Luận văn đã kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như cứu định tính, phương pháp thống kê, so sánh biện chứng, phân tích mô tả các ứng dụng công nghệ tài chính đang áp dụng tại ng
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Hà N ội - 2019
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Hiền
Trang 3M ỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH M ỤC CÁC BẢNG ii
DANH M ỤC CÁC BIỂU ĐỒ iii
TÓM T ẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN iv
L ỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH (FINTECH) VÀ VI ỆC ỨNG DỤNG FINTECH TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG TRONG B ỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 7
1.1 T ổng quan về công nghệ tài chính 7
1.1.1 Định nghĩa về công nghệ tài chính và quá trình phát triển 7
1.1.2 Vai trò của công nghệ tài chính 12
1.1.3 Hệ sinh thái Fintech và các yếu tố tác động đến ứng dụng công nghệ tài chính trong kinh doanh ngân hàng 14
1.2 Kinh doanh ngân hàng trong b ối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 17
1.2.1 Tổng quan về Kinh doanh ngân hàng 17
1.2.2 Bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 21
1.2.3 Kinh doanh ngân hàng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 24
1.3 Ứng dụng công nghệ tài chính trong kinh doanh ngân hàng 27
1.3.1 Điện toán đám mây (Cloud Computing) 27
1.3.2 Robot và Trí tuệ nhân tạo (AI – Artificial Intelligence) 29
1.3.3 Dữ liệu lớn (BigData) và Internet kết nối vạn vật (IoT - Internet of Things) 31
1.3.4 Công nghệ chuỗi khối (Blockchain và Sổ cái phân tán) 32
1.3.5 Giao diện chương trình ứng dụng 34
1.4 Kinh nghi ệm một số quốc gia trên thế giới trong việc ứng dụng công ngh ệ tài chính trong hoạt động kinh doanh ngân hàng 37
1.4.1 Singapore 37
1.4.2 Ấn Độ 41
1.4.3 Hàn Quốc 44
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG T ẠI VIỆT NAM TRONG XU THẾ CÁCH M ẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 46
Trang 42.1 Kinh doanh ngân hàng t ại Việt Nam trong xu thế cách mạng công
nghi ệp 4.0 46
2.1.1 Cơ hội của Kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam trong xu thế cách m ạng công nghiệp 4.0 46
2.1.2 Rủi ro, thách thức 49
2.2 Các nhân t ố tác động đến ứng dụng công nghệ tài chính trong kinh doanh ngân hàng t ại Việt Nam 52
2.2.1 Khuôn khổ pháp lý 53
2.2.2 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ 57
2.2.3 Nguồn nhân lực 60
2.2.4 Tiếp cận vốn 61
2.3 Th ực trạng ứng dụng công nghệ tài chính trong kinh doanh ngân hàng t ại Việt Nam 62
2.3.1 Điện toán đám mây 62
2.3.2 Tự động hóa và trí tuệ nhân tạo 63
2.3.3 Công nghệ dữ liệu lớn và Internet vạn vật 68
2.3.4 Công nghệ chuỗi khối 69
2.3.5 Giao diện ứng dụng API mở 69
2.4 Đánh giá thực trang ứng dụng công nghệ tài chính trong kinh doanh ngân hàng t ại Việt Nam 70
2.4.1 Đánh giá chung về thực trạng và xu hướng đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin…… 70
2.4.2 Đánh giá mức độ tác động của các nền tảng công nghệ CMCN 4.0 đến ho ạt động ngân hàng 72
2.4.3 Ưu điểm và hạn chế trong việc ứng dụng công nghệ tài chính trong kinh doanh ngân hàng 75
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG ỨNG DỤNG CÔNG NGH Ệ TÀI CHÍNH TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM77 3.1 Xu hướng phát triển công nghệ tài chính trong kinh doanh ngân hàng 77 3.1.1 Thay đổi mô hình kinh doanh dịch vụ 77
3.1.2 Thay đổi phương thức cạnh tranh về sản phẩm, dịch vụ 79
3.1.3 Giảm giá thành sản phẩm dịch vụ ngân hàng 79
3.1.4 Phát triển kênh phân phối sản phẩm, dịch vụ ngân hàng qua các thiết b ị thông minh…… 80
Trang 53.1.5 Ứng dụng rộng rãi sinh trắc học (vân tay, nhận diện giọng nói) trong
phê chu ẩn và xác thực giao dịch 80
3.1.6 Kinh tế chia sẻ được phổ biến ở hầu hết mọi lĩnh vực thuộc cơ sở hạ t ầng tài chính hỗ trợ cho sản phẩm, dịch vụ ngân hàng 81
3.1.7 Sản phẩm dịch vụ tùy biến hơn theo nhu cầu của khách hàng 81
3.1.8 Dịch vụ thông minh hơn 82
3.1.9 Tăng cường an ninh, an toàn bảo mật 82
3.1.10 Thay đổi về phương thức chuyển giao công nghệ và tri thức giữa các qu ốc gia……… 82
3.2 Định hướng ứng dụng công nghệ tài chính trong hoạt động kinh doanh ngân hàng 83
3.3 M ột số giải pháp nhằm tăng cường ứng dụng công nghệ tài chính trong kinh doanh ngân hàng t ại các NHTM 85
3.3.1 Đầu tư về cơ sở hạ tầng CNTT, kỹ thuật hiện đại và ứng dụng công ngh ệ ngân hàng tạo nền tảng cho phát triển ngân hàng số 85
3.3.2 Đầu tư mạnh mẽ hệ thống CNTT tiên tiến gắn chặt với chiến lược kinh doanh c ủa NHTM 86
3.3.3 Giải pháp về nguồn nhân sự chuyên môn cao để ứng dụng, triển khai và v ận hành CNTT 88
3.4 Khuy ến nghị với các Cơ quan quản lý Nhà nước: 88
3.4.1 Xây dựng khuôn khổ pháp lý để tiếp cận và ứng dụng thành công các thành t ựu của CMCN 4.0 trong phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng một cách an toàn, hi ệu quả 88
3.4.2 Công tác thanh tra, giám sát đảm bảo an toàn hoạt động của các TCTD và h ệ thống các TCTD trước thực tế tiếp cận, ứng dụng các thành tựu CMCN 4.0 trong phát tri ển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng 90
3.4.3 Xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng công nghệ hỗ trợ phát triển sản ph ẩm, dịch vụ ngân hàng 92
3.4.4 Đào tạo nguồn nhân lực 93
3.4.5 Hỗ trợ đổi mới sáng tạo 94
K ẾT LUẬN 98
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 100
Trang 6L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn : “Ứng dụng công nghệ tài chính trong hoạt động
kinh doanh ngân hàng t ại Việt Nam trong xu thế cách mạng 4.0“ là công trình
nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và không trùng lặp với các công trình nghiên cứu
Trang 7L ỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự
nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý thầy cô Khoa sau Đại học – Đại học Ngoại thương và các đồng nghiệp tại Bộ Tài chính đã hỗ trợ trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Giáo viên hướng dẫn trực tiếp – TS Nguyễn Thị Hiền, người đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này
Hà N ội, ngày 21 tháng 5 năm 2019
Trang 8i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NHTM Ngân hàng Thương mại
NHNN Ngân hàng Nhà nước
AML Chống rửa tiền
TCTD Tổ chức tín dụng
TMCP Thương mại cổ phần
API Giao diện lập trình ứng dụng
DTL Công nghệ sổ cái phân tán
Cho vay P2P Cho vay ngang hàng
REGTECH Công nghệ quản lý
RTGS Hệ thống thanh toán tổng tức thời theo thời gian thực KYC Định danh khách hàng
Viện CLNH Viện chiến lược ngân hàng
CMCN 4.0 Cách mạng công nghiệp 4.0
mPOS Thanh toán thẻ qua thiết bị di động
Trang 9Bảng 1.4 Các vấn đề trọng tâm trong khuôn khổ phát triển
một hệ sinh thái Fintech
16
Trang 10Biểu đồ 1.2 Ba nhân tố chính của hệ sinh thái Fintech 15
Biểu đồ 2.3 Xu hướng ưu tiên đầu tư cho hệ thống CNTT
trong tương lai và thực tế đầu tư cho hệ thống CNTT của các ngân hàng
Biểu đồ 2.5 Quan điểm của các ngân hàng về nền tảng công
nghệ sẽ được ứng dụng rộng rãi trong tương lai
Trang 11iv
Cách mạng công nghiệp 4.0 là một khái niệm còn khá mới mẻ ở Việt Nam, vì
vậy, hiện nay chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về CMCN 4.0, những đặc điểm
và đánh giá tác động của nó đến các lĩnh vực kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng Thông tin về cuộc CMCN 4.0 hiện nay mới chỉ dừng lại trong nội dung báo cáo của một số cơ quan Bộ, Ngành; trong một số đánh giá khảo sát của PwC, KPMG… Luận văn đánh giá những tác động dự kiến của công nghệ tài chính đến
xu hướng phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng Việt Nam và đưa ra các đề xuất,
kiến nghị mang tính chiến lược về những phương thức tiếp cận xây dựng cơ chế, chính sách quả lý và điều hành của Cơ quan Quản lý Nhà nước
Trong luận văn, tác giả đã đưa ra khung lý thuyết và nghiên cứu tổng quan
cuộc CMCN 4.0 đang diễn ra trên thế giới và các yếu tố tác động đến phát triển công nghệ trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Luận văn đã kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như cứu định tính, phương pháp thống kê, so sánh
biện chứng, phân tích mô tả các ứng dụng công nghệ tài chính đang áp dụng tại ngân hàng Việt Nam, từ đó đưa ra các nhận định, kết luận liên quan đến thực trạng ứng dụng công nghệ tài chính vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng và đề xuất
một số biện pháp nhằm tăng cường khả năng ứng dụng
Để đánh giá một cách khách quan thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, luận văn đã tiến hành đánh giá trên 02 góc độ: (i) Từ khảo sát về xu hướng đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin trong ngân hàng; (ii) Từ kết quả khảo sát về mức độ tác động của các nền tảng công nghệ đến
hoạt động ngân hàng… Qua đó, tác giả nêu ra những ưu điểm, triển vọng tích cực trong việc ứng dụng công nghệ tài chính như: các TCTD đã phản ứng nhanh với
những xu hướng công nghệ mới và liên tục cập nhật các ứng dụng mới, chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, sử dụng các giải pháp ngân hàng điện tử để tối ưu hóa
dịch vụ ngân hàng, các ngân hàng đã bắt tay với các công ty fintech để cùng phát triển và cùng có lợi… và những mặt hạn chế vẫn còn tồn đọng khiến việc ứng dụng công nghệ vào hoạt động ngân hàng bị giới hạn như: thiếu hành lang pháp lý đồng
Trang 12v
bộ, sự phát triển không đồng đều về công nghệ giữa các ngân hàng làm hạn chế khả năng kết nối toàn ngành, hạ tầng thanh toán chưa phát triển đồng đều và hoàn thiện,
hạn chế về nguồn nhân lực và nguồn lực tài chinh
Từ việc đánh giá thực trạng, luận văn có đưa ra một số định hướng với các TCTD và những khuyến nghị thay đổi chính sách từ cơ quan quản lý cũng như
những giải pháp liên quan đến đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, đảm bảo an toàn an ninh bảo mật, các chính sách phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại
Trang 131
L ỜI NÓI ĐẦU
Theo GS Klaus Schwab, chủ tịch Diễn đàn Kinh tế Thế giới, khái niệm công nghiệp 4.0 (Industry 4.0) hay là Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) là
một thuật ngữ bao trùm, chỉ một loạt các công nghệ tự động hóa hiện đại, xu hướng trao đổi dữ liệu, công nghiệp chế tạo và sản xuất thông minh
CMCN 4.0 được xây dựng dựa trên cuộc cách mạng số, đặc trưng bởi mạng Internet ngày càng phổ biến, kết nối Internet vạn vật (Internet of things IoT) và Trí
tuệ nhân tạo (Articificial Intelligence – AI), bởi các cảm biến nhỏ, mạnh hơn với giá thành rẻ hơn, bởi điện toán đám mây, phân tích dữ liệu lớn… giúp tự động hóa hơn
nữa quá trình sản xuất CMCN 4.0 có đặc điểm là thông minh hóa sản xuất, mang tính tích hợp cao, linh hoạt và có tác động mạnh mẽ tới mọi ngành nghề, mọi quốc gia Điều khiến CMCN 4.0 trở nên khác biệt với các cuộc cách mạng trước đó chính
là sự dung hợp của các công nghệ và sự tương tác của chúng trên các lĩnh vực vật
lý, số hóa và sinh học
Trong cuộc cách mạng này, các công nghệ mới nổi và sự đổi mới sáng tạo trên
diện rộng được lan toả nhanh và mạnh mẽ hơn so với những cuộc cách mạng trước, làm thay đổi căn bản, toàn diện cách thức chúng ta sản xuất, sinh sống, làm việc và tương tác lẫn nhau Hiển nhiên, Việt Nam nói chung và ngành ngân hàng Việt Nam nói riêng cũng không nằm ngoài vòng ảnh hưởng của cuộc cách mạng này
Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, CMCN 4.0 sẽ mở ra nhiều cơ hội trong việc nâng cao trình độ công nghệ, nâng cao năng
lực sản xuất và cạnh tranh trong chuỗi sản phẩm; tạo ra sự thay đổi lớn về hình thái kinh doanh dịch vụ; tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo;
giảm đáng kể chi phí giao dịch, vận chuyển; tạo cơ hội đầu tư hấp dẫn và đầy tiềm năng trong lĩnh vực công nghệ số và Internet đồng thời cũng là cơ hội lớn cho sản
xuất công nghiệp với trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến Tuy nhiên, nếu không bắt kịp nhịp độ phát triển của thế giới và khu vực, Việt Nam sẽ phải đối mặt
với nhiều thách thức, tác động tiêu cực như: sự tụt hậu về công nghệ, suy giảm sản
Trang 142
xuất, kinh doanh, dư thừa lao động thiếu kỹ năng và trình độ, phá vỡ thị trường lao động truyền thống, tác động tới tình hình kinh tế - xã hội đất nước, và có thể còn gánh chịu những tổn thất từ nguy cơ, rủi ro mất an toàn, an ninh thông tin, hoặc trở thành bãi rác công nghệ lạc hậu của các nước đi trước về có trình độ phát triển
Mặc dù không phải là lĩnh vực được đánh giá là chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất
của CMCN 4.0, nhưng ngành tài chính ngân hàng - ngành đang được coi là đứng đầu về ứng dụng công nghệ thông tin chắc chắn cũng sẽ không nằm ngoài vòng xoáy của CMCN 4.0 Theo đó, CMCN 4.0 sẽ mang lại cả những tác động tích cực cũng như tạo nên những thách thức không nhỏ đối với sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Từ thực tế trên, việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ tài chính trong hoạt động kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam từ đó đưa ra giải pháp nhằm tăng cường tính ứng dụng, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Ứng dụng công nghệ tài chính trong
luận văn thạc sĩ của mình
Đây là một khái niệm còn khá mới mẻ ở Việt Nam, vì vậy, hiện nay chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về CMCN 4.0, những đặc điểm và đánh giá tác động của nó đến các lĩnh vực của nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng Thông tin về cuộc CMCN 4.0 hiện nay mới chỉ dừng lại trong nội dung báo cáo của một số cơ quan Bộ, Ngành, ví dụ như: “Báo cáo đánh giá tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và một số định hướng hoạt động của ngành Ngân hàng Việt Nam” của NHNN năm 2016 trong Kỷ yếu hội thảo OECD Báo cáo đã nêu ra những tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với ngành tài chính ngân hàng, những thuận lợi và khó khăn cuộc cách mạng này mang lại đối với ngành tài chính ngân hàng và xu hướng phát triển ngành Ngân hàng trong thời gian sắp tới, tuy nhiên trong báo cáo vẫn còn những hạn chế như chưa cập nhật đầy đủ thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại các ngân hàng đặc biết là các ứng dụng
Trang 153
công nghệ mới mà các ngân hàng thương mại đang đưa vào sử dụng
Bên cạnh đó, trong một số bài báo đăng tải trên các phương tiện truyền thông,
ví dụ như: “Ngành Ngân hàng trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư” đăng trên Tạp chí Ngân hàng số 15/2016 hay một số báo cáo khảo sát, đánh giá của tổ chức như Viện chiến lược Ngân hàng, các bác cáo đã nêu ra được hiện trạng ứng dụng công nghệ thông tin của các ngân hàng thương mại, các ngân hàng thương mai cần chuẩn bị như thế nào để có thể thích ứng trong xu thế cách mạng 4.0 Những báo cáo này mới nêu ra được thực trạng ứng dụng công nghệ tài chính tại các ngân hàng thương mại tuy nhiên chưa nêu được ra những ý kiến đề xuất để ngân hàng nhà nước có thêm cơ sở để ban hành khuôn khổ pháp lý phù hợp nhằm tạo điều kiện thích hợp để các ngân hàng và công ty Fintech phát triển các dịch vụ ứng dụng vào trong hoạt động kinh doanh
Các nghiên cứu về tác động của CMCN 4.0 đến một lĩnh vực cụ thể trong nền kinh tế, trong đó nghiên cứu riêng trong lĩnh vực ngành tài chính - ngân hàng còn khá ít; hầu hết dừng lại ở những báo cáo hội thảo hoặc báo cáo đặc thù của từng tổ chức nhu “The Fourth Industrial Revolution: Impact on financial service and markets” của Ủy ban đầu tu và chứng khoán ASIC Úc trong Hội nghị thuờng niên của tổ chức này năm 2017, báo cáo đã nêu ra những tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đến thị trường tài chính nói chung và ngành tài chính ngân hàng nói riêng; Nghiên cứu của IDG về những tác động của công ty tài chính công nghệ (Fintech) đến dịch vụ tài chính “The Fintech effect and disruption of finance services” năm 2016; báo cáo nghiên cứu của ngân hàng HSBC “Mastering the Fourth Industrial Revolution” năm 2016 Những báo cáo này đều chỉ những thuận lợi các ngân hàng có thể đạt được khi kết hợp với các công ty công nghệ Fintech, thay vì cạnh tranh, các ngân hàng có thể tận dụng những lợi thế về công nghệ khi kết hợp với các công ty fintech để có thể vượt qua những hạn chế hiện nay như danh mục sản phẩm dịch vụ chưa linh hoạt, khó khăn trong việc tiếp cận những khách hàng ở vùng sâu vùng xa…
Trang 164
Mặc dù nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau về cuộc CMCN nhưng các công trình nghiên cứu đều cho rằng sức ảnh huởng của cuộc cách mạng này đến các mặt kinh tế - xã hội của các quốc gia là rất lớn, các quốc gia cần nhận diện và có sự chuẩn bị cho mình để tận dụng cơ hội cũng nhu vượt qua thách thức mà nó mang lại
Nhìn chung, cho đến nay cũng đã có những đề tài nghiên cứu về ảnh hưởng cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tác động lên ngành tài chính ngân hàng, tuy nhiên các đề tài này chủ yếu nghiên cứu dựa trên tình hình các nước trên thế giới còn tại Việt Nam, do việc ứng dụng công nghệ tài chính vào hoạt động kinh doanh ngân hàng mới thật sự được các ngân hàng quan tâm trong thời gian gần đây và việc ứng dụng công nghệ vẫn còn gặp nhiều khó khăn nên số lượng đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực này còn hạn chế Do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài luận văn này nhằm đi sâu vào nghiên cứu để làm rõ những hạn chế các ngân hàng gặp phải khi ứng dụng công nghệ tài chính vào hoạt động kinh doanh ngân hàng từ đó nhằm đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường tính ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Nghiên cứu cơ sở lý luận về công nghệ tài chính và ứng dụng công nghệ tài chính trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ tài chính trong hoạt động kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam
Giải pháp nhằm tăng cường tính ứng dụng công nghệ tài chính trong hoạt động kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam
Các ngân hàng thương mại tại Việt Nam có ứng dụng công nghệ tài chính trong hoạt động kinh doanh, Ngân hàng nhà nước và các công ty Fintech
Trang 175
Về nội dung: Phạm vi nghiên cứu bao gồm các nội dung liên quan đến ứng dụng công nghệ tài chính trong kinh doanh ngân hàng: Tổng quan về fintech, ứng dụng công nghệ tài chính tại một số quốc gia; đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ tài chính tại các ngân hàng Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất các thay đổi
về chính sách quản lý của NHNN và các thay đổi trong chiến lược kinh doanh và
hoạt động an toàn, an ninh bảo mật mà các NHTM cần đối mặt trong bối cảnh CMCN 4.0 đang bùng nổ
Về không gian: Tại ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại
cổ phần tại Việt Nam
Về thời gian: Từ năm 2014–2018
Phương pháp phân tích thống kê mô tả:
Trong đề tài, thực hiện thu thập, phân tích và trình bày dữ liệu nghiên cứu
bằng các bảng biểu, sơ đồ, đánh giá tình hình ứng dụng công nghệ tài chính và đầu tư vào hạ tầng công nghệ thông tin của các ngân hàng thương mại giai đoạn 2014-2018 dựa trên các số liệu, tài liệu liên quan, từ kết quả khảo sát của Viện chiến lược ngân hàng, từ đó đưa ra các nhận định, kết luận liên quan đến thực trạng ứng dụng công nghệ tài chính vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng và đề xuất
một số biện pháp nhằm tăng cường khả năng ứng dụng
Trên cơ sở đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ tài chính vào hoạt động kinh doanh của các ngân hàng tại Việt Nam từ đó đưa ra giải pháp nhằm tăng cường tính ứng dụng công nghệ tài chính vào hoạt động kinh doanh tại các ngân hàng này
Trang 186
Kết cấu của khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về công nghệ tài chính và việc ứng dụng công nghệ tài
trong trong hoạt động kinh doanh ngân hàng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp
4.0
Chương 2: Thực trạng ứng dụng công nghệ tài chính trong hoạt động kinh
doanh ngân hàng tại Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0
Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường ứng dụng công nghệ tài chính trong
kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam
Trang 197
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH (FINTECH)
1.1.1 Định nghĩa về công nghệ tài chính và quá trình phát triển
FinTech là viết tắt của cụm từ financial technology (công nghệ tài chính), được hiểu theo nghĩa là việc áp dụng các công nghệ đổi mới, sáng tạo và hiện đại cho lĩnh vực tài chính (bao gồm ngân hàng, bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, dịch
vụ thanh toán và các cơ sở hạ tầng tài chính ), nhằm mang tới cho khách hàng các
giải pháp, dịch vụ tài chính minh bạch, hiệu quả và thuận tiện với chi phí thấp hơn
so với các dịch vụ tài chính truyền thống
FinTech là một phân khúc năng động tại điểm giao cắt của ngành dịch vụ tài chính và công nghệ, nơi những công ty công nghệ mới thành lập và những thành phần mới tham gia thị trường đang nỗ lực phát triển các sản phẩm và dịch vụ sáng tạo cho người tiêu dùng, trong khi dịch vụ tài chính truyền thống (ngân hàng) không thể vươn tới Trên thực tế, FinTech đã và đang có những ảnh hưởng nhất định vào chuỗi giá trị truyền thống của các tổ chức tài chính trên toàn cầu
Mặc dù thuật ngữ FinTech mới xuất hiện và trở nên quen thuộc trong một vài năm trở lại đây, tuy nhiên nếu xét về bản chất của thuật ngữ là ứng dụng công nghệ
để thay đổi dịch vụ tài chính này thì Fintech đã xuất hiện từ cách đây hơn một thế
kỷ Lịch sử hình thành Fintech được đánh dấu vào năm 1865 khi Giovanni Caselli phát minh ra công nghệ pantelegraph để xác minh chữ ký trong giao dịch ngân hàng
và được áp dụng tại Paris và Lyon Từ đó đến nay, Fintech đã có sự phát triển khá nhanh thông qua các dấu mốc lịch sử như sau:
Trang 208
Bảng 1.1- Lịch sử hình thành Fintech
thị trường chứng khoán cho các nhà môi giới thông qua các thiết bị máy tính
động ngân hàng đi vào hoạt động
gọi là “Thu ngân tự động” cho phép khách hàng rút tiền bất ký thời điểm nào trong ngày
lệnh và thanh toán với đồng đô la Mỹ cho một số ngân hàng lớn trên thế
giới
dịch chứng khoán điện tử đầu tiên được thiết lập
xuyên biên giới
nhà đầu tư cá nhân
vay mua nhà Nottingham (Anh)
toàn cầu bởi tác động của công nghệ
thời Citigroup thành lập trung tâm nghiên cứu fintech
hàng tại Mỹ
đời
thoại thông minh thực hiện thanh toán bằng công nghệ mạng tương tác
Trang 219
Fintech là sự giao thoa giữa tài chính và công nghệ, sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ trong lĩnh vực tài chính như dữ liệu lớn, Blockchain, tư vấn tự động, cho vay ngang hàng… cho thấy Fintech đóng một vai trò quan trọng tới không chỉ
hệ thống tài chính mà còn có ảnh hưởng lớn tới toàn bộ xã hội Hiện tại, Fintech đã
mở rộng bao gồm bất kỳ sự đổi mới công nghệ trong lĩnh vực tài chính, gồm cả những đổi mới về giáo dục và đào tạo về tài chính, ngân hàng bán lẻ, đầu tư, các loại tiền tệ như Bitcoin, sổ cái điện tử, ví điện tử, robot tư vấn, công nghệ dữ liệu lớn, các phần mềm quản lý tài chính…
Theo báo cáo năm 2016 về hoạt động của Fintech trên toàn cầu của SparkLabs Global Ventures, các công ty Fintech trên thế giới hiện đang cung cấp các dịch vụ trong nhiều lĩnh vực khác nhau như công nghệ ngân hàng, thanh toán, tài chính doanh nghiệp, tài chính cá nhân, các loại tiền kỹ thuật số, các dịch vụ thay thế dịch
vụ lõi của hệ thống tài chính - ngân hàng (alternative cores)… với các sản phẩm/dịch vụ công nghệ đa dạng như ví điện tử, công nghệ sổ cái phân tán (DLT) trên nền tảng blockchain, thương mại trực tuyến B2C, mPOS… (xem Bảng 1.2)
- Chuyển tiền ngang hàng (P2P money transfer)
- Các giải pháp về thanh toán
3 Tiền kỹ thuật số - Công nghệ blockchain
- Bitcoin
- Ví kỹ thuật số (digital wallets)
- Các sàn giao dịch tiền kỹ thuật số
Trang 2210
4 Tài chính doanh
nghiệp Business Lending) - Cho vay hàng ngang giữa doanh nghiệp (P2P
- Cấp hạn mức tín dụng cho doanh nghiệp
dịch vụ lõi - - Bảo hiểm sức khỏe/ô tô/tài sản thay thế Ngân hàng kỹ thuật số
Nguồn: Fintech Industry Overview, SparkLabs Global Venture (2016)
Trong lĩnh vực ngân hàng, sự phát triển mạnh mẽ của các công ty Fintech những năm trở lại đây, đặc biệt trong lĩnh vực thanh toán và cho vay, cũng là một vấn đề được nhiều ngân hàng thực sự quan tâm Tuy nhiên, công ty Fintech và ngân hàng đều có những ưu điểm riêng biệt mà cả hai bên đều có thể khai thác lẫn nhau Đối với các công ty Fintech, việc tự do sử dụng những công nghệ hiện đại nhất để xây dựng các giao diện thân thiện với người sử dụng là một trong những thế mạnh nổi trội Các công ty Fintech không sở hữu các cơ sở hạ tầng thị trường tài chính cơ bản, do đó, mục tiêu của họ là giúp người sử dụng có trải nghiệm tốt hơn những dịch vụ hiện có của ngân hàng Các công ty này, cũng làm tốt hơn các ngân hàng trong việc nắm bắt các giá trị cốt lõi của khách hàng từ lượng dữ liệu lớn nhằm cung cấp những dịch vụ tốt hơn, nhanh hơn (chẳng hạn như trong lĩnh vực cho vay)
Ngược lại, với các công ty Fintech, các ngân hàng vẫn giữ được những lợi thế cạnh tranh nhất định, đó là những mối quan hệ từ lâu với khách hàng, hành lang pháp lý quy định cụ thể, chặt chẽ, kinh nghiệm trong quản trị rủi ro và sự kết nối liên thông với hạ tầng thị trường tài chính trong nước và quốc tế Điều quan trọng
Trang 23mà bên đối tác có được Việc hợp tác này hiện là xu hướng nổi trội trên toàn thế giới dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng đều hướng tới một mục tiêu chung là mang lại những dịch vụ tài chính và trải nghiệm tốt nhất cho khách hàng (xem Biểu
2015, lượng giao dịch thanh toán kỹ thuật số chiếm tỷ trọng rất lớn (93,6%) so với các lĩnh vực khác như tài chính doanh nghiệp và tài chính cá nhân Tuy nhiên, báo cáo cũng dự báo rằng trong những năm tới, các giao dịch Fintech trong mảng thanh toán sẽ có chiều hướng giảm đi, nhường chỗ cho các dịch vụ khác thuộc lĩnh vực tài
Trang 24Tài chính
doanh nghiệp
Nền tảng cho vay doanh nghiệp 0,9% 6,8% Gọi vốn 0,1% 0,4% Nền tảng sản xuất 0,1% 0,4%
Tài chính
cá nhân
Dịch vụ đầu tư tự động 2,7% 8,3% Nền tảng cho vay cá nhân 0,5% 3,0%
Nguồn: Statista (2015)
1.1.2 Vai trò c ủa công nghệ tài chính
Sự phát triển, tiến bộ của công nghệ từ cuộc CMCN 4.0 đã và đang đóng vai trò tích cực trong việc phát triển sản phẩm, dịch vụ tài chính - ngân hàng Nhờ sự hỗ
trợ của công nghệ, cách thức tiếp cận các nguồn vốn tín dụng trở nên đơn giản hơn
với chi phí thấp hơn; dòng vốn dịch chuyển giữa các khu vực địa lý từ phạm vi trong một quốc gia tới giữa các quốc gia, giữa các châu lục dễ dàng hơn Đối với
hoạt động thanh toán, các giải pháp sáng tạo đang thay đổi nhanh chóng giữa người tiêu dùng tham gia vào các giao dịch tài chính, giúp giao dịch giữa các cá nhân (đôi khi là giữa các nền kinh tế) trở nên dễ dàng hơn, nhanh hơn và rẻ hơn so với trước đây Xuất hiện thêm những hình thức cho vay và huy động vốn mới như cho vay ngang hàng (P2P lending), gọi vốn cộng đồng (crowdfunding) Các hoạt động tài chính ngân hàng khác như đầu tư, tư vấn cũng được tự động hóa và ứng dụng phân tích dữ liệu lớn để phân tích hành vi khách hàng, đưa ra quyết định nhanh và hiệu
quả
Trang 2513
Trong những làn sóng công nghệ tràn qua ngành Ngân hàng, làn sóng công nghệ đầu tiên tập trung vào việc tối ưu hóa các sản phẩm và dịch vụ hiện hành; làn sóng tiếp theo chú trọng tới việc tăng cường thu thập và phân tích dữ liệu để cải thiện dịch vụ khách hàng hiện có Những tiến bộ trong bảo mật và xác thực cho phép thực hiện hiệu quả tất cả các phương thức bán hàng, giao hàng có thể tiến hành trực tuyến Công nghệ giúp khách hàng dễ dàng hơn trong việc rời bỏ ngân hàng này để chuyển sang ngân hàng khác, khiến cho mối quan hệ gắn bó giữa khách hàng và ngân hàng trở nên lỏng lẻo hơn Điều này sẽ thúc đẩy làn sóng thứ ba: các ngân hàng cùng đối tác của họ sẽ cùng tạo lập và phát triển những hồ sơ chi tiết về
mỗi khách hàng của mình dựa trên Dữ liệu lớn Sự đổi mới sẽ còn tiếp tục tăng tốc,
và các ngân hàng đi đầu sẽ hoặc là người tận dụng sự đổi mới này để có được lợi
thế cạnh tranh trên thị trường dịch vụ tài chính đầy sôi động
Các công nghệ số, công nghệ mới gắn với CMCN 4.0 không chỉ giúp chuyển dịch kênh phân phối sản phẩm, dịch vụ ngân hàng truyền thống từ các chi nhánh, quầy giao dịch, ATM vật lý sang các kênh số hóa, giúp tương tác khách hàng nhiều
và hiệu quả hơn; mà còn có khả năng thay đổi mô hình kinh doanh, quy trình nghiệp vụ, cấu trúc sản phẩm, dịch vụ theo hướng số hóa, giúp các ngân hàng từng bước trở thành ngân hàng số, cung cấp tiện ích, trải nghiệm mới mẻ và đem lại lợi ích thiết thực cho khách hàng Đây là một điểm hết sức nổi bật của Fintech, đó là khả năng tăng cường tiếp cận tài chính cho khách hàng, mang dịch vụ tài chính đến gần hơn tới những đối tượng vùng sâu, vùng xa chưa có khả năng tiếp cận hoặc chưa được ngân hàng phục vụ nhờ vào tính đột phá và sự đổi mới của công nghệ như thanh toán di động, cho vay ngang hàng, tiền điện tử.; góp phần rất lớn trong việc hỗ trợ phát triển nền kinh tế bền vững Với lợi thế về công nghệ, Fintech mang lại nhiều dịch vụ tài chính mới có thể thay thế cho các dịch vụ tài chính truyền thống trong một vài lĩnh vực nổi bật như cho vay, thanh toán và bảo hiểm, mang lại
sự phân tán và đa dạng trong dịch vụ cho khách hàng Điều này có thể bảo vệ thị
trường tài chính trước những cú sốc về tài chính do khả năng duy trì việc cung ứng dịch vụ ra thị trường khi một tổ chức tài chính bất kỳ phá sản, ngừng hoạt động
Sử dụng các kênh phân phối, tiếp cận người dùng trên nền tảng số, các điểm
Trang 26phần nâng cao hiệu quả tổng thể trong hệ thống tài chính và nền kinh tế
Bên cạnh đó, với sự phát triển của công nghệ dữ liệu lớn (Big Data) và Ứng
dụng giao diện mở (Open API) các thông tin tài chính sẽ được minh bạch và chi tiết
hơn, qua đó giảm bớt tính bất cân xứng thông tin trong nhiều lĩnh vực tài chính, cho
phép các tổ chức tài chính có thể đánh giá và định lượng các rủi ro chính xác hơn
1.1.3 H ệ sinh thái Fintech và các yếu tố tác động đến ứng dụng công nghệ tài chính trong kinh doanh ngân hàng
Fintech là viết tắt của từ financial technology (công nghệ trong tài chính), là
một thuật ngữ rộng được sử dụng chung cho tất cả các công ty sử dụng công nghệ thông tin và viễn thông để cung cấp dịch vụ tài chính Fintech có thể được xem như
là sản phẩm của cuộc cách mạng 4.0 trong hoạt động tài chính - ngân hàng Fintech cung cấp rất nhiều sản phẩm dịch vụ thuộc về lĩnh vực tài chính như thanh toán điện
tử, thanh toán trên di động, tài chính cá nhân, hay tài chính doanh nghiệp Một số phân khúc có thể liệt kê như cho vay P2P, đầu tư theo nhóm, chấm điểm tín dụng,
tư vấn, huy động vốn, tiền điện tử Nhu cầu sử dụng các dịch vụ của các công ty Fintech là các ngân hàng truyền thống, công ty bảo hiểm, người tiêu dùng và các doanh nghiêp
Hệ sinh thái Fintech (Fintech ecosystem) giữ vai trò rất quan trọng trong việc
nuôi dưỡng các loại hình sáng tạo công nghệ giúp thị trường và hệ thống tài chính hiệu quả hơn đồng thời góp phần nâng cao trải nghiệm của người sử dụng Một hệ sinh thái mạnh mẽ có thể thúc đẩy mở rộng hơn nữa nền kinh tế của một quốc gia thông qua việc thu hút các các nhân tài và trở thành nơi quy tụ các ý tưởng và hoạt động kinh doanh sáng tạo Hệ sinh thái Fintech còn giúp nâng cao cơ hội phát triển
Trang 2715
cho nhiều lĩnh vực, gồm phần mềm, phân tích dữ liệu, thanh toán, mobile banking,
các hệ thống quản lý tài sản và các nền tảng ứng dụng (như nền tảng cho vay ngang hàng, nền tảng gọi vốn từ cộng đồng/nhà đầu tư )
1.1.3.1 Các nhân t ố trong Hệ sinh thái Fintech
Việc thiết lập và nuôi dưỡng một hệ sinh thái Fintech đòi hỏi sự phối hợp của nhiều nhân tố khác nhau, trong đó 3 nhân tố chính gồm: Chính phủ, tổ chức tài chính, và các doanh nghiệp Fintech Theo đó, các thành phần này sẽ vừa đóng góp thế mạnh riêng của mình vào hệ sinh thái, đồng thời cũng thừa hưởng các lợi ích của hệ sinh thái
Biểu đồ 1.2- Ba nhân tố chính của hệ sinh thái Fintech
(i) Chính phủ: Đóng vai trò thiết lập và ban hành một môi trường pháp lý phù
hợp nhằm tạo thuận lợi cho sự phát triển của toàn bộ hệ sinh thái Fintech Điều này
sẽ giúp khuyến khích các hoạt động kinh doanh và tuyển dụng của các công ty tài chính và công nghệ, qua đó giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của quốc gia
(ii) Tổ chức tài chính: Cung cấp cho hệ sinh thái các nội dung chuyên ngành,
những kinh nghiệm thực tiễn của thị trường và các nền tảng sản phẩm, dịch vụ tài chính Một vài tổ chức tài chính có thể thúc đẩy các sáng tạo của mình thông qua
Nguồn:Tạp chí thị trường tài chính tài chính tiền tệ (2018)
Trang 2816
việc hợp tác với các công ty khởi nghiệp Fintech Điều này sẽ giúp nâng cao vị thế
cạnh tranh của các tổ chức tài chính (ví dụ như việc rút ngắn thời gian giới thiệu
một sản phẩm, dịch vụ mới ra ngoài thị trường)
(iii) Các doanh nghiệp Fintech: cung cấp cho hệ sinh thái các giải pháp công
nghệ đột phá và sáng tạo Và ngược lại, các doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi từ việc
tiếp cận gần hơn với các kiến thức chuyên sâu, chuyên môn và thực tiễn thị trường trong ngành tài chính; đồng thời cũng giúp tăng cường khả năng cung ứng các sản
phẩm công nghệ hiện đại của họ tới những thị trường tiềm năng
1.1.3.2 Các y ếu tố tác động đến ứng dụng công nghệ tài chính trong kinh doanh ngân hàng
Nhằm hỗ trợ cho sự phát triển của hệ sinh thái Fintech, một khuôn khổ phát triển hệ sinh thái được thiết lập với bốn yếu tố quan trọng tác động đến ứng dụng công nghệ tài chính trong kinh doanh ngân hàng gồm:
(i) Nguồn nhân lực/cơ sở hạ tầng: Sự sẵn có về nhân lực kỹ thuật, tài chính
và quản lý kinh doanh cũng như cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ Trong đó, nhân
lực tham gia vào các công ty công nghệ, doanh nghiệp, tổ chức tài chính và nhân
lực phục vụ cho đào tạo, nghiên cứu phát triển Fintech ;
(ii) Khuôn khổ pháp lý: Chính sách của chính phủ đối với các quy định, chính
sách thuế và chính sách tăng trưởng các ngành Chính phủ hỗ trợ cho các chương trình nhằm giảm rào cản tham gia ngành, tăng tính cạnh tranh, thu hút các công ty Fintech nước ngoài và tăng cường an ninh mạng Các cơ quan quản lý hỗ trợ cho doanh nghiệp mới và thúc đẩy các mô hình kinh doanh sáng tạo;
(iii) Tiếp cận vốn: Sự sẵn có của nguồn lực tài chính cho các doanh nghiệp
khởi nghiệp và vốn cho phát triển, gia tăng quy mô Vốn được cung cấp bởi các nhà
đầu tư, nhà đầu tư mạo hiểm và tiếp cận vốn từ thị trường vốn đại chúng;
Trang 2917
Fintech
Lợi ích chi phí Sự sẵn sàng của nguồn lao
động và chuyển giao công
nghệ
Xây dựng chính sách
Sở hữu và phát triển đất đai
3 Tiếp cận vốn
Nguồn vốn chính phủ Nguồn vốn ngân hàng Nguồn vốn quỹ đầu tư Nguồn vốn ươm mầm thúc đẩy
Ngu ồn: Tạp chí thời báo ngân hàng (2017)
1.2.1 T ổng quan về Kinh doanh ngân hàng
1.2.1.1 Khái ni ệm và đặc điểm của hoạt động kinh doanh ngân hàng
Kinh doanh ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín
dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán
Các ngân hàng vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính, mặc
dù tầm quan trọng của các định chế trung gian tài chính khác đang tăng lên Trước hết, ngân hàng có vai trò sống còn đối với hoạt động kinh tế, bởi vì ngân hàng tái phân bổ tiền, hay tín dụng, từ người tiết kiệm - những người có thặng dư tiền tạm thời, tới người đi vay - những người có thể sử dụng tiền một cách tốt hơn Thứ hai, ngân hàng nằm ở trung tâm của hệ thống thanh toán bù trừ Bằng cách phối hợp để thanh toán, các ngân hàng giúp cá nhân và công ty thực hiện các giao dịch Các hình thức thanh toán có thể là lệnh trả tiền, séc hay chuyển khoản thông thường, chẳng
Trang 3018
hạn như lệnh thanh toán thường trực (standing orders) và các chức năng ghi nợ trực tiếp (direct debit) Các ngân hàng nhận tiền dưới dạng các khoản tiền gửi, và đôi khi trả lãi suất cho các khoản tiền gửi này Sau đó, ngân hàng cho người đi vay vay tiền Những người đi vay sử dụng khoản tiền này để đầu tư hoặc tiêu dùng Các ngân hàng cũng có thể vay tiền theo những cách khác, thường là từ các ngân hàng khác tại nơi được gọi là thị trường liên ngân hàng Các ngân hàng kiếm lợi nhuận từ mức chênh lệch, được gọi là “margin” hay “spread”, giữa lãi suất phải trả và lãi suất nhận được Vì mức chênh lệch lãi suất bị giảm xuống do có thông tin tốt hơn và do mức độ tinh vi ngày càng tăng của các thị trường vốn, nên các ngân hàng cố gắng đẩy lợi nhuận của mình lên bằng các hoạt động kinh doanh thu phí, như bán chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán Giờ đây, những khoản thu nhập như vậy chiếm tới 40% lợi nhuận ngân hàng ở Mỹ Các khoản tiền gửi là tài sản nợ của ngân hàng Các khoản tiền này có hai dạng Thứ nhất là tài khoản vãng lai (ở Mỹ gọi là tài khoản séc) Đối với loại tài khoản này, người ta có thể ghi séc và các khoản tiền có thể được rút ra ngay lập tức theo yêu cầu Thứ hai là tài khoản tiền gửi hay tài khoản tiết kiệm Một số tài khoản tiền gửi đòi hỏi phải có thời gian thông báo trước khi tiền có thể được rút ra: những tài khoản này được gọi là tài khoản tiền gửi có kỳ hạn hay tài khoản thông báo trước Lãi suất trả cho những tài khoản như vậy nói chung là cao hơn so với các tài khoản vãng lai, tức là những tài khoản mà tiền có thể được rút ngay lập tức
Tài sản có của ngân hàng bao gồm các hạng mục từ tín dụng ngắn hạn, chẳng hạn như các khoản thấu chi hay khoản tín dụng - những khoản mà ngân hàng có thể thu hồi lại mà hầu như không cần thông báo trước, tới các khoản cho vay dài hạn, ví
dụ như để mua nhà hay máy móc thiết bị - những thứ có thể hoàn trả trong vòng hàng chục năm Phần lớn các tài sản nợ của ngân hàng đều có kỳ hạn ngắn hơn so với tài sản có Do đó, kỳ hạn giữa hai tài sản này bị lệch nhau Điều này làm nảy sinh rắc rối, nếu như người gửi tiền trở nên lo lắng về chất lượng của các khoản cho vay của ngân hàng đến nỗi họ đòi rút tiền tiết kiệm của mình về Mặc dù một số khoản thấu chi hay khoản tín dụng có thể dễ dàng thu hồi lại, song các khoản cho vay dài hạn hơn có tính thanh khoản thấp hơn nhiều Sự “chuyển đổi kỳ hạn” này có
Trang 3119
thể làm cho ngân hàng phá sản Một nguy cơ phổ biến hơn là rủi ro tín dụng: khả năng người đi vay không thể hoàn trả nợ Rủi ro này có xu hướng tích tụ trong những giai đoạn thịnh vượng, khi ngân hàng nới lỏng các tiêu chí cho vay, và những khó khăn chỉ lộ rõ khi suy thoái xảy ra Ví dụ như vào cuối thập niên 80, các ngân hàng Nhật Bản, bị cám dỗ bởi sức mạnh kinh tế rõ rành rành của quốc gia, đã cho các công ty có rủi ro cao vay những khoản tiền lớn, sau đó nhiều công ty trong số này đã bị phá sản Một số ngân hàng cũng theo chân các công ty mà phá sản; số còn lại thì vẫn còn khó khăn Mối đe dọa thứ ba đối với các ngân hàng là rủi ro lãi suất Đây là khả năng ngân hàng trả lãi cho các khoản tiền gửi cao hơn là số tiền lãi mà ngân hàng có thể thu được từ các khoản cho vay Sở dĩ có hiện tượng này bởi vì lãi suất trên các khoản cho vay thường được ấn định ở một mức cố định, trong khi đó lãi suất trên các khoản tiền gửi thì nói chung là khả biến Sự bất cân bằng lãi suất này đã phá hủy phần lớn ngành tiết kiệm - cho vay (quỹ tiết kiệm) của Mỹ Khi lãi suất tăng mạnh vào năm 1979, các hội tiết kiệm - cho vay nhận thấy mình đang trả cho những người gửi tiền nhiều hơn số tiền kiếm được trên các khoản cho vay Cuối cùng thì Chính phủ phải ra tay cứu hoặc đóng cửa phần lớn các tổ chức trong lĩnh vực này Một cách để tránh tình trạng này là cho vay ở mức lãi suất khả biến hay thả nổi, để tương ứng với các khoản tiền gửi có lãi suất thả nổi Tuy nhiên, người vay tiền thường thích các khoản vay có lãi suất cố định hơn, vì như vậy họ có thể dự trù trước được tiền trả lãi Gần đây, các ngân hàng và người vay tiền có thể “hoán đổi” các tài sản có lãi suất cố định để lấy các tài sản có lãi suất thả nổi trên thị trường hoán đổi lãi suất (interest-rate swap)
1.2.1.2 Các thách th ức ngân hàng đang đối mặt trong hoạt động kinh doanh Thứ nhất , ứng dụng và phát triển công nghệ trong hoạt động của các NHTM đang là xu hướng tất yếu Các NHTM cần xây dựng và phát triển công nghệ thông tin hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin đạt hiệu quả cao qua nâng cấp các phần mềm ứng dụng quản lý, tăng khả năng vận dụng công nghệ thông tin vào các kênh phân phối của ngân hàng như internet banking, mobile banking, tablet banking, social network/media Thực tế cho thấy dịch vụ ngân hàng di động đang phát triển mạnh mẽ, góp phần không nhỏ trong việc mang lại tiện ích và sự hài lòng của khách
Trang 3220
hàng, từ đó có thể mở rộng được khách hàng, giảm chi phí giao dịch cho ngân hàng Tuy nhiên, Hiện nay, các kênh phân phối truyền thống như qua chi nhánh/phòng giao dịch, ATM, POS, phone banking, home banking, call center… vẫn được sử dụng rất phổ biến Điều đó cho thấy, quản trị công nghệ đang là một thách thức lớn trước sức ép hội nhập quốc tế của hệ thống NHTM
Thứ hai, An ninh mạng là vấn đề khá nhức nhối đối với hoạt động ngân hàng
hiện nay Lĩnh vực ngân hàng thường xuyên là mục tiêu bị tấn công nhiều nhất bởi đây là lĩnh vực có khối lượng tài sản có giá trị rất lớn cần phải được bảo vệ Ngoài
ra thông tin dữ liệu của khách hàng tại các ngân hàng cũng là một tài sản vô giá Do
đó, mỗi cuộc tấn công xâm nhập mang lại nhiều tiền bạc cho hacker và ngược lại thì khách hàng và ngân hàng thiệt hại rất lớn Con số thiệt hại tiền của về an ninh mạng ngày càng lớn Con số thống kê đến 3.700 domain của các ngân hàng khác nhau đã
bị tấn công như Bank of America, Citibank… mà mỗi ngân hàng này chỉ có vài domain Như vậy, với 3.700 domain bị tấn công thì sẽ có nhiều ngân hàng trên toàn cầu đang bị tấn công Phương thức tấn công của các hacker là gửi email mang danh của ngân hàng gửi tới nhân viên của ngân hàng đánh lừa họ mở các tài liệu từ đó xâm nhập vào hệ thống Đó có thể là tấn công dịch chuyển trong hệ thống ngân hàng hoặc có thể truy cập vào hệ thống swift lấy dữ liệu chuẩn bị cho cuộc tấn công
khác Trong lịch sử gần đây có những vụ tấn công lớn thông qua truy cập hệ thống swift như ở Bangladesh vào năm 2016 khiến cho ngân hàng nước này mất 1 tỷ USD
Th ứ ba, thách thức trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý phục vụ hoạt
động thanh toán điện tử, trong đó, khuôn khổ pháp lý và cơ chế chính sách liên quan đến các dịch vụ, phương tiện thanh toán trực tuyến, điện tử mới, hiện đại,
tiền ảo, thẻ ảo, tiền điện tử là những vấn đề mới, phức tạp, cần được tiếp tục nghiên cứu, đánh giá, sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu thực tế và sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin và viễn thông
Thứ tư, thách thức đối với các tổ chức tín dụng là việc mô hình kinh doanh,
mô hình quản trị, thanh toán có thể phải được xem xét lại để phù hợp với xu hướng quản trị thông minh AI, mô hình ngân hàng di động, ngân hàng không giấy,
Trang 3321
ngân hàng số, thanh toán điện tử; hay thách thức trong việc phải nghiên cứu, tối đa hóa trải nghiệm của khách hàng trong lĩnh vực thanh toán để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng thời đại CMCN 4.0
Thứ năm, Lợi ích của công nghệ 4.0 là không thể phủ định, nhưng nó cũng
không thể phát triển nếu bỏ qua sự an toàn và lành mạnh của các định chế ngân hàng Các ngân hàng và các cơ quan giám sát ngân hàng có thể xem xét duy trì sự
quan tâm tới việc quản lý rủi ro, kiểm soát các chuẩn mực và bảo vệ trước các kênh phân phối mới xuất hiện cùng các dịch vụ đi kèm được các định chế tài chính giới thiệu thông quan các fintech Tuy nhiên, nhiều chuẩn mực và quy tắc quy định, đã được phát triển trước khi nhiều công nghệ ra đời và đưa vào sử dụng ngày nay, có thể tạo ra những rào cản không mong muốn
1.2.2 B ối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0
Thuật ngữ "Cách mạng công nghiệp lần thứ tư" đã được áp dụng cho sự phát triển công nghệ quan trọng một vài lần trong 75 năm qua, và là để thảo luận về học thuật Khái niệm Công nghiệp 4.0 hay nhà máy thông minh lần đầu tiên được đưa ra tại Hội chợ công nghiệp Hannover tại Cộng hòa Liên bang Đức vào năm 2011 Công nghiệp 4.0 nhằm thông minh hóa quá trình sản xuất và quản lý trong ngành công nghiệp chế tạo Sự ra đời của Công nghiệp 4.0 tại Đức đã thúc đẩy các nước tiên tiến khác như Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ thúc đẩy phát triển các chương trình tương tự nhằm duy trì lợi thế cạnh tranh của mình
Năm 2013, một từ khóa mới là "Công nghiệp 4.0" (Industrie 4.0) bắt đầu nổi lên xuất phát từ một báo cáo của chính phủ Đức đề cập đến cụm từ này nhằm nói tới chiến lược công nghệ cao, điện toán hóa ngành sản xuất mà không cần sự tham gia của con người Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) lần thứ 46 đã chính thức khai mạc tại thành phố Davos-Klosters của Thụy Sĩ, với chủ đề “Cuộc CMCN lần thứ 4”, Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã đưa ra một định nghĩa mới, mở rộng hơn khái niệm Công nghiệp 4.0 của Đức Nhân loại đang đứng trước một cuộc cách mạng công nghiệp mới, có thể thay đổi hoàn toàn cách chúng ta sống, làm việc và quan hệ với nhau Quy mô, phạm vi và sự phức tạp của lần chuyển đổi này không
Trang 3422
giống như bất kỳ điều gì mà loài người đã từng trải qua Cụ thể, đây là “một cụm thuật ngữ cho các công nghệ và khái niệm của tổ chức trong chuỗi giá trị” đi cùng với các hệ thống vật lý trong không gian ảo, Internet kết nối vạn vật (IoT) và Internet của các dịch vụ (IoS) Hiện nay, Công nghiệp 4.0 đã vượt ra khỏi khuôn khổ dự án của Đức với sự tham gia của nhiều nước và trở thành một phần quan trọng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Đặc trưng thứ nhất của cuộc CMCN 4.0, được xây dựng trên nền tảng cuộc CMCN lần thứ Ba, là sự hợp nhất các công nghệ, làm mờ đi ranh giới giữa các các lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số và sinh học Cuộc CMCN 4.0 tạo điều kiện thuận lợi cho
việc tạo ra các nhà máy thông minh, trong đó các hệ thống vật lý không gian ảo sẽ giám sát các quá trình vật lý, tạo ra một bản sao ảo của thế giới vật lý Với sự phát triển của Internet vạn vật (Internet of Things - IoT), các hệ thống vật lý không gian
ảo này tương tác với nhau và với con người theo thời gian thực, phục vụ con người thông qua mạng Internet dịch vụ Công nghệ hiện tại đã cho phép hàng tỷ người kết
nối mạng mọi lúc, mọi nơi thông qua các thiết bị di động, cho phép xử lý, lưu trữ,
và tiếp cận tri thức không giới hạn Những khả năng này sẽ được nhân gấp bội lên
bởi những công nghệ đột phá trong các lĩnh vực khác, đặc biệt bởi năng lực tính toán và sự sẵn có khối lượng lớn dữ liệu Trong khi đó, các công nghệ chế tạo kỹ thuật số đang từng ngày tương tác với thế giới sinh học Với việc các công nghệ chế
tạo số có thể tương tác với thế giới sinh học, các nhà thiết kế và kiến trúc sư đã kết
hợp giữa thiết kế bằng máy tính, chế tạo cộng (additive manufacturing), kỹ thuật vật
liệu và sinh học tổng hợp cho các hệ thống tiên phong có liên quan đến sự tương tác
giữa các vi sinh vật, cơ thể người, những sản phẩm con người tiêu thụ, và thậm chí
cả những tòa nhà con người đang sinh sống
Thứ hai, cuộc CMCN 4.0 có thể mở ra kỷ nguyên mới của đầu tư, năng suất
và mức sống gia tăng Sự áp dụng thành công trong lĩnh vực khoa học robot, Internet vạn vật, dữ liệu lớn (Big data), điện thoại di động và công nghệ in 3D (3D printing) sẽ thúc đẩy năng suất lao động toàn cầu như những gì mà máy tính cá nhân và mạng Internet đã làm được vào cuối những năm 1990 Đối với các nhà đầu
Trang 3523
tư, cuộc CMCN 4.0 này sẽ mở ra cơ hội cho lợi nhuận khổng lồ, tương tự những gì các cuộc CMCN trước mang lại
Thứ ba, cuộc CMCN 4.0 không chỉ đơn thuần là sự kéo dài của cuộc CMCN
lần thứ Ba, mà có một sự khác biệt lớn về tốc độ phát triển, phạm vi và mức độ tác động của nó Tốc độ của những đột phá hiện nay chưa hề có tiền lệ trong lịch sử So
với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, cuộc CMCN 4.0 này đang phát triển với tốc độ ở cấp số nhân chứ không phải cấp số cộng Hơn nữa, nó đang làm
biến đổi hầu hết nền công nghiệp ở mọi quốc gia cả về bề rộng và chiều sâu trong toàn bộ các hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị Ai cũng có thể tham gia vào cuộc cách mạng này, không chỉ là tốc độ, mà còn là quy mô phát triển đáng kinh ngạc
Thử so sánh thành phố Detroit vào năm 1990 (là một trung tâm lớn của các ngành công nghiệp truyền thống) với Thung lũng Silicon vào năm 2014 Năm 1990, ba công ty lớn nhất tại Detroit có vốn cổ phần hóa thị trường là 36 tỷ đô la Mỹ, doanh thu là 250 tỷ đô la Mỹ và có 1,2 triệu nhân viên Trong năm 2014, ba công ty lớn
nhất ở Thung lũng Silicon có vốn cổ phần hóa thị trường cao hơn một cách đáng kể (1,09 nghìn tỷ USD), tạo ra doanh thu tương tự với ba công ty ở Detroit là khoảng
247 tỷ USD, nhưng với số nhân viên ít hơn khoảng 10 lần (137.000 nhân viên)
Thực tế là một đơn vị của cải vật chất được tạo ra ngày nay có thể sử dụng ít nhân công hơn so với 10 hay 15 năm trước đây bởi vì các doanh nghiệp dựa trên công nghệ số có chi phí biên gần bằng không Ngoài ra, thực tế của thời đại số là nhiều doanh nghiệp mới cung cấp "các hàng hóa thông tin" với các chi phí lưu trữ,
vận chuyển và nhân rộng hầu như bằng không Một số công ty có công nghệ đột phá dường như đòi hỏi ít vốn hơn để phát triển Ví dụ về các doanh nghiệp như Instagram hay WhatsApp không đòi hỏi nhiều vốn để khởi nghiệp đã cho thấy sự thay đổi vai trò của vốn và quy mô kinh doanh trong bối cảnh của cuộc CMCN 4.0
Thứ tư, với cuộc CMCN 4.0, bên cạnh việc tìm ra những nguồn/dạng năng lượng mới và công nghệ sử dụng và khai thác nguồn/dạng năng lượng mới này, còn
có các công nghệ nhắm tới việc sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực hiện có bằng các công nghệ nhúng, công nghệ phái sinh Dựa trên nền tảng là những thành công
rực rỡ trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên như toán học, vật lý, hóa học, khoa học
Trang 3624
xã hội và nhân văn, các lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN) như công nghệ tin học, công nghệ vật liệu, công nghệ sinh học, công nghệ nông nghiệp, y dược, nhân loại đã có nhiều phát kiến đổi mới sáng tạo và ứng dụng phục vụ hiệu quả lợi ích của con người Bản chất của cuộc CMCN 4.0 là khai thác tối ưu các yếu tố nguồn lực như vậy, trong một mối tương tác và hỗ trợ lẫn nhau, thúc đẩy nhau phát triển
Thứ năm, cuộc CMCN 4.0 còn dẫn tới những thay đổi trong khái niệm đổi
mới công nghệ, trang thiết bị sản xuất Hiện nay, giá trị gia tăng của ngành sản xuất
phụ thuộc chủ yếu vào việc gia công vật liệu thành sản phẩm, đưa vào đó phần mềm
hoặc hệ thống điều khiển Tuy nhiên, trong tương lai, dựa vào thu thập nhu cầu của khách hàng qua hệ thống kết nối Internet, nhà sản xuất sẽ chỉ cập nhật phần mềm
chứ không cần bán sản phẩm phần cứng khác Thêm vào đó, không chỉ sản phẩm,
mà cả thiết bị sử dụng trong sản xuất cũng chỉ cần cập nhật phần mềm để thêm tính năng mới mà không cần phải thay thế chi tiết hay bộ phận
1.2.3 Kinh doanh ngân hàng trong b ối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0
Độ lan tỏa mạnh mẽ của Fintech ngày nay xuất phát từ sự phát triển mạnh mẽ
của hàng loạt các công nghệ mới như ứng dụng sổ cái phân tán, robot tư vấn, dữ
liệu lớn, điện toán đám mây, giải pháp nhận diện khách hàng hiện đại… Mỗi loại công nghệ có tốc độ phát triển và quy mô ảnh hưởng khác nhau đến lĩnh vực tài chính Đặc biệt, một số lĩnh vực Fintech hứa hẹn sẽ đóng một vai trò quan trọng trong toàn bộ hệ thống, tạo nên cuộc cách mạng số hóa cho ngành tài chính ngân hàng (như trường hợp của công nghệ Blockchain)
Sự khác biệt giữa Fintech và các ngân hàng truyền thống nằm ở chỗ: các Fintech sử dụng mô hình kinh doanh trực tuyến để tiếp cận tới thế hệ những người
chịu tác động mạnh mẽ của công nghệ và các phân khúc khách hàng khác; trong khi các ngân hàng sử dụng công nghệ trực tuyến để cắt giảm chi phí hoạt động, thì các Fintech sử dụng mô hình trực tuyến để có thêm thị phần thông qua việc cung ứng
trải nghiệm được điều chỉnh phù hợp cho người tiêu dùng với chi phí cố định thấp Các Fintech tham gia nhiều vào các lĩnh vực có tiềm năng và tránh sử dụng mạng
Trang 3725
lưới hạ tầng tốn kém như việc sử dụng tiền kỹ thuật số với công nghệ blockchain trong mô hình thanh toán xuyên biên giới phục vụ các giao dịch ngoại hối Những công ty Fintech thành công do có thể cung cấp trải nghiệm khách hàng tốt hơn và
tiện lợi hơn với mức giá thấp hơn rất nhiều so với các ngân hàng truyền thống
Fintech đã làm thay đổi quan niệm cho rằng ngành dịch vụ tài chính là sân chơi của các định chế tài chính lớn với lợi thế về quy mô, mạng lưới, cơ sở khách hàng cùng nguồn lực dồi dào để phát triển ngay cả trong điều kiện kinh tế khó khăn Ảnh hưởng của Fintech lên thị trường dịch vụ tài chính là khác nhau giữa các nước,
phụ thuộc vào các rào cản quy định cùng hệ sinh thái Fintech ở mỗi quốc gia
Hiện nay, nhu cầu liên quan tới các dịch vụ do các công ty Fintech cung ứng ngày càng lớn Điều này mở ra cơ hội rất lớn cho cả các định chế tài chính truyền
thống lẫn những công ty này Theo kết quả điều tra của BCBS năm 2016, trong số các dịch vụ được công ty fintech cung ứng, chiếm tỷ trọng lớn nhất là lĩnh vực thanh toán, bù trừ và quyết toán (41%), tiếp theo là các dịch vụ hỗ trợ thị trường (27%), dịch vụ tín dụng, gửi tiền và huy động vốn chiếm 18%, quản lý đầu tư (9%),
và các dịch vụ khác (5%)
Ngoài các xu hướng chính nổi bật nêu trên, các xu thế khác của Fintech đang
trỗi dậy và hứa hẹn sẽ phát triển mạnh mẽ trong tương lai có thể kể đến như sau (PwC, Global Fintech Report, 2016):
(i) Sự trỗi dậy của hoạt động cho vay ngang hàng (P2P lending): Xu hướng
sử dụng công nghệ cho phép phát triển hoạt động cho vay mà không cần qua khâu trung gian dựa trên nền tảng của kinh tế chia sẻ Nhiều nền tảng cho vay ngang hàng là kết quả của sự hợp tác giữa các ngân hàng truyền thống và các công ty fintech Nghiên cứu gần đây của PwC năm 2016 cho thấy 44% người có thu nhập dưới 75.000 USD/ năm đặt lòng tin vào một công ty công nghệ để thực hiện thanh toán ngang hàng, và con số này tăng 68% trong số những người có thu nhập trên 100.000 USD/năm
(ii) Phát triển các dịch vụ và giải pháp cho người tiêu dùng chưa được tiếp cận
dịch vụ tài chính ngân hàng (underserved customers): Giúp cắt giảm chi phí cung
Trang 3826
ứng dịch vụ cho người tiêu dùng chưa có điều kiện hoặc chưa được tiếp cận dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là ở khu vực khó khăn, vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa Trên
thị trường tài chính các nước đang phát triển, mạng lưới chi nhánh thường tập trung
ở các vùng đô thị và bỏ trống nông thôn, vùng sâu, vùng xa, các ngân hàng có thể
hợp tác với các tổ chức công nghệ để tạo ra những kênh phân phối mới phi vật chất,
chẳng hạn M-Pesa ở Kenya đã cung ứng dịch vụ thanh toán qua điện thoại di động
và mạng lưới đại lý ở những nơi ngân hàng không phục vụ, và theo một báo cáo gần đây hiện các dịch vụ này đã được tới 90% dân số trưởng thành của nước này sử
dụng
(iii) Phát triển các dịch vụ bảo lãnh tín dụng, phân tích, đưa ra các quyết định
dựa trên ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn cho phép các nhà cung cấp dịch vụ tài chính đánh giá chính xác rủi ro về giá hơn
(iv) Ứng dụng giao diện chương trình ứng dụng mở (API mở) để tích hợp
hoặc hợp nhất với ngân hàng giúp đơn giản hóa quy trình nghiệp vụ API mở cho phép các bên thứ ba phát triển các ứng dụng giá trị gia tăng đối với các nền tảng công ty, trí tuệ nhân tạo, từ đó thu hút khách hàng và nhân tài nhiều hơn; lao động
và máy móc thông minh sẽ tích hợp để làm việc theo nhóm; ngân hàng sẽ triển khai cung ứng các dịch vụ số
(v) Sự phức tạp về cách thức tiếp cận, thu hút khách hàng tham gia dịch vụ và
giữ chân khách hàng Thu hút khách hàng tham gia thông qua các phương pháp phân tích trong môi trường cộng tác sẽ mang đến trải nghiệm tốt hơn cho khách hàng, cũng như trong việc giữ chân khách hàng
(vi) Sự xuất hiện của các công cụ tự phục vụ (self-service tools): Tăng tính tự
chủ/độc lập của khách hàng trong việc thực hiện từng dịch vụ mà không cần sự tác động của con người Những công cụ tự phục vụ như internet banking và ứng dụng Internet có xu hướng ngày càng phổ biến
(vii) Sự dịch chuyển hướng tới các kênh ảo, bao gồm các kênh di động Các ngân hàng ảo sử dụng những nền tảng/ứng dụng trực tuyến và di động để tích hợp
và đơn giản hóa trải nghiệm của khách hàng Đồng thời, cung cấp cho người tiêu dùng khả năng tiếp cận tức thời (on-demand access) để quản lý tài khoản ngân
Trang 3927
hàng, hóa đơn, hồ sơ tín dụng, mở tài khoản và thực hiện các hoạt động ngân hàng khác thông qua một cổng riêng
(viii) Số hóa các chức năng quản lý ngân quỹ và tiền mặt dựa trên việc ứng
dụng các nền tảng trực tuyến để tạo đột phá cho các mô hình truyền thống, tạo ra
những nguồn doanh thu mới và giá trị cho doanh nghiệp
(ix) Đơn giản hóa và hướng tới quy trình ứng dụng sản phẩm sáng tạo để mang tới những trải nghiệm cho người tiêu dùng Sự xuất hiện của các giải pháp công nghệ trên nền tảng điện toán đám mây và hệ thống quản lý tài khoản ngân hàng điện tử đem tới trải nghiệm cho người tiêu dùng và giúp giảm bớt các công
việc thủ công, tiết kiệm thời gian và giảm thiểu lỗi phát sinh
(x) Sự phát triển của lĩnh vực gọi vốn cộng đồng (crowdfunding/ seed funding) Những lựa chọn huy động vốn mới đã xuất hiện trên thị trường, bao gồm cho vay ngang hàng và các nền tảng cho vay trên thị trường (marketplace lending platform)
1.3.1 Điện toán đám mây (Cloud Computing)
Định nghĩa
Điện toán đám mây là việc sử dụng mạng trực tuyến ("đám mây") của bộ xử lý lưu trữ để tăng quy mô và tính linh hoạt của năng lực máy tính Mô hình này cho phép truy cập mạng một cách thuận tiện theo nhu cầu tới tài nguyên điện toán cấu hình (ví dụ mạng, máy chủ, phương tiện lưu trữ, ứng dụng và dịch vụ) mà những tài nguyên này có thể được giải phóng nhanh chóng chỉ với nỗ lực quản lý tối thiểu
hoặc chỉ cần tương tác với nhà cung cấp dịch vụ1
Đại bộ phận hạ tầng cơ sở của điện toán đám mây hiện nay là sự kết hợp của
những dịch vụ đáng tin cậy được phân phối thông qua các trung tâm dữ liệu (data center) được xây dựng trên những máy chủ với những cấp độ khác nhau Những
dịch vụ này có thể được truy cập từ bất kỳ đâu trên thế giới, trong đó Đám mây là
1
Theo BIS
Trang 4028
một điểm truy cập duy nhất cho tất cả các máy tính có nhu cầu của khách hàng
Đặc điểm
Điện toán đám mây mang những đặc điểm chính:
(i) Giảm chi phí: Doanh nghiệp sẽ có khả năng cắt giảm chi phí để mua bán, cài đặt và bảo trì tài nguyên Thay vì phải cử một chuyên gia đi mua máy chủ, cài đặt máy chủ, bảo trì máy chủ thì với điện toán đám mây, doanh nghiệp chỉ phải xác định chính xác lượng tài nguyên mình cần và yêu cầu;
(ii) Giảm độ phức tạp trong cơ cấu của doanh nghiệp thông qua việc thuê ngoài hoặc khoán ngoài các công việc liên quan đến vận hành công nghệ và bảo trì máy chủ;
(iii) Tăng khả năng sử dụng tài nguyên do không phải lo ngại về thời gian hết
khấu hao khi đầu tư tài nguyên hoặc tình trạng lỗi thời khi sử dụng tài nguyên trên đám mây
Đối với các công ty Fintech, các giải pháp về điện toán đám mây giúp các ngân hàng dễ dàng tiếp cận hạ tầng công nghệ thông tin, dữ liệu mà chúng đã phải
mất hàng thập kỷ để xây dựng; tiết giảm chi phí; giảm rào cản tham gia vào các
dịch vụ tài chính do việc quản lý dữ liệu lớn và ứng dụng phân tích phức tạp được đơn giản hóa; cho phép tập trung vào lĩnh vực kinh doanh chính và gia tăng quy mô tương ứng khi doanh nghiệp tăng trưởng
Các ngân hàng truyền thống sử dụng điện toán đám mây để phát triển các giải pháp mới mà không phải đầu tư trang thiết bị, triển khai, nâng cấp, bảo trì, từ đó tiết
giảm chi phí Theo đó, các ngân hàng thường sẽ sử dụng các dịch vụ điện toán đám mây từ nhà cung cấp (Public Clound) thay vì đầu tư ứng dụng điện toán đám mây riêng (Private Clound) Đối với việc sử dụng các dịch vụ điện toán đám mây từ nhà cung cấp, cho dù tất cả các hoạt động có được thuê ngoài, các ngân hàng vẫn phải
chịu trách nhiệm quản lý rủi ro và giám sát mọi hoạt động Do đó, lo ngại về an toàn
và bảo mật (khó khăn trong việc kiểm soát, bảo đảm an toàn thông tin mạng, bảo vệ
dữ liệu, nguy cơ bị tấn công mạng gia tăng…) là một rào cản ngăn các ngân hàng sử
dụng điện toán đám mây như một cơ sở hạ tầng chủ đạo