TÓM TẮT LUẬN VĂN Về mặt lý thuyết, tác giả đã hệ thống hoá được những vấn đề cơ bản về tín dụng chính sách cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác, đưa ra và phân tích được khái
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
Ngành: Tài chính - Ngân hàng Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 83.40.201
NGUYỄN THỊ VÂN HÀ
Người hướng dẫn: PGS, TS Bùi Anh Tuấn
Hà Nội, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu đã nêu trong luận án có nguồn gốc rõ ràng và kết quả của luận án là trung thực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên
Người cam đoan
Nguyễn Thị Vân Hà
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
TÓM TẮT LUẬN VĂN vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH VÀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH 9
1.1 Những vấn đề cơ bản về tín dụng chính sách 9
1.1.1 Khái niệm về tín dụng chính sách 9
1.1.2 Đặc điểm của tín dụng chính sách 10
1.1.3 Vai trò của tín dụng chính sách 12
1.2 Hiệu quả tín dụng chính sách 14
1.2.1 Quan điểm về hiệu quả tín dụng 14
1.2.2 Quan điểm về hiệu quả tín dụng chính sách 15
1.2.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách 15
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả tín dụng chính sách 16
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng chính sách 20
1.3.1 Các nhân tố chủ quan thuộc về ngân hàng 20
1.3.2 Các nhân tố khách quan ngoài ngân hàng: 21
1.4 Kinh nghiệm về hoạt động tín dụng chính sách ở một số nước và bài học áp dụng cho Việt Nam 24
1.4.1 Kinh nghiệm về tín dụng chính sách của một số nước 24
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2014-2018 31
2.1 Khái quát về Ngân hàng Chính sách xã hội 31
2.1.1 Sự hình thành và một số nét đặc thù trong hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội 31
Trang 52.1.2 Tổng quan về kết quả hoạt động chung của Ngân hàng Chính sách xã
hội 32
2.2 Thực trạng hiệu quả tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội 38
2.2.1 Về hiệu quả xã hội 38
2.2.2 Về hiệu quả kinh tế 42
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng chính sách của Ngân hàng Chính sách xã hội 48
2.3.1 Các nhân tố chủ quan thuộc về ngân hàng 48
2.3.2 Các nhân tố khách quan ngoài ngân hàng 52
2.4 Đánh giá chung về hiệu quả tín dụng chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội 56
2.4.1 Kết quả đạt được 56
2.4.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 57
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 59
3.1 Định hướng phát triển Ngân hàng Chính sách xã hội giai đoạn 2019-2025 59 3.1.1 Định hướng mục tiêu phát triển Ngân hàng Chính sách xã hội 59
3.1.2 Định hướng nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội 62
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội 63
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện hành lang pháp lý đối với hoạt động tín dụng chính sách 63
3.2.2 Giải pháp về tổ chức điều hành 65
3.2.3 Giải pháp về nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực 68
3.2.4 Giải pháp về công nghệ và hệ thống thông tin của Ngân hàng Chính sách xã hội 69
3.2.5 Giải pháp liên quan đến người vay vốn 70
3.2.6 Giải pháp đối với chính quyền địa phương 70
Trang 63.2.7 Giải pháp về nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các Hội,
đoàn thể 71
3.2.8 Giải pháp về nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Tổ tiết kiệm và vay vốn 72
3.2.9 Giải pháp về nâng cao hiệu quả huy động vốn 73
3.2.10 Giải pháp về xử lý, phòng ngừa nợ xấu của Ngân hàng Chính sách xã hội 75
3.3 Một số kiến nghị 77
3.3.1 Kiến nghị với Quốc hội 77
3.3.2 Kiến nghị với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ 78
3.3.3 Kiến nghị đối với Bộ Kế hoạch và Đầu tư 78
3.3.4 Kiến nghị đối với Bộ Tài chính 79
3.3.5 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 79
3.3.6 Kiến nghị đối với các Bộ, ngành liên quan khác: 79
3.3.7 Kiến nghị với chính quyền địa phương 80
3.3.8 Kiến nghị với Mặt trân tổ quốc và các Hội đoàn thể các cấp 80
KẾT LUẬN 81 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Biểu đồ
Biểu đồ 2.1: Tình hình huy động vốn của NHCSXH giai đoạn 2014 – 2018 32
Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng hộ thoát nghèo theo vùng miền nhờ vay vốn của NHCSXH đến năm 2018 38
Bảng Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn vốn của NHCSXH giai đoạn 2014 - 2018 33
Bảng 2.2: : Dư nợ cho vay của NHCSXH giai đoạn 2014 - 2018 35
Bảng 2.3: Cơ cấu dư nợ các chương trình tín dụng cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác tại NHCSXH 36
Bảng 2.4: Chênh lệch thu - chi của NHCSXH giai đoạn 2014 - 2018 37
Bảng 2.5: Hệ số sử dụng vốn của NHCSXH giai đoạn 2014 - 2018 42
Bảng 2.6: Vòng quay vốn tín dụng của NHCSXH giai đoạn 2014 - 2018 43
Bảng 2.7: Nợ xấu của NHCSXH giai đoạn 2014 - 2018 44
Bảng 2.8: Tỷ lệ thu lãi, lãi tồn đọng của NHCSXH giai đoạn 2014 - 2018 46
Bảng 2.9: Lợi nhuận của NHCSXH giai đoạn 2014 - 2018 47
Bảng 2.10: Kết quả xếp loại chất lượng của Tổ TK&VV 47
giai đoạn 2014 - 2018 47
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASXH An sinh xã hội CT-XH Chính trị - Xã hội HQTD Hiệu quả tín dụng NHCSXH Ngân hàng Chính sách xã hội NHTM Ngân hàng thương mại TCTD Tổ chức tín dụng TDCSXH Tín dụng chính sách xã hội TK&VV Tiết kiệm và vay vốn UBND Uỷ ban nhân dân
Trang 9TÓM TẮT LUẬN VĂN
Về mặt lý thuyết, tác giả đã hệ thống hoá được những vấn đề cơ bản về tín dụng chính sách cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác, đưa ra và phân tích được khái niệm, nội dung và các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả tín dụng (HQTD) chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) Trên cơ sở bài học kinh nghiệm từ tín dụng chính sách của Bangladesh, Indonesia và Thái Lan, tác giả đã rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về nâng cao HQTD chính sách
Về mặt thực tiễn, Luận văn đã khái quát thực trạng các chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác cũng như đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng chính sách tại NHCSXH trên các khía cạnh cả về hiệu quả kinh tế lẫn hiệu quả xã hội Các chương trình tín dụng chính
sách của NHCSXH đã mang lại nhiều kết quả tích cực và được Quốc hội đánh giá
là một trong những điểm sáng trong các chính sách giảm nghèo (Báo cáo số 660/BC-UBTVQH13 ngày 19/5/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII) với nhiều hộ nghèo được tiếp cận với vốn vay và sử dụng vốn vay hiệu quả, từng bước vươn lên thoát nghèo Các chương trình tín dụng không chỉ giúp giải quyết những bất cập về tài chính cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác mà còn góp phần giải quyết vấn đề nghèo đa chiều khi giảm thiểu được tình trạng mù chữ, nâng cao trình độ học vấn cũng như góp phần cải thiện các vấn đề về môi trường Luận văn cũng đã chỉ ra nhiều tồn tại như: Sự bấp cập trong cung - cầu về vốn tín dụng chính sách; một bộ phận người nghèo sử dụng vốn vay chưa hiệu quả, chưa thoát nghèo bền vững; công tác huy động vốn đáp ứng nhu cầu tín dụng còn một số khó khăn; việc xử lý các khoản nợ quá hạn, nợ xấu tại NHCSXH vẫn còn những hạn chế
Trên cơ sở phân tích những tồn tại và nguyên nhân tồn tại trong chương 2, tác giả đã đưa ra sáu nhóm giải pháp chính nhằm nâng cao HQTD của NHCSXH như: Giải pháp về hoàn thiện hành lang pháp lý, giải pháp về tổ chức điều hành; giải pháp liên quan đến cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, giải pháp về nâng cao hiệu quả huy động vốn, giải pháp về xử lý, phòng ngừa nợ xấu của NHCSXH và giải pháp về nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương, các Hội đoàn thể và các Tổ Tiết kiệm và vay vốn (TK&VV) Trong luận văn, tác giả đã đề xuất kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan, chính quyền địa phương, Hội đoàn thể các cấp và các cơ quan liên quan nhằm hỗ trợ thực hiện các giải pháp kể trên
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hoạt động chủ yếu của ngân hàng là mảng hoạt động tín dụng và các dịch vụ kinh doanh khác, những hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, là những nhân tố cơ bản, ảnh hưởng đến quá trình phát triển ổn định và bền vững của Ngân hàng Nếu như trước đây ta nhắc nhiều đến việc làm thế nào để tăng cường vốn huy động, tăng trưởng tín dụng thì những năm gần đây ta chú ý nhiều đến cụm từ “Hiệu quả tín dụng” Tăng trưởng về số lượng là một yếu tố tất yếu thì tăng trưởng về hiệu quả cũng là điều khiến chúng ta quan tâm, chú trọng hơn nữa Vấn đề mà các ngân hàng thương mại (NHTM) lo ngại nhất là rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng gây ra tổn thất về tài chính, giảm giá trị thị trường của vốn ngân hàng, trong trường hợp nghiêm trọng hơn có thể làm cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng bị thua lỗ, thậm chí là phá sản ngân hàng Phân tích HQTD là khâu quan trọng nhất trong quản trị tín dụng ngân hàng Nó không những giúp cho ngân hàng có những định hướng đúng đắn mà còn sử dụng các kết quả phân tích này để có những điều chỉnh kịp thời, khắc phục những mặt yếu kém, phát huy những mặt mạnh nhằm kiểm soát rủi
ro tín dụng, nâng cao HQTD, cải thiện tình hình tài chính của ngân hàng
Chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác là một chính sách đúng đắn, góp phần hạn chế được mặt trái của kinh tế thị trường, thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa TDCSXH được thực hiện thông qua NHCSXH còn góp phần ngăn chặn tệ cho vay nặng lãi ở khu vực nông thôn, là một công cụ kinh tế thực hiện vai trò điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường đến với những đối tượng dễ bị tổn thương và là một trong những đòn bẩy kinh tế kích thích người nghèo và các đối tượng chính sách khác có điều kiện phát triển sản xuất, cải thiện cuộc sống, tự vươn lên khẳng định vị thế của mình trong xã hội, góp phần xây dựng nông thôn mới, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Khác với NHTM, NHCSXH hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán; tỷ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng là 0%; Ngân hàng không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản
Trang 11phải nộp ngân sách nhà nước Theo báo cáo của NHCSXH tại công văn số NHCS ngày 12/2/2019, đến 31/12/2018, tổng nguồn vốn tín dụng chính sách đạt 194.420 tỷ đồng, tăng 19.038 tỷ đồng so năm 2017 Tổng dư nợ các chương trình tín dụng đạt 187.792 tỷ đồng, tăng 16.003 tỷ đồng (+9,3%) so với năm 2017, với gần 6,7 triệu hộ nghèo và các đối tượng chính sách đang được vay vốn; trong đó, dư
736/BC-nợ tín dụng thực hiện theo kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao đạt 165.141 tỷ đồng, tăng 12.938 tỷ đồng, hoàn thành 100% kế hoạch Gắn liền với việc tăng trưởng dư
nợ, HQTD ngày càng được nâng lên Đến 31/12/2018, tỷ lệ nợ quá hạn và nợ khoanh chiếm 0,78%/tổng dư nợ, trong đó nợ quá hạn 736 tỷ đồng, chiếm 0,39%/tổng dư nợ Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động TDCSXH vẫn còn một số hạn chế Tại một số địa phương, công tác điều tra, xác nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách chưa được quan tâm đúng mức; có nơi chưa rà soát, bổ sung kịp thời những hộ mới phát sinh nghèo, cận nghèo vào danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo, làm ảnh hưởng tới việc hỗ trợ vốn kịp thời cho hộ nghèo, hộ cận nghèo; nguồn vốn tín dụng để triển khai cho vay các chương trình tín dụng hàng năm đôi khi chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác; đối tượng thụ hưởng chính sách lớn, dư nợ tín dụng hàng năm tuy có tăng nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu về vốn cho các đối tượng chính sách để mở rộng sản xuất kinh doanh; công tác tuyên truyền, phổ biến TDCSXH được triển khai đến người dân nhưng chưa có biện pháp tuyên truyền về chiều sâu, làm cho hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính của Nhà nước cho phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung và vốn tín dụng chính sách nói riêng còn có phần hạn chế Hoạt động tín dụng chính sách chưa được đồng đều giữa các địa phương…Hơn nữa, trong bối cảnh hoạt động “tín dụng đen” xảy ra trong năm 2018 đã gây bất ổn trật tự xã hội, tác động xấu đến hoạt động tiền tệ ngân hàng, ảnh hưởng đến niềm tin của người dân Do đó, nghiên cứu, đánh giá các chương trình cho vay ưu đãi hiện nay tìm ra các giải pháp phù hợp, nâng cao HQTD chính sách tại NHCSXH nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn cho người dân, qua đó góp phần cùng Ngành hạn chế “tín dụng đen” là rất cần thiết
Trang 12Từ những đòi hỏi mang tính thực tiễn và nhu cầu bức thiết trong việc phân tích
HQTD chính sách của NHCSXH, tác giả chọn đề tài “Nâng cao HQTD chính sách
tại Ngân hàng Chính sách xã hội" để nghiên cứu
2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU:
Các đề tài nghiên cứu liên quan đến đánh giá hiệu quả dịch vụ và đánh giá HQTD đã được nghiên cứu trên nhiều góc độ ở trên thế giới và cả ở Việt Nam Từ những công trình nghiên cứu mang tính khoa học đến những công trình nghiên cứu ứng dụng đã được áp dụng cho các doanh nghiệp, ngân hàng lớn trên thế giới
2.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu của Laidroo, Laivi & Männasoo, Kadri (2017) về nợ xấu
Về ngữ cảnh nghiên cứu: Laidroo, Laivi & Männasoo, Kadri đã nghiên cứu mối quan hệ giữa các khoản nợ xấu với HQTD tại các ngân hàng Châu Âu
Về phương pháp nghiên cứu: Laidroo, Laivi & Männasoo, Kadri đã nghiên cứu định lượng: Phân tích thống kê thông qua dữ liệu bảng về tình hình gia tăng các khoản nợ vay tại 28 nước ở Châu Âu giai đoạn 2004 - 2014 và dự liệu từ 478 ngân hàng ở các nước Châu Âu từ 2004 - 2013
Về kết quả nghiên cứu: Kết quả hồi quy cho thấy nợ xấu là chỉ tiêu phản ảnh chặt chẽ với HQTD của một ngân hàng Sự tăng trưởng quá nóng các khoản tín dụng xấu ảnh hưởng rất lớn đến HQTD Với đề tài này, tác giả sử dụng chỉ tiêu nợ xấu là một trong chỉ tiêu để đánh giá HQTD
Nghiên cứu của Moldavska Olena V & Demidenko A V (2013) về nợ xấu
Về ngữ cảnh nghiên cứu: Nghiên cứu của Moldavska Olena V & Demidenko
A V được đăng trên Research Centre ForIndustrial Development Problems Of Nas (Kharkiv, Ukraine), số 3 Theo đó, Moldavska Olena V & Demidenko A V nghiên cứu thực trạng quản lý HQTD tại ngân hàng ở Ukraina
Về kết quả nghiên cứu: Moldavska Olena V & Demidenko A V đã cung cấp bức tranh tổng thể về thực trạng quản lý HQTD tại ngân hàng ở Ukraina Bài báo cũng đề cập vai trò của nhà quản lý trong việc quản lý hiệu quả danh mục tín dụng, chú trọng đến quản lý các khoản nợ có vấn đề và nợ xấu Tác giả cũng đề cập đến việc tính toán các khoản nợ xấu trong nước và các chi nhánh NHTM đó ở nước
Trang 13ngoài khác nhau, ảnh hưởng đến việc cung cấp thông tin nợ xấu chưa được thống nhất Tác giả cũng đồng thời đưa ra các giải pháp quản lý nợ xấu ảnh hưởng đến HQTD Dự kiến với đề tài này, tác giả áp dụng các giải pháp quản lý nợ xấu (nếu cần thiết và phù hợp với nội dung nghiên cứu)
Nợ xấu là chỉ tiêu phản ảnh chính xác nhất về HQTD của một ngân hàng Sự tăng trưởng quá nóng các khoản tín dụng xấu ảnh hưởng rất lớn đến HQTD Với đề tài này, tác giả sử dụng chỉ tiêu nợ xấu là một trong chỉ tiêu để đánh giá HQTD
2.2 Các nghiên cứu trong nước
- Nghiên cứu của Đoàn Trung Thành (2017) về “Nâng cao chất lượng cho
vay đối với học sinh, sinh viên tại Ngân hàng Chính sách xã hội”, Luận văn Thạc
sỹ, Đại học Kinh tế quốc dân, đề cập đến thực trạng chất lượng cho vay học sinh, sinh viên tại NHCSXH thông qua mô tả các số liệu về tình hình cho vay học sinh, sinh viên, dư nợ cho vay học sinh, sinh viên; cho vay theo vùng, miền, trình độ, ngành đào tạo, từ đó, đánh giá kết quả đạt được: số lượt học sinh, sinh viên vay vốn NHCSXH và tỷ lệ học sinh, sinh viên được vay vốn NHCSXH ngày càng tăng, quy
mô tín dụng được mở rộng, hiệu quả sử dụng vốn vay; nêu những hạn chế như tỷ lệ
nợ quá hạn cao, chưa đảm bảo nguồn vốn, tỷ lệ cho vay còn thấp, cho vay chưa đúng đối tượng, kiểm tra sử dụng vốn vay chưa chặt chẽ, thủ tục hành chính còn rườm rà, khả năng thu hồi vốn thấp, thời gian cho vay chưa phù hợp Qua đó, xem xét nguyên nhân và đề ra giải pháp nâng cao chất lượng cho vay học sinh, sinh viên trong công tác nguồn vốn, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ, điều chỉnh mức cho vay, lãi suất cho vay phù hợp với thực tiễn, công tác thông tin tuyên truyền, phối hợp giữa các Bộ, ngành
- Nghiên cứu của Vũ Văn Đức (2015) về “Nâng cao chất lượng tín dụng đối
với Hộ nghèo tại NHCSXH chi nhánh huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình”, Luận văn
thạc sỹ kinh tế, Đại học kinh tế (Đại học quốc gia Hà Nội) Luận văn đã tập trung đánh giá khá chi tiết thực trạng cho vay hộ nghèo tại NHCSXH huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, nêu một số tồn tại trong công tác cho vay hộ nghèo từ đó đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trong thời gian tới
Trang 14- Nghiên cứu của Phạm Thị Lệ Ninh (2014) về “Nâng cao chất lượng tín
dụng chính sách tại Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Quảng Trị”, Luận văn thạc
sỹ kinh tế, Đại học Tài chính - Maketing Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn đã tập trung phân tích thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng chính sách tại NHCSXH tỉnh Quảng Trị và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng Tuy nhiên tác giả lại đề ra một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng chưa thực sự phù hợp với thực tiễn quá trình hoạt động của NHCSXH
- Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Hoa (2013) về “Hoàn thiện hoạt động tín
dụng ưu đãi hộ nghèo tại NHCSXH, Chi nhánh Thành phố Đà Nẵng”, Luận văn
Thạc sỹ, Đại học Đà Nẵng Luận văn nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện trong hoạt động tín dụng hộ nghèo; hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản
về đói nghèo, tín dụng đối với hộ nghèo, phân tích, đánh giá thực trạng đói nghèo của Thành phố Đà Nẵng, các chương trình tín dụng đang thực hiện và tình hình hoạt động tín dụng ưu đãi cho vay hộ nghèo tại NHCSXH thành phố Đà Nẵng Luận văn của tác giả đã đưa ra được một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo
- Nghiên cứu Nông Tuấn Đạt (2014) về “Hoàn thiện hoạt động cho vay hộ
nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Ea Kar, tỉnh Đăk Lăk”, luận văn
Thạc sỹ kinh tế, đề tài này chủ yếu tập trung nghiên cứu về thực trạng hoạt động cho vay hộ nghèo tại NHCSXH huyện Ea Kar Theo đó, tác giả của Đề tài phân tích thực trạng bằng việc phân tích tình hình cho vay thông qua tổ chức chính trị - xã hội, theo nguồn vốn cho vay của chương trình và theo ngành nghề sản xuất kinh doanh; phân tích hiệu quả thông qua đánh giá tình hình cho vay, thu nợ, nợ quá hạn của chương trình Từ đó, nêu kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân và đề ra giải pháp liên quan đến phát triển nguồn vốn, cải tiến quy trình, thủ tục cho vay hợp lý, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phối hợp giữa các cơ quan nhằm nâng cao HQTD đối với hộ nghèo tại NHCSXH huyện Ea Kar
Tóm lại, các Đề tài trên chủ yếu mới dừng ở mức độ phân tích trên phạm vi
hẹp (trên địa bàn 1 huyện hoặc 1 tỉnh nào đó) hoặc theo một khía cạnh nhất định (phân tích thực trạng và giải pháp cho 01 chương trình riêng trong tổng số gần 20
chương trình của NHCSXH như chương trình tín dụng đối với hộ nghèo hoặc chương trình tín dụng đối với học sinh, sinh viên), chưa có một nghiên cứu nào tập
trung nghiên cứu đánh giá tổng thể HQTD của tất cả các chương trình tín dụng hiện
Trang 15hành tại NHCSXH trong phạm vi cả nước Do đó đây sẽ là khoảng trống để tác giá khai thác, nghiên cứu, đánh giá một cách tổng thể, toàn diện hoạt động tín dụng của NHCSXH từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao HQTD chính sách tại NHCSXH
3 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Mục tiêu cuối cùng của việc nghiên cứu đề tài này là đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao HQTD chính sách tại NHCSXH trong giai đoạn 2019-2025 và xa hơn nữa Để đạt được mục tiêu đó, tác giả đã tập trung vào các nội dung sau:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về HQTD, các chỉ tiêu đánh giá HQTD nhằm đánh giá thực trạng tín dụng chính sách tại NHCSXH
- Đánh giá thực trạng HQTD chính sách của NHCSXH; xác định tác nhân ảnh hưởng đến HQTD chính sách tại NHCSXH
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao HQTD chính sách tại NHCSXH
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: HQTD chính sách tại NHCSXH
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu về HQTD chính sách tại NHCSXH trong phạm vi toàn hệ thống NHCSXH
- Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi thời gian từ năm
2014 đến năm 2018 và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2019-2025
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 16Khung phân tích của Luận văn
1 Nhân tố chủ quan
2 Nhân tố khách quan
Kinh nghiệm về hiệu quả tín dụng chính sách ở các nước
Thực trạng hiệu quả tín dụng chính sách của Ngân hàng Chính sách
xã hội
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng chính sách của Ngân hàng Chính sách xã hội
Đánh giá hiệu quả tín dụng
Trang 176 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Về mặt lý thuyết
Luận văn hệ thống hóa và vận dụng các lý thuyết về đánh giá HQTD trong quản trị ngân hàng hiện đại để phân tích thực trạng HQTD chính sách tại NHCSXH
Về mặt thực tiễn
Luận văn đã đánh giá được thực trạng hiệu quả tín dụng chính sách tại NHCSXH, qua đó chỉ ra được những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động tín dụng của NHCSXH, từ đó đề xuất các giải pháp để nâng cao HQTD chính sách tại NHCSXH
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần tóm tắt luận văn, mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, cụ thể là:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tín dụng chính sách và HQTD chính sách
Chương 2: Thực trạng HQTD chính sách tại NHCSXH giai đoạn 2014-2018 Chương 3: Giải pháp nâng cao HQTD chính sách tại NHCSXH
Trang 18hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác (Luật TCTD năm 2010)
Như vậy, về bản chất, tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau và hoàn trả cả gốc
và lãi trong một khoảng thời gian nhất định đã được thỏa thuận giữa người đi vay và người cho vay Hay nói một cách khác, tín dụng là một phạm trù kinh tế, trong đó mỗi cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hay hiện vật cho một các nhân hay tổ chức khác với thời hạn hoàn trả cùng với lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi món vay… Tín dụng ra đời, tồn tại và phát triển cùng với nền sản xuất hàng hóa Trong điều kiện nền kinh tế còn tồn tại song song hàng hóa và quan hệ hàng hóa tiền tệ thì sự tồn tại của tín dụng là một tất yếu khách quan
1.1.1.2 Khái niệm về tín dụng chính sách:
Hiện nay, ở nước ta đang sử dụng hai loại hình tín dụng chính sách chính, bao gồm tín dụng hỗ trợ đầu tư phát triển và tín dụng hỗ trợ giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội (ASXH), triển khai chủ yếu thông qua 02 ngân hàng chính sách của Nhà nước (Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội) Tuy nhiên, trong phạm vi Đề tài này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu mảng tín dụng chính sách cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác do NHCSXH thực hiện theo quy định tại Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ, theo đó để thuận lợi cho việc theo dõi, tất cả các cụm từ “tín dụng chính sách” sử dụng trong các phần dưới đây đều được hiểu là tín dụng chính sách cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác
Trang 19Căn cứ quy định tại Điều 1, Nghị định số 78/2002/NĐ-CP nêu trên, thì tín
dụng chính sách “là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để
cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội”
Như vậy, với khái niệm về tín dụng chính sách nêu trên, có thể khái quát một số nội dung chính về tín dụng chính sách như sau: (i) Mục tiêu của tín dụng chính sách là nhằm giúp cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác có vốn để sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; tín dụng chính sách không vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục tiêu đảm bảo ASXH của Nhà nước; (ii) nguyên tắc tín dụng chính sách là phải hoàn trả đầy đủ vốn vay và phải sử dụng vốn vay đúng mục đích vay vốn; (iii) tín dụng chính sách ngoài việc được hưởng các ưu đãi về lãi suất vay và thời hạn vay thì còn được hưởng các ưu đãi về quy trình, thủ tục và điều kiện vay vốn
1.1.2 Đặc điểm của tín dụng chính sách
Thứ nhất, đối tượng vay vốn tín dụng chính sách chủ yếu là người nghèo và
các đối tượng chính sách khác sinh sống tại nông thôn, gắn bó chặt chẽ với hoạt động nông nghiệp; khả năng tiếp cận các sản phẩm phòng ngừa rủi ro của nhóm đối tượng này là rất hạn chế Trong khi đó, nhu cầu vay vốn của các đối tượng này lại
tương đối đa dạng, họ cần được hỗ trợ về nhiều mặt để có thể vươn lên thoát nghèo
Ngoài chi cho hoạt động sản xuất, nhu cầu chi tiêu của người nghèo và các đối tượng chính sách khác còn bao gồm các khoản đột xuất như ốm đau và đối phó với thiên tai dịch bệnh Đây không phải là các khoản cho vay truyền thống của ngân hàng nhưng lại rất cần thiết đối với các đối tượng chính sách do nhóm đối tượng này thường dễ bị tổn thương bởi các tác nhân bên ngoài và khả năng tự chống chọi của họ với các tổn thương kể trên là rất thấp
Thứ hai, chi phí của việc cấp tín dụng chính sách cho các đối tượng chính sách
ở mức cao so với cho vay các đối tượng khác Điều này là do giá trị các khoản tín dụng thường nhỏ, quay vòng nhiều cộng thêm với đặc điểm nhóm đối tượng này nằm phân tán trên một địa bàn rộng, tập trung nhiều ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa nên việc quản lý khoản tín dụng trở nên rất tốn kém, đòi hỏi TCTD phải có một số lượng nhân viên đủ lớn và dành nhiều nguồn lực tài chính, thời gian
Trang 20để tìm kiếm khách hàng, làm việc với khách hàng để thẩm định phương án vay vốn cho tới công tác giám sát sử dụng vốn vay
Thứ ba, cơ sở dữ liệu về người nghèo và các khoản tín dụng cho người nghèo
và các đối tượng chính sách khác thường thiếu hụt và yếu kém cả về số lượng lẫn chất lượng Bên cạnh đó, các thông tin về năng lực pháp lý và tài chính của họ cũng rất khó để thu thập và xác minh do cơ sở dữ liệu tại các địa phương (đặc biệt là tại các vùng hẻo lánh) thường không được lưu trữ đầy đủ và chính xác như các đối tượng khách hàng doanh nghiệp được đăng ký với cơ quan quản lý của nhà nước
Do vậy, tình trạng thông tin bất cân xứng cao hơn so với các đối tượng khách hàng khác của ngân hàng
Thứ tư, trình độ và nhận thức của người nghèo và các đối tượng chính sách
còn hạn chế nên việc sử dụng vốn vay chưa đạt hiệu quả cao Bên cạnh đó, việc chưa làm quen với tiết kiệm từ những khoản tiền nhỏ để trả nợ theo định kỳ cũng gây rủi ro cho người vay khi đến hạn trả nợ Xuất phát từ lý do này, các TCTD khi cho các đối tượng chính sách vay tiền thường yêu cầu họ thực hiện tiết kiệm bắt buộc hoặc tự nguyện để giúp họ làm quen dần với việc quản lý tài chính cũng như tích lũy tiền để có thể trả nợ khi đến hạn
Thứ năm, các đối tượng chính sách không sở hữu nhiều tài sản đáp ứng được
tiêu chuẩn thông thường của TCTD về tài sản bảo đảm Do đó, nguồn thu nợ thứ hai của các TCTD trong trường hợp nhóm đối tượng này không trả được nợ đã bị hạn chế đi nhiều
Thứ sáu, tín dụng chính sách cho các đối tượng chính sách không chỉ dừng lại
ở việc cung cấp vốn tín dụng chính sách với ưu đãi cho họ mà còn phải phối hợp với các nguồn lực của xã hội nói chung và nguồn lực của nhà nước nói riêng để giúp họ phát triển toàn diện, qua đó thoát nghèo một cách bền vững Nếu không có những biện pháp hỗ trợ kịp thời và hợp lý, tín dụng chính sách dù có được đưa tới các đối tượng chính sách cũng khó có thể được họ sử dụng hiệu quả
Thứ bảy, tín dụng chính sách cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác
thường được triển khai qua hình thức cho vay theo từng nhóm nhằm gắn kết trách nhiệm của các cá nhân, qua đó giảm bớt rủi ro do thông tin bất cân xứng gây ra
Trang 211.1.3 Vai trò của tín dụng chính sách
Trong những năm qua, tín dụng chính sách là một giải pháp sáng tạo, có tính nhân văn sâu sắc và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã đề ra về giảm nghèo, tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm ASXH, ổn định chính trị và phát triển kinh tế, xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cụ thể:
1.1.3.1 Tín dụng chính sách là động lực giúp người nghèo và các đối tượng chính sách khác vượt qua nghèo đói:
Người nghèo và các đối tượng chính sách khác đói do nhiều nguyên nhân, như: Già, yếu, ốm dau, không có sức lao động, do đông con dẫn đến thiếu lao động,
do mắc tệ nạn xã hội, do lười lao động, do thiếu kiến thức trong sản xuất kinh doanh, do điều kiện tự nhiên bất thuận lợi, do không được đầu tư, do thiếu vốn trong thực tế ở nông thôn Việt Nam bản chất của những người nông dân là tiết kiệm cần cù, nhưng nghèo đói là do không có vốn để tổ chức sản xuất, thâm canh,
tổ chức kinh doanh.Vì vây, vốn đối với họ là điều kiện tiên quyết, là động lực đầu tiên giúp họ vượt qua khó khăn để thoát khỏi đói nghèo Khi có vốn trong tay, với bản chất cần cù của người nông dân, bằng chính sức lao động của bản thân và gia đình họ có điều kiện mua sắm vật tư, phân bón, cây con giống để tổ chức sản xuất thực hiện thâm canh tạo ra năng xuất và sản phẩm hàng hoá cao hơn, tăng thu nhập, cải thiện đời sống
1.1.3.2 Tín dụng chính sách giúp các đối tượng chính sách không phải vay từ các tổ chức, cá nhân cho vay nặng lãi với mức lãi suất quá cao so với khả năng tài chính của mình
Không tiếp cận được với nguồn tín dụng thương mại đòi hỏi các yêu cầu khắt khe về hồ sơ pháp lý, năng lực tài chính, tài sản bảo đảm… khiến người nghèo và các đối tượng chính sách khác phải vay với lãi suất cao từ các tổ chức, cá nhân trên địa bàn địa phương, góp phần tạo điều kiện cho thị trường tín dụng phi chính thức này phát triển Vay nợ với lãi suất cao hơn nhiều so với mức sinh lời tạo ra từ lao động đặt ra áp lực trả nợ lớn cho nhóm đối tượng này và xa hơn là khiến cho họ ngày càng gặp khó khăn hơn về tài chính, chứ không thực sự giúp họ vượt qua khó
Trang 22khăn Tín dụng chính sách với những ưu đãi về mặt lãi suất (thấp hơn lãi suất thị trường) và đi kèm là các ưu đãi khác về thời hạn trả nợ, phương thức trả nợ… giúp cho các đối tượng chính sách cân bằng được mức sinh lời trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp họ không phải tìm đến với các khoản tín dụng nặng lãi (Trần Lan Phương, 2016, tr.17)
1.1.3.3 Tín dụng chính sách giúp các đối tượng chính sách nâng cao được khả năng tiếp cận thị trường
Thông qua việc tiếp cận được vốn tín dụng, họ sẽ thay đổi được những nhận thức về và thực tiễn hành động của họ với thị trường Người nghèo và các đối tượng chính sách biết cách xây dựng và triển khai một kế hoạch kinh doanh (dù ở mức độ đơn giản nhất), biết sử dụng đồng vốn vay được để mua các trang thiết bị hay nguyên vật liệu trên thị trường, biết quản lý tài chính qua việc tiết kiệm định kỳ để tích lũy cho cuộc sống của bản thân họ và trả nợ ngân hàng… Xa hơn, họ có thể tiếp cận với các kỹ thuật sản xuất, tích lũy được kinh nghiệm trong quản lý kinh tế, bảo đảm cho họ không chỉ thoát nghèo mà còn thoát nghèo một cách bền vững (Trần Lan Phương, 2016, tr.18)
1.1.3.4 Tín dụng chính sách giúp các đối tượng chính sách nâng cao được đời sống văn hóa, góp phần giải quyết những bất ổn trong đời sống của họ
Nhờ có tín dụng, họ có thể tập trung lao động với năng suất lao động cao hơn và dành được thời gian để tham gia vào các sự kiện, chương trình văn hóa xã hội tại địa bàn địa phương Nhờ đó, đời sống tinh thần của họ sẽ được cải thiện, là một trong những yếu tố để bảo đảm người nghèo thực sự thoát nghèo, những đối tượng chính sách khác như người không người nương tựa, người cô đơn, người già, người bị bệnh hiểm nghèo… sẽ cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn chứ không chỉ dựa trên xem xét khía cạnh tài chính Tín dụng chính sách cho phép các đối tượng chính sách cho con cái đi học, được đi đào tạo nghề và đi làm thay vì không được tiếp cận với kiến thức, hay bị thất nghiệp sẽ giúp giảm thiểu các tệ nạn xã hội luôn đeo bám họ
1.1.3.5 Tín dụng chính sách góp phần trực tiếp vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, thực hiện việc phân công lại lao động xã hội
Trong nông nghiệp vấn đề quan trọng hiện nay để đi lên một nền sản xuất hàng hoá lớn đòi hỏi phải áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật mới váo sản xuất Đó
Trang 23là việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng ,vật nuôi và đưa các loại giống mới có năng suất cao vào áp dụng trong thực tiễn sản xuất và phải được thực hiện trên diện rộng Để làm được điều này đòi hỏi phải đầu tư một lượng vốn lớn, thực hiện được khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư những người nghèo và các đối tượng chính sách khác phải được đầu tư vốn họ mới có khả năng thực hiện Như vậy, thông qua công tác tín dụng đầu tư cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác đã trực tiếp góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn thông qua áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tạo ra các ngành nghề dịch vụ mới trong nông nghiệp đã trực tiếp góp phần vào việc phân công lại lao động trong nông nghiệp và lao động xã hội
1.1.3.6 Tín dụng chính sách đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo đảm
an sinh xã hội của Nhà nước
Dù ở giai đoạn phát triển nào, các đối tượng chính sách luôn tồn tại, là một bộ phận với một tỷ lệ nhất định trong xã hội luôn gặp phải những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày Hướng tới một xã hội phát triển, công bằng, các quốc gia luôn phải
có những chính sách ưu đãi đối với các đối tượng này, trong đó có việc phân bổ các nguồn lực tài chính trong xã hội để mang lại những ưu đãi trong việc tiếp cận và sử dụng nguồn vốn này Một chính sách tín dụng hợp lý, được triển khai kịp thời và đồng bộ với các chính sách hỗ trợ khác sẽ giúp người nghèo và các đối tượng chính sách khác vượt qua những khó khăn trong cuộc sống (Trần Lan Phương, 2016, tr.19)
1.2 Hiệu quả tín dụng chính sách
1.2.1 Quan điểm về hiệu quả tín dụng
HQTD là một khái niệm tổng hợp bao hàm ý nghĩa toàn diện cả về kinh tế lẫn chính trị xã hội, cụ thể như sau:
Xét về góc độ kinh tế thì HQTD về cơ bản là các khoản lợi nhuận mà ngân hàng có được từ chính hoạt động tín dụng Ngoài việc tối đa hóa các khoản lợi nhuận thì ngân hàng cũng phải xác định phạm vi, mức độ, giới hạn, cơ cấu… tín dụng đảm bảo phù hợp với năng lực của bản thân ngân hàng, đảm bảo đầy đủ các nguyên tắc tín dụng, hạn chế thấp nhất rủi ro trong quá trình hoạt động, đồng thời phải đảm bảo được vấn đề thanh khoản và cạnh tranh của ngân hàng, qua đó đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng
Trang 24Xét về góc độ chính trị xã hội, HQTD được xác định trên khía cạnh góp phần giải quyết việc làm, khai thác được các tiềm năng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng kinh tế, qua đó phát triển kinh tế và ổn định vĩ mô
1.2.2 Quan điểm về hiệu quả tín dụng chính sách
HQTD chính sách cũng bao hàm hiệu quả cả về kinh tế lẫn chính trị tương tự như đối với HQTD nói chung Theo đó, có thể hiểu HQTD đối với các đối tượng chính sách là sự thoả mãn nhu cầu về sử dụng vốn giữa chủ thể Ngân hàng và người vay vốn, những lợi ích kinh tế mà xã hội thu được và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng Tuy nhiên, do tính chất đặc thù riêng của tín dụng chính sách như đã phân tích ở trên, thì về cơ bản đối với tín dụng chính sách thì hiệu quả chính trị - xã hội sẽ được đặt lên hàng đầu và lợi nhuận không phải là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá HQTD chính sách
1.2.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách
Cấp tín dụng cho các đối tượng chính sách là một hoạt động tín dụng đặc thù, khác nhiều so với cấp tín dụng thương mại Một phần là do đặc điểm của đối tượng khách hàng mà TCTD phục vụ, phần khác là do nhiệm vụ xã hội mà TCTD đảm nhận
Nếu không bảo đảm được chất lượng tín dụng ở mức độ hợp lý (phù hợp với khả năng chịu đựng được tổn thất do rủi ro tín dụng xảy ra) thì khi tổn thất xảy ra, việc phá sản ngân hàng sẽ khiến mục tiêu đưa tín dụng ưu đãi của ngân hàng đến tay người nghèo và các đối tượng chính sách khác khó được tiếp tục thực hiện Thông thường, các TCTD thường phải ban hành các chính sách tín dụng theo hướng giảm thiểu tối đa trong mức cho phép các điều kiện về tài chính, bảo đảm tiền vay cho người nghèo thì người nghèo mới có mong muốn lẫn khả năng tiếp cận được với nguồn vốn ưu đãi Tuy nhiên, tồn tại một thực trạng là không phải lúc nào người nghèo cũng có đủ nguồn lực tài chính của bản thân để cùng với nguồn vốn tín dụng
ưu đãi mang vào đầu tư, sản xuất kinh doanh Các khách hàng vay vốn cũng ít có kinh nghiệm về quản lý tài chính (đơn cử như cách phân bổ nguồn vốn vay cho các loại hình sản xuất, kinh doanh hay cách thức tiết kiệm để trả nợ) và một số trường hợp đặc biệt, họ không có khả năng làm chủ sản xuất kinh doanh mà phải đi làm
Trang 25thuê, phụ thuộc nhiều vào tình hình thị trường lao động Hơn nữa, khả năng chống
đỡ của người nghèo và các đối tượng chính sách trước những rủi ro trong cuộc sống
là rất thấp; đơn cử, chỉ cần một đợt thiên tai như dịch bệnh, lũ lụt hay có người trong nhà bị ốm đau, gia đình bị mất trộm đồ đạc, vật dụng thì họ sẽ mất khả năng lao động, kiếm thu nhập… Do vậy, rủi ro đối với các TCTD khi thực hiện tín dụng chính sách luôn ở mức cao hơn so với tín dụng thông thường
Như vậy, thiết lập được một quy trình và phương thức cấp tín dụng vừa bảo đảm được mục tiêu duy trì chất lượng tín dụng, vừa bảo đảm được mục tiêu đưa đồng vốn ưu đãi tới các đối tượng thụ hưởng là nhiệm vụ hết sức cần thiết, quan trọng, có ý nghĩa đối với các ngân hàng Một chính sách tín dụng phù hợp sẽ là kim chỉ nam, định hướng cho toàn bộ hoạt động của ngân hàng Từ đó, ngân hàng sẽ đưa ra các chính sách quy định về các điều kiện cần thiết để người nghèo có thể vay vốn, các bước và yêu cầu của từng bước đối với quy trình cấp tín dụng sao cho có thể thẩm định, quyết định, giải ngân, giám sát và thu hồi nợ một cách hợp lý, chính xác và bảo đảm an toàn được đồng vốn cho vay Trái lại, nếu công tác quản lý tín dụng lại theo hướng thắt chặt các quy định về tín dụng thì người nghèo sẽ khó tiếp cận với tín dụng do bản thân họ rất khó đáp ứng được các điều kiện cấp tín dụng như các khách hàng thông thường Hơn nữa, huy động được vốn nhưng lại không đẩy mạnh tín dụng ra cho các đối tượng thụ hưởng cũng sẽ khiến ngân hàng bị ứ đọng vốn, không thu được lợi nhuận và không hoàn thành được mục tiêu của mình Người nghèo lại thường nằm ở các địa bàn khó tiếp cận do hạ tầng giao thông kém phát triển và hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng kém phát triển nên việc thiết lập mạng lưới chuyển vốn tới địa bàn là việc làm hết sức khó khăn, đòi hỏi cần có nguồn lực lớn và sự phối hợp giữa các tổ chức, chính quyền Những vấn đề kể trên đòi hỏi những quy định vốn dĩ rất chặt chẽ trong cấp tín dụng cần phải được điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn và bản thân ngân hàng phải nghiên cứu, áp dụng những phương thức cấp tín dụng phù hợp thì mới tiếp cận được với khách hàng
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả tín dụng chính sách
Do mục tiêu của tín dụng chính sách là hướng tới phục vụ các đối tượng gặp khó khăn, thiệt thòi, dễ bị tổn thương trong xã hội, khác với các hoạt động tín dụng
Trang 26thương mại thông thường là hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận nên ngoài tiêu chí đánh giá về hiệu quả kinh tế thì tiêu chí đánh giá về hiệu quả xã hội thường được xem xét
kỹ lưỡng, cụ thể như sau:
1.2.4.1 Về hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội của hoạt động tín dụng chính sách được thể hiện qua mục tiêu, nguyên tắc hoạt động của ngân hàng về xóa đói giảm nghèo, bảo đảm ASXH Theo đó, hiệu quả xã hội được đo lường bằng các tiêu chí về sự cải thiện đời sống vật chất lẫn tinh thần của người nghèo và các đối tượng chính sách khác, như việc xác định luỹ kế cũng như tỷ lệ hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn (chỉ tiêu này cho biết số đối tượng chính sách đã được tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính sách trên tổng số hộ hộ nghèo của toàn quốc Chỉ tiêu này ngoài việc phản ánh phạm vi hoạt động và tầm ảnh hưởng của các TCTD đối với các đối tượng chính sách trên toàn quốc còn phản ánh khả năng nhận thức của các đối tượng chính sách về vai trò của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh, vươn lên thoát nghèo) Ngoài việc xác định số lượng hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn tín dụng chính sách thì việc xác định tỷ lệ hộ nghèo thoát nghèo cũng là một chỉ tiêu hết sức quan trọng để đánh giá hiệu quả xã hội của tín dụng chính sách (chỉ tiêu này phản ánh tổng số hộ nghèo đã thoát nghèo trong tổng số hộ nghèo được vay vốn; chỉ này là chỉ tiêu cơ bản nhất phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động tín dụng chính sách là giúp hộ nghèo vươn lên thoát nghèo thành công, vượt qua được những khó khăn bước đầu để tiến tới nâng cao, ổn định cuộc sống, qua đó góp phần
thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo ASXH của Nhà nước)
1.2.4.2 Về hiệu quả kinh tế
a) Hệ số sử dụng vốn
Đây là chỉ tiêu hiệu quả phản ánh chất lượng tín dụng, cho phép đánh giá tính hiệu quả trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng Để có thể đáp ứng được nhu cầu tín dụng của đối tượng chính sách, các ngân hàng phải huy động được nguồn
Trang 27vốn từ nhiều chủ thể kinh tế, từ các cá nhân, doanh nghiệp cho tới ngân hàng, các TCTD phi ngân hàng… trong phạm vi trong nước lẫn ngoài nước Chỉ tiêu sử dụng vốn trên nguồn càng lớn thì càng chứng tỏ ngân hàng đã sử dụng một cách hiệu quả nguồn vốn huy động được
b) Vòng quay vốn tín dụng chính sách trong năm
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn của ngân hàng được sử dụng cho vay mấy lần trong một năm Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, nó chứng tỏ nguồn vốn của ngân hàng đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh
c) Tỷ lệ nợ xấu tín dụng chính sách
Nợ xấu là chỉ tiêu cơ bản, quan trọng nhất để đo lường, đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng, chỉ số này càng thấp thì chất lượng tín dụng càng cao và ngược lại
Nợ xấu là loại rủi ro tín dụng gây ra sự tổn thất về tài chính cho ngân hàng do người vay chưa hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán Do đặc thù của tín dụng chính sách và vốn của ngân hàng là vốn huy động từ nhiều nguồn khác nhau nên nợ xấu ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của ngân hàng, đến khả năng hoàn trả vốn cho các nguồn vốn huy động phải hoàn trả, và đặc biệt đến khả năng cấp tín dụng ở các chu kỳ tiếp theo Đồng thời, nợ xấu phản ánh tính hiệu quả trong việc sử dụng vốn vay của người vay
Tùy theo tiêu thức phân loại mà các loại nợ xấu được gọi với những tên khác nhau, đối với NHCSXH, nợ xấu hiện nay bao gồm nợ khoanh và nợ quá hạn, cụ thể như sau:
Trang 28d) Tỷ lệ thu lãi, lãi tồn đọng
- Tỷ lệ thu lãi: được xác định theo công thức:
Trong đó, số lãi phải thu = số lãi phát sinh (trong năm) + Số lãi tồn được giao
Tỷ lệ thu lãi cao cho thấy chất lượng tín dụng tốt và ngược lại
- Lãi tồn đọng: Được xác định theo công thức:
Lãi tồn đọng = Số lãi phải thu – Số lãi thực thu
Lãi tồn đọng gồm lãi phát sinh của nợ quá hạn và lãi tồn của nợ trong hạn do người vay không thực hiện nghĩa vụ trả lãi theo đúng hạn (hàng tháng) cho ngan hàng Đây là một trong những chỉ tiêu cơ bản đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng và là một chỉ số quan trọng để đo lường chất lượng tín dụng của ngân hàng Chỉ số này thấp sẽ cho thấy chất lượng tín dụng tốt và ngược lại
đ) Lợi nhuận (thua lỗ) từ hoạt động tín dụng chính sách
Mặc dù hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà hướng tới phục vụ người nghèo và các đối tượng chính sách khác với mức chi phí lãi vay thấp nhất, lợi nhuận vẫn là một tiêu chí cần được xem xét một cách thận trọng Điều này là vì nếu ngân hàng liên tục để thua lỗ, Chính phủ không thể tiếp tục bù lỗ cho hoạt động của ngân hàng và trong dài hạn, ngân hàng sẽ không còn thực hiện được mục đích của mình
là cấp vốn cho khách hàng là người nghèo và các đối tượng chính sách khác nữa Tính bền vững của hoạt động tín dụng chính sách phụ thuộc khá nhiều vào khả năng đạt được mức lợi nhuận vừa phải trong dài hạn của ngân hàng
Tóm lại, đánh giá HQTD của ngân hàng không chỉ dựa vào một chỉ tiêu nào
đó mà phải dựa vào tất cả các chỉ tiêu thì mới có được đánh giá toàn diện, chính xác Đồng thời phải so sánh giữa các thời kỳ với nhau…, kết hợp với việc phân tích
số liệu mới có thể đưa ra cá nhận xét chính xác về HQTD của ngân hàng
Trang 291.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng chính sách
1.3.1 Các nhân tố chủ quan thuộc về ngân hàng
1.3.1.1 Tổ chức điều hành
Bộ máy tổ chức của ngân hàng nếu được sắp xếp khoa học và có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban trong mỗi ngân hàng, trong hệ thống ngân hàng; cộng với sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng,…sẽ tạo điều kiện giúp cho hoạt động cho vay thực hiện tốt hơn Đây là cơ sở để tiến hành các nghiệp
vụ tín dụng một cách lành mạnh và quản lý có hiệu quả các nguồn vốn tín dụng Ngân hàng có cơ cấu tổ chức khoa học, hợp lý có sự phối hợp nhịp nhàng và gắn kết giữa các bộ phận với nhau sẽ tạo ra sức mạnh tổng lực điều đó sẽ mang lại hiệu quả cao trong công việc
Năng lực quản trị điều hành của HĐQT, ban điều hành của ngân hàng quyết định đến sự sống còn, thành bại của cả hệ thống ngân hàng Năng lực quản trị được thể hiện và bộc lộ thông qua khả năng hoạch định và tổ chức thực hiện nghiệp vụ của ngân hàng Năng lực quản trị quyết định hiệu quả sử dụng các nguồn lực của ngân hàng, khả năng đưa ra được các chiến lược chính sách nhằm thích nghi với từng thời kỳ, thời điểm kinh doanh khác nhau của ngân hàng
1.3.1.2 Nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định tới sự thành bại trong quản lý tín dụng nói riêng cũng như hoạt động của ngân hàng nói chung Nguồn nhân lực có chất lượng thể hiện ở nhiều khía cạnh về kinh nghiệm, trình độ chuyên môn, sức khỏe, tính nhiệt huyết và đạo đức của cán bộ Việc tuyển chọn nhân sự có đạo đức nghề nghiệp tốt, có tinh thần trách nhiệm, tâm huyết với nghề và giỏi chuyên môn sẽ giúp cho ngân hàng ngăn ngừa được những sai phạm có thể xảy ra thực hiện chu kỳ khép kín của một khoản tín dụng Trong môi trường cạnh tranh, chất lượng của đội ngũ nhân sự đóng vai trò quyết định đối với việc thu hút khách hàng và nâng cao uy tín cho ngân hàng
1.3.1.3 Trình độ công nghệ và hệ thống thông tin của ngân hàng
Một hệ thống công nghệ tốt kết hợp với thông tin kịp thời chính xác có thể giảm thiểu được những rủi ro trong hoạt động ngân hàng liên quan đến vấn đề thông
Trang 30tin bất cân xứng khi mà nhóm đối tượng chính sách là nhóm bị hạn chế về thông tin cung cấp cho ngân hàng Thông tin còn giúp cho ngân hàng phân tích và theo dõi được thực tiễn các chính sách tín dụng có được triển khai hiệu quả, có đúng với chủ trương, chính sách của Nhà nước hay không để có những điều chỉnh kịp thời Công nghệ thông tin cho phép ngân hàng xử lý kịp thời, nhanh chóng và chính xác các thông tin về tài chính và khách hàng Thông tin càng đầy đủ, kịp thời, chính xác thì càng giảm thiểu được rủi ro cũng như nâng cao được HQTD của ngân hàng
1.3.2 Các nhân tố khách quan ngoài ngân hàng:
1.3.2.1 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Một đất nước giàu mạnh, có trình độ phát triển cao và khả năng tích lũy lớn sẽ
có điều kiện tốt để thực hiện công cuộc xóa đói giảm nghèo, giảm thiểu bất bình đẳng xã hội Với nguồn lực dồi dào từ thuế và các nguồn thu khác, Chính phủ có thể ban hành nhiều chính sách với quy mô nguồn lực lớn (bao gồm cả nguồn lực tài chính) nhằm giúp cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác giải quyết được những khó khăn mà họ gặp phải trong cuộc sống sinh hoạt và lao động Không chỉ có vậy, các chủ thể khác trong xã hội như các doanh nghiệp và cá nhân cũng sẽ có xu hướng thể hiện trách nhiệm của họ nhiều hơn đối với toàn xã hội nói chung và với một bộ phận bị thiệt thòi là người nghèo và các đối tượng chính sách khác nói riêng Do đó, nguồn vốn hỗ trợ cho người nghèo và các đối tượng chính sách, trong đó có nguồn vốn hỗ trợ tín dụng chính sách như cấp bù lãi suất, quy mô nguồn vốn các chương trình tín dụng chính sách, sẽ được bảo đảm ở mức độ đầy đủ
và kịp thời, khuyến khích các ngân hàng tích cực triển khai tín dụng chính sách Tuy các quốc gia này ít nhận được những nguồn lực trợ giúp từ các quốc gia trong khu vực và cộng đồng quốc tế, nhưng tự bản thân có đủ nguồn lực cho các giải pháp giảm nghèo đói và bất bình đẳng xã hội Trong trường hợp này, HQTD sẽ thuận lợi hơn do ngân hàng sẽ dành được nhiều nguồn lực vào cho công tác tín dụng thay vì phải cố gắng huy động các nguồn lực của xã hội Một xã hội với sự tham gia của nhiều chủ thể vào công tác xóa đói giảm nghèo cũng khiến cho HQTD thuận lợi hơn như cùng tham gia đào tạo, tài trợ cho các chương trình đào tạo người nghèo cách sử dụng vốn vay vào sản xuất kinh doanh do các doanh nghiệp cùng tổ chức với ngân hàng (Trần Lan Phương, 2016, tr 33-tr34)
Trang 31Việc nhiều chủ thể tham gia vào quá trình đưa tín dụng ưu đãi đến người nghèo sẽ giúp giảm thiểu các chi phí trong cho vay người nghèo; đơn cử như có các doanh nghiệp đồng ý tiêu thụ các sản phẩm do người nghèo sản xuất ra sẽ giảm thiểu rủi ro tìm kiếm thị trường đầu ra, giảm mức độ rủi ro của khoản cho vay Hệ thống cơ sở hạ tầng đất nước phát triển cũng tạo điều kiện cho việc phân bổ một cách hợp lý và hiệu quả mạng lưới các phòng giao dịch, chi nhánh ngân hàng để đưa nguồn vốn ưu đãi tới người nghèo
1.3.2.2 Tình trạng nghèo đói và bất bình đẳng của đất nước
Để có thể có một chính sách tín dụng phù hợp và bền vững cho người nghèo
và các đối tượng chính sách khác, Chính phủ của một quốc gia phải đánh giá được thực trạng nghèo đói và bất bình đẳng trong đất nước Một quốc gia có tỷ lệ nghèo đói cao và trầm trọng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc triển khai tín dụng cũng như nhiều biện pháp khác do nguồn lực không phải lúc nào cũng đủ để chi cho các hoạt động này Những đặc điểm nghèo đói như mức độ chênh lệch giàu nghèo, giữa các nhóm người nghèo, tình trạng nghèo đa nhiều, mức độ khác biệt về nghèo đói giữa các địa phương, vùng miền sẽ khiến cho tín dụng chính sách phải bảo đảm được sự linh hoạt cần thiết nhưng cũng phải duy trì được mức độ bao phủ và tính bền vững Tín dụng chính sách cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo không phải là một chính sách mang tính nhất thời mà nó cần có thời gian để nghiên cứu và đặc biệt là phải triển khai trong một thời gian dài ở một phạm vi rộng nên tính bền vững là một yếu tố quan trọng phải được xem xét Đơn cử, phân bổ người nghèo tập trung vào các vùng xâu, vùng xa với điều kiện cơ sở hạ tầng hạn chế sẽ buộc ngân hàng có những giải pháp tiếp cận các khách hàng khác so với vùng thành thị, nông thôn tại đồng bằng Nếu mức độ ưu đãi về tài chính là quá lớn thì mức độ bao phủ sẽ thấp và tính bền vững của tín dụng chính sách sẽ bị đe dọa nhanh chóng NHCSXH khi cung cấp tín dụng chính sách sẽ buộc phải chấp nhận mức lãi suất thấp hơn so với mức lãi suất thị trường để hỗ trợ cho các nhóm đối tượng chính sách khó khăn, làm cho tính ổn định và bền vững trong hoạt động bị ảnh hưởng phần nào Ngược lại, nếu mức độ ưu đãi tài chính quá thấp, người nghèo sẽ không tiếp cận được với nguồn vốn ưu đãi do chi phí vẫn quá cao so với năng lực của họ Đặc điểm này tác
Trang 32động tới quá trình quản lý tín dụng chính sách khi việc tính toán lãi vay và các điều kiện ưu đãi tín dụng khác như thời hạn vay vốn, bảo đảm tiền vay áp dụng cho các khoản cho vay đối với người nghèo và cá đối tượng chính sách khác phải phù hợp với khả năng của nhóm đối tượng này nhưng cũng phải bảo đảm sự bền vững về mặt tài chính
Ngoài ra, mức độ nghèo đói còn thể hiện qua giá trị các tài sản mà người nghèo sở hữu, trình độ học vấn cho tới kỹ năng lao động… khi các yếu tố này đều trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng tới hiệu quả của đồng vốn tín dụng chính sách Các NHCSXH khi nghiên cứu, phát triển và triển khai sản phẩm tín dụng tới khách hàng phải quan tâm tới các nhân tố này nhằm bảo đảm tín dụng cấp ra không chỉ đáp ứng nhu cầu của các đối tượng chính sách mà còn hài hòa lợi ích của Nhà nước
và tổ chức Như vậy, công tác quản lý tín dụng không đơn thuần dừng lại ở khía cạnh tài chính mà còn liên quan đến các công tác hỗ trợ người nghèo (trực tiếp hoặc gián tiếp) tiếp cận với các dịch vụ xã hội khác để cùng với tín dụng giúp người nghèo vượt qua khó khăn và cũng góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng vốn vay (Trần Lan Phương, 2016, tr 34-tr35)
1.3.2.3 Các chính sách xóa đói giảm nghèo của Nhà nước
Nói tới các chính sách xóa đói giảm nghèo của Chính phủ là không thể không nhắc tới các vấn đề tính hợp lý, tính kịp thời, tính hiệu quả và tính đồng bộ Một chính sách xóa đói giảm nghèo hợp lý sẽ hướng tới khắc phục những khó khăn mà người nghèo và các đối tượng chính sách khác đang phải đối mặt cũng như giải quyết những tồn tại ở trong các chính sách xóa đói giảm nghèo trước đó khiến cho công tác này chưa phát huy được hiệu quả như mong đợi Để có thể bảo đảm được tính hợp lý thì những chính sách xóa đói giảm nghèo cần phải được xây dựng, ban hành và triển khai một cách kịp thời nếu không những thay đổi trong thực tiễn sẽ khiến cho mức độ hợp lý của chính sách bị mất đi Tính hiệu quả của hệ thống chính sách được gây dựng một phần bởi chính sách tín dụng nhưng bản thân nó cũng góp phần vào mức độ thành công của tín dụng chính sách Nếu các chính sách khác như giáo dục, y tế, đầu tư… cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác không có hiệu quả thì dĩ nhiên khó có thể mong đợi tín dụng chính sách sẽ phát huy được tác dụng Cuối cùng, để bảo đảm các chính sách phối hợp hiệu quả
Trang 33và mang đến tính cộng hưởng cao, các chính sách xóa đói giảm nghèo, trong đó có tín dụng chính sách, phải có tính đồng bộ cao
Các chính sách xóa đỏi giảm nghèo được ban hành phù hợp, kịp thời và đồng bộ
sẽ giúp HQTD chính sách được nâng cao Trong trường hợp các chính sách ban hành không đúng đối tượng cần được hỗ trợ, các hộ nghèo và đối tượng chính sách cần vốn
sẽ không được tiếp cận với các ưu đãi tín dụng và làm lãng phí nguồn lực của xã hội Đối với ngân hàng, việc cấp tín dụng không đúng đối tượng không chỉ làm sai lệch định hướng hoạt động mà còn có thể gây ra những rủi ro tín dụng cho tổ chức Tương
tự, các chính sách giảm nghèo nếu không được triển khai một cách đồng bộ, hoạt động tín dụng sẽ gặp phải khó khăn khi không phối hợp được với các chính sách về giáo dục, đào tạo…, khiến cho ngân hàng khi triển khai công tác tín dụng phải nỗ lực nhiều hơn trong việc tìm kiếm các tổ chức cung cấp các dịch vụ kể trên cho người nghèo hoặc phải tự dành nguồn lực để thực hiện công tác này, theo đó sẽ làm giảm hiệu quả của hoạt động tín dụng (Trần Lan Phương, 2016, tr 35-tr36)
1.4 Kinh nghiệm về hoạt động tín dụng chính sách ở một số nước và bài học áp dụng cho Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm về tín dụng chính sách của một số nước
1.4.1.1 Kinh nghiệm Ngân hàng Grameen Bank - Bangladesh về quản lý tín dụng chính sách
Grameen Bank (GB) ở Bangladesh là một trong những ví dụ điển hình về quản
lý tín dụng chính sách ở một TCTD cho người nghèo phát triển thành công trên thế
Trang 34giới GB là NHCSXH nhưng có một cách thức tổ chức rất độc đáo và khác biệt so với mô hình của NHCSXH truyền thống Đối tượng phục vụ của GB đa phần là những phụ nữ, những người có thu nhập thấp GB như một dự án cung cấp dịch
vụ ngân hàng cho những hộ gia đình nghèo nhất, giúp họ tự tạo việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp tràn lan ở nông thôn Bangladesh Mục tiêu của dự án là hỗ trợ vốn để người nghèo đầu tư vào các hoạt động kinh doanh nhỏ nhằm tăng thu nhập
Ngân hàng GB là một tổ chức hoạt động theo mô hình ngân hàng cổ phần, được thực hiện theo cơ chế lãi suất cho vay phải lớn hơn lãi suất huy động, hoạt động theo luật riêng không bị chi phối bởi luật chung đối với các TCTD khác của Bangladesh Về cơ bản Ngân hàng GB hoạt động tương tự các NHTM khác và không được bao cấp từ Nhà nước Điểm đặc biệt của Ngân hàng này là 90% nguồn vốn là từ nguồn đóng góp của chính những người nghèo vay vốn của nó và chỉ có 10% là nguồn vốn do Chính phủ cấp
Ngân hàng GB cho vay không cần có tài sản đảm bảo, thủ tục vay vốn cũng rất đơn giản và thuận lợi, tuy nhiên họ có cơ chế kiểm tra rất chặt chẽ, tạo cho người nghèo sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả
Kinh nghiệm thành công từ hoạt động Ngân hàng GB đó là: Kiên trì mục tiêu phục vụ và khai thác triệt để những đặc điểm của người nghèo, khơi dậy tính tích cực từ bản năng vượt nghèo của họ, khẳng định mục tiêu chiến lược của tín dụng là giúp người nghèo thoát cảnh cùng cực, đối tượng phục vụ trước hết là phụ nữ, vì người nghèo khổ nhất ở nông thôn Băng-la-đét là phụ nữ Tiếp đến việc cho vay của Ngân hàng GB thông qua tổ nhóm vay vốn, nhằm quản lý giám sát lẫn nhau, hạn chế tình trạng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, ngoài ra thông qua hoạt động
tổ vay vốn đã huy động tiết kiệm bắt buộc hàng tuần, như thế vừa huy động được nguồn vốn, vừa tạo cho người vay có nguồn trả nợ khi gặp khó khăn và nhất là tạo thói quen tiết kiệm trong cộng đồng người nghèo Một kinh nghiệm khác đối với hoạt động Ngân hàng GB đó là cho vay hộ nghèo theo lãi suất thị trường, tỷ lệ nợ quá hạn là một trong những ngân hàng thấp nhất ở Bangladesh, điều đó chứng tỏ việc cho vay người nghèo theo lãi suất thị trường có tác dụng thúc đẩy người nghèo hoà vào cơ chế kinh tế thị trường, chủ động cân đối chi phí sản xuất và giá thành để
có lãi, có khả năng trả nợ gốc và lãi tốt
Trang 35Điểm nhấn sáng tạo của Ngân hàng GB là mô hình “nhóm tự quản” kết nối những người vay sống trong cùng một khu vực dân có hoàn cảnh tương tự để họ cùng chia sẻ trách nhiệm, sàng lọc, giám sát và quản lý lẫn nhau, qua đó giảm được
sự bất cân xứng thông tin trong hoạt động tín dụng Nếu một thành viên trong nhóm gặp khó khăn, các thành viên khác phải có trách nhiệm giúp đỡ, một thành viên không hoàn trả nợ đúng hạn hay không trả được nợ sẽ làm ảnh hưởng đến tất cả những thành viên còn lại Khi 1 thành viên trong nhóm không có khả năng trả nợ thì Ngân hàng GB sẽ từ chối tất cả các khoản vay của các thành viên còn lại trong nhóm Cơ chế tự giám sát lẫn nhau như vậy vừa thúc đẩy những đối tượng khó khăn cùng nhau đoàn kết vươn lên tự làm ăn để thoát nghèo vừa góp phần tăng cường sự kiểm tra, giám sát dẫn đến gia tăng khả năng trả nợ và cải thiện HQTD một cách đáng kể (Dương Quyết Thắng, 2016, tr.49-tr.50)
1.4.1.2 Ngân hàng Bank Rakyat Indonesia của Indonesia
Bank Rakyat Indonesia (BRI) là ngân hàng do Nhà nước sở hữu Ngoài nhiệm
vụ truyền thống là cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho các vùng nông thôn ở Indonesia, Ngân hàng BRI còn tiến hành cung cấp các dịch vụ ngân hàng tại các khu vực công nghiệp và các tổ hợp quốc tế BRI có 325 chi nhánh tại huyện và 3.358 chi nhánh cơ sở nằm tại các thôn, xã với 43.000 nhân viên
Thời gian đầu, Ngân hàng BRI chủ yếu cấp tín dụng bao cấp của Nhà nước cho các đối tượng chính sách, tuy nhiên, do hệ quả của việc bao cấp và Ngân hàng BRI bị rơi vào tình trạng khó khăn, không hiệu quả và có nguy cơ phá sản Từ tình hình trên, sau đó, Ngân hàng BRI đã chuyển hướng tách bạch các hoạt động thực hiện nhiệm vụ ASXH ra khỏi hoạt động chung của Ngân hàng, các bộ phận được tổ chức và hạch toán độc lập Tùy từng đối tượng mà Ngân hàng BRI sẽ áp dụng các mức lãi suất khác nhau trên nguyên tắc không có sự bao cấp của Nhà nước
Ngân hàng BRI đặc biệt tập trung vào việc huy động các nguồn tiết kiệm của dân cư, nhất là những vùng nông thôn và khách hàng nghèo Với mạng lưới rộng khắp cùng với cơ chế huy động hấp dẫn nên Ngân hàng BRI đã thu hút được một nguồn lực rất lớn từ các đối tượng này để phục vụ cho nhu cầu tín dụng chính sách của chính họ Hoạt động huy động từ tiền gửi tiết kiệm nêu trên chính là chìa khóa thành công của Ngân hàng BRI
Trang 36Tổ chức giám sát chất lượng tín dụng và xử lý nợ quá hạn chặt chẽ, kịp thời do
có quỹ bù đắp rủi ro được tạo lập thông qua họat động kinh doanh Trường hợp rủi ro bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh trên diện rộng) thiệt hại từ 85% trở lên được Nhà nước cấp bù toàn bộ số vốn bị thiệt hại Với chính sách này, các TCTD yên tâm huy động vốn để đầu tư và tình hình tài chính của ngân hàng luôn luôn được xử lý khá trong sạch, bảo đảm khả năng thanh toán và phát triển bền vững
Chính phủ Indonesia quy định các NHTM phải dành 20% vốn đầu tư cho các doanh nghiệp nhỏ, nông dân, sự hỗ trợ của Nhà nước về tài chính theo xu hướng giảm dần Việc cấp vốn chủ yếu xây dựng cơ sở hạ tầng theo quy hoạch, theo vùng;
có chính sách hợp pháp việc sử dụng đất đai trong nông nghiệp, tạo những điều kiện thuận lợi để nông dân sử dụng vốn có hiệu quả, quay vòng vốn nhanh (Dương Quyết Thắng, 2016, tr.55-tr.57)
1.4.1.3 Ngân hàng Nông nghiệp và Hợp tác xã Nông nghiệp Thái Lan
Thái Lan là một nước nông nghiệp truyền thống, có tổng diện tích 513.115 km2, trong đó 44,6% đất dành cho nông nghiệp Lao động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm 50% lực lượng lao động cả nước
Ngân hàng Nông nghiệp và Hợp tác xã Nông nghiệp Thái Lan (BAAC) là một
NHTM của Chính phủ, thuộc Bộ Tài chính quản lý, họat động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Hàng năm Ngân hàng BAAC được Nhà nước cấp vốn
để cho vay tín dụng chính sách; đồng thời Chính phủ cũng quy định các NHTM phải dành 20% số vốn huy động được để cùng tham gia cho vay lĩnh vực nông thôn
Số vốn này có thể cho vay trực tiếp hoặc ủy thác qua BAAC cho vay hộ nhưng thông thường là các NHTM sẽ ủy thác qua Ngân hàng BAAC
Ngân hàng BAAC cung cấp rất nhiều sản phẩm dịch vụ để khách hàng có thể lựa chọn hình thức phù hợp nhất Ngoài ra, việc tiếp cận khách hàng của Ngân hàng BAAC là thông qua các tổ, nhóm với quy định chặt chẽ dành chung cho cả tổ, nhóm Điều này cũng tương tự như Ngân hàng BRI của Indonesia, theo đó sẽ gắn trách nhiệm cá nhân với trách nhiệm tập thể và góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng ưu đãi
Trang 37Ngân hàng BAAC cho vay với lãi suất thị trường, tuy nhiên kết hợp với chất lượng phục vụ chu đáo, tận tình nên luôn đảm bảo được tính bền vững và giảm sự bao cấp của Nhà nước
Bên cạnh đó, một điểm thành công của Ngân hàng BAAC là việc ngân hàng đã gắn kết việc cho vay với các chương trình đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người vay, qua đó giúp việc sản xuất kinh doanh của người vay hiệu quả hơn, đảm bảo chính sách hiệu quả và bền vững hơn Đây chính là sự hỗ trợ mang tính lâu dài
và bền vững của Ngân hàng BAAC
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trên cơ sở bài học kinh nghiệm từ tín dụng chính sách của Ngân hàng Grameen Bank (GB) - Bangladesh; Ngân hàng Rakyat (BRI) - Indonesia và Ngân hàng Nông nghiệp và Hợp tác xã nông nghiệp Thái Lan (BAAC) - Thái Lan, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về nâng cao HQTD chính sách là:
Thứ nhất, cần đa dạng hóa các nguồn lực cho mục tiêu giảm nghèo
Hầu hết các quốc gia đều thực hiện nguyên tắc huy động nguồn lực của toàn
xã hội cho công cuộc xóa đói giảm nghèo, bảo đảm ASXH Do đó, trong bối cảnh nhu cầu vốn tín dụng chính sách ngày càng lớn và ngân sách nhà nước còn nhiều khó khăn như hiện nay thì việc chung tay của toàn xã hội để thực hiện giảm nghèo, đảm bảo an ninh chính trị là vô cùng cần thiết Đặc biệt cần quan tâm, chú trọng hơn nữa đến công tác huy động tiết kiệm từ chính những người nghèo, những người vay vốn để vừa tạo thói quen tiết kiệm, nâng cao hiểu biết về quản lý tài chính cho người dân và giúp họ tích lũy để giảm bớt áp lực trả nợ vào cuối kỳ Đây cũng sẽ là một nguồn lực tương đối ổn định và ý nghĩa để ngân hàng có thể tiếp tục triển khai nhiệm vụ chính sách
Thứ hai, việc thực hiện tín dụng chính sách bên cạnh việc triển khai thông qua
việc ủy thác một số nội dung công việc cho các tổ chức chính trị - xã hội (CT-XH) như hiện nay nhằm từng bước xã hội hóa, thúc đẩy sự vào cuộc của toàn bộ hệ thống CT-
XH trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo chung của Nhà nước, thì việc nâng cao trách nhiệm của các cá nhân vay vốn thông qua các tổ, nhóm cần phải phát huy hơn nữa Điều này đã được minh chứng bằng những thành công rõ nét của các ngân hàng tại
Trang 38Bangladesh, Indonesia và Thái Lan nêu trên Theo đó, việc cho vay theo tổ, nhóm đòi hỏi tất cả các thành viên trong nhóm đều phải có trách nhiệm nhắc nhở các thành viên trả nợ, có như vậy thì những người còn lại trong nhóm mới được tiếp tục vay vốn Thêm vào đó, chính sách không cấp tín dụng mới khi khoản tín dụng cũ chưa được trả
đủ cũng là một cách để ngăn nợ xấu phát sinh Sự gắn bó, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau của các thành viên trong nhóm sẽ giúp họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống và sản xuất kinh doanh Việc tiếp cận thị trường và làm ăn theo nhóm cũng giúp việc phát triển năng lực lãnh đạo và các kỹ năng quản lý
Thứ ba, bảo đảm tính bền vững của ngân hàng cấp tín dụng chính sách
Mặc dù mục tiêu của ngân hàng là giúp cho người nghèo, các đối tượng chính sách khác trong xã hội vượt qua khó khăn, hoạt động của ngân hàng không vì mục tiêu lợi nhuận, tuy nhiên để có thực hiện được mục tiêu này trong dài hạn với phạm
vi rộng thì cần phải bảo đảm được tính bền vững của ngân hàng Để thực hiện điều này, ngân hàng cần phải hướng tới giảm dần các ưu đãi về lãi suất mà chuyển sang các ưu đãi về quy trình, thủ tục, điều kiện cho vay hoặc chỉ áp dụng các ưu đãi về lãi suất đối với một số đối tượng khách hàng có năng lực tài chính, sử dụng vốn vay thấp nhất
Thứ tư, hướng dòng vốn tín dụng đến các lĩnh vực ưu tiên ở nông thôn
Hầu hết các đối tượng chính sách ở mọi quốc gia đều tập trung ở khu vực nông thôn sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp bởi những lĩnh vực này không đòi hỏi lao động có trình độ, tay nghề cao và được đào tạo bài bản Do vậy, việc hướng dòng tín dụng đến các lĩnh vực ưu tiên, đặc biệt là nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển cả về mặt kinh tế và xã hội của các đối tượng chính sách Những khoản vay với giá trị nhỏ với mục đích mua giống cây trồng, cải tạo chuồng trại, mua giống gia súc,… phù hợp với nhu cầu chính đáng nhưng chưa được đáp ứng tốt của nông dân Tín dụng nông thôn mang đến cho đối tượng chính sách cơ hội tự lao động, nhằm tạo ra của cải, vật chất Tại nhiều nước, tình trạng nông dân phải tìm đến các nguồn tín dụng phi chính thức rất phổ biến bởi các NHTM ngại rủi ro và chi phí giao dịch cao nên hạn chế cho vay ở nông thôn Ngoài
ra, những quy định chặt chẽ của chính phủ về tài sản đảm bảo, lãi suất trong hoạt
Trang 39động tín dụng thì hiện tượng thông tin bất đối xứng cũng là cản trở trong việc cấp tín dụng nông thôn Do vậy, để dòng vốn tín dụng chuyển dịch đến các lĩnh vực ưu tiên, trước tiên cần sự định hướng của Chính phủ, sự chỉ đạo của ngân hàng trung ương và sự hưởng ứng của các NHTM, các tổ chức tài chính Việc điều chỉnh chính sách tín dụng là cần thiết bởi đối tượng chính sách xã hội có những đặc điểm riêng biệt, không thể đáp ứng yêu cầu cấp tín dụng chung (ví dụ chính sách về tài sản đảm bảo, lãi suất, thời hạn trả nợ, giá trị khoản vay, …) Về phía người vay, Chính phủ cũng cần hướng dẫn nông dân điều chỉnh cơ cấu vụ mùa, vật nuôi nhằm tránh hiện tượng cung vượt quá cầu, ảnh hưởng đến giá cả nông sản; từ đó tác động tiêu cực đến thu nhập và khả năng trả nợ của người vay Bên cạnh đó, việc cải tạo và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng (đường giao thông, hệ thống thông tin liên lạc) không chỉ nhằm khắc phục hiện tượng thông tin bất đối xứng mà còn tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, giúp thông thường hàng hóa, làm tăng thu nhập của người vay
Trang 402.1.1.2 Một số nét đặc thù trong hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội
Điểm khác biệt rõ nét nhất so với hoạt động của các NHTM là NHCSXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà vị mục tiêu xoá đói giảm nghèo, góp phần giải quyết các vấn đề ASXH khác như vệ sinh môi trường, việc làm, giáo dục đào tạo,…
Mô hình tổ chức, hoạt động của NHCSXH cũng có tính đặc thù riêng, khác so với các NHTM và ngân hàng chính sách của nhiều quốc gia trong khu vực với sự tham gia vào cuộc của hầu hết các Bộ, ngành, chính quyền địa phương và các Hội đoàn thể CT-XH
Bên cạnh đó, trong khi các NHTM được hoàn toàn chủ động trong việc lựa chọn khách hàng để cho vay thì NHCSXH phải phục vụ những khách hàng theo sự chỉ định của Chính phủ, không được cho vay các đối tượng ngoài quy định của Chính phủ, đó cũng là điểm đặc thù riêng có của NHCSXH
Ngoài ra, phương thức cho vay chủ yếu là uỷ thác qua các tổ chức CT-XH, việc cho vay trực tiếp chiếm tỷ trọng nhỏ Thực thi các chính sách tín dụng có ưu đãi như ưu đãi về các điều kiện vay vốn, ưu đãi về lãi suất cho vay…