Tiếp đó, luận văn nêu rõ những xu hướng phát triển của chuỗi giá trị toàn cầu như: mức độ tập trung cao; sự phát triển của hệ thống siêu thị, cửa hàng bán lẻ trên toàn cầu nâng cao giá t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
THĂNG THỊ PHƯƠNG THẢO
Hà Nội, 2019
Trang 2Mã số: 83.10.106
Họ và tên học viên: THĂNG THỊ PHƯƠNG THẢO
Người hướng dẫn: TS LƯƠNG THỊ NGỌC OANH
Trang 3Mã học viên: 1706040022
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các thông tin, số liệu đã nêu trong đề tài có nguồn gốc rõ ràng và kết quả của đề tài là trung thực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan trên
Hà Nội, ngày 18 tháng 05 năm 2019
Người cam đoan
Thăng Thị Phương Thảo
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ ii
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU 7
1.1 Khái quát về chuỗi giá trị toàn cầu 7
1.1.1 Khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu 7
1.1.2 Phân loại chuỗi giá trị toàn cầu 8
1.2 Phân tích các yếu tố tác động tới sự tham gia của mỗi quốc gia vào chuỗi giá trị toàn cầu 10
1.2.1 Mô tả mô hình chuỗi giá trị toàn cầu (Mapping) 10
1.2.2 Quản trị trong chuỗi giá trị toàn cầu (Governance) 11
1.2.3 Phân chia lợi ích kinh tế trong chuỗi giá trị toàn cầu (Economic Profit)15 1.2.4 Giải pháp nâng cấp các yếu tố trong chuỗi giá trị toàn cầu (Upgrading) 16
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ SỰ THAM GIA CỦA VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU MẶT HÀNG CÀ PHÊ 19
2.1 Xu hướng phát triển chuỗi giá trị cà phê toàn cầu 19
2.1.1 Mức độ tập trung cao 19
2.1.2 Vai trò điều phối của hệ thống siêu thị, cửa hàng bán lẻ trên toàn cầu điều phối với mục đích nâng cao giá trị gia tăng của khâu phân phối và marketing 20
2.1.3 Sự áp đặt tiêu chuẩn của các nhà nhập khẩu khi tham gia vào chuỗi giá trị cà phê toàn cầu 21
2.2 Tổng quan về thị trường cà phê Việt Nam 22
2.2.1 Năng lực trồng cà phê của Việt Nam 22
2.2.2 Tình hình chế biến và xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam 26 2.2.3 Cơ hội và thách thức đối với sự tham gia của Việt Nam trong chuỗi giá
Trang 52.3.2 Quản trị trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu (Governance) 52 2.3.3 Phân chia lợi ích kinh tế trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu (Economic Profit) 55
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY SỰ THAM GIA CỦA VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU MẶT HÀNG CÀ PHÊ 59 3.1 Mục tiêu của Việt Nam khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu mặt hàng
cà phê 59
3.1.1 Nhận thức và xác định đúng vị thế của mặt hàng cà phê Việt Nam trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu 59 3.1.2 Đảm bảo thực hiện được mục tiêu phát triển bền vững ngành cà phê 60 3.1.3 Tận dụng vai trò hỗ trợ, tạo lập môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị cà phê toàn cầu 61 3.1.4 Đa dạng hóa mặt hàng cà phê 61 3.1.5 Đa dạng hóa các phương thức tham gia của mặt hàng cà phê Việt Nam61
3.2 Giải pháp cải thiện sự tham gia của Việt Nam vào chuỗi giá trị cà phê toàn cầu 62
3.2.1 Giải pháp nâng cấp các yếu tố trong chuỗi giá trị mặt hàng cà phê (Upgrading) 62 3.2.2 Một số đề xuất đối với cơ quan quản lý Nhà nước nhằm thúc đẩy thị phần tham gia của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu 70
KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế
Association
Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam
& Forestry Science Institute
Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm Nghiệp Tây Nguyên
Trang 7DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1: So sánh 2 mô hình chuỗi giá trị do người bán chi phối và chuỗi giá trị do
người mua chi phối 10
Bảng 1.2: Các nhân tố chính của quản trị chuỗi 14
Bảng 1.3: Các cấp bậc nâng cấp chuỗi giá trị 18
Bảng 2.1: Thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam năm 2018 28
Bảng 2.2: Các quốc gia trồng cà phê xuất khẩu phân theo mùa vụ thu hoạch 40
Bảng 2.3: Một vài quốc gia trồng cà phê trên thế giới với sản lượng trên 5000 tấn ở niên vụ 2016/2017 42
SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Mô hình chuỗi giá trị gia tăng đối với mặt hàng cà phê 11
Sơ đồ 1.2: Nâng cấp chức năng trong chuỗi giá trị 17
Sơ đồ 2.1: Sự tham gia của Việt Nam trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu 37
Sơ đồ 2.2: Phân tích mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu 38
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ % theo doanh thu bán lẻ của các doanh nghiệp cà phê năm 2017 23
Biểu đồ 2.2: Sản lượng cà phê chè và vối trên thế giới giai đoạn 2012-2017 41
Biểu đồ 2.3: Nguồn cung và nhu cầu toàn cầu về cà phê theo năm 47
Biểu đồ 2.4: Sản lượng Arabica của Brazil cao kỷ luc, sản lượng Robusta tiếp tục hồi phục 50
Trang 8TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Chuỗi giá trị là tập hợp của một chuỗi các hoạt động để chuyển hóa nguồn lực đầu vào thành các thành phẩm được tiêu thụ và mỗi hoạt động trong chuỗi sẽ tạo ra thêm giá trị cho sản phẩm cuối cùng Trong điều kiện hội nhập, các mắt xích tạo nên giá trị cuối cùng của một sản phẩm có thể vượt ra ngoài biên giới một quốc gia Quá trình này tạo nên chuỗi các khâu được chuyên môn hoá mang tính hai mặt, vừa độc lập, vừa phụ thuộc lẫn nhau trong sản xuất và tiêu dùng một sản phẩm hàng hoá Các doanh nghiệp đến từ các quốc gia khác nhau sẽ trở thành những mắt xích quan trọng và chi phối sự phát triển của chuỗi giá trị Theo mô hình chuỗi giá trị của Kaplinsky và Morris (2003), các quốc gia sẽ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ở các khâu theo 3 cấp độ: giá trị gia tăng thấp, giá trị gia tăng trung bình và giá trị gia tăng cao
Tiếp đó, luận văn nêu rõ những xu hướng phát triển của chuỗi giá trị toàn cầu như: mức độ tập trung cao; sự phát triển của hệ thống siêu thị, cửa hàng bán lẻ trên toàn cầu nâng cao giá trị gia tăng của khâu phân phối và marketing; các nhà nhập khẩu có quy định chung về cà phê thành phẩm khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu Tiếp theo đó, luận văn phân tích tổng quan thị trường cà phê toàn cầu và những khó khăn và thuận lợi mà Việt Nam sẽ đối mặt và thực trạng sự tham gia của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu theo từng nhân tố
Cuối cùng, từ những vấn đề đã chỉ ra trong khuôn khổ nghiên cứu, luận văn nêu rõ phương hướng của Việt Nam khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, cũng như các giải pháp nhằm nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm cả phê Các giải pháp này cần phải được thiện đồng bộ từ phía Nhà nước và doanh nghiệp
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu của luận văn
Bất kỳ một sản phẩm nào tạo ra đều bao gồm một chuỗi các khâu liên kết chặt chẽ với nhau Tất cả các khâu sẽ tạo nên một chuỗi liên kết giữa người sản xuất và người tiêu dùng, mối hoạt động trong chuỗi sẽ tạo thêm giá trị cho sản phẩm cuối cùng
Chuỗi giá trị cà phê toàn cầu là bao gồm một loạt các hoạt động tạo ra và hình thành giá trị mặt hàng cà phê từ khâu nghiên cứu, trồng trọt, sản xuất, thu gom, chế biến cho đến xuất khẩu Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam, sản lượng xuất khẩu cà phê của Việt Nam đứng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Brazil Thương mại cà phê ngày nay đã được tự do hoá, hệ thống quản trị chuỗi giá trị mặt hàng cà phê lại chủ yếu là việc nâng cao thương hiệu cho sản phẩm và doanh nghiệp Thị trường cà phê thế giới có nhiều đặc điểm riêng biệt so với các mặt hàng nông sản khác do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan về phía cung
và phía cầu Các nguyên nhân này tạo nên nhiều khu vực thị trường Trong khu vực thịmtrường ổn định và giá trị cao, các giao dịch chủ yếu được tiến hành giữa các tập đoàn cà phê đa quốc gia và người tiêu dùng ở các nước phát triển Trong khu vực thị trường bất ổn định, giá trị thấp, các giao dịch chủ yếu được tiến hành giữa các nhà xuất khẩu cà phê ở các nước đang phát triển với các tập đoàn cà phê đa quốc gia Mức độ tập trung cao dưới sự chi phối của các tập đoàn đa quốc gia có ảnh hưởng lớn tới giá cà phê trên thị trường thế giới Việt Nam nằm trong khu vực thị trường giá trị thấp và bất ổn định nên bất kỳ biến động xấu nào của thị trường cà phê thế giới sẽ ngay lập tức ảnh hưởng tới tất cả các tác nhân trong ngành cà phê
Giá trị gia tăng của mặt hàng cà phê Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu chủ yếu là ở khâu sản xuất cà phê nguyên liệu, là khâu có giá trị gia tăng thấp nhất Mặc
dù là một trong những cường quốc về xuất khẩu cà phê trên thế giới, Việt Nam vẫn chưa thực sự đi sâu vào khâu chế biến để nâng cao giá trị gia tăng của mặt hàng này Tỷ lệ cà phê chế biến sâu, giá trị gia tăng cao của Việt Nam chỉ mới chiếm 10% trong tổng sản lượng cà phê nhân, trong khi xuất khẩu cà phê dạng thô chiếm
Trang 10tới 90% Trước thực trạng này, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải nghiên cứu và tìm giải pháp nâng cao giá trị gia tăng của cà phê Việt Nam trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu Việc nâng cao giá trị gia tăng không chỉ giúp cho cà phê Việt Nam cải thiện được tỷ trọng trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu mà còn đem lại lợi ích và hiệu quả tác động tích cực nhiều mặt cho nền kinh tế Việt Nam
Bên cạnh đó, Việt Nam có tiềm năng to lớn trong việc nâng cao giá trị gia tăng của cà phê thành phẩm Bên cạnh việc tiếp tục phát huy lợi thế so sánh để nâng cao giá trị gia tăng ở khâu sản xuất cà phê nguyên liệu, Việt Nam còn nhiều tiềm năng
để tham gia sâu hơn trong các khâu tạo ra giá trị gia tăng cao của sản phẩm này ở quy mô toàn cầu như tham gia vào khâu chế biến, vào mạng lưới phân phối cà phê thành phẩm toàn cầu, xây dựng thương hiệu sản phẩm cà phê Việt nam trên trường quốc tế
Do đó, việc lựa chọn đề tài: “Phân tích sự tham gia của các chủ thể Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu đối với mặt hàng cà phê” là luận văn Thạc sĩ có ý nghĩa
cả về mặt lý luận và thực tiễn trước thực trạng phát triển ngành hàng cà phê của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
gia của Việt Nam vào chuỗi giá trị cà phê toàn cầu Trong đó, vấn đề quan trọng và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm cà phê cuối cùng của Việt Nam
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về chuỗi giá trị và chuỗi giá trị toàn cầu, cũng như các nhân tố tác động tới một chuỗi giá trị
- Nêu rõ xu hướng phát triển của chuỗi giá trị cà phê toàn cầu, mô tả một cách tổng quan thị trường cà phê thế giới và trong nước, chỉ ra những cơ hội và thách thức đối với cà phê xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường quốc tế Từ đó, luận văn phân tích rõ hơn sự tham gia của chủ thể Việt
Trang 11- Chỉ ra phương hướng, cũng như các giải pháp nhằm nâng cao giá trị gia tăng, thúc đẩy sự tham gia về thị phần của Việt Nam trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sự tham gia của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu mặt hàng cà phê
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Thị trường cà phê toàn cầu
Về thời gian: Chủ yếu phân tích thị trường cà phê toàn cầu trong giai đoạn 2010-2019
4 Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến đề tài này, đã có một số luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ, luận văn tốt nghiệp đại học hay những công trình nghiên cứu khoa học, bài báo đã tiếp cận và nghiên cứu từ nhiều cách nhìn khác nhau:
- Lê Huy Khôi với luận án Tiến sĩ năm 2013: “Giải pháp nâng cao giá trị gia tăng cho mặt hàng cà phê Việt Nam trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu” Luận án phân tích thực trạng giá trị cà phê Việt Nam trên thị trường
thế giới, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho mặt hàng cà phê của Việt Nam
- Hoàng Thị Vân Anh với luận văn Thạc sĩ năm 2009: “Chuỗi giá trị toàn cầu mặt hàng cà phê và khả năng tham gia của Việt Nam” Luận văn xây
dựng khung lý thuyết cơ bản về chuỗi giá trị toàn cầu và chuỗi giá trị cà phê toàn cầu Từ đó, tác giả đánh giá thực trang sự tham gia của Việt Nam và đưa ra giải pháp trước mắt và lâu dài để thúc đẩy quá trình tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của mặt hàng cà phê Việt Nam
- Phan Thị Thanh Trúc, Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2016) với bài viết “Mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị sản phẩm cà phê khu vực Tây Nguyên” đăng tại Tạp chí Khoa học Công nghệ, Đại học Đà Nẵng
2016 Bài viết tập trung đánh giá mối liên kết ngang và dọc trong chuỗi
Trang 12giá trị cà phê trên khu vực Tây Nguyên và chỉ ra các giải pháp nhằm gia tăng lòng tin giữa các tác nhân, giúp giảm thiểu chi phí, tăng năng lực cạnh tranh cho chuỗi
- Phùng Thị Hồng Hà (2010) với bài viết: “Phát triển sản xuất
cà phê Huyện A Lưới” đăng tại Tạp chí Khoa học Đại học Huế, số
62/2010 Bài viết phân tích tình hình sản xuất cà phê ở huyện A Lưới Hình thức tổ chức sản xuất cà phê ở đây khá đa dạng: doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, trang trại và hộ gia đình nông dân Tuy nhiên, việc tổ chức sản xuất vẫn còn nhiều vấn đề bất cập Vì vậy, việc đánh giá khách quan sự phát triển sản xuất cà phê trong thời gian vừa qua, phân tích rõ các nhân tố ảnh hưởng hiệu quả đầu tư và sản xuất cà phê của các hình thức tổ chức sản xuất để có cơ sở đề xuất các giải pháp phù hợp là vấn đề hết sức cần thiết đối với sự phát triển bền vững cây cà phê ở huyện A Lưới trong thời gian tới
- Raphael Kaplinsky and Mike Morris (2003): “A Handbook for Value Chain” Cuốn sách đã đưa ra những khái niệm về chuỗi giá trị toàn cầu,
cũng như phân tích rõ sự tác động của các nhân tố trong chuỗi như vấn đề phân chia lợi ích kinh tế của các chủ thêm tham gia trong chuỗi
- John Humphrey (2004): “Upgrading in global value chains” Tác giả của
cuốn sách này đã khái niệm về các loại hình quản trị trong mội chuỗi giá trị và các giải phấp nhằm nâng cấp các yếu tố đó
- Nghiên cứu của John Humphrey và Schmitz với bài viết “Governance in Global Value Chains” đăng tải trên tạp chí IDS Bulletin năm 2001 Bài
viết xây dựng một khung lý thuyết để giúp giải thích các mô hình quản trị trong chuỗi giá trị toàn cầu dựa trên ba yếu tố là tính kinh tế chi phí giao dịch, mạng lưới sản xuất, khả năng công nghệ và nói lên bản chất của quản trị chuỗi giá trị toàn cầu thông qua ví dụ cụ thể
- Gary Gerrefi (2005): “The governance of global value chains” Cuốn
Trang 13trị trong chuỗi giá trị toàn cầu Tác giả chỉ ra 3 nhân tố chính quyết định
mô hình chuỗi giá trị đó là: mức độ phức tạp của các giao dịch, khả năng
hệ thống hóa các giao dịch và khả năng cung ứng của các nhà sản xuất Theo đó, mô hình chuỗi được chia ra thành 5 loại: thị trường, chuỗi giá trị mẫu, chuỗi giá trị quan hệ, chuỗi giá trị phụ thuộc, cấp bậc
- Denis Seudieu (2011): “Coffee value chain in selected importing countries” Bài viết đã nêu bật giá trị gia tăng toàn cầu của ngành công
nghiệp rang xay từ quá trình tiêu thụ cà phê ở 9 quốc gia nhập khẩu Tác giả chỉ ra rằng tổng giá trị gia tăng của 9 nước nhập khẩu này cao hơn rất nhiều so với các quốc gia xuất khẩu, và cao hơn tất cả doanh thu của các quốc gia xuất khẩu trong cùng giai đoạn
5 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp sau đây:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Luận văn tạo dựng khung
lý thuyết vững chắc làm cơ sở để phân tích thực trạng và tìm ra các vấn
đề cần giải quyết của Việt Nam trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu
- Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu: Luận văn đã thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp và thứ cấp về thực trạng sự tham gia của Việt Nam trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu
- Phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp: Phương pháp phân tích nhằm tìm ra những vấn đề cơ bản của chuỗi giá trị cà phê Việt Nam, phương pháp so sánh thể hiện sự khác biệt trong sự tham gia của Việt Nam và các quốc gia trên thế giới vào các khâu mang lại giá trị gia tăng khác nhau trong một chuỗi, phương pháp tổng hợp trong việc đưa ra những ra những giải pháp về phía Nhà nước và doanh nghiệp nhằm thúc đẩy giá trị gia tăng và sự tham gia của Việt Nam trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu
6 Đóng góp của nghiên cứu
Luận văn đã góp phần chỉ ra được những vấn đề Việt Nam đang gặp phải trong bối cảnh gia nhập chuỗi giá trị cà phê toàn cầu Trước thực trạng
Trang 14đó Luận văn đã đưa ra những giải pháp cụ thể trước mắt và lâu dài giúp thúc đẩy sự tham gia của Việt Nam về mặt thị phần và giá trị gia tăng vào chuỗi giá trị toàn cầu mặt hàng cà phê
7 Cấu trúc của luận văn
Nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Khung lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu
- Chương 2: Đánh giá sự tham gia của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu mặt hàng cà phê
- Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy sự tham gia của Việt Nam trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu
Trang 15CHƯƠNG 1: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU
1.1 Khái quát về chuỗi giá trị toàn cầu
1.1.1 Khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu
1.1.1.1 Khái niệm chuỗi giá trị
Michael Porter là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ chuỗi giá trị (Porter, 1985) Theo đó, “Chuỗi giá trị là tổng thể các hoạt động liên quan đến sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó Trong chuỗi giá trị diễn ra quá trình tương tác giữa các yếu tố cần và đủ để tạo ra một hoặc một nhóm sản phẩm và các hoạt động phân phối, tiêu thụ sản phẩm, nhóm sản phẩm đó theo một phương thức nhất định Giá trị tạo ra của chuỗi bao gồm tổng các giá trị tạo ra tại mỗi công đoạn của chuỗi.”
Tiếp theo đó, hai nhà đồng tác giả Raphael Kaplinsky và Mike Morris vào năm 2003 đã đưa ra khái niệm về chuỗi giá trị: “Chuỗi giá trị được hiểu là một chuỗi các hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm hay dịch vụ từ khi còn là ý tưởng thông qua nhiều công đoạn sản xuất khác nhau (bao gồm sự kết hợp giữa những yếu tố đầu vào và các biến đổi vật chất của các nhà dịch vụ và sản xuất) đến khi được phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng, kể cả việc xử lý sản phẩm đã qua
sử dụng”
Một chuỗi giá trị cho bất kỳ một sản phẩm nào sẽ bao gồm các công đoạn: nghiên cứu và phát triển, trồng trọt và chế biến, phân phối, marketing Tất cả những hoạt động này tạo nên một chuỗi liên kết giữa người sản xuất và người tiêu dùng, hơn thế nữa mỗi hoạt động trong chuỗi sẽ tạo thêm giá trị cho sản phẩm cuối cùng Như vậy, chuỗi giá trị có thể được nhìn nhận theo góc độ rộng hơn, các khâu
và hoạt động được chi tiết hóa, chuỗi giá trị là một tập hợp các hoạt động do nhiều tham gia cùng thực hiện để biến một nguyên liệu thô trở thành thành phẩm được tiêu thụ Chuỗi giá trị cho thấy các hoạt động trong một chuỗi không phải do một doanh nghiệp duy nhất tiến hành mà nó thể hiện sự liên kết ngược xuôi giữa các yếu
tố tham gia chuỗi đến khi nguyên liệu thô được sản xuất và kết nối với người tiêu dùng cuối cùng Một chuỗi giá trị sẽ tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi nỗ lực để tạo ra giá trị tối đa cho toàn chuỗi
Trang 16Khái quát lại, chuỗi giá trị là tập hợp của một chuỗi các hoạt động để chuyển hóa nguồn lực đầu vào thành các thành phẩm được tiêu thụ và mỗi hoạt động trong chuỗi sẽ tạo ra thêm giá trị cho sản phẩm cuối cùng
1.1.1.2 Khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu
Như đã phân tích, mỗi sản phẩm đều phải trải qua một chu kỳ từ giai đoạn nghiên cứu và phát triển, thử nghiệm, sản xuất, marketing, hỗ trợ và mở rộng kỹ thuật để cải tiến Mỗi hoạt động này đều riêng biệt và có tính chuyên môn hóa Hầu hết các quốc gia đang phát triển sẽ không có đủ nguồn lực và năng lực để đảm nhiệm tất cả các khâu trong chuỗi giá trị của một sản phẩm Tuy nhiên, các nước đang phát triển đang dần nâng cao năng lực của mình để đảm nhận nhiều hơn các khâu trong một chu kỳ của sản phẩm
Với chuỗi giá trị diễn ra trên phạm vi toàn cầu, các mắt xích tạo ra giá trị cuối cùng của thành phẩm đã vượt qua ngoài biên giới quốc gia Các doanh nghiệp đến
từ các quốc gia khác nhau sẽ trở thành những mắt xích quan trọng và chi phối sự phát triển của chuỗi giá trị
Từ đó, chuỗi giá trị toàn cầu (GVC – Global Value Chain) ra đời cho phép các khâu trong chuỗi giá trị đặt tại các quốc gia khác nhau nhằm mang đến hiệu quả cao nhất và chi phí thấp nhất
1.1.2 Phân loại chuỗi giá trị toàn cầu
Dựa vào nhân tố chi phối chuỗi, chuỗi giá trị toàn cầu được chia làm 3 loại: chuỗi giá trị do người bán chi phối, chuỗi giá trị do người mua chi phối, và các liên kết cụm với sự thống lĩnh của các tập đoàn lớn:
Chuỗi giá trị do người bán chi phối
Trong chuỗi giá trị này, các công ty xuyên quốc gia (TNCs) và
đa quốc gia (MNCs) có quy mô lớn đóng vai trò trung tâm và điều phối mạng lưới sản xuất phối hợp (bao gồm cả liên kết xuôi chiều và ngược chiều)
Đây là đặc điểm của các ngành có hàm lượng vốn lớn, đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao như sản xuất máy bay, ô tô, linh kiện điện tử, sản phẩm bán dẫn và máy
Trang 17rất phổ biến ở các nước công nghiệp hóa theo định hướng xuất khẩu, mạnh về sản xuất sản phẩm tiêu dùng như dệt may, hàng thủ công, đồ điện dân dụng Theo đó, các nhà thầu phụ đặt tại các nước đang phát triển sẽ tham gia vào các khâu trong quy trình như lắp ráp, hoàn thiện sản phẩm cho nhà sản xuất chính ở nước ngoài
Trong chuỗi giá trị này, các nhà sản xuất đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập mạng lưới sản xuất phi tập trung tại các quốc gia đang phát triển Mô hình này phù hợp với các ngành công nghiệp hàng tiêu dùng như dệt may, giày dép, đồ thủ công mỹ nghệ, đồ gia dụng Quy trình sản xuất được thực hiện thông qua các nhà thầu phụ thực hiện công việc hoàn thiện sản phẩm cho người mua nước ngoài Thời gian gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế dịch vụ và công nghệ điện tử, mô hình chuỗi giá trị do người mua chi phối ngày càng trở nên phổ biến Một vài ví dụ điển hình cho mô hình này là Walmart, Nike, Gap, The Limited Inc,…
Trang 18Bảng 0.1: So sánh 2 mô hình chuỗi giá trị do người bán chi phối và chuỗi
giá trị do người mua chi phối
Nguồn: Gary Gereffi, The governance of global value chains, 2005
Mô hình này là sự tập hợp của các hoạt động có liên quan hoặc liên kết với nhau bao gồm các ngành công nghiệp, các nhà cung cấp,
cơ sở hạ tầng, dịch vụ hỗ trợ và các điều kiện cần thiết khác Điển hình cho các liên kết cụm là các khu công nghiệp, khu kinh tế mở, khu chế xuất,… Mô hình liên kết cụm thể hiện sự liên kết mang tính chất mạng lưới,bao gồm cả liên kết dọc và liên kết ngang
1.2 Phân tích các yếu tố tác động tới sự tham gia của mỗi quốc gia vào chuỗi giá trị toàn cầu
1.2.1 Mô tả mô hình chuỗi giá trị toàn cầu (Mapping)
Về cơ bản, các quốc gia sẽ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu theo 3 cấp độ: giá trị gia tăng thấp, giá trị gia tăng trung bình và giá trị gia tăng cao Morris (2003) đã đưa ra sơ đồ các hoạt động trong một chuỗi giá trị và giá trị gia tăng tương ứng với từng khâu
Trang 193 4 5
Sơ đồ 0.1: Mô hình chuỗi giá trị gia tăng đối với mặt hàng cà phê
Nguồn: Kaplinsky and Morris, A Handbook for Value Chain, 2003
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, quy trình sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm sẽ diễn ra trên quy mô toàn cầu Các quốc gia đang phát triển hiện nay chủ động các chính sách hỗ trợ để để doanh nghiệp trở thành một bộ phân của chuỗi giá trị toàn cầu Các nước đang phát triển có thể tận dụng điều kiện thuận lợi của địa phương nhằm khai thác lợi thế cạnh tranh quốc tế, giảm chi phí, phát triển khoa học công nghệ để giúp các doanh nghiệp tham gia ngày càng sâu vào các hoạt động mang lại giá trị gia tăng cao trong một chuỗi giá trị
1.2.2 Quản trị trong chuỗi giá trị toàn cầu (Governance)
Trang 20Theo Humphrey & Schmitz (2002), quản trị chuỗi thể hiện sự kiên kết của các bên tham gia và cơ chế thực hiện của các hoạt động điều phối phi thị trường
Gereffi (2005) đưa ra 5 mô hình quản trị chuỗi toàn cầu như sau:
Thị trường
Thị trường được coi là hình thức đơn giản nhất trong các mô hình quản trị chuỗi trong đó giá cả là cơ chế quản trị trung tâm Sự kết nối giữa các hoạt động quản trị chuỗi không thật sự chặt chẽ vì các thông tin cần được trao đổi và các kiến thức cần chia sẻ tương đối đơn giản Vì vậy, chi phí để chuyển giao sang đối tác khác sẽ thấp đối với các yếu tố trong chuỗi
Chuỗi giá trị mẫu
Một cách tổng quát theo chuỗi giá trị mẫu, nhà cung cấp trong chuỗi giá trị sẽ tạo ra sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ theo hướng dẫn chi tiết của khách hàng Các nhà cung cấp sẽ chịu trách nhiệm về quy trình công nghệ và dùng các máy móc, công cụ phổ biến để thu hút đầu tư từ một lượng khách hàng lớn Điều này giúp duy trì chi phí chuyển đổi thấp và giới hạn đầu tư vào các giao dịch cụ thể, kể cả khi tương tác giữa người cung cấp và người mua trở nên phức tạp
Các sự liên kết trong mô hình quản trị chuỗi này sẽ chặt chẽ hơn một cách cần thiết so với mô hình thị trường giản đơn vì khối lượng thông tin luân chuyển trong sự kết nối của các doanh nghiệp là lớn hơn
mua có những tương tác tương đối phức tạp và tạo ra các mối quan hệ phụ thuốc chặt chẽ, đặc trưng hơn so với hai kiểu quản trị thị trường
và chuỗi giá trị mẫu Những mối quan hệ đó chịu sự chi phối của danh tiếng, yếu tố xã hội, gia đình và quan hệ dân tộc Các nhà nghiên cứu cho rằng danh tiếng và sự tin tưởng đóng vai trò chính trong việc kết
Trang 21thường cao Các sự tương tác dày đặc và chia sẻ kiến thức được hỗ trợ bởi các đối tác chuỗi giá trị có sự hiểu biết sâu sắc về nhau
Chuỗi giá trị phụ thuộc: Trong phương thức quản trị chuỗi này, các nhà cung cấp nhỏ phụ thuộc vào những người mua lớn và người mua sẽ chi phối Việc phụ thuộc vào công ty dẫn đầu sẽ làm tăng chi phí chuyển đổi cho các nhà cung cấp Mạng lưới này thường được đặc trưng bởi sự giám sát và mức độ kiểm soát chặt chẽ của công ty đầu ngành Mối quan hệ quyền lực bất cân xứng khiến cho các nhà cung cấp phải liên kết với khách hàng của họ một cách chặt chẽ, hướng tới những khách hàng cụ thể với chi phí chuyển đổi cao hơn
chiều dọc, nghĩa là các giao dịch diễn ra trong một công ty duy nhất Hình thức quản trị chi phối là sự kiểm soát việc quản lý
Năm phương thức quản trị chuỗi được xác định bởi ba yếu tố: mức độ phức tạp của các giao dịch giữa các doanh nghiệp, khả năng hệ thống hóa các giao dịch, khả năng cung ứng của các nhà sản xuất để đáp ứng yêu cầu từ người mua Mỗi phương thức quản trị sẽ có sự đánh đổi khác nhau giữa lợi ích và rủi ro của việc thuê ngoài Yếu tố cuối trong Bảng 1.2 thể hiện mức độ phối hợp và sự bất cân xứng quyền lực giữa người bán và người mua từ thấp tới cao
Trang 22Bảng 0.2: Các nhân tố chính của quản trị chuỗi
Phương thức
quản trị
chuỗi
Mức độ phức tạp của các giao dịch giữa các doanh nghiệp
Khả năng
hệ thống hóa các giao dịch
Khả năng cung ứng của các nhà sản xuất để đáp ứng yêu cầu từ người mua
Mức độ phối hợp
và sự bất cân xứng quyền lực giữa người bán
và người mua
Cao
Nguồn: Gary Gereffi, The governance of global value chains, 2005
Thực tế rằng, các phương thức quản trị chuỗi mô tả cách thức phân bổ quyền lực trong chuỗi giá trị toàn cầu
Trong chuỗi giá trị toàn cầu phụ thuộc, các công ty đầu ngành tác động trực tiếp về quyền lực, kiểm soát trực tiếp tại trụ sở và tác động tới các công ty con ở nước ngoài hoặc chi nhánh công ty tích hợp theo chiều dọc Sự kiểm soát này cho thấy mức độ bất cân xứng về quyền lực rõ rệt khi công ty đầu ngành chiếm ưu thế
Trong chuỗi giá trị toàn cầu quan hệ, quyền lực giữa các doanh nghiệp cân bằng hơn, các bên đều có đóng góp quan trọng Sự phối hợp trong phương thức này đạt được giữa các đối tác tương xứng nhau, đối lập với luồng thông tin một chiều và
sự kiểm soát giữa các đối tác không tương xứng trong chuỗi giá trị toàn cầu phụ thuộc và cấp bậc
Trong chuỗi giá trị toàn cầu mẫu và thị trường, sự chuyển đổi giữa nhà cung cấp và người mua là tương đối dễ dàng Sự bất cân xứng về quyền lực là thấp vì cả
Trang 231.2.3 Phân chia lợi ích kinh tế trong chuỗi giá trị toàn cầu (Economic Profit)
Mục đích trọng tâm trong phần này là chỉ ra những rào cản gia nhập giúp hạn chế áp lực cạnh tranh Quá trình phân bổ thu nhập tập trung vào lợi nhuận, rào cản gia nhập càng cao thì lợi nhuận càng lớn Một trong những ví dụ điển hình trong nhiều năm qua là Công ty Kính Pilkington Công ty này kiểm soát công nghệ kính nổi đã thống trị toàn ngành trong nhiều năm và đạt lợi nhuận cao Do đó, lợi nhuận
là một yếu tố quan trọng để tìm hiểu về mô hình doanh thu trong mạng lưới sản xuất toàn cầu Tuy nhiên, những điểm hạn chế của việc chỉ căn cứ vào lợi nhuận được chỉ ra trong chuỗi giá trị toàn cầu mặt hàng rau quả Trong cả 2 trường hợp, áp lực cạnh tranh trong ngành đều cao, trong đó có cả ngành bán lẻ Châu Âu khi báo cáo Chính phủ gần đây chỉ ra rằng tỷ suất lợi nhuận ở dưới định mức ngành Thặng dư
là thặng dư người tiêu dùng chứ không phải thặng dư nhà cung cấp, tích lũy cho các nhà tư bản dưới dạng lợi nhuận Các quốc gia cần tập trung không chỉ vào tỷ suất lợi nhuận mà còn cả các yếu tố khác Như vậy, sự phân phối đầu ra trong chuỗi giá trị toàn cầu phụ thuộc vào đầu vào phát sinh vốn (phục vụ kinh doanh, chấp nhận rủi ro và quyền sở hữu công nghệ), nhân lực và chủ sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong từng chuỗi giá trị
Yếu tố để hiểu được sự phân bổ đầu ra tập trung vào đầu vào trong từng khâu của chuỗi giá trị thay vì tập trung vào lợi nhuận Hai yếu tố quan trọng các quốc gia cần lưu ý là:
về việc làm Tuy nhiên trong trường hợp này, các chủ thể cần chú ý vào giá trị gia tăng thay vì giá trị tổng của hoạt động kinh doanh hay xuất khẩu trong mỗi liên kết của chuỗi giá trị Ví dụ, một người mua ở phần gần cuối của chuỗi giá trị có thể chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng giá trị gia tăng của chuỗi, nhưng chiếm phần lớn trong tổng doanh thu
chuỗi giá trị có thể giúp phản ánh phân bổ doanh thu, chúng ta vẫn chưa hiểu được nhiều về sự phân bổ lợi nhuận của từng liên kết trong
Trang 24chuỗi Theo đó, thu nhập cần được phân tách, điều mà các nhà kinh tế vẫn thường gọi là sự phân tách chức năng, hoặc là sự phản ánh thu nhập theo độ tuổi, dân tộc, hay giữa những công nhân có kỹ năng và không có kỹ năng
Theo Raphael Kaplinsky and Mike Morris (2003), trong quá trình toàn cầu hóa, khoảng cách giữa các nước sẽ tăng lên Việc phân tích chuỗi giá trị sẽ giúp giải thích điều này:
tích chuỗi giá trị giúp phân chia tổng thu nhập của chuỗi thành các khoản mà các bên nhận được
gia, vùng và công ty kết nối với nền kinh tế toàn cầu Các phân tích lồng ghép xác định sự phân phối của các hệ thống sản xuất toàn cầu
và năng suất mà các nhà sản xuất phải đẩy mạnh và hướng tới tăng trưởng thu nhập bền vững
Thông qua quá trình phân tích chuỗi giá trị, người nghiên cứu sẽ xác định được cách thức phân bổ thu nhập giữa các cấp và các mắt xích trong một chuỗi Ngoài ra, người nghiên cứu còn nắm bắt được mỗi quan hệ giữa các mắt xích trong chuỗi và tác động của hệ thống quản trị chuỗi tới sự phân bỏ thu nhập Từ đây đưa
ra những giải pháp nhằm cải thiện các nhân tố yếu thế và đảm bảo tính cân bằng giữa các nhân tố trong chuỗi
Quản trị chuỗi giá trị, các vấn đề thể chế, giải pháp nâng cấp, và áp lực cạnh tranh là những tác nhân ảnh hưởng trực tiếp đến phân phối thu nhập Sự phân bổ thu nhập góp phần cải thiện quản trị chuỗi, tìm ra các giải pháp nâng cấp và loại bỏ các yếu kém trong vấn đề thể chế tại quốc gia mà chuỗi thực hiện giá trị
1.2.4 Giải pháp nâng cấp các yếu tố trong chuỗi giá trị toàn cầu (Upgrading)
Nâng cấp chuỗi giá trị là hình thức chuyển từ các hoạt động tạo ra giá trị thấp sang những hoạt động có giá trị cao hơn của các chủ thể kinh tế, quốc gia và người lao động trong mạng lưới sản xuất toàn cầu
Trang 25Vấn đề quan trọng nhất trong nâng cấp chuỗi giá trị là khả năng sáng tạo, đối mới trong quy trình sản xuất cũng như sản phẩm Điều này nhằm giáp duy trì thị phần và giá trị gia tăng thu về so với các đối thủ cạnh tranh Các doanh nghiệp cần tập trung vào giá trị cốt lõi và tự đánh giá năng lực của mình để quyết định sẽ tạo ra giá trị gì cho người tiêu dùng cuối cùng và thu lại được những gì
Nâng cấp chuỗi giá trị được chia làm 4 loại:
- Nâng cấp quy trình: là các hoạt động nâng cao hiệu quả của quy trình nội
bộ để có được giá trị tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh, tăng cường sự liên kết chặt chẽ giữa các mắt xích trong chuỗi giá trị và các yếu tố bên trong một mắt xích
- Nâng cấp sản phẩm: là các hoạt động cải tiến sản phẩm cũ nhanh hơn so với đối thủ cạnh tranh, ra mắt sản phẩm mới Điều này sẽ bao hàm cả sự thay đổi trong quy trình để phát triển sản phẩm mới giữa các yếu tố liên kết bên trong một doanh nghiệp và trong mối quan hệ giữa nhiều doanh nghiệp đóng vai trò khác nhau trong một chuỗi giá trị
- Nâng cấp chức năng: là các hoạt động làm tăng giá trị gia tăng thông qua việc thay đổi các hoạt động được quản lý bên trong một doanh nghiệp hoặc chuyển các hoạt động sang các liên kết khác trong chuỗi giá trị
Sơ đồ 0.2: Nâng cấp chức năng trong chuỗi giá trị
Nguồn: Kaplinsky and Morris, A Handbook for Value Chain, 2003
- Nâng cấp toàn chuỗi: là hoạt động chuyển sang một chuỗi giá trị mới dựa trên những kinh nghiệm, kiến thức học hỏi từ trước do tham gia một chuỗi giá trị có liên quan
Trang 26Có thể xác định được hệ thống các bước nâng cấp chuỗi giá trị, kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc nâng cấp chuỗi giá trị thường sẽ được thực hiện theo trình tự nâng cấp quy trình, nâng cấp sản phẩm, nâng cấp chức năng và nâng cấp toàn chuỗi Các doanh nghiệp từ Đông Á đã thực hiện chuyển đổi từ sản xuất OEA (lắp ráp thiết bị chính, hoạt động mang lại giá trị gia tăng thấp và thực hiện theo hợp đồng của người mua trên toàn cầu) sang OEM (nhà cung cấp các thiết bị sản xuất chính), ODM (nhà cung cấp có thiết kế riêng) và OBM (nhà cung cấp có nhãn hiệu riêng)
Bảng 0.3: Các cấp bậc nâng cấp chuỗi giá trị
nâng cấp quy trình
nâng cấp sản phẩm
nâng cấp chức năng
nâng cấp toàn chuỗi
Giá trị gia tăng thu về tăng dần
Nguồn: Kaplinsky and Morris, A Handbook for Value Chain, 2003
Trang 27CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ SỰ THAM GIA CỦA VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU MẶT HÀNG CÀ PHÊ
2.1 Xu hướng phát triển chuỗi giá trị cà phê toàn cầu
2.1.1 Mức độ tập trung cao
Theo ICO, 10 quốc gia sản xuất chính mặt hàng cà phê trong niên vụ
2017-2018 là: Mexico, Peru, Uganda, India, Ethiopia, Honduras, Indonesia, Colombia, Brazil và Việt Nam Tại Việt Nam, sản lượng cà phê tăng lên 28,5 triệu bao trong niên vụ 2017 – 2018, sau niên vụ trước chỉ thu được 25,54 triệu bao vì thời tiết hạn hán Sản lượng niên vụ 2017 – 2018 phục hồi nhờ lượng mưa đầy đủ, giúp tăng năng suất của cây cà phê Cũng theo ICO, kết thúc tháng 9/2018, Brazil và Colombia chiếm 60,4% tổng xuất khẩu cà phê Arabica xanh, trong khi Việt Nam chiếm 60% tổng khối lượng cà phê Robusta xuất khẩu
Tiêu thụ cà phê trên thế giới được ước tính tăng 1,8% so với năm trước lên 161,93 triệu bao trong năm 2017 - 2018 Trong đó, khu vực ghi nhận mức tăng trưởng nhanh nhất là châu Á - Thái Bình Dương, với lượng tiêu thụ trong năm 2017
- 2018 tăng 3,1% lên 35,9% Bắc Mỹ là khu vực có tăng trưởng tiêu thụ nhanh thứ hai, tăng 2,6% lên 30,34 triệu bao Trong khi đó, châu Âu là khu vực duy trì tốc độ tăng trưởng 0,5% lên 52,32 triệu bao trong năm 2017 - 2018 Những tập đoàn chế biến cà phê lớn nhất thế giới hiện nay là Proctor & Gamble, Kraft Foods, Nestle và Sara Lee, các tập đoàn này chi phối một sản lượng lớn cà phê hòa tan và cà phê rang xay Những nhãn hiệu này đã tạo ra sức hút mãnh liệt đối với khách hàng trên phạm vi toàn cầu và họ đang tiếp tục định vị tại khâu có giá trị gia tăng cao nhất
Mức độ tập trung cao dưới sự chi phối của các tập đoàn đa quốc gia có ảnh hưởng lớn tới giá cà phê trên thị trường thế giới Trong khi đó, người trồng cà phê ngày càng gặp khó khăn hơn trong việc thỏa thuận về giá Các nhà sản xuất nhỏ
một mức giá rất thấp để đưa sản phẩm của họ vào thị trường
Chuỗi giá trị cà phê toàn cầu mang đặc trưng của một chuỗi giá trị được dẫn dắt bởi nhà bán hàng Theo mô hình này, lợi nhuận chủ yếu đến từ những câu có giá
Trang 28trị gia tăng cao và có khả năng hạn chế những người mới gia nhập chuối như nghiên cứu, phân phối, marketing và các dịch vụ tài chính
Một số nguyên nhân chính tạo lợi thế độc quyền cho các công ty đa quốc gia là:
- Các nước phát triển áp dụng chính sách đánh thuế cao vào các mặt hàng cà phê chế biến
- Nhu cầu người tiêu dùng đối với mặt hàng cà phê đặc thù và ít co giãn theo giá, giá tăng hay giảm cũng ít ảnh hưởng tới lượng cà phê được tiêu thụ
- Thị trường cạnh tranh cao về phía cung Giá cà phê có biên độ dao động rất lớn phụ thuộc vào nguồn cung cà phê nguyên liệu trên thị trường trong khi cũng như các sản phẩm nông nghiệp khác, sản xuất cà phê rất nhạy cảm với các thay đổi về khí hậu và thời tiết Vì vậy, nguồn cung cà phê có thể biến động rất mạnh trong khi nhu cầu tương đối ổn định
- Người sản xuất cà phê nhỏ chưa tận dụng được lợi thế kinh tế nhờ quy mô trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
- Hàng hóa xuất khẩu chủ yếu là cà phê sơ chế
2.1.2 Vai trò điều phối của hệ thống siêu thị, cửa hàng bán lẻ trên toàn cầu điều phối với mục đích nâng cao giá trị gia tăng của khâu phân phối và marketing
Trong những năm gần đây, xu hướng phát triển của chuỗi giá trị cà phê toàn cầu là chuyển đổi vai trò “người cầm lái” từ phía các nhà sản xuất sang hệ thống các siêu thị, chuỗi cửa hàng bán lẻ trên toàn cầu
Ngược lại với xu hướng phát triển của thế kỷ XX là các nhà sản xuất cà phê nhân như chủ trang trại, đồn điền, công ty cà phê sẽ quyết định chuỗi cung ứng cà phê Từ sau năm 2000, các nhà kinh doanh sở hữu hệ thống các siêu thị, chuỗi cửa hàng bán lẻ trên toàn cầu đóng vai trò là “người cầm lái” Có 3 yếu tố tạo nên sự chuyển đổi này đó là:
Thứ nhất, các cơ sở rang xay và chế biến cà phê hòa tan ngày càng phát triển
Trang 29Thứ hai, các lợi thế do sự thay đổi từ phía cầu trên thị trường cà phê toàn cầu mang đến cho các tập đoàn cà phê bán lẻ trên thế giới
Thứ ba, các doanh nghiệp cà phê ngày càng đẩy mạnh quá trình tự chuyển đổi bằng việc đa dạng hóa chức năng và hoạt động trong chuỗi giá trị như: môi giới, chế biến rang xay hoặc hướng đến sản xuất hạt giống cà phê nhằm cung ứng cho các trang trại trồng cà phê ở các quốc gia đang phát triển
Chuỗi giá trị toàn cầu mặt hàng cà phê là kết quả hình thành từ việc lựa chọn phương hướng phát triển của các tập đoàn thương mại và chế biến cà phê hàng đầu trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại Hoạt động mang lại giá trị gia tăng lớn trong chuỗi giá trị là phân phối và marketing mặt hàng cà phê chế biến, tiếp đến R&D và thấp nhất là hoạt động trồng trọt và sơ chế Vì vậy, các tập đoàn cà phê hàng đầu thế giới thường tập trung vào khâu phân phối và marketing, nghiên cứu quy trình sản xuất sau đó chuyển giao cho các quốc gia sản xuất cà phê nhân để thực hiện khâu trồng trọt Xu hướng này ngày càng rõ rệt khi các tập đoàn dẫn đầu chỉ tham gia thực hiện các khâu tạo ra giá trị gia tăng lớn là nghiên cứu, phân phối
Trang 30vậy, là hàng nông sản và có tính nhạy cảm cao nên để tăng cường sự tham gia vào chuỗi giá trị cà phê toàn cầu, các quốc gia đều cần có sự hỗ trợ, đặc biệt là hỗ trợ các điều kiện sản xuất để sản phẩm cà phê có thể tham gia được vào các khâu có giá trị gia tăng cao
2.2 Tổng quan về thị trường cà phê Việt Nam
2.2.1 Năng lực trồng cà phê của Việt Nam
Ở một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nông nghiệp vẫn là ngành chính đóng góp GDP cho của cả nước Trong nhóm ngành này, cà phê hiện đang là mặt hàng nông sản xương sống cho doanh thu cả ngành Cà phê Việt Nam được phân bố rộng rãi từ Bắc vào Nam
Trước kia, Việt Nam trồng cả 3 loại là cà phê chè (Arabica), cà phê vối (Robusta) và cà phê mít (Excolsa) Hiện nay, cà phê mít bị loại bỏ dần vì đem lại giá trị kinh tế thấp, còn lại cà phê chè và cà phê vối được trồng ở các vùng khác nhau do yêu cầu và điều kiện sinh thái khác nhau Sự phân chia này là phù hợp với phân vùng lãnh thổ của Việt Nam do đất miền Bắc là đất không bazan phù hợp với
cà phê chè, đất miền Nam là đất đỏ Latosol phát triển trên đá bazan nên phù hợp với
cà phê vối Hơn 90% diện tích cà phê của Việt Nam là cà phê vối (Robusta) và 10% còn lại là cà phê chè (Arabica) Trong đó, cà phê Robusta được trồng chủ yếu ở các vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và cà phê Arabica phân bố chủ yếu ở một số tỉnh Tây bắc, Đông bắc và Bắc Trung bộ và một phần ở Đông Nam bộ
Hàng năm, mùa vụ thu hoạch cà phê ở Việt Nam sẽ bắt đầu vào tháng 10 và kéo dài khoảng 4 tháng phụ thuộc thời tiết và khu vực khác nhau Do mùa thu hoạch cũng chính là mùa mưa ở Tây Nguyên nên có nhiều bất lợi trong việc phơi sấy và bảo quản Hầu hết nông dân đều thu hoạch cà phê theo phương thức hái theo kiểu
“tuốt cành”, là hái quả chín lẫn quả xanh Phương thức thu hoạch này gần nh- trở thành một thói quen và kéo dài hàng chục năm nay nhưng chưa khắc phục được Nguyên nhân xảy ra tình trạng như vậy là do ngoài sợ mất trộm, còn có lý do khác đó là thu hoạch nhiều lần sẽ làm tăng chi phí trong khi đó nhân
Trang 31đây việc mua bán sản phẩm cà phê mang tính thoả thuận giữa người mua và người bán, chứ không theo một tiêu chuẩn nào nên chưa tạo ra sức ép thúc đẩy nông dân đổi mới phương pháp thu hoạch
Mặc dù diện tích và sản lượng cà phê tương đối lớn, nhưng các doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải nhập khẩu cà phê từ nước ngoài để phục vụ cho các chuỗi của hàng cà phê từ các thương hiệu nước ngoài như Starbucks, McCafé, Dunkin Donuts, PJ's Coffee và một số hãng cà phê Hàn Quốc đang mở rộng thị trường của tại các thành phố lớn tại Việt Nam Đối với thị trường nội địa, thị phần được chia đều giữa các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài Năm 2017, Nestlé Vietnam là doanh nghiệp có tỷ trọng doanh thu bán lẻ cao nhất với tỷ lệ 33,8%, tiếp theo là Vinacafe Biên Hòa và Tập đoàn Trung Nguyên Điều này phản ánh đúng về lợi thế cạnh tranh trên thị trường cà phê Việt Nam khi Nestlé Vietnam
là doanh nghiệp có khả năng tài chính tốt và nhiều kinh nghiệm quốc tế, trong khi các công ty Việt Nam như Vinacafe Biên Hòa và Trung Nguyên am hiểu rõ hơn về nhu cầu và sở thích của người tiêu dùng địa phương
Biểu đồ 0.1: Tỷ lệ % theo doanh thu bán lẻ của các doanh nghiệp cà phê
năm 2017
Nguồn: Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Tình hình các doanh
nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực cà phê, 2018
Trang 32Hình thức kinh doanh chuỗi cửa hàng cà phê với doanh thu hàng năm tăng khoảng 32% (theo đánh giá của VICOFA) là loại hình phát triển nhanh nhất Nguyên nhân của sự tăng trưởng cao này xuất phát từ việc mở rộng của các nhãn hiện cà phê hiện có và sự xâm nhập của các nhãn hiệu mới Sự phát triển mạnh mẽ của các chuỗi cửa hàng cho thấy người tiêu thụ ngày càng khắt khe về chất lượng sản phẩm và dịch vụ của cửa hàng Có thể thấy rằng thị trường cà phê tại Việt Nam đang phụ thuộc nhiều vào những doanh nghiệp nước ngoài và những tập đoàn lớn với nhiều lợi thế về nguồn vốn, máy móc và thương hiệu Các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam hiện vẫn chưa có nhiều chỗ đứng trên cả thị trường cà phê nội địa
và trên thế giới Với sự phát triển mạnh của lượng tiêu thụ cà phê trên thế giới trong thời gian tới, Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội cũng như đối mặt với các thách thức để trở thành quốc gia đứng đầu trên thế giới về sản xuất và xuất khẩu cà phê
Theo số liệu thống kê từ Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), sản lượng cà phê xanh của Việt Nam trong niên vụ 2018 - 2019 ước tính tăng khoảng 2% lên 30,4 triệu bao Ngoài ra, USDA cũng dự báo xuất khẩu cà phê xanh của Việt nam giai đoạn này sẽ tăng lên 25,5 triệu bao
Theo số liệu từ Cục Thống kê, Đắk Lắk là một trong những vùng trọng điểm trồng cà phê tại Việt Nam với sản lượng giai đoạn 2017 – 2018 đạt khoảng 459.785 tấn, tăng 11.975 tấn so với niên vụ trước Diện tích cà phê của toàn tỉnh là 204.808
ha, tăng 1.071 ha so với niên vụ 2016-2017
Tuy nhiên, nhiều khu vực trồng cà phê khác địa bàn Tây Nguyên đang phải đối mặt với thách thức mất mùa trong khi giá cà phê giảm Vùng chuyên canh cà phê lớn nhất Việt Nam đang phải đối diện với những thách thức như cà phê già cỗi, mất mùa và giá cà phê trong niên vụ 2017-2018 Bên cạnh đó, các vấn đề như thiếu nhân công, tiền công hái cà phê cao cũng đang là thách thức lớn Cao điểm của mùa thu hoạch cà phê ở tỉnh Gia Lai là từ cuối tháng 11 trở đi Năm nay, ngoài nỗi lo năng suất sụt giảm, giá cả bấp bênh, người trồng cà phê ở tỉnh Gia Lai còn gặp
Trang 33hơn 93.000 ha cà phê, trong đó có khoảng 80.000 ha đang kinh doanh, đang gặp tình trạng khan hiếm nhân công vào mùa thu hoạch trong nhiều năm qua Một hộ trồng cà phê ở xã Ia Tiêm, huyện Chư Sê, Gia Lai phản ánh công thu hoạch đã tăng
từ 850.000 đồng/tấn lên 1 triệu đồng/tấn Hộ này cho biết: “Công hái cao mà giá cà phê nhân xô chỉ khoảng 36 triệu đồng/tấn, sản lượng lại sụt giảm khoảng 1/3 so với niên vụ trước nên trừ công chăm sóc, tiền phân bón nữa là lỗ” Không chỉ riêng các
hộ nông dân, tình trạng thiếu nhân công hái cà phê còn xảy ra với các doanh nghiệp
Cụ thể, Công ty TNHH 30/4 Gia Lai có 76 ha cà phê tại xã Ia Băng (huyện Chư Prông) cũng đang cần khoảng tuyển 100 lao động thu hái cà phê
Ông Phạm Phú Ngọc - Trưởng Bộ phận hỗ trợ nông nghiệp, Công ty Nestlé Việt Nam cho biết: “là quốc gia sản xuất cà phê Robusta lớn nhất thế giới, nhưng cà phê Việt Nam đang gặp phải những vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài như chất lượng cà phê còn hạn chế do các nông hộ làm cà phê đa phần canh tác và thu hái theo phương pháp truyền thống, thiếu quy trình chuẩn cũng như áp dụng khoa học công nghệ vào các khâu chăm sóc Diện tích cà phê già cỗi ngày càng tăng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng” Trước thực trạng này, năm 2011, Nestlé đã liên tục đưa ra những giải pháp cũng như hoạt động cụ thể nhằm phát triển bền vững ngành cà phê Việt Nam Trong 8 năm qua, Nestlé đã tập huấn và đào tạo kỹ thuật canh tác bền vững cho hớn 200.000 lượt nông dân; giúp 21.000 nông hộ đạt chứng chỉ cà phê quốc tế 4C; phân phối trên 27 triệu cây giống kháng bệnh năng suất cao tới người nông dân Đặc biệt, Nestlé còn cho ra mắt nhiều sản phẩm cà phê chế biến để đa dạng hóa sản phẩm phục vụ người tiêu dùng Mới đây, bắt kịp xu hướng tiêu dùng của thế giới, nhãn hàng này đã cho ra mắt sản phẩm viên nén cà phê từ hạt cà phê Robusta Việt Nam, bước đầu nhận được sự hưởng ứng lớn của người tiêu dùng Mô hình của Nestlé là một trong những mô hình sản xuất và phát triển cà phê bền vững thành công tiêu biểu của các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê thời gian qua Các mô hình này ra đời có thể góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu nhập cho người nông dân, góp phần phát triển ngành cà phê Việt Nam bền vững
Trang 34Theo Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Tây Nguyên, năm 2019, các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên và trên cả nước sẽ chịu ảnh hưởng bởi hiện tượng thời tiết El nino Mới chỉ bước vào đầu cao điểm khô, một số tỉnh ở khu vực Tây Nguyên đã ở trong tình trạng thiếu nước nghiêm trọng và dự báo tình trạng khô hạn có khả năng diễn ra khốc liệt vào mùa khô năm 2019 Tại Đăk Lăk, hầu hết các vườn cà phê ba lần ra hoa nhưng không đủ nước tưới nên rụng hoa, ít quả Tương tự, tại Gia Lai trong 4 năm trở lại đây, lưu lượng nước trên địa bàn tỉnh giảm mạnh, rất nhiều sông, suối cạn đáy khiến người trồng cà phê gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, tỉnh Gia Lai còn gặp phải tình trạng quả cà phê có nhân rất nhỏ hoặc không nhân Nguyên nhân là do một số trận mưa lớn kéo dài làm cho cây cà phê bị nhiễm nhiều loại bệnh hại ảnh hưởng đến chất lượng hạt
Theo dự báo của Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam (Vicofa), do tình trạng hạn hán thiếu nước tưới, hiện tượng El Nino, sâu bọ hoành hành và không đủ nhân lực do giá thành tăng cao mà giá cà phê lại xuống quá thấp, liên tục biến động, người trồng cà phê sẽ hoang mang và không còn mặn mà nhiều đến hoạt động chăm sóc, phát triển vườn cà phê của mình sẽ khiến cho sản lượng cà phê trong niên vụ tới bị sụt giảm đáng kể
2.2.2 Tình hình chế biến và xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam
2.2.2.1 Xuất khẩu
Theo dữ liệu báo cáo sợ bộ của Tổng cục Hải quan Việt Nam, lũy kế xuất khẩu cà phê 9 tháng đầu năm 2018 đạt tổng cộng 1.447.045 tấn, tăng 228.792 tấn, tức tăng 18,78% so với xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2017 Như vậy, kết thúc niên vụ
cà phê 2017/2018 Việt Nam đã xuất khẩu đạt tổng cộng 1.797.968 tấn, tương đương 29.916.133 bao cà phê các loại, tăng 196.169 tấn, tức tăng 12,27 % so với xuất khẩu niên vụ cà phê 2016/2017 Đây là mức xuất khẩu đạt kỷ lục lịch sử của Việt Nam
Theo số liệu Cục Thống kê, về hoạt động chế biến và xuất khẩu, niên vụ 2017
- 2018 tỉnh Đắk Lắk có 301 cơ sở chế biến cà phê, tăng 41 cơ sở so với niên vụ
2016 - 2017 Xuất khẩu cà phê Đắk Lắk ước đạt 191.169 tấn, giảm 9.993 tấn và kim
Trang 35Cục Xuất nhập khẩu cho biết, giá xuất khẩu tháng 11 bình quân cà phê của Việt Nam ước tính đạt mức 1,88 USD/kg, tăng 4% so với tháng 10, nhưng giảm 12% so với tháng 11/2017 Lũy kế 11 tháng, giá xuất khẩu bình quân cà phê của Việt Nam đạt 1,7 USD/kg, giảm 16% so với cùng kỳ năm ngoái
Về thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong năm 2018, Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, EU là thị trường tiêu thụ nhiều nhất các loại cà phê của Việt Nam, chiếm 40% trong tổng lượng và chiếm 38% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước; đạt 749.231 tấn, trị giá 1,34 tỷ USD, so với năm 2017 tăng 19,1% về lượng nhưng giảm 1,5% về kim ngạch Riêng tháng 12/2018 lượng xuất khẩu sang thị trường này giảm nhẹ 0,8% so với tháng 11/2018, đạt 66.134 tấn và kim ngạch giảm 5,6%, đạt 111,17 triệu USD Trong khối EU, xuất khẩu sang Đức nhiều nhất chiếm trên 34%, đạt 260.475 tấn, tương đương 459,03 triệu USD; xuất sang Italia chiếm 18%, đạt 136.157 tấn, tương đương 245,25 triệu USD; xuất sang Tây Ban Nha chiếm 16%, đạt 122.063 tấn, tương đương 219,22 triệu USD
Đông Nam Á là thị trường tiêu thụ lớn thứ 2 các loại cà phê của Việt Nam, chiếm 13% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước; đạt 243.270 tấn, trị giá 467,38 triệu USD, tăng mạnh 102,5% về lượng và tăng 71,3%
về giá trị so với năm 2017
Nhìn chung, cà phê xuất khẩu trong năm 2018 sang đa số các thị trường tăng kim ngạch so với năm 2017; trong đó, xuất khẩu tăng mạnh ở các thị trường sau: Indonesia tăng 343,6% về lượng và tăng 273,3% về kim ngạch, đạt 62.320 tấn, tương đương 123,55 triệu USD; Nam Phi tăng 145% về lượng và tăng 109% về kim ngạch, đạt 10.073 tấn, tương đương 17,3 triệu USD; Hy Lạp tăng 139,5% về lượng
và tăng 96,4% về kim ngạch, đạt 13.646 tấn, tương đương 23,82 triệu USD; NewZealand tăng 124% về lượng và tăng 78% về kim ngạch, đạt 2.253 tấn, tương đương 4,2 triệu USD
Ngược lại, xuất khẩu cà phê sụt giảm mạnh ở các thị trường như: Thụy Sỹ giảm 47,5% về lượng và giảm 51% về kim ngạch, đạt 244 tấn, tương đương 0,49
Trang 36triệu USD; xuất sang Singapore cũng giảm 40% về lượng và giảm 50,7% về kim ngạch, đạt 1.263 tấn, tương đương 3,55 triệu USD; Mexico giảm 7% về lượng và giảm 24% về kim ngạch, đạt 33.406 tấn, tương đương 55,9 triệu USD
Bảng 0.1: Thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam năm 2018
2017 Tiếp theo, Brazin là nguồn cung cà phê lớn thứ 2 cho Nga với sản lượng đạt 27.723 tấn, trị giá 74,25 triệu USD, tăng 4,3% về lượng, nhưng giảm 13% về trị giá Đứng ở vị trí thứ 3 trong các nhà cung cấp cà phê lớn cho Nga là Ý, đạt 10.888 tấn, trị giá 79,50 triệu USD, tăng 10,3% về lượng và tăng 19,5% về trị giá so với 10
Trang 37Theo Cục Xuất nhập khẩu, thị phần cà phê của Việt Nam đạt 50,3% trong tổng lượng nhập khẩu của Nga 10 tháng năm 2018 về cơ cấu nguồn cung, tăng mạnh so với mức 30,7% trong 10 tháng năm 2017 Thị phần cà phê của Brazin tại thị trường Nga giữ ổn định ở mức 17% trong cả 10 tháng năm 2017 và 10 tháng năm 2018 Nhu cầu nhập khẩu cà phê của Nga liên tục tăng trưởng trong những năm gần đây nên ngành cà phê của Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng để đẩy mạnh xuất khẩu sang Nga trong thời gian tới
Theo Cục Xuất Nhập khẩu, cà phê của Việt Nam có lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ tại thị trường Nga như Brazin, Ý, Ấn Độ Tuy nhiên, hiện các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu xuất khẩu cà phê nhân xô, trong khi dung lượng thị trường cà phê chế biến của Nga rất lớn Vì vậy, cần có sự chuyển dịch về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu cà phê để nâng cao giá trị gia tăng trong năm 2019
Cơ quan hải quan Nga nhận định cà phê là một trong những mặt hàng nhập khẩu quan trọng của quốc gia này, và đã trở thành một trong những đồ uống được yêu thích của người Nga Để có thể giữ vững vị trí nhà cung cấp số 1 và nâng cao giá trị mặt hàng cà phê tại thị trường Nga, ngành cà phê Việt Nam cần có những thay đổi trong cơ cấu nguồn cung, thay vì tập trung xuất khẩu cà phê Robusta nhân
xô và cần chú trọng thúc đẩy cà phê chế biến sâu
Dự báo kết thúc 6 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cà phê của Việt Nam sẽ tiếp tục gặp khó khăn do giá cà phê toàn cầu ở mức thấp; lượng cà phê xuất khẩu có khả năng thấp hơn cùng kỳ năm 2018 do sản lượng giảm Thêm nữa, kinh tế toàn cầu có khả năng tăng trưởng chậm lại sẽ có những tác động nhất định đến nhu cầu tiêu thụ
giảm sâu nên người trồng cà phê hạn chế bán ra
Trang 38Mới đây, Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) cho rằng dư thừa cà phê chỉ là ngắn hạn, trong khi nhu cầu tiêu thụ hàng năm vẫn tăng trưởng ổn định Do đó, nhiều khả năng nửa cuối năm 2019, giá cà phê sẽ phục hồi trở lại sau khi lượng cà phê dư thừa được tiêu thụ hết, nhưng mức tăng sẽ không quá cao
2.2.2.2 Chế biến
Mặc dù là một trong những cường quốc về xuất khẩu cà phê trên thế giới, Việt Nam vẫn chưa thực sự đi sâu vào khâu chế biến để nâng cao giá trị gia tăng của mặt hàng này Hiện tại, tỷ lệ cà phê chế biến sâu, giá trị gia tăng cao của Việt Nam chỉ mới chiếm 10% trong tổng sản lượng cà phê nhân, trong khi xuất khẩu cà phê dạng thô chiếm tới 90%, đây là một thiệt thòi rất lớn cho ngành nông nghiệp Việt Nam Bởi theo các chuyên gia, mặt hàng cà phê chế biến sâu là hoạt động cho giá trị gia tăng cao nhất, từ 70-100 triệu đồng/tấn cà phê quy nhân
Vì lý do xuất khẩu dạng thô là chủ yếu nên cà phê Việt Nam chưa có thương hiệu và chỗ đứng trên thị trường thế giới, chưa kể cà phê Việt còn trở thành nguyên liệu cho nhiều quốc gia khác sử dụng để chế biến sâu rồi đưa về tiêu thụ tại Việt Nam Nên tuy xuất khẩu nhiều cà phê thô nhưng Việt Nam đồng thời phải nhập khẩu ngày càng lớn cà phê dạng rang xay, hòa tan Tại thị trường nội địa, người tiêu dùng phải đối mặt hàng ngày với các mặt hàng cà phê trộn phụ gia, cà phê nguyên chất chiếm tỷ lệ rất ít Vấn đề đặt ra là trong khi các doanh nghiệp tập trung xuất khẩu ra nước ngoài các loại cà phê chất lượng nhất được thì hàng năm, Việt Nam lại phải nhập khẩu khoảng 60.000 tấn cà phê đã qua chế biến từ các quốc gia như Brazil, Mỹ, Trung Quốc Mức giá dành riêng cho mặt hàng đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu luôn cao vượt trội so với các sản phẩm khác có chất lượng kém hơn, điều này khiến nông dân ưu tiên hàng tốt phục vụ cho doanh nghiệp xuất khẩu Các doanh nghiệp gom hàng xuất khẩu đưa ra một lý do rất hợp lý đó là xuất hàng thô đơn giản
và thu hồi vốn nhanh, trong khi nhu cầu thị trường thế giới với cà phê là rất lớn khiến họ lựa chọn bỏ việc chế biến và phục vụ thị trường trong nước Theo báo cáo Ngành Nông nghiệp Việt Nam quý III/2017 của BMI Research, sản lượng tiêu thụ
Trang 39nghiệp lớn quay lại thị trường trong nước, cung ứng cho người dùng cà phê nội địa những sản phẩm với chất lượng đảm bảo Tuy nhiên, nếu các doanh nghiệp lớn vẫn
“say” với sự dễ dàng và thuận lợi khi gom cà phê xuất khẩu mà không quay về chiếm lại thị trường trong nước, thì đây sẽ là cơ hội để cà phê không nguyên chất tiếp tục bành trướng
Trong một buổi bình luận về cà phê diễn ra ngày 3/10/2018 tại Hà Nội, Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc cho rằng: “Việt Nam là nước thứ 2 sản xuất lớn nhất về sản lượng cà phê hạt, nhưng lại yếu ở khâu chế biến Hơn nữa, tách cà phê nội địa không thực sự chuẩn mực Đặc biệt là sự nguyên chất cà phê và đảm bảo an toàn hệ sinh thái môi trường Có thể nói, xuất khẩu cà phê thô là sự thiệt thòi lớn với người tiêu dùng Việt Nam”
Trong khi đó, cơ hội đầu tư vào hoạt động chế biến sâu cà phê đối tại Việt Nam là rất lớn Theo Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam (Vifoca), mặt hàng cà phê chế biến, cụ thể là cà phê hòa tan đã chiếm 14% nhu cầu tiêu dùng cà phê trên toàn cầu và được dự báo sẽ còn tăng trưởng cao trong nhiều năm tiếp theo Nắm bắt được xu thế này, nhiều doanh nghiệp nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh và kinh nghiệm quản lý lâu năm đang tích cực đầu tư vào cà phê chế biến sâu phục vụ cho xuất khẩu và đang hưởng lợi đáng kể từ hướng đi này
Ví dụ điển hình là Tập đoàn Neumann Gruppe (Đức) đã đầu tư xây dựng nhà máy chế biến cà phê tại Long Thành (Đồng Nai) với giá trị đầu tư 12 triệu USD vào năm 2015, công suất ước tính đạt 100 nghìn tấn cà phê nhân/năm Đây là nhà máy thứ hai của Tập đoàn Neumann Gruppe (Đức) tại Việt Nam, trước đó nhà máy đầu tiên được xây dựng năm 1992 tại tỉnh Bình Dương
Cuối năm 2014, công ty con của Tập đoàn Massimo Zanetti Beverage (Italia)
đã khai trương nhà máy cà phê đầu tiên tại Việt Nam ở Khu công nghiệp Mỹ Phước III (Bình Dương) với diện tích 5.000 m2 và công suất rang xay 3.000 tấn cà phê/năm
Trường hợp khác Nestlé Việt Nam, năm 2015, công ty này đã xây dựng nhà máy Nestlé Trị An tại Biên Hòa (Đồng Nai) với số vốn đầu tư 230 triệu USD để
Trang 40chuyên phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu sản phẩm chế biến sâu ra thế giới nhằm đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm cà phê hòa tan Công ty này cũng vừa khánh thành dây chuyền sản xuất viên nén Nescafé Dolce Gusto, sử dụng nguyên liệu thô hoàn toàn từ hạt cà phê Việt Nam chất lượng cao, với công suất chế biến ước tính khoảng 2.500 tấn/năm, định hướng tập trung cho xuất khẩu
Trong khi khối các doanh nghiệp nước ngoài ngày càng mở rộng quy mô trong khâu chế biến thì khối các doanh nghiệp nội địa vẫn chủ yếu tập trung ở một số doanh nghiệp lớn như Vinacafe Biên Hoà, Tổng công ty Tín Nghĩa, Công ty cổ phần Cà phê Mê Trang, Tập đoàn An Thái Vừa qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phê duyệt Đề án khung phát triển sản phẩm quốc gia “Cà phê Việt Nam chất lượng cao” với tổng kinh phí ước tính khoảng 170 tỷ đồng, thực hiện trong giai đoạn 2018- 2023, tầm nhìn đến năm 2030 nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho cà phê Việt Nam Mục đích của Đề án là hướng tới hoàn thiện chuỗi giá trị sản xuất tiêu thụ cà phê, xây dựng thương hiệu cà phê Việt Nam với chất lượng cao, khả năng cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và quốc tế Ngoài ra, Đề án sẽ hỗ trợ tối thiểu 10 doanh nghiệp trong khâu hoàn thiện quy trình công nghệ chế biến ướt, nâng cao chất lượng, giảm tổn thất sau thu hoạch và hỗ trợ tối thiếu từ 5 đến 10 doanh nghiệp xây dựng mô hình sản xuất cà phê chất lượng cao Theo đó, nhiều chuyên gia cho rằng các giải pháp hỗ trợ từ Đề án này sẽ hỗ trợ nhiều doanh nghiệp nội địa có thể đi sâu vào khâu chế biến cà phê đem lại giá trị gia tăng cao và từng bước xây dựng thương hiệu cà phê Việt nhằm cạnh tranh với các công ty đa quốc gia Ngoài những mặt tích cực Đề án mang lại, các doanh nghiệp nội địa phải lưu ý một số thách thức như việc đẩy mạnh đầu tư vào cà phê chế biến sâu là điều không
hề dễ dàng do đòi hỏi vốn rất lớn và quy trình quản lý chuyên nghiệp Để có một hệ thống chế biến cà phê hòa tan hoặc rang xay với công suất 1.000 tấn, ước tính doanh nghiệp phải bỏ ra ít nhất là 10 triệu USD Bên canh đó, tuy diện tích cà phê của Việt Nam lớn nhưng lại phân tán nên việc đầu tư kỹ thuật trồng trọt và chế biến
là tương đối khó khăn, nguyên liệu đầu vào cũng chưa ổn định và đáp ứng được nhu cầu của các nhà máy cà phê chế biến sâu