị tâm lí cho người học Đây là một nhiệm vụ đặc trưng của quá trình dạy học trong nhà trường quân sự Nhiệm vụ này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải hình thành cho người học tâm thế, sẵn sàng nhận nhiệm vụ, công tác trong mọi hoàn cảnh đa dạng của hoạt động quân sự” 26,tr.6264

b Nội dung dạy học trong nhà trường quân sự

Nội dung dạy học là một trong những thành tố của đặc trưng của quá trình dạy học đại học Trong nhà trường quân sự, nội dung dạy học là hệ thống các kiến thức khoa học, kỹ xảo, kỹ năng nghiệp vụ, phương pháp sáng tạo, chuẩn mực giá trị mà học viên cần chiếm lĩnh để hình thành, phát triển năng lực, phẩm chất của người cán bộ quân đội

Nội dung dạy học trong nhà trường quân sự chính là nội dung đào tạo các cán bộ, chuyên gia quân sự, nó phản ánh trình độ phát triển của khoa học nói chung, của khoa học và nghệ thuật quân sự nói riêng Mặt khác, nội dung dạy học trong các nhà trường quân sự còn là sự phản ánh và biểu hiện cụ thể yêu cầu của xã hội, của nhiệm vụ xây dựng và phát triển quân đội; đồng thời

là sự phản ánh năng lực nhận thức của học viên trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Theo tác giả Đặng Đức Thắng, nội dung dạy học trong các nhà trường quân sự bao gồm các bộ phận như sau:

- Hệ thống các kiến thức khoa học về tự nhiên, về xã hội, về tư duy, về

Trang 21

kỹ thuật quân sự Đây là một thành phần rất quan trọng của nội dung dạy học nhằm trang bị cho học viên những hiểu biết toàn diện, đúng đắn về thế giới quan, về nghề nghiệp mà họ đảm nhiệm; đồng thời tạo cơ sở xây dựng thế giới quan khoa học cho học viên trong nhà trường quân sự Theo tính chất và chức năng của các kiến thức trong quá trình đào tạo, thì hệ thống các kiến thức khoa học có thể chia thành ba loại: kiến thức cơ bản, kiến thức cơ sở chuyên ngành và kiến thức chuyên ngành

- Hệ thống kỹ năng, kỹ xảo, năng lực nghề nghiệp quân sự Đây chính

là những cách thức hành động đã được tự động hoá và cách thức vận dụng đúng đắn, sáng tạo các kiến thức được trang bị và năng lực được hình thành vào thực tiễn hoạt động quân sự để giải quyết các nhiệm vụ quân sự khác nhau Chính thông qua việc bồi dưỡng, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, năng lực nghề nghiệp quân sự đã góp phần tích cực trong việc giúp học viên nắm được cách thức vận dụng lí thuyết vào thực tiễn nhằm biến kiến thức chung thành vốn tri thức cá nhân của học viên; đồng thời tạo cơ sở tiền đề quan trọng cho học viên có khả năng tiến hành tự học, tự nghiên cứu khoa học và đặc biệt tiến hành hoạt động nghề nghiệp quân sự đạt được hiệu quả cao nhất

- Hệ thống những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo Hoạt động học tập của học viên trong nhà trường quân sự cũng như hoạt động nghề nghiệp quân

sự phải là hoạt động sáng tạo Do đó, quá trình dạy học phải tự trang bị cho học viên những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, nhằm giúp họ biết tổ chức hoạt động học tập của mình một cách tối ưu Mặt khác, trên cơ sở đó đảm bảo cho học viên sau khi tốt nghiệp dễ dàng thích ứng và xử lý sáng tạo những tình huống mà thực tiễn hoạt động quân sự đặt ra

- Hệ thống các giá trị và chuẩn mực về thái độ đối với tự nhiên, đối với

xã hội, đối với người khác và đối với bản thân Việc xác định hệ thống các giá trị và chuẩn mực đúng đắn trong nội dung dạy học trong các nhà trường quân

sự sẽ đảm bảo cho học viên có cách ứng xử đúng đắn, thích hợp đối với mối quan hệ trong quá trình học tập tại nhà trường và hoạt động nghề nghiệp quân

Trang 22

sự sau này Trên cơ sở đó hình thành cho học viên những nhận thức đúng đắn, những tình cảm tốt đẹp, những thái độ và hành động đúng đắn trong mọi tình huống khác nhau của thực tế cuộc sống và thực tiễn hoạt động quân sự

c Hình thức tổ chức dạy học trong các nhà trường quân sự

Hình thức tổ chức dạy học trong các nhà trường quân sự cơ bản giống với các hình thức tổ chức dạy học ở các trường đại học, trung học chuyên nghiệp thông thường Tuy nhiên, ở các nhà trường quân sự hệ thống các hình thức dạy học đươc xác định theo tiến trình dạy học và tính chất hoạt động phối hợp giữa người dạy và người học, có tính đến những nét đặt thù của hoạt động dạy học trong lĩnh vực quân sự Quá trình dạy học trong nhà trường quân sự không chỉ diễn ra trong trường, lớp, phòng thí nghiệm mà còn ở hoạt động dã ngoại, trên không, trên biển, trong những tình huống gần với chiến đấu Quá trình dạy học được tiến hành trong môi trường hoạt động quân sự, tuân theo những yêu cầu kỷ luật quân sự

1.3 Dạy học dự án

1.3.1 Thế nào là dạy học dự án

Dạy học dự án là mô hình dạy học được tiến hành thông qua quá trình người học giải quyết một tình huống thực tiễn gắn nội dung học tập (gọi là dự án) để đạt được mục đích của quá trình dạy học

Theo GPS TS Đỗ Hương Trà: “Dạy học dự án không đặt nặng mục tiêu dạy kiến thức mà xuất phát từ nội dung học giáo viên khéo léo đưa ra một

dự án hấp dẫn, kích thích người học tham gia thực hiện Người học trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ được giao tất nhiên phải tự tìm hiểu những nội dung cần học thông qua các nguồn tài liệu và thông qua trao đổi một cách có định hướng: các nhiệm vụ cần thực hiện, phiếu đánh giá kết quả thực hiện từng nhiệm vụ” 26 tr, 247

Dạy học dự án hướng đến phát triển kiến thức, kỹ năng và năng lực của người học Dự án đặt người học vào vai trò như: người giải quyết vấn đề, người ra quyết định, điều tra viên hay người viết báo cáo Khi học, người học

Trang 23

thường làm việc theo nhóm và hợp tác với các chuyên gia bên ngoài cộng đồng để trả lời các câu hỏi và hiểu sâu hơn nội dung, ý nghĩa của bài học Học theo dự án đòi hỏi người học phải nghiên cứu và thể hiện kết quả học tập của mình thông qua cả sản phẩm lẫn phương thức thực hiện

1.3.2 Mục tiêu của dạy học dự án

Mục tiêu của dạy học dự án hướng tới phát triển năng lực tư duy bậc cao như phân tích, tổng hợp, đánh giá, sáng tạo và phát triển kỹ năng sống như kỹ năng hợp tác, làm việc độc lập vv

Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập, người học tìm kiếm thông tin (trong đó có nội dung bài học), xử lý thông tin, phê phán, đánh giá, lựa chọn công cụ (kiến thức, công nghệ…) để thực hiện nhiệm vụ học tập Cũng trong quá trình học tập, chính người học là người đề xuất vấn đề cần giải quyết, quyết định cách thức tiến hành và trực tiếp tiến hành dự án Quá trình này giúp phát triển ở người học năng lực phân tích, tổng hợp, đánh giá

và sáng tạo

Dạy học dự án tạo môi trường học tập của người học giống với thực tiễn cuộc sống, ở đó, người học phải tự giải quyết những vấn đề của thực tiễn đặt ra Trong quá trình học tập, mỗi thành viên thực hiện một phần trong dự

án tổng thể Điều này đòi hỏi người học phải đặt mình trong một tổ chức có

sự liên minh chặt chẽ, vừa có sự chuyên môn hoá cao và vừa có sự hợp tác chặt chẽ giữa các thành viên trong nhóm học tập

Khi tiến hành dự án, năng lực tư duy bậc cao như phân tích, tổng hợp, đánh giá, sáng tạo và kỹ năng sống như kỹ năng hợp tác, làm việc độc lập vv sẽ được phát triển

1.3.3 Đặc điểm của dạy học dự án

Theo phân tích của PGS TS Đỗ Hương Trà, dạy học dự án gồm những đặc điểm sau:

“a) Thiết lập mối liên hệ giữa nội dung học tập với cuộc sống ngoài học

đường, hướng tới các vấn đề của thực tiễn sinh động đang diễn ra

Trang 24

Nhiều nội dung học (thường là các kiến thức cổ điển) có rất ít mối liên

hệ với cuộc sống ngày hôm nay, sách giáo khoa lại luôn thiếu tính cập nhật nên những ứng dụng trong sách nhanh chóng lạc hậu Điều đó làm cho ý nghĩa của việc học trở nên khó thuyết phục khiến người học không thể hứng thú

Dạy học dự án làm cho nội dung học trở nên có ý nghĩa thực tiễn là cách làm cho người học hứng thú với việc học tập Học sinh đóng vai và thực hiện hành vi của những người đang hoạt động trong một lĩnh vực cụ thể nào

đó và qua các dự án đó, người học được tham gia vào những hoạt động đời thường có ý nghĩa vượt qua khỏi phạm vi lớp học

b) Phát triển những kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn

Phát hiện vấn đề cần giải quyết là kỹ năng quan trọng giúp con người làm chủ cuộc sống, làm chủ công việc Phát hiện và thúc đẩy sự xuất hiện, tiến triển của vấn đề theo ý muốn của mình là cách để con người thành công trong cuộc sống và công việc trong thời hiện đại

Quá trình khám phá, tìm hiểu bao gồm một loạt các hoạt động để thỏa mãn óc tò mò bẩm sinh của con người về thế giới Trong dạy học dự án, việc khám phá tìm hiểu này mang một ý nghĩa cụ thể hơn, người học được khuyến khích đặt câu hỏi, lập kế hoạch, tiến hành tìm hiểu, quan sát và suy nghĩ về những gì mình đã khám phá

Có thể coi dạy học dự án là một tập con trong dạy học khám phá Một nghiên cứu về dạy học dự án kết luận rằng, dự án như vậy thường tập trung vào những câu hỏi hoặc vấn đề “thôi thúc người học phải đối mặt” và “chiến đấu” với những khái niệm và nguyên tắc trọng tâm của môn học Hơn nữa, những hoạt động chính trong dự án đã bao hàm quá trình, khám phá tìm hiểu, giải quyết vấn đề cấu trúc kiến thức của người học

c) Tạo cơ hội cho người học tự tìm hiểu chính mình, tự khẳng định mình

Dạy học truyền thống với các nội dung học thường mang tính hàn lâm,

lý thuyết chỉ phù hợp với số ít người học có tiềm năng phát triển tư duy suy

Trang 25

luận lôgic, còn với số đông người học có phong cách học khác kiểu dạy học này có thể gây ra áp lực làm cho họ mất dần sự tự tin vào bản thân Dạy học

dự án cũng như nhiều chiến lược dạy học tích cực khác là dạy học đa phong cách, giúp cho người học có cơ hội phát hiện và phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu của mình

d) Phát triển năng lực

Dạy học dự án giúp phát triển khả năng giao tiếp, hợp tác, quản lý, điều hành, ra quyết định… là những kỹ năng sống rất quan trọng quyết định sự thành công của con người trong mọi lĩnh vực hoạt động của thế kỷ XXI Rèn luyện những kỹ năng sống là mục tiêu của nhiều mô hình dạy học tích cực hiện nay e) Phát triển kỹ năng tư duy bậc cao (tổng hợp, đánh giá)

Phát triển tư duy bậc cao ngay trong quá trình học tập là mục tiêu có thể và cần phải đạt tới ở các cấp học khác nhau Ở đây, quan điểm phát triển

tư duy một cách tuần tự từ thấp đến cao không còn là quan điểm phù hợp với tất cả người học vốn có phong cách tư duy khác nhau Để giải quyết một vấn

đề thực tiễn người học phải phân tích, so sánh, đánh giá, lựa chọn thông tin, giải pháp, phải tự thiết kế tổng thể kiến thức mới ngay trong quá tình xử lý những thông tin (kiến thức) tìm được liên quan của thông tin đã xử lý với vấn

đề cần giải quyết

f) Tạo điều kiện cho nhiều phong cách, tiềm năng học tập khác nhau, tạo môi trường cho sự hòa trộn, thúc đẩy lẫn nhau trong người học vì sự phát triển toàn diện

Dạy học dự án và nhiều các mô hình dạy học tích cực khác đều nhằm thu hút những người học có phong cách học tập, tư duy khác nhau, hợp tác với nhau cùng giải quyết một vấn đề thực tiễn Trong dạy học, sự lặp lại, nhàm chán có thể khiến người học không còn thấy ý nghĩa của các nội dung được học Trong dạy học dự án với nhiệm vụ giải quyết một số vấn đề có thực trong cuộc sống mà nội dung cần học chỉ là một phần trong số thông tin mà người học có thể và phải tìm kiếm và xử lý, làm cơ sở cho việc giải quyết vấn

Trang 26

đề Khi đó, nội dung cần học không còn khô khan nữa mà nó thực sự có ý nghĩa, hiểu biết của người học luôn vượt ra khỏi khuôn khổ nội dung học và tiến đến gần thực tiễn hơn

Để giải quyết tốt vấn đề tất cả người học trong một nhóm phải thực sự cộng tác, phải hiểu nhau, phải biết điểm mạnh, điểm yếu của nhau, nhiều người học tỏ ra kém cỏi trong dạy học truyền thống lại thường có nhiều ý tưởng hay, mới lạ, thường có những điểm mạnh mà nhiều người học khác không có Qua sự hợp tác với nhau, mỗi người học tự khẳng định được điểm mạnh của mình, họ cảm thấy tự tin và thầy cần phải cố gắng hơn trong cả những giờ học kiểu truyền thống Còn với số người học trong kiểu dạy học truyền thống được đánh giá tốt cũng tự nhìn thấy những điểm mạnh (tư duy suy luận lôgic) và hạn chế (ý tưởng, phương án…) của mình, họ học tập được nhiều điều ở những người học có phong cách học tập khác Hợp tác làm cho người học thấy khả năng cũng như hạn chế, điểm mạnh cũng như điểm yếu của mình và bạn, thấy được rằng cá nhân mỗi người khó có thể có khả năng giải quyết và giải quyết tốt tất cả các vấn đề khác nhau trong học tập, nghề nghiệp

và cuộc sống mà cần phải biết hợp tác, tương trợ lẫn nhau, thấy được rằng xung quanh họ không có ai là hoàn toàn yếu kém mà ngược lại mỗi người có điểm mạnh riêng mà mình có thể hợp tác tốt trong nhiều vấn đề cụ thể

g) Làm cho nhiệm vụ học tập tới tất cả mọi người học

Mỗi người học đều phải đóng góp vào quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập, đó là trách nhiệm, đồng thời cũng là mong muốn được tự khẳng định mình của mỗi cá nhân

h) Kết quả thực hiện dự án phải là những sản phẩm có thể trưng bày, trình bày được, đó là kết quả của việc giải quyết các vấn đề thực tiễn cuộc sống

Các sản phẩm này có thể là một bài trình diễn đa phương tiện, một trang web, một ấn phẩm, hay một mô hình vật thật (mô hình mạch điện cầu thang, mô hình máy báo cháy, mô hình phanh từ…) có các chức năng vận hành như vật thật hoặc các thí nghiệm để kiểm chứng một thông tin (từ các

Trang 27

quả chanh người ta có thể làm ra điện…)”25,tr.248250

1.3.4 Nội dung Vật lý có thể tổ chức dạy học dự án

Từ đặc điểm gắn liền với thực tiễn cuộc sống cho nên Vật lý là môn học có nhiều cơ hội tổ chức dạy học dự án

Có thể tổ chức dạy học dự án những nội dung kiến thức ứng dụng của vật lý trong kỹ thuật và đời sống Vật lý là môn học có rất nhiều những ứng dụng trong kỹ thuật và đời sống Ví như những kiến thức về chuyển động cơ học có thể áp dụng nghiên cứu những chuyển động gần gũi trong thực tế như chuyển động của chiếc ô tô, chuyển động của một học sinh khi thực hiện bài tập thể dục môn nhảy xa vv Những kiến thức về dòng điện trong chất bán dẫn là cơ sở cho những ứng dụng kỹ thuật chế tạo bảng đèn điện tử quảng cáo Những kiến thức về mạch dao động điện từ là cơ sở cho những ứng dụng cho việc chế tạo ra máy phát, thu sóng điện từ Tuy nhiên không phải bất kỳ kiến thức ứng dụng của môn Vật lý cũng có thể tiến hành dạy học dự án được Những ứng dụng phức tạp, đòi hỏi kỹ thuật cao, cơ sở vật chất hiện đại và chứa đựng những rủi ro thì không nên tiến hành tổ chức dạy học theo dự án

Dạy học dự án cũng có thể tiến hành với những nội dung Vật lý mà có thể vận dụng để giải quyết các vấn đề thực tiễn thu hút được cộng đồng quan tâm, đặc biệt là những vấn đề đó đã và đang đặt ra những thách thức đối với cộng đồng, những vấn đề mà cộng đồng đòi hỏi cần có sự giải quyết thấu đáo Những nội dung kiến thức này có thể kể đến như: ứng dụng của phản ứng hạt nhân, định luật phân rã phóng xạ trong vấn đề nhà máy điện hạt nhân, bom hạt nhân, sự cố phóng xạ Mức độ quan tâm của cộng đồng càng cao, tính cấp thiết của vấn đề càng lớn thì càng thu hút được sự quan tâm của người học

1.3.5 Các loại dự án học tập

Tuỳ theo cách phân loại mà có các loại dự án học tập khác nhau Theo

GS TS Đỗ Hương Trà:

“a) Phân loại theo chuyên môn

Dự án trong môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học Ví

Trang 28

du: dự án thiết kế mạch điện trong trường học, thiết kế hệ thống đèn báo trên

xe khách, dự án thiết kế mô hình các máy điện (môn Vật lý), dự án tìm hiểu virut cúm gia cầm (môn Sinh học), dự án thiết kế mô hình nhà máy hóa chất Sunphat (môn Hóa học)…

Dự án liên môn: trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau Ví dụ: dự án cải tạo hồ bơi của trường (toán - lý - mỹ thuật - kỹ thuật)

Dự án ngoài chuyên môn: là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học, ví dụ dự án chuẩn bị cho các lễ hội trong trường, dự án tìm hiểu năng lượng mặt trời, dự án quảng bá du lịch địa phương

b) Phân loại theo sự tham gia của người học

Dự án cho nhóm người học, dự án cá nhân Dự án dành cho nhóm người học là hình thức dự án dạy học chủ yếu Trong trường phổ thông còn có

dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học c) Phân loại theo sự tham gia của giáo viên

Dự án dưới sự hướng dẫn của một giáo viên, dự án với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều giáo viên

d) Phân loại theo quỹ thời gian

K.Frey đề nghị cách phân chia sau:

Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2 - 6 giờ học

Dự án trung bình: dự án trong một số ngày nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học

Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay 40 giờ học) có thể kéo dài nhiều tuần

Cách phân chia theo thời gian này thường áp dụng ở trường phổ thông Trong đào tạo đại học, có thể quy định quỹ thời gian lớn hơn

e) Phân loại theo nhiệm vụ

Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của dự án, có thể phân loại các dự án theo các dạng sau:

Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng Ví dự dự án tìm

Trang 29

hiểu các hiện tượng thời tiết…

Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, quá trình

Dự án thực hành: có thể gọi là dự án kiến tạo sản phẩm, trọng tâm là việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như: trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác

Dự án hỗn hợp: là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên Các dạng dự án không hoàn toàn tách biệt nhau, trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng”

25,tr.251252

1.3.6 Các bước chuẩn bị của giáo viên và học sinh cho một dự án học tập

Theo phân tích của PGS TS Đỗ Hương Trà, để triển khai dạy học dự

án, cần tiến hành các bước chuẩn bị sau:

“a) Triển khai bài học thành dự án, xác định các chuẩn kiến thức và thiết lập mục tiêu học tập

Bước đầu tiên trong việc thiết kế dự án là xác định những chuẩn kiến thức mà giáo viên muốn người học đáp ứng được khi hoàn thành dự án Sau

đó, từ những chuẩn kiến thức này phát triển cả mục tiêu học tập và những câu hỏi có ý nghĩa Có 3 mục tiêu học tập cần phải nhắm tới đó là: mục tiêu về kiến thức, mục tiêu về kỹ năng và mục tiêu về thái độ Trong đó, chú ý thiết lập những mục tiêu tập trung vào những hoạt động học tập với tư duy bậc cao chứ không phải là những kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin

Từ nội dung bài học (thường là những bài học có nhiều ứng dụng trong thực tiễn), giáo viên hình thành ý đồ tổ chức bài học thành dự án và suy nghĩ

Trang 30

mặt (ví dụ như: khủng hoảng năng lượng, ô nhiễm môi trường, thiên tai, tai nạn giao thông…)

- Biết từ bỏ những nội dung mà chương trình buộc phải dạy theo phương pháp truyền thống

- Lựa chọn các nội dung thích hợp và chỉnh sửa chúng cho phù hợp với mục tiêu của dự án đề ra

Trong chương trình vật lý, có một số nội dung thích hợp để tổ chức dạy học dự án như:

+ Các dự án liên quan đến việc khai thác, sử dụng năng lượng mặt trời, sức nước, sức gió

+ Các dự án liên quan đến các ứng dụng của nội dung học trong kỹ thuật và đời sống (các sản phẩm kỹ thuật thông dụng như: động cơ, máy phát điện, thiết bị điện gia dụng, các máy móc, công cụ lao động, các phương tiện thông tin liên lạc, nghe nhìn…)

+ Các dự án có tính chất tạo mối quan hệ liên môn như: sử dụng vật liệu (hóa, lý, công nghệ), các phương tiện kỹ thuật dùng trong ngành y học, sinh học, môi trường…

+ Các dự án có tầm vóc thời đại, mang tính liên môn cao có thể thực hiện chung với các môn học khác theo hướng như: an toàn phóng xạ, chế ngự thiên tai, ngăn ngừa thảm họa, xử lý môi trường…

b) Xây dựng bộ câu hỏi định hướng bài dạy

Những câu hỏi này giúp các dự án tập trung vào những kiến thức quan trọng Chúng khuyến khích người học vận dụng các kỹ năng tư duy bậc cao, giúp người học hiểu được trọn vẹn các khái niệm cơ bản và hình thành được

hệ thống kiến thức Những câu hỏi này còn đảm bảo các dự án của người học

có tính hấp dẫn và thuyết phục, chú trọng đến các yêu cầu phân tích, tổng hợp, đánh giá hơn là chỉ đơn giản là trình bày các sự kiện

Bộ câu hỏi định hướng bao gồm các câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học

và câu hỏi nội dung

Trang 31

- Câu hỏi khái quát: là những câu hỏi mở, hướng đến những ý tưởng lớn và những khái niệm mang tính bền vững Câu hỏi khái quát thường mang tính liên môn và giúp người học thấy được sự liên quan giữa các môn học hoặc môn học và bài học với nhau Đó là những câu hỏi không thể trả lời thỏa đáng chỉ bằng một mệnh đề

Những câu hỏi khái quát thường có những đặc điểm riêng sau:

+ Là yếu tố trọng tâm của dạy học dự án: những câu hỏi khái quát có thể tìm thấy trong rất nhiều vấn đề còn đang tranh cãi ở nhiều lĩnh vực nghiên cứu

+ Lặp lại một cách tự nhiên thông qua người học và lịch sử của môn học Những câu hỏi quan trọng được lặp đi lặp lại Các câu trả lời của học sinh có thể ngày càng trở nên phức tạp hơn và phản ánh nhiều sắc thái mới nhưng họ vẫn còn và sẽ còn quay lại những câu hỏi đó

+ Dẫn đến những câu hỏi quan trọng khác: câu hỏi khái quát sẽ mở rộng vấn đề, mở rộng tính phức tạp và phong phú của chủ đề, gợi mở hướng nghiên cứu chứ không dẫn đến những kết luận sớm hay những câu trả lời mơ hồ

Các câu hỏi khái quát giúp giáo viên tập trung vào các khía cạnh quan trọng trong chương trình suốt năm học và có ý nghĩa xuyên suốt các lĩnh vực của môn học Câu hỏi khái quát đề cập đến những ý quan trọng xuyên suốt nội dung nhiều lĩnh vực (khoa học, văn học, lịch sử…) Câu hỏi khái quát tập chung vào vấn đề, mối quan tâm hoặc các chủ đề được đề cập trong các bài khác

Đối với người học, câu hỏi khái quát cần thích hợp, hấp dẫn, được đề xuất phù hợp với lứa tuổi và ngôn ngữ của người học, câu hỏi khái quát giúp phát triển trí tưởng tượng và tạo mối liên hệ giữa môn học với kiến thức và ý tưởng của người học Do không có một câu trả lời hiển nhiên “đúng” nên người học được thử thách trong việc tìm ra các kết quả khác nhau, câu hỏi khái quát khuyến khích thảo luận và nghiên cứu chuyên sâu, đặt nền tảng cho các câu hỏi sau này

- Câu hỏi bài học:

Câu hỏi bài học có liên quan trực tiếp đến dự án, hỗ trợ việc nghiên cứu

Trang 32

câu hỏi khái quát Các câu hỏi và bài học cũng là câu hỏi mở, giúp người học thể hiện hiểu biết của mình về những khái niệm cốt lõi của một dự án

Các câu hỏi bài học có những đặc điểm riêng sau:

+ Đưa ra các chỉ dẫn liên quan đến chủ đề và môn học cụ thể đối với câu hỏi khái quát Các câu hỏi bài học được thiết kế để chỉ ra và khai thác những câu hỏi khái quát thông qua chủ đề

+ Không có câu trả lời đúng duy nhất: các câu trả lời đối với các câu hỏi bài học không thuộc loại tự minh chứng Các câu hỏi bài học thường mở

ra và gợi ý những hướng nghiên cứu, bàn luận Chúng khai thác các phương diện, tính phức tạp, phong phú của vấn đề Chúng được dùng để khởi đầu cho một sự tranh luận, hợp tác chứ không phải dẫn đến một câu trả lời rõ ràng

+ Được thiết kế nhằm khuyến khích và duy trì hứng thú của người học Các câu hỏi bài học sẽ có hiệu quả cao hơn nếu như chúng được thiết kế với mục đích khuyến khích người học Những câu hỏi như thế thường thúc đẩy

sự tranh luận và làm phương tiện để duy trì sự khám phá của người học Các câu hỏi bài học nên có tính mở để phù hợp với các sở thích khác nhau, các kiểu học khác nhau, cho phép có những câu trả lời duy nhất ứng với câu hỏi và hướng tiếp cận sáng tạo, thậm chí cả những vấn đề mà giáo viên không đề cập

Nhiều câu hỏi bài học trong một khóa học có thể khám phá ra nhiều khía cạnh khác nhau của các câu hỏi khái quát Các nhóm giáo viên của nhiều môn học khác nhau có thể sử dụng các câu hỏi bài học của mình để hỗ trợ một câu hỏi khái quát chung, thống nhất Những câu hỏi bài học hướng tới các độ tuổi khác nhau có thể hỗ trợ một câu hỏi khái quát tổng hợp được phát triển xuyên suốt nhiều cấp học

Sự khác biệt giữa câu hỏi bài học và câu hỏi khái quát không quá rõ ràng, ngược lại, chúng nên được xem như là một thể thống nhất Điểm mấu chốt không phải là để ngụy biện về việc cho trước một câu hỏi, đó là câu hỏi bài học hay câu hỏi khái quát mà là để chú trọng đến mục đích lớn hơn của

nó, đó là: định hướng cho việc học, khuyến khích người học, liên kết đến

Trang 33

nhiều câu hỏi cụ thể hơn, nhiều câu hỏi tổng quát hơn và hướng dẫn khám phá, khai thác những ý tưởng hay, quan trọng

- Câu hỏi nội dung:

Là những câu hỏi cụ thể mang tính sự kiện với một số lượng giới hạn các câu trả lời đúng Thường thì câu hỏi nội dung liên quan đến định nghĩa, sự nhận biết và gợi nhớ thông tin mang tính tổng quát - tương tự như loại câu hỏi thường thấy trong các bài kiểm tra Câu hỏi nội dung hỗ trợ quan trọng cho câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học

- Thiết kế một áp phích hay tờ rơi có hình thức ấn tượng, thuyết phục

để tuyên truyền, cảnh báo nếu cần

- Thiết kế một website cung cấp những hiểu biết sâu hơn cho những ai muốn biết, cung cấp thêm những thông tin cập nhật, liên hệ để trao đổi, tư vấn

về vấn đề dự án nghiên cứu

Làm thế nào để khi thực hiện xong một dự án như thế chắc chắn người học trả lời tốt bộ câu hỏi định hướng

Thiết kế tài liệu hỗ trợ giáo viên và học sinh

Giáo viên chuẩn bị những hỗ trợ cần thiết cho học sinh trong quá trình thực hiện các sản phẩm dự án:

Trang 34

- Một số sản phẩm minh họa

- Nội dung bài học

- Các nguồn tài liệu tham khảo

- Các mẫu phiếu đánh giá từng sản phẩm

- Sổ theo dõi dự án

Chuẩn bị tài liệu hỗ trợ giáo viên: trong quá trình hướng dẫn người học thực hiện các bài tập giáo viên cần chuẩn bị cho mình tất cả những gì có thể

để hỗ trợ người học được tốt nhất

Chuẩn bị các điều kiện cho dự án

Hướng dẫn học sinh lựa chọn thực hiện dự án và trình bày các sản phẩm” 25,tr.256263

1.3.7 Vai trò của giáo viên và người học

Có sự khác biệt lớn về vai trò của giáo viên và vai trò của người học so với phương pháp dạy học truyền thống Trong dạy học dự án, giáo viên và người học có những vai trò sau:

a Vai trò của người học

Người học là người đề xuất ý tưởng dự án, xác định chủ đề dự án, phương thức tiến hành và làm ra sản phẩm của dự án

Như vậy tuỳ theo dự án, người học đóng những vai trò khác nhau thuộc những ngành nghề khác nhau của xã hội Người học có thể đóng vai trong là một nhà khoa học nghiên cứu về một vấn đề nào đó, ví dụ đóng vai trò là một nhà khoa học hạt nhân nghiên cứu về bom hạt nhân Người học có thể đóng vai trò là một tổng công trình sư, là kỹ sư; là một bác sỹ, một nhà quản lý vv… Trên những vai trò riêng của mình, người học phải đưa ra ý tưởng về dự án; người học phải phác thảo được sản phẩm dự kiến của dự án, phương án thực hiện dự án, các điều kiện để thực hiện phương án đó; người học tự tìm kiếm, xử lý thông tin (bao gồm cả kiến thức của nội dung học tập và những kiến thức thực tiễn liên quan); người học là người phải thuyết trình, giới thiệu

và trình bày về sản phẩm dự án

Trang 35

b Vai trò của giáo viên

Giáo viên không dạy nội dung bài học mà đóng vai trò như một cố vấn Giáo viên tạo ra tình huống, môi trường để gắn vai trò của người học với nội dung bài học Giáo viên không phải cầm tay chỉ việc mà chỉ tạo ra sự hỗ trợ cần thiết cho người học khi người học sai lầm hoặc gặp những khó khăn không thể vượt qua

Giáo viên cũng là người theo dõi quá trình làm việc của người học, đánh giá thành quả làm việc của người học và là người tạo động lực cho người học

1.4 Đặc điểm và thực trạng dạy học bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá

1.4.1 Mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá

Trường Sĩ quan Phòng hoá là nơi đào tạo ra các cán bộ đầu ngành cho

bộ đội Hoá học Bộ đội Hoá học là lực lượng chuyên môn của Quân đội nhân dân Việt Nam, với những trang bị đặc chủng có chức năng bảo đảm hoá học cho công tác tác chiến và làm nòng cốt trong phòng chống vũ khí huỷ diệt lớn (vũ khí hạt nhân, vũ khí hoá học và vũ khí sinh học)

Đối tượng đào tạo của Nhà trường khá đa dạng, bao gồm các đối tượng bậc sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và đại học Trong đó đối tượng đào tạo bậc đại học là đối tượng đào tạo nòng cốt của Nhà trường Mục tiêu đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá bao gồm: Đào tạo những thanh niên, quân nhân có đủ tiêu chuẩn quy định trở thành Sĩ quan Chỉ huy – Kỹ thuật hoá học cấp phân đội, có phẩm chất chính trị vững vàng và có đạo đức cách mạng trong sáng; có trình độ đại học; có năng lực chuyên môn và sức khoẻ tốt

để hoàn thành nhiệm vụ được giao Học viên tốt nghiệp đảm bảo chức vụ ban đầu là trung đội trưởng hoá học, phát triển lên cương vị đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng và các chức vụ tương đương, có khả năng phục vụ lâu dài trong quân đội Những kỹ, chiến thuật cơ bản cần hình thành cho người học là những kỹ, chiến thuật về trinh sát, xử lý các tình huống về chất độc hoá học,

Trang 36

chất phóng xạ

Với những mục tiêu đào tạo đó, Nhà trường xác định môn Vật lý, đặc biệt là nội dung về phóng xạ và phản ứng hạt nhân là nội dung quan trọng trong chương trình đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá

1.4.2 Đặc điểm về đối tượng đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá

Đào tạo bậc đại học là nhiệm vụ mũi nhọn của Nhà trường Đối tượng đào tạo là những thanh niên có sức khoẻ tốt, đã tốt nghiệp trung học phổ thông, có trình độ học vấn nhất định, được tuyển chọn từ kỳ thi đại học, thi khối A của Bộ Giáo dục và Đào tạo Điểm chuẩn đầu vào của Nhà trường trên mức điểm sàn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và dao động từ 13 đến 21 điểm, tuỳ thuộc vào từng năm Các học viên được tuyển chọn vào học bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá đều có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có lòng yêu quân đội, yêu nghề nghiệp, mong muốn trở thành sĩ quan chỉ huy của bộ đội Hoá học Cuộc sống trong quân đội giúp các học viên

có điều kiện tiếp xúc và và hình thành ở họ những mối quan tâm sâu sắc đến tình hình chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật, quân sự trong và ngoài nước Đây là điểm thuận lợi để tiến hành dạy học dự án

Môn Vật lý được đưa vào giảng dạy ở cuối năm thứ nhất Trước khi học môn Vật lý, học viên đã trải qua sáu tháng huấn luyện ở trường đại học Trần Quốc Tuấn (trường Sĩ quan Lục quân) để trở thành những người lính thực thụ Các học viên đều quen với môi trường quân đội, có tính kỷ luật cao,

có tính thần vượt khó, không ngại khó khăn gian khổ, luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao Trải qua một khoảng thời gian dài trong quân đội, các học viên rèn luyện được tính tự giác, khả năng làm việc độc lập

và khả năng hoạt động tập thể, làm việc nhóm Đây là điểm mạnh để triển khai làm việc nhóm trong thực hiện dạy học dự án Trước khi học môn Vật lý, các học viên còn học qua môn học Toán cao cấp; đã học qua hoặc đang học môn Hoá học đại cương, Tin học, Tiếng Anh, Triết học vv Chương trình Vật lý ở cả hai cấp học: trung học cơ sở và trung học phổ thông giúp các em

Trang 37

có một nền tảng kiến thức vật lý nhất định

Tuy nhiên, sống trong một môi trường luôn đề cao tính kỷ luật, kỷ luật

là sức mạnh và là phương châm hoạt động, những công việc sinh hoạt, học tập của các học viên phải tiến hành theo những chế độ quy định sẵn mang tính bất di bất dịch cũng ít nhiều tạo ra sự thụ động nhất định ở học viên

Nhìn chung, đối tượng đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá

là các học viên có một thế giới quan khá phong phú, có một trình độ khoa học

cơ bản nhất định, có tinh thần kỷ luật nghiêm, có đạo đức tốt, có kinh nghiệm khả năng làm việc nhóm và có khả năng làm việc độc lập Những đặc điểm đó tạo nên những thuận lợi nhất định cho việc tổ chức dạy học dự án

1.4.3 Thực trạng của viêc dạy học nói chung và việc dạy học nội dung kiến thức “phản ứng hạt nhân” môn Vật lý chương trình đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá

Trong những năm gần đây, trường Sĩ quan Phòng hoá đẩy mạnh việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo tinh thần Nghị quyết số 86 của Đảng uỷ Quân sự Trung ương (nay là Quân uỷ Trung ương) về công tác giáo dục – đào tạo trong tình hình mới, theo tinh thần “Đẩy mạnh vận dụng phương pháp dạy học hiện đại, sát thực tế, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và bồi dưỡng năng lực tư duy, rèn luyện năng lực hoạt động thực tiễn cho người học ” 11 tr, 21 đã được tiến hành Tuy nhiên, việc đổi mới thiếu tính đồng bộ và đặc biệt việc áp dụng kiểu tổ chức dạy học hiện đại, phương pháp dạy học hiện đại vào dạy học còn diễn ra chậm

Để đánh giá thực trạng này, chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng việc dạy học ở trường Sĩ quan Phòng hoá:

* Thành phần và số lượng người tham gia trả lời phiếu điều tra:

- Giảng viên đã và đang dạy học trường Sĩ quan Phòng hoá: 40

- Học viên trường Sĩ quan Phòng hoá: 100

* Câu hỏi điều tra:

- Câu hỏi điều tra đối với học viên: Các giảng viên ở trường Sĩ quan

Trang 38

Phòng hoá thường sử dụng hình thức dạy học nào trong quá trình dạy học?

- Câu hỏi điều tra đối với giảng viên: Đồng chí thường sử dụng hình

thức dạy học nào trong quá trình dạy học?

Trong phiếu điều tra, chúng tôi đưa ra các hình thức dạy học đại học mà tác giả Đặng Vũ Hoạt đề cập và một số hình thức tổ chức dạy học hiện đại

Các hình thức dạy học đại học mà tác giả Đặng Vũ Hoạt đề cập bao gồm:

- Các hình thức tổ chức dạy học nhằm giúp sinh viên tìm tòi tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo như: diễn giảng, thảo luận, Xêmina, tự học, giúp đỡ riêng, làm bài tập, thí nghiệm, thực hành học tập và thực hành sản xuất, bài tập nghiên cứu, khóa luận, luận văn (đồ án) tốt nghiệp, dạy học chương trình hóa…

- Các hình thức tổ chức dạy học có tính chất ngoại khóa như: các nhóm ngoại khóa theo môn học của sinh viên, câu lạc bộ khoa học của sinh viên, các hình thức nghiên cứu và phổ biến khoa học của sinh viên, các hoạt động

xã hội của sinh viên, hội nghị học tập của sinh viên…

Một số hình thức tổ chức dạy học hiện đại như: dạy học theo góc, dạy học dự án, dạy học theo chủ đề, Lamap

Bảng 1.1 Tổng hợp kết quả phiếu điều tra về hình thức dạy học ở trường Sĩ quan Phòng hoá

Hình thức dạy học giảng viên thường

lựa chọn

Số ý kiến của giảng viên

Số ý kiến của học viên

Theo kết quả phiếu điều tra, các hình thức dạy học ở trường Sĩ quan Phòng hoá chủ yếu là diễn giảng, thực hành, thảo luận Những kiểu tổ chức dạy học hiện đại thường sử dụng là kiểu dạy học trên cơ sở nêu vấn đề Một

số kiểu tổ chức dạy học hiện đại như: dạy học theo góc, dạy học dự án, dạy học theo chủ đề vv chưa được áp dụng

Trang 39

* Điều tra thực trạng việc dạy học nội dung “phản ứng hạt nhân” môn Vật lý chương trình đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá:

Thành phần và số lượng người tham gia trả lời phiếu điều tra:

- Giảng viên (đã và đang tham gia dạy học hoặc hay dự giờ dạy học nội dung này): 18

- Học viên đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá: 46

Câu hỏi điều tra: Khi dạy học nội dung kiến thức “phản ứng hạt nhân” môn

Vật lý chương trình đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá, giáo viên thường sử dụng hình thức dạy học nào?

Trong phiếu điều tra, chúng tôi cũng đưa ra các hình thức dạy học đại học mà tác giả Đặng Vũ Hoạt đề cập và một số hình thức tổ chức dạy học

hiện đại như đề cập ở trên

Bảng 1.2 Tổng hợp kết quả phiếu điều tra về hình thức dạy học nội dung kiến thức “phản ứng hạt nhân” môn Vật lý chương trình đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá

Hình thức dạy học giảng viên thường

lựa chọn

Số ý kiến của giảng viên

Số ý kiến của học viên

Kết quả phiếu điều tra cho thấy, việc dạy học nội dung “Phản ứng hạt nhân” môn Vật lý chương trình đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá cơ bản được tiến hành theo cách thức truyền thống Việc thực hành, đi tham quan thực tế khi dạy học nội dung này không được tiến hành Như vậy

có thể khẳng định những mục tiêu đạt được khi dạy nội dung này chủ yếu chỉ dừng lại là mục tiêu kiến thức và ở mức độ nhận thức không cao như: tái hiện, hiểu Những kỹ năng và năng lực cần đạt được ở bài học thì chưa được chú trọng trong quá trình dạy học

* Chúng tôi tiến hành điều tra mức độ hứng thú của học viên khi học nội dung

“phản ứng hạt nhân” môn Vật lý chương trình đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá

Trang 40

- Thành phần và số lượng người tham gia trả lời phiếu điều tra: 46 học viên đã học tập nội dung “phản ứng hạt nhân” môn Vật lý chương trình đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá

- Câu hỏi: Đồng chí có cảm thấy hứng thú khi học nội dung “phản ứng

Có thể nói, thực trạng của viêc dạy học nói chung và việc dạy học nội dung kiến thức “phản ứng hạt nhân” môn Vật lý chương trình đào tạo bậc đại học ở trường Sĩ quan Phòng hoá như trên làm hạn chế phần nào hiệu quả của việc dạy học

Ngày đăng: 24/02/2020, 22:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm