Tình hình nghiên cứu ở trong nước, giáo trình “Quản trị tài chính ngắn hạn” của Nguyễn Tấn Bình 2007 đã đề cập đến các vấn đề liên quan của vốn lưu độngtrong doanh nghiệp, bao gồm: hoạt
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-o0o -LUẬN VĂN THẠC SĨ
HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP BÁN
LẺ NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH (HOSE): THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
NGUYỄN ĐĂNG KHIÊN
Hà Nội - Năm 2019
Trang 2-o0o -LUẬN VĂN THẠC SĨ
HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH (HOSE): THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Ngành: Tài chính - Ngân hàng - Bảo hiểm Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ “Hiệu quả quản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp bán lẻ niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE): Thực trạng và giải pháp” là công trình nghiên cứu do chính
tôi hoàn thành Các tài liệu tham khảo, số liệu thống kê sử dụng trong luận văn cónguồn trích dẫn đầy đủ và trung thực Kết quả nêu trong luận văn chưa từng được aicông bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Đăng Khiên
Trang 4Trước hết, tác giả xin chân thành cảm ơn đến các Thầy, Cô giáo trong trườngĐại học Ngoại thương Hà Nội, những người đã tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt
thời gian học tập và nghiên cứu Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến
giáo viên hướng dẫn là PGS, TS Nguyễn Thanh Bình, người đã dành rất nhiều
thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu cũng như luôn luôn động viên, quantâm, khích lệ tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn
Đồng thời, tác giả cũng xin cảm ơn chân thành tới các anh, chị phòng Môi giới
chứng khoán thuộc Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thươngViệt Nam đã tham gia góp ý kiến và giúp tác giả thu thập, khảo sát dữ liệu, thôngtin một cách chính xác nhất
Cuối cùng, luận văn là thành quả mà tác giả muốn dành tới những người thân
yêu trong gia đình mình
Tác giả luận văn
Nguyễn Đăng Khiên
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Đối tượng nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Giới hạn của đề tài 4
8 Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ 6
1.1 Vốn lưu động trong các doanh nghiệp bán lẻ 6
1.1.1 Các khái niệm có liên quan 6
1.1.2 Đặc điểm và phân loại vốn lưu động 10
1.1.3 Sự cần thiết và vai trò của quản lý vốn lưu động 11
1.2 Quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp 13
1.2.1 Các chính sách quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp 13
1.2.2 Hoạt động quản lý vốn tiền mặt 16
1.2.3 Hoạt động quản lý vốn hàng tồn kho 20
1.2.4 Hoạt động quản lý vốn các khoản phải thu 23
1.2.5 Hoạt động quản lý vốn các khoản phải trả 26
1.3 Hiệu quả quản lý vốn lưu động tại doanh nghiệp 28
1.3.1 Phương pháp phân tích hiệu quả quản lý vốn lưu động 28
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý VLĐ tại doanh nghiệp bán lẻ 29
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý vốn lưu động tại doanh nghiệp bán lẻ 30
1.4.1 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý vốn lưu động 30
1.4.2 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý vốn lưu động 31
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2014 - 2018 33
2.1 Tổng quan về thị trường bán lẻ Việt Nam và các doanh nghiệp bán lẻ niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 -2018 33
2.1.1 Tình hình phát triển thị trường bán lẻ của Việt Nam trong giai đoạn 2014 -2018 33
2.1.2 Giới thiệu khái quát về quy tắc phân ngành của HOSE 35
2.1.3 Khái quát về các doanh nghiệp bán lẻ niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 - 2018 37
Trang 62.2.1 Nhóm doanh nghiệp bán lẻ sản phẩm xe hơi, phụ tùng và phụ kiện 38
2.2.2 Nhóm DN bán lẻ sản phẩm trạm xăng dầu có cửa hàng tiện ích 39
2.2.3 Nhóm doanh nghiệp bán lẻ sản phẩm cửa hàng tổng hợp 40
2.2.4 Nhóm doanh nghiệp bán lẻ sản phẩm vật liệu xây dựng 40
2.2.5 Nhóm DN bán lẻ sản phẩm thiết bị điện tử, máy tính và phần mềm 41
2.3 Tình hình quản lý vốn lưu động của các doanh nghiệp bán lẻ niêm yết trên HOSE giai đoạn 2014 - 2018 41
2.3.1 Kết cấu vốn lưu động và vốn lưu động ròng của các doanh nghiệp bán lẻ giai đoạn 2014 - 2018 41
2.3.2 Phân tích tình hình quản lý vốn lưu động của các doanh nghiệp bán lẻ niêm yết trên HOSE giai đoạn 2014 - 2018 48
2.3.3 Phân tích hiệu quả quản lý vốn lưu động của các doanh nghiệp bán lẻ niêm yết trên HOSE giai đoạn 2014 - 2018 59
2.4 Đánh giá hoạt động quản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp bán lẻ niêm yết trên HOSE giai đoạn 2014 - 2018 72
2.4.1 Các thành công trong hoạt động quản lý vốn lưu động 72
2.4.2 Các hạn chế trong hoạt động quản lý VLĐ và nguyên nhân 75
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2019 - 2023 77
3.1 Triển vọng và thách thức trong lĩnh vực kinh doanh bán lẻ tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2019 - 2023 77
3.1.1 Triển vọng ngành kinh doanh bán lẻ tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2019 -2023 77
3.1.2 Xu hướng phát triển dịch vụ bán lẻ tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2019 -2023 81
3.1.3 Những thách thức trong lĩnh vực kinh doanh bán lẻ tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2019 - 2023 83
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động đối với các doanh nghiệp bán lẻ niêm yết trên HOSE giai đoạn 2019 - 2023 86
3.2.1 Nhóm các giải pháp chung 86
3.2.2 Nhóm các giải pháp riêng, đặc thù cho từng nhóm doanh nghiệp bán lẻ niêm yết trên HOSE 91
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 101
Trang 7Tên chữ
viết tắt
I Các thuật ngữ bằng tiếng Việt
II Các thuật ngữ tiếng Anh
ACP Average collection Period Thời gian thu nợ trung bình
APP Average Payable Period Thời gian trả nợ trung bình
CCC Cash Conversion Cycle Chu kỳ chuyển hóa tiền mặt
EBIT Earnings before Interest and
EBITDA Earnings before Interest, Taxes,
depreciation and amortization
Lợi nhuận trước thuế, lãi vay vàkhấu hao
HOSE Ho Chi Minh Stock Exchange Sở Giao dịch Chứng khoán Thành
phố Hồ Chí MinhICP Inventory Conversation Period Thời gian luân chuyển hàng tồn kho
trung bìnhUPCOM Unlisted Public Company Market Thị trường giao dịch công ty đại
chúng chưa niêm yết
Trang 8TT Tên bảng Nội dung Trang
1 Bảng 1.1 Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý vốn
lưu động
29
2 Bảng 2.1 Danh sách các công ty bán lẻ niêm yết trên HOSE 36
3 Bảng 2.2 Tóm tắt thông tin các doanh nghiệp bán lẻ niêm yết
5 Bảng 2.4 Giá trị hàng tồn kho của các doanh nghiệp bán lẻ 53
6 Bảng 2.5 Khoản phải thu của các doanh nghiệp bán lẻ 56
7 Bảng 2.6 Khoản phải trả của các doanh nghiệp bán lẻ 58
8 Bảng 2.7 Hệ số thanh toán ngắn hạn của các DN bán lẻ 59
9 Bảng 2.8 Hệ số thanh toán nhanh của các doanh nghiệp bán lẻ 60
10 Bảng 2.9 Hệ số thanh toán tức thời của các doanh nghiệp bán lẻ 61
11 Bảng 2.10 Hệ số khả năng thanh toán lãi vay của các doanh
14 Bảng 2.13 Hệ số lưu kho của các doanh nghiệp bán lẻ 65
15 Bảng 2.14 Thời gian luân chuyển HTKTB của các DN bán lẻ 66
16 Bảng 2.15 Hệ số thu nợ của các doanh nghiệp bán lẻ 67
17 Bảng 2.16 Thời gian thu nợ TB của các doanh nghiệp bán lẻ 68
18 Bảng 2.17 Hệ số trả nợ của các doanh nghiệp bán lẻ 69
19 Bảng 2.18 Thời gian trả nợ TB của các doanh nghiệp bán lẻ 70
20 Bảng 2.19 Thời gian quay vòng tiền TB của các doanh nghiệp
bán lẻ
71
Trang 9TT Tên hình Nội dung Trang
3 Hình 1.3 Sơ đồ chu kỳ đặt hàng dự trữ theo mô hình EOQ 22
4 Hình 2.1 Vốn lưu động ròng của các doanh nghiệp bán lẻ xe hơi,
5 Hình 2.2 Vốn lưu động ròng của các doanh nghiệp bán lẻ sản
6 Hình 2.3 Vốn lưu động ròng của các doanh nghiệp bán lẻ cửa
7 Hình 2.4 Vốn lưu động ròng của các DN bán lẻ sản phẩm VLXD 46
8 Hình 2.5 Vốn lưu động ròng của các doanh nghiệp bán lẻ thiết bị
Trang 10LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc sửdụng vốn Việc sử dụng vốn một cách hiệu quả để đạt được lợi ích cao nhất sẽ giúptạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Trong đó, sử dụng vốn lưu động là một vấn
đề quan trọng trong quản lý tài chính doanh nghiệp được các nhà kinh tế học và cácgiám đốc điều hành, giám đốc tài chính tại doanh nghiệp quan tâm, nghiên cứu
Vốn lưu động là một bộ phận của vốn sản xuất, là biểu hiện bằng tiền của toàn
bộ giá trị tài sản lưu động và vốn lưu thông để đảm bảo quá trình sản xuất và tái sảnxuất của doanh nghiệp được tiến hành bình thường Tài sản lưu động là những tàisản ngắn hạn thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh Một doanhnghiệp kinh doanh có lãi vẫn có thể gặp khó khăn tài chính nếu không quản lý mộtcách hiệu quả dòng chu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh Các doanh nghiệp cólãi vẫn có thể mất khả năng thanh toán nếu phần lớn nguồn lực bị tồn đọng dướidạng hàng tồn kho hoặc không thu được tiền đúng hạn từ các khoản bán chịu Điều
đó tuỳ thuộc vào chính sách tài trợ vốn lưu động của doanh nghiệp Chính sách vốnlưu động được phản ảnh thông qua các chỉ tiêu như: tỷ số thanh toán hiện hành,
vòng quay tiền mặt, vòng quay hàng tồn kho và kỳ thu tiền bình quân
Đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam, hầu hết việc quản lý vốn lưu độngchưa có sự quan tâm đúng mức đến những đặc thù hoạt động riêng của từng ngành
Nhận định trên góp phần lý giải cho thực trạng một số lượng lớn các công ty cổphần lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán hay thua lỗ nhiều vì hàng tồn kholớn Một bằng chứng khác thể hiện qua việc nhiều doanh nghiệp còn đầu tư dàn trải,không tập trung vào lĩnh vực hoạt động chính của doanh nghiệp, dẫn đến giảm lợinhuận rất nhiều do thua lỗ đầu tư ngoài ngành Thực trạng quản lý vốn lưu động củacác doanh nghiệp tại Việt Nam có thể nói đã góp phần khiến cho hiệu quả hoạt độngtài chính của các doanh nghiệp nói chung trong thời gian qua không đạt được kếtquả như mong muốn của các nhà quản lý và sau cùng khó có thể làm tối đa giá trịdoanh nghiệp như kỳ vọng của các cổ đông
Trang 11Để đáp ứng được đòi hỏi từ thực tiễn đã nêu, tác giả đã chọn đề tài “Hi ệu quả
qu ản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp bán lẻ niêm yết trên Sở Giao dịch
Ch ứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE): Thực trạng và giải pháp” làm
đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Quản lý vốn lưu động là một thành phần rất quan trọng của hoạt động tàichính doanh nghiệp, vì nó ảnh hưởng đến tính thanh khoản cũng như hiệu quả hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp Quản lý vốn lưu động được đánh giá hiệu
quả hay không thông qua các chỉ tiêu tài chính quan trọng, phản ánh được sức khoẻtài chính của doanh nghiệp cũng như đạt được mục tiêu nâng cao giá trị tài sản chocác cổ đông
Nghiên cứu của Ross và cộng sự (2009) đưa ra các vấn đề như: mức tối ưu củakhoản mục tiền mặt, hàng tồn kho; chính sách tín dụng thương mại hợp lý của cácdoanh nghiệp và cách thức tài trợ cho vốn lưu động của doanh nghiệp Berk và cáccộng sự (2012) thì đưa ra kết luận mức tối ưu của kết cấu vốn lưu động phụ thuộcvào các doanh nghiệp, ngành nghề hoạt động kinh doanh Nghiên cứu của Deloof(2003) về cách thức quản lý vốn lưu động ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh củacác doanh nghiệp Bỉ đã nhận ra rằng công tác quản lý vốn lưu động ảnh hưởng rấtlớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC)
được sử dụng như là một chỉ tiêu toàn diện để quản lý vốn lưu động nói riêng vàđiều hành doanh nghiệp nói chung
Tình hình nghiên cứu ở trong nước, giáo trình “Quản trị tài chính ngắn hạn”
của Nguyễn Tấn Bình (2007) đã đề cập đến các vấn đề liên quan của vốn lưu độngtrong doanh nghiệp, bao gồm: hoạt động quản lý tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn
kho cũng như khoản phải trả trong các doanh nghiệp Giáo trình “Quản trị tài chính doanh nghiệp” của Nguyễn Thu Thuỷ (2011) đã làm nổi bật được các khái niệm về
vốn lưu động, chính sách vốn lưu động và quản trị vốn lưu động Ngoài ra, một sốnghiên cứu của các học giả đăng tại một số tạp chí tài chính bàn về vốn lưu động,quản trị vốn lưu động và ảnh hưởng của quản lý vốn lưu động tới hiệu quả kinh
Trang 12doanh của doanh nghiệp có thể kể đến như: Bài viết “Tác động của quản lý vốn lưu
động đến lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Thành
phố Hồ Chí Minh” của hai tác giả Vương Đức Hoàng Quân, Dương Diễm Kiều
đăng trên tạp chí khoa học trường Đại học Văn Hiến đã nêu được sự tác động khác
biệt của một số thành phần trong kết cấu vốn lưu động đến các ngành nghề khác
nhau như: Chỉ tiêu kỳ luân chuyển tiền mặt không ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả
kinh doanh của các doanh nghiệp trên HOSE, kỳ thu tiền bình quân ACP ảnh hưởngquyết định đến lợi nhuận của các doanh nghiệp thuộc ngành thuỷ sản, kỳ thanh toánkhoản phải trả của các doanh nghiệp dược phẩm càng dài thì càng ảnh hưởng đến
uy tín và doanh thu từ đó trực tiếp làm giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp, kỳluân chuyển hàng tồn kho của các doanh nghiệp thuỷ sản phản ánh công tác quản lýhàng tồn kho của các doanh nghiệp này chưa quan tâm nhiều đến chất lượng hàngtồn kho từ đó làm sụt giảm uy tín của doanh nghiệp đối với thị trường nước ngoài
2.2 Khoảng trống nghiên cứu
Các nghiên cứu ở trên đã nghiên cứu các vấn đề về quản lý vốn lưu động tạicác doanh nghiệp chung chung trên thị trường Việt Nam hoặc một số doanh nghiệpniêm yết trên thị trường chứng khoán thuộc một số ngành nghề tiêu biểu như: thép,thuỷ sản, dược phẩm và thực phẩm, Tuy nhiên, trong ngành bán lẻ của Việt Namvới tốc độ phát triển nhanh cả về quy mô và chất lượng như hiện nay, các nghiêncứu đánh giá hiệu quả công tác quản lý cũng như giải pháp nhằm nâng cao còn hạnchế Do đó, luận văn lựa chọn hướng nghiên cứu đánh giá về thực trạng hiệu quảquản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp bán lẻ niêm yết trên Sở giao dịch Chứngkhoán thành phố Hồ Chí Minh nhằm đưa ra kết quả nghiên cứu hữu ích và khuyếnnghị phù hợp với đặc thù ngành bán lẻ cũng như xu hướng bán lẻ đang phát triểntrên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quảquản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp bán lẻ niêm yết trên HOSE trong giai
đoạn 2019 - 2023
Trang 134 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, đề tài xác định cho mình những nhiệm vụ
nghiên cứu sau đây:
- Tìm hiểu nguyên lý cơ bản về vốn lưu động và công tác quản lý vốn lưu
động đối với doanh nghiệp;
- Phân tích, đo lường sự ảnh hưởng của vốn lưu động đối với doanh nghiệpthông qua các chỉ tiêu tài chính;
- Đánh giá hiệu quả quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp
Từ đó, đề tài đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu
động tại các doanh nghiệp bán lẻ niêm yết trên HOSE trong giai đoạn 2019 - 2023
5 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả
công tác quản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp bán lẻ niêm yết trên HOSE
trong giai đoạn 2014 - 2018
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sẽ sử dụngcác phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê, phân tích: Dựa trên dữ liệu và thông tin thu thập từnhiều nguồn khác nhau, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, thống kê kinh tế để
hệ thống hóa các vấn đề liên quan Tác giả sử dụng phương pháp này để nghiên cứu
trong chương 1 và chương 2
- Phương pháp so sánh, tổng hợp: Tác giả thực hiện phương pháp so sánh đốichiếu các dữ liệu và tổng hợp nhằm đánh giá về thực trạng quản lý vốn lưu động vàhiệu quả quản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp bán lẻ niêm yết trong chương 2
7 Giới hạn của đề tài
- Giới hạn về nội dung: Đề tài này chỉ nghiên cứu vấn đề hiệu quả quản lý vốn
lưu động tại các doanh nghiệp bán lẻ hoạt động kinh doanh và phân loại theo
nguyên tắc của HOSE (15 doanh nghiệp tính đến hết năm 2018)
- Giới hạn về không gian: Đề tài nghiên cứu tại các doanh nghiệp bán lẻ hoạt
động kinh doanh tại thị trường Việt Nam và được niêm yết trên HOSE
Trang 14- Giới hạn về thời gian: Đề tài chỉ nghiên cứu trong giai đoạn 2014 - 2018.
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các hình
vẽ, đồ thị, bảng biểu và danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục điều tra, phân
tích,… Nội dung chính của luận văn được cấu trúc theo các chương dưới đây:
Chương 1 Cơ sở lý luận về vốn lưu động và hiệu quả quản lý vốn lưu động tại
các doanh nghiệp bán lẻ
Chương 2 Thực trạng về quản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp bán lẻ
niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn
2014 - 2018
Chương 3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động tại các
doanh nghiệp bán lẻ niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí
Minh giai đoạn 2019 - 2023
Trang 15CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ QUẢN
LÝ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ
1.1 Vốn lưu động trong các doanh nghiệp bán lẻ
1.1.1 Các khái ni ệm có liên quan
* Vốn lưu động (từ sau đây viết tắt là VLĐ)
Khái niệm về vốn lưu động theo quan điểm của Ross và các cộng sự (2009)
như sau: “Vốn lưu động nói tới các tài sản trong ngắn hạn của doanh nghiệp như: hàng tồn kho, các khoản nợ ngắn hạn như tiền phải trả nhà cung cấp”1 Khái niệmnêu trên tuy không miêu tả rõ công thức xác định vốn lưu động (working capital)
nhưng đã hàm ý rằng vốn lưu động bao gồm các tài sản ngắn hạn và nguồn tài trợ
ngắn hạn cho các tài sản đó
Berk và cộng sự (2012) cũng có quan điểm tương tự khi đưa ra khái niệm vềvốn lưu động và đưa ra thêm khái niệm về vốn lưu động thuần/vốn lưu động ròng(net working capital) Theo đó, hoạt động quản lý vốn lưu động sẽ liên quan tớicác khoản mục tài sản ngắn hạn như tiền mặt, hàng tồn kho, khoản phải thu cũng
như các khoản mục nợ ngắn hạn như khoản phải trả nhà cung cấp
Theo hướng tiếp cận dựa vào bảng cân đối kế toán, chuyên gia quản lý tàichính và phân tích kinh tế người Mỹ, James Sagner (2010) đã đưa ra định nghĩa:Vốn lưu động là sự chênh lệch giữa hai khoản mục trên bảng cân đối kế toán là tàisản ngắn hạn và nợ ngắn hạn2
Tương tự đối với khái niệm vốn lưu động như trên, nhà nghiên cứu kinh tếngười Ấn Độ, Jain (2004) đã đề cập đến trong nghiên cứu của mình cách nhìn
nhận về vốn lưu động Ông cho rằng các nhà phân tích tài chính thường tập trungvào khái niệm gross working capital - vốn lưu động gộp; trong khi các kế toánviên sẽ quan tâm đến net working capital - vốn lưu động thuần (chênh lệch giữatài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn của doanh nghiệp)3
1 The term working capital refers to a firm’s short-term assets, such as inventory, and its shortterm liabilities, such as money owed to suppliers.
2 Working capital is the arithmetic difference between two balance-sheet-aggregate accounts: current assets and current liabilities.
3 There are two major concepts of working capital - net working capital and gross working capital.
Trang 16Theo một số các công trình nghiên cứu ở Việt Nam về vốn lưu động nhưnghiên cứu của Lưu Thị Hương (2002) cho rằng vốn lưu động là số vốn bằng tiền
ứng trước cho các tài sản lưu động hiện có và đầu tư ngắn hạn của doanh nghiệp
để đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp được diễn ra bình thường, thường
xuyên và liên tục
Theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Kiệm (2008), trên thực tế, mỗi một doanhnghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh thì ngoài tài sản cố định còn cần phải
có các tài sản lưu động (bao gồm: tài sản lưu động trong sản xuất và tài sản lưu
động trong lưu thông) Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiếnhành thường xuyên, liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tài sản lưuđộng nhất định Để hình thành nên tài sản lưu động, doanh nghiệp phải ứng ra một
số vốn đầu tư vào loại tài sản này, số vốn đó được gọi là vốn lưu động
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thu Thủy (2011), vốn lưu động (workingcapital) hay vốn lưu động gộp (gross working capital) là toàn bộ tài sản ngắn hạn
được sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Như vậy,
vốn lưu động là những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Nguyễn Thu Thủy (2011), có mối quan hệ tươngquan giữa tài sản ngắn hạn và các nguồn vốn tài trợ ngắn hạn để thúc đẩy chutrình luân chuyển hàng hóa nhằm tìm kiếm và tạo ra giá trị gia tăng cho doanhnghiệp Mối quan hệ này được phản ánh qua vốn lưu động thuần (net workingcapital)
Tác giả thống nhất các quan điểm về vốn lưu động nêu trên và đưa ra kháiniệm về vốn lưu động như sau:
- Vốn lưu động (working capital) bao gồm các tài sản trong ngắn hạn củadoanh nghiệp như tiền mặt và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, khoảnphải thu và các khoản nợ ngắn hạn như khoản phải trả cho các nhà cung cấp
- Nguyễn Thu Thủy (2011), vốn lưu động thuần hay vốn lưu động ròng (networking capital) là giá trị được tính bằng chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợngắn hạn:
Vốn lưu động ròng = Tài sản ngắn hạn - Nợ ngắn hạn
Trang 17Chỉ tiêu vốn lưu động ròng (từ sau đây viết tắt là VLĐR) là một chỉ tiêu quantrọng, thể hiện cách thức mà doanh nghiệp tài trợ cho các tài sản của mình, qua đócho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp Vốn lưu động ròng của doanhnghiệp có thể dương hoặc âm:
+ Nếu VLĐR > 0, nguồn vốn dài hạn đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn và cònthừa ra một phần để tài trợ cho tài sản ngắn hạn; lúc này doanh nghiệp có khả
năng thanh khoản tốt, tài sản được tài trợ một cách ổn định
+ Nếu VLĐR < 0, doanh nghiệp đã sử dụng nguồn vốn ngắn hạn của mình
để tài trợ cho các tài sản dài hạn, điều này là rất nguy hiểm, có thể dẫn đến tình
trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp
* Kết cấu vốn lưu động
Theo giáo trình Tài chính doanh nghiệp của Nguyễn Văn Sang (2011, tr.37)thì kết cấu vốn lưu động được định nghĩa là tỷ lệ giữa các thành phần vốn lưu độngtrong tổng số vốn lưu động của doanh nghiệp
Kết cấu vốn lưu động phản ánh tình hình phân bổ vốn lưu động và tỷ trọng củamỗi loại vốn chiếm trong các giai đoạn luân chuyển, từ đó giúp doanh nghiệp xác
định được trọng điểm quản lý vốn lưu động, đồng thời tìm được biện pháp nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn lưu động
* Quản lý vốn lưu động
Từ các khái niệm liên quan đến vốn lưu động, có thể cho rằng “Quản lý vốn
lưu động là việc xây dựng các chính sách vốn lưu động và thực hiện các chính sách
ấy trong hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp” (Nguyễn Thu Thủy,
2011, tr.288) Nó bao gồm việc quyết định mức tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồnkho hợp lý và nguồn vốn tài trợ ngắn hạn cho chúng sao cho doanh nghiệp có thểduy trì thường xuyên, liên tục các hoạt động sản xuất kinh doanh
Ngoài ra, theo nghiên cứu của Tô Thị Thanh Trúc và Nguyễn Đình Thiên (Tạpchí khoa học Trường Đại học Mở Tp HCM, số 3(42)2015, tr.101) thì quản lý vốn
lưu động là những hoạt động liên quan đến việc hoạch định và kiểm soát các khoản
mục tài sản lưu động và nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
Trang 18* Hiệu quả quản lý vốn lưu động
Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm khác nhau về hiệu quả quản lývốn lưu động Trước hết, phải kể đến nhà kinh tế học Paul A Samuelson khi ông
đưa ra khái niệm về hiệu quả trong nền kinh tế “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu mong muốn của con người” Như vậy, có thể hiểu rằng hiệu quả quản lý vốn lưu động được thể hiện
thông qua việc sử dụng các nguồn vốn lưu động một cách tiết kiệm, chống lãng phítrong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu đặt ra củadoanh nghiệp
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang (2002) cũng đã từng nhận định hiệu quả kinhdoanh nói chung và hiệu quả quản lý vốn lưu động nói riêng là mối quan hệ giữa kếtquả thu về như doanh thu, lợi nhuận, so với các yếu tố bỏ ra như tài sản (vốn lưu
động), vốn chủ sở hữu,… sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh
Qua nghiên cứu các quan điểm trên, tác giả đi đến thống nhất về bản chất vàtiêu chuẩn hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp hiện nay, bao gồm cácvấn đề sau:
- Thứ nhất, hiệu quả sử dụng vốn lưu động chỉ là một mặt của hiệu quả kinh
doanh: Do vốn chỉ là một yếu tố của quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh củadoanh nghiệp Nói đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động, không thể nói sử dụng cókết quả nhưng lại bị lỗ mất vốn Tức là, tính hiệu quả sử dụng vốn lưu động thể hiệntrên hai mặt: Bảo toàn được vốn và tạo ra được các kết quả theo mục tiêu kinh
doanh, trong đó đặc biệt là kết quả về sức sinh lời của đồng vốn
- Thứ hai, hiệu quả sử dụng vốn lưu động là sự gia tăng lợi nhuận trên một
đồng vốn được sử dụng vào sản xuất kinh doanh
- Thứ ba, tối thiểu hoá số vốn và thời gian sử dụng Trong các quan điểm trước
đây, khi xét “đầu vào” của chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn chủ yếu đề cập đến khảnăng tối thiểu hoá về số lượng vốn, còn vấn đề thời gian sử dụng dài hay ngắn, ít đề
cập hoặc không đề cập đến Thực tế cho thấy, cùng với một kết quả như nhau mà sửdụng một lượng vốn ít hơn nhưng kéo dài thời gian sử dụng thì việc sử dụng số vốn
đó chưa hẳn là đã có kết quả
Trang 19Tác giả thống nhất khái niệm hiệu quả sử dụng vốn lưu động như sau:
- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là chỉ tiêu biểu hiện một mặt về hiệu quảkinh doanh, phản ánh trình độ quản lý và sử dụng vốn doanh nghiệp trong việc tối
đa hoá kết quả lợi ích hoặc tối thiểu hoá số vốn và thời gian sử dụng theo các điều
kiện về nguồn lực xác định phù hợp với mục tiêu kinh doanh
- Hiệu quả quản lý vốn lưu động được xác định dựa theo công thức chung nhất
sau đây:
Hiệu quả sử dụng VLĐ = Kết quả đầu ra (doanh thu, lợi nhuận, tài sản,…)
Yếu tố đầu vào (vốn lưu động, thời gian sử dụng)
1 1.2 Đặc điểm và phân loại vốn lưu động
* Đặc điểm của vốn lưu động
Theo giáo trình tài chính doanh nghiệp của Nguyễn Văn Sang (2011, tr.36),vốn lưu động có 3 đặc điểm đặc trưng và quan trọng như sau:
Thứ nhất, vốn lưu động luôn thay đổi hình thái biểu hiện trong quá trình sản
xuất kinh doanh
Thứ hai, vốn lưu động chu chuyển giá trị toàn bộ một lần vào sản phẩm và
toàn bộ giá trị này được thu hồi một lần sau một chu kỳ kinh doanh
Và cuối cùng, vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ
sản xuất kinh doanh
* Phân loại vốn lưu động
Việc phân loại vốn lưu động giúp cho hoạt động quản lý vốn lưu động đượcthực hiện hiệu quả hơn Tổng hợp nhiều nghiên cứu cho thấy vốn lưu động có thểphân loại dựa theo các tiêu chí như sau:
- Phân loại theo vai trò từng loại vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh:+ VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất: bao gồm giá trị các khoản nguyên vật liệuchính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế công cụ dụng cụ
+ Vốn lưu động trong khâu sản xuất: bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dởdang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết quả chuyển
+ Vốn lưu động trong khâu lưu thông: bao gồm các khoản giá trị thànhphẩm, vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc, đá quý,…); các khoản vốn đầu tư ngắn hạn
Trang 20(đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn,…); các khoản thế chấp, kýcược, ký quỹ ngắn hạn; các khoản vốn trong thanh toán (các khoản phải thu, các
khoản tạm ứng)
- Phân loại theo hình thái biểu hiện:
+ Vốn vật tư, hàng hóa: là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiệnbằng hiện vật cụ thể như nguyên, nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thànhphẩm, thành phẩm;
+ Vốn bằng tiền: bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiềngửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư chứng khoántrong ngắn hạn
- Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn:
+ Vốn lưu động tạm thời: là vốn ngắn hạn chủ yếu để đáp ứng các nhu cầu
có tính chất tạm thời về vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp, bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tổchức tín dụng và các khoản phải trả ngắn hạn khác
+ Vốn lưu động thường xuyên: là vốn ngắn hạn có tính chất ổn định hìnhthành nên tài sản lưu động thường xuyên cần thiết
- Phân loại theo tính thanh khoản:
+ Vốn bằng tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền mặt tại quỹ; tiền gửingân hàng và tiền đang chuyển
+ Các khoản phải thu: Phải thu khách hàng; tạm ứng; chi phí trả trước; thếchấp, kí cược, ký quỹ ngắn hạn; phải thu nội bộ; các khoản phải thu khác
+ Vốn hàng tồn kho: Thực chất đây là loại hàng dự trữ của doanh nghiệp,gồm: Nguyên vật liệu tồn kho, công cụ, dụng cụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm,hàng hóa, hàng mua đang đi đường, hàng gửi bán nhưng chưa xác định tiêu thụ
1.1.3 S ự cần thiết và vai trò của quản lý vốn lưu động
Các nhà nghiên cứu đều thừa nhận hoạt động quản lý vốn lưu động đóng mộtvai trò đặc biệt quan trọng trong doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sảnxuất và thương mại, trong đó có các doanh nghiệp bán lẻ Theo nghiên cứu của BùiThu Hiền (2017, tr.22), năm vai trò chủ yếu của hoạt động quản lý vốn lưu động là:
Trang 21Thứ nhất, quản lý vốn lưu động nhằm đảm bảo lượng vốn nhàn rỗi được đầu
tư một cách có hiệu quả Hàng tồn kho, khoản phải thu, khoản phải trả và tiền mặt
cần phải duy trì ở mức cân đối với đặc thù của từng doanh nghiệp, từng lĩnh vực khácnhau Việc chú trọng hoạt động quản lý vốn lưu động sẽ giúp doanh nghiệp tối ưuhóa nguồn vốn của mình, không lãng phí dư thừa, nhưng cũng không thiếu đến mứcphải gián đoạn hoạt động Việc phân bổ vốn hợp lý còn có thể giúp doanh nghiệp thu
được những khoản lợi nhuận nhất định từ việc tận dụng chi phí cơ hội
Thứ hai, quản lý vốn lưu động đảm bảo khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài
chính ngắn hạn của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp phải duytrì mối quan hệ với nhiều đối tượng khác nhau như nhà cung cấp, khách hàng, cơquan nhà nước, và đôi khi xuất hiện các khoản phải trả đối với các bên này, chẳnghạn thanh toán tiền nguyên vật liệu cho nhà cung cấp hay các khoản bồi thường đốivới khách hàng Nếu hoạt động quản lý vốn lưu động không được tách ra để thựchiện một cách chuyên nghiệp thì doanh nghiệp sẽ rất khó đảm bảo việc thanh toáncác khoản phải trả này một cách đầy đủ và đúng thời hạn Hậu quả là mối quan hệvới các nhà cung cấp bị ảnh hưởng và doanh nghiệp có nguy cơ gặp phải các trụctrặc pháp lý Do đó, ở mỗi doanh nghiệp, phải quản lý và dự báo các nghĩa vụ tàichính ngắn hạn, không để doanh nghiệp phải gián đoạn hoạt động Có rất nhiều cácnghiên cứu trước đã khẳng định ảnh hưởng của quản lý vốn lưu động tới tính thanhkhoản của doanh nghiệp như Chiou và Cheng (2006), Kim và cộng sự (1998),Moss và Stine (1993) hay Schilling (1996)
Thứ ba, quản lý vốn lưu động duy trì sự cân bằng hiệu quả giữa các tài sản
ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Sự cân bằng giữa các nguồntài trợ với các khoản mục tài sản của doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự tồn tại vữngchắc của một doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp thường xuyên phải dùng các nguồnvốn ngắn hạn để tài trợ cho các tài sản dài hạn, chẳng hạn việc dùng tiền thanh toánnhà cung cấp nguyên vật liệu để mua tài sản cố định, sớm muộn doanh nghiệp cũng
sẽ đối mặt với nguy cơ phá sản Ngược lại, nếu doanh nghiệp dùng nguồn tài trợ dàihạn để thanh toán các nghĩa vụ ngắn hạn, chẳng hạn dùng lợi nhuận giữ lại để thanhtoán nguyên vật liệu, điều đó khiến doanh nghiệp không tận dụng được chi phí cơ
Trang 22hội từ việc đầu tư tài chính hay gửi lãi suất, hoặc mua sắm tài sản cố định để mởrộng sản xuất Bởi vậy, nhà quản lý vốn lưu động phải cân bằng được nguồn tài trợngắn hạn và các tài sản ngắn hạn trong hoạt động kinh doanh hàng ngày, và để đảmbảo cho doanh nghiệp hoạt động một cách vững chắc nhất.
Thứ tư, quản lý vốn lưu động tốt sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp Điều này đã được minh chứng qua các nghiên cứu của Deloof(2003), Eljelly (2004), Padachi (2006), Lazaridis và Tryfonnidis (2006) khi họ chorằng nhà quản lý doanh nghiệp có thể tăng hiệu quả kinh doanh bằng cách đẩynhanh chu kỳ chuyển hóa tiền mặt và giữ các khoản phải thu, khoản phải trả vàhàng tồn kho ở mức tối ưu Một số tác giả khác cũng kết luận rằng có thể tăng tỷsuất lợi nhuận thông qua việc giảm thời gian thu hồi các khoản nợ cũng như giảmvòng quay hàng tồn kho để làm sao giảm được chu kỳ chuyển hóa tiền mặt mộtcách tối ưu nhất (Mansoori và Muhammad, 2012a; Zariyawati và các cộng sự,2009; Mohamad và Saad, 2010)
Thứ năm, quản lý vốn lưu động hiệu quả tạo nên uy tín cho doanh nghiệp Rõ
ràng, việc doanh nghiệp đảm bảo thực hiện đầy đủ và đúng hạn các nghĩa vụ tàichính ngắn hạn sẽ giúp doanh nghiệp tạo được sự tin cậy với các nhà cung cấp,khách hàng, cơ quan nhà nước cũng như các cơ quan truyền thông và công chúng
Điều này sẽ khiến cho uy tín cũng như xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp tăng cao
Từ đó, doanh nghiệp sẽ dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn cũng như được đối tác tiếptục cho hưởng các chính sách bán chịu
1.2 Quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp
1.2.1 Các chính sách qu ản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp
Về lý thuyết, chính sách vốn lưu động ảnh hưởng đến rủi ro và lợi nhuận từ đó
ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp Theo Horne và Wachowicz (2008) thì một
mức đầu tư tài sản lưu động mở rộng sẽ giúp doanh nghiệp duy trì khả năng thanhtoán tốt và đảm bảo đạt được mức lợi nhuận dự kiến tốt hơn nhưng tỷ suất lợi nhuận
đạt được thường không cao do doanh nghiệp phải đầu tư nhiều vốn, và ngược lại
một chính sách đầu tư tài sản lưu động thắt chặt có thể mang lại tỷ suất lợi nhuận
cao đi cùng là rủi ro thanh khoản và sự bất định lớn về mức lợi nhuận dự kiến
Trang 23Theo nghiên cứu của Tô Thị Thanh Trúc và Nguyễn Đình Thiên (Tạp chí khoahọc trường Đại học Mở Tp HCM, số 3(42)2015, tr.102) thì doanh nghiệp có thể
theo đuổi các chính sách vốn lưu động khác nhau và do đó đạt được mức sinh lợi
cũng như đối mặt với rủi ro khác nhau, các nhà quản lý cần xem xét sự đánh đổigiữa lợi nhuận với rủi ro dự kiến trước khi quyết định một mức vốn lưu động tối ưu,
là mức vốn lưu động tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, không phải là mức vốn lưu
động tối thiểu Chính sách vốn lưu động thường được đánh giá thông qua mức độđầu tư vào các tài sản lưu động của doanh nghiệp
Theo nghiên cứu của Horne và Wachowicz (2008), doanh nghiệp có 3 chínhsách quản lý VLĐ có thể theo đuổi là: Chính sách cấp tiến (aggressive), chính sáchthận trọng (conservative) và chính sách dung hoà
* Chính sách quản lý VLĐ thận trọng: Một chính sách vốn lưu động cẩn trọng
(conservative) duy trì một lượng lớn hàng tồn kho, mở rộng tín dụng cho kháchhàng cùng với nợ ngắn hạn thấp, kết quả là số ngày tồn kho bình quân và kỳ thu tiềnbình quân và do đó chu kỳ luân chuyển tiền (Cash Conversion Cycle) của các doanhnghiệp đó dài hơn
Theo quan điểm truyền thống, một chính sách vốn lưu động như vậy thường
dẫn đến suất sinh lợi thấp và rủi ro thanh khoản cũng như biến động lợi nhuận thấp
* Chính sách quản lý VLĐ cấp tiến: Một chính sách mạo hiểm (aggressive)
duy trì lượng hàng tồn kho thấp, chính sách tín dụng thu hẹp và nợ ngắn hạn cao,kết quả là số ngày tồn kho và kỳ thu tiền bình quân và do đó chu kỳ luân chuyểntiền ngắn
Doanh nghiệp theo đuổi chính sách này có thể đạt được mức sinh lợi cao
nhưng cũng đối mặt với nguy cơ thiếu hụt hàng, mất khách hàng và không đạt được
mức lợi nhuận dự kiến
* Chính sách quản lý VLĐ dung hoà:
- Chính sách quản lý VLĐ dung hoà được thực hiện dựa trên nguyên tắc phùhợp (Matching Principle) Nguyên tắc này được hiểu như sau: Doanh nghiệp sửdụng nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho TSDH và sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để
đầu tư cho TSNH ở mức cân bằng nhất Mục đích của nguyên tắc này là cân bằng
Trang 24luồng tiền tạo ra từ tài sản với kỳ hạn của nguồn tài trợ Việc doanh nghiệp tăng tạmthời TSLĐ phải được tài trợ bằng nguồn vốn lưu động để doanh nghiệp có thể thanhtoán được khi TSLĐ giảm Sở dĩ có điều này vì TSLĐ có khả năng quay vòng
nhanh, nên được tài trợ bằng nguồn vốn lưu động để tiết kiệm chi phí lãi TăngTSLĐ thường xuyên hay TSDH mà cần nhiều thời gian để quy đổi ra thành tiền thìnên được tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn để đảm bảo khả năng tự chủ tài chính, khảnăng thanh toán Theo đuổi chính sách dung hoà, doanh nghiệp sẽ đạt được mức
sinh lời trung bình và rủi ro ở mức trung bình
- Nguyên tắc phù hợp có thể áp dụng cho vấn đề thảo luận trước đó về chínhsách quản lý TSLĐ và nợ ngắn hạn Chính sách quản lý vốn lưu động cấp tiến có tỷtrọng TSLĐ thấp và tỷ trọng nợ ngắn hạn cao Chính sách quản lý vốn lưu độngthận trọng có tỷ trọng TSLĐ cao và tỷ trọng nợ ngắn hạn thấp Doanh nghiệp có thể
áp dụng nguyên tắc phù hợp để cân bằng hai chính sách quản lý vốn trên như sau:+ Nếu doanh nghiệp theo đuổi chính sách quản lý TSLĐ cấp tiến tức là duy trì
tỷ trọng TSLĐ thấp thì công ty cần cân bằng rủi ro bằng cách duy trì tỷ trọng nợngắn hạn cũng thấp của chính sách quản lý nợ ngắn hạn thận trọng
+ Nếu doanh nghiệp theo đuổi chính sách quản lý TSLĐ thận trọng (duy trì tỷtrọng TSLĐ cao) thì nó nên được cân bằng bằng việc áp dụng chính sách quản lý nợngắn hạn cấp tiến (duy trì tỷ trọng nợ ngắn hạn cao)
+ Nếu doanh nghiệp có tỷ trọng TSLĐ ở mức trung bình thì cũng nên duy trì
tỷ trọng nợ ngắn hạn ở mức trung bình
Mục tiêu bao trùm của mọi hoạt động trong doanh nghiệp trong đó có hoạt
động quản lý vốn lưu động là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu Việc áp dụng
nguyên tắc phù hợp cũng nhằm mục đích đó, có tính đến rủi ro và thu nhập yêu cầu.Nếu doanh nghiệp theo đuổi chính sách cấp tiến, các cổ đông nên xem như chứa
đựng nhiều rủi ro, với các yếu tố khác không đổi, sẽ có tỷ lệ P/E thấp hơn so với
những chính sách thận trọng Trong trường hợp này, công ty cần thực hiện một sốchính sách tương thích (tài sản cấp tiến, nợ thận trọng), do chính sách này cho phéptối đa hoá giá trị thị trường của doanh nghiệp
Trang 251.2.2 Ho ạt động quản lý vốn tiền mặt
Theo Eugene F Brigham, Joel F Houston (2009, Quản trị tài chính, tr.847) thìtiền mặt bao gồm các khoản tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và các khoản tương
đương tiền bao gồm các khoản đầu tư ngắn hạn có thể dễ dàng chuyển đổi thành
tiền mặt trong thời gian ngắn nhất
Để duy trì hoạt động thường xuyên và dự phòng cho những biến động bất
thường cũng như tận dụng nhanh chóng các cơ hội đầu tư, doanh nghiệp phải duy trìmột lượng tiền mặt nhất định tại quỹ cũng như tại ngân hàng Tuy nhiên, tiền mặt tạiquỹ không có khả năng sinh lợi còn tiền gửi ngân hàng có mức sinh lợi thấp Chính
vì vậy, mục đích của quản lý tiền mặt là giảm thiểu lượng tiền mặt nắm giữ mà vẫn
đảm bảo cho doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán, dự phòng những biến động có
thể xảy ra và tận dụng tốt các cơ hội đầu tư Do đó, có thể hiểu quản lý tiền mặt là quyết định mức tồn quỹ tiền mặt, cụ thể là đi tìm bài toán tối ưu để ra quyết định cho mức tồn quỹ tiền mặt sao cho tổng chi phí đạt tối thiểu mà vẫn đủ để duy trì hoạt động bình thường của doanh nghiệp (Nguyễn Tấn Bình, 2007).
Mô hình quản lý tiền mặt thực chất là sự cân bằng giữa tiền mặt tồn quỹ vàchứng khoán ngắn hạn theo thời gian Mỗi mô hình được lập trên các giả thiết nhất
định, được ứng dụng để phân bổ và cân đối giữa lượng tiền mặt và chứng khoán
ngắn hạn do công ty nắm giữ tùy theo tình hình hoạt động Các mô hình sẽ giúp xác
định khối lượng và thời gian chuyển đổi qua lại giữa tiền mặt và chứng khoán ngắn
hạn Những mô hình thường được dùng để quản lý tiền mặt là: mô hình Baumol vàMiller - Orr
* Mô hình Baumol
Đây là mô hình ra đời sớm nhất do William Baumol (1952) phát triển từ mô
hình lượng đặt hàng tối ưu (EOQ) nhằm giúp nhà quản lý tối thiểu hóa các chi phíliên quan tới việc chuyển đổi qua lại giữa tiền mặt và chứng khoán trong một thời
gian xác định Mô hình Baumol giả định rằng:
- Doanh nghiệp định kỳ nhận được một lượng tiền mặt nhất định, nhưng đồngthời cũng phải liên tục chi tiền ra, theo một tỷ lệ ổn định
Trang 26- Nhu cầu tiền mặt trong một giai đoạn cụ thể (tháng, quý, năm) của công ty
có thể dự báo trước một cách chính xác
- Khi số dư tiền mặt ban đầu giảm xuống bằng không, hay ở mức an toàn tốithiểu, thì số dư tiền mặt lập tức sẽ được tăng lên do việc bán chứng khoán nhầm đạt
được số dư tiền mặt ban đầu
Tổng chi phí cho việc tồn quỹ tiền mặt sẽ gồm: chi phí giao dịch (chuyển đổichứng khoán về tiền mặt) và chi phí cơ hội của tiền mặt tồn quỹ
Tổng chi phí cho việc tồn quỹ tiền mặt sẽ gồm: chi phí giao dịch (chuyển đổichứng khoán về tiền mặt) và chi phí cơ hội của tiền mặt tồn quỹ
Tổng chi phí (Z) = Chi phí giao dịch + Chi phí cơ hội
mặt trong kỳ
Mục tiêu của mô hình chính là tìm mức tiền mặt tồn quỹ (C) tối ưu, sao cho
tổng chi phí (Z) nhỏ nhất Tại mức tồn quỹ mà tổng chi phí đạt cực tiểu, ta có:
Mức dự trữ tiền mặt tối ưu:
C = 2TF
r
Mô hình Baumol đã có nhưng vai trò nhất định trong việc giúp nhà quản lýquản lý nguồn tiền mặt của doanh nghiệp:
Thứ nhất, mô hình Baumol giúp nhà quản lý quyết định khối lượng tiền mặt
trong mối tương quan với chi phí
Thứ hai, mô hình Baumol rất dễ dàng cập nhật, do đó chỉ cần thay số liệu
mới vào mô hình để có kết quả phì hợp với tình hình thực tế hơn
Trang 27Tuy nhiên, mô hình Baumol được xây dựng dựa trên những giả định quá đơngiản, đôi khi không thực tế Sự đơn giản hóa của mô hình bắt nguồn từ việc đơn giảnhóa các chi phí trong mô hình như:
- Tổng nhu cầu tiền mặt (T) trong tương lai phụ thuộc rất nhiều vào sự chính
xác của việc sự báo nhu cầu tiền mặt
- Chi phí giao dịch (F) cố định cho mỗi lần giao dịch là không phù hợp với
hoạt động của công ty cũng như điều kiện của thị trường tiền tệ Nhiều loại giaodịch có phí giao dịch không căn cứ theo số lần mà theo giá trị của giao dịch
- Giả định công ty định kỳ được nhận một lượng tiền mặt nhất định trong khichi tiêu lại phải liên tục cũng là một giả định không phù hợp với thực tiễn hoạt
động của các doanh nghiệp
* Mô hình Miller - Orr
Điểm hạn chế của mô hình Baumol xuất phát ngay từ giả định ban đầu không
phù hợp với thực tế (dòng tiền rời rạc với lưu chuyển tiền thuần ổn định, không đổiqua các kỳ) Để khắc phục những nhược điểm này, hai nhà khoa học Merton Miller
và Daniel Orr đã phát triển mô hình tồn quỹ với giả định lưu chuyển tiền thuần biếnđộng ngẫu nhiên, chênh lệch so với giá trị bình quân một đại lương là phương sai
thu chi ngân quỹ (ký hiệu Vb)
Trước hết, mức tồn quỹ tối ưu M* được xác định theo công thức:
Trong đó: Mn là tổng lượng tiền cần sử dụng trong kỳ; Cb là chi phí giao dịch;
và i là chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền
Tuy nhiên, mức tồn quỹ của doanh nghiệp không ổn định ở một mức như trong
mô hình Baumol, nó có thể dao động từ Mmin tới Mmax, là điểm giới hạn dưới vàgiới hạn trên Khoảng dao động ngân quỹ d trong mô hình được tính toán như sau:
d = 3 * ( ∗ ∗ ) /Khi đó, ta sẽ xác định được Mmin và Mmax bằng công thức:
M* = Mmin + d/3Mmax = Mmin + d
Trang 28Hình 1.1: Mô hình Miller - Orr
Nguồn: Phan Hồng Mai, 2012Hình 1.1 biểu diễn mối quan hệ giữa M*, Mmin và Mmax Chỉ khi số dư ngânquỹ vượt quá khung giới hạn thì doanh nghiệp sẽ cần điều chỉnh mức tồn quỹ củamình Điều này rất quan trọng vì doanh nghiệp trong thực tế không thể luôn có điềukiện để điều chỉnh tồn quỹ về mức tối ưu do độ chênh lệch quá nhỏ, chi phí phát sinhlớn hơn lợi ích kinh tế đạt được, Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp muốn điều chỉnh số
dư ngân quỹ về M* thì có thể sử dụng một số biện pháp như thay đổi chính sáchthanh toán, đầu tư chứng khoán thanh khoản, gửi tiết kiệm, cho vay,… hoặc ngượclại bán chứng khoán thanh khoản, rút tiết kiệm, thu hồi các khoản ủy thác đầu tưhoặc đi vay
Giống như mô hình Baumol, mô hình Miller - Orr cũng có những nhược điểmxuất phát từ những giả định khi xây dựng mô hình:
- Thứ nhất, giả định dòng ngân lưu của công ty là biến động ngẫu nhiên và
hoàn toàn không thể dự báo trước được chưa sát với thực tế bởi có nhưng khoản thu,chi hoàn toàn có thể biết trước như tiền lương hay nợ ngân hàng
- Thứ hai, số dư tiền mặt chỉ được phép dao động trong phạm vi giới hạn trên
và giới hạn dưới, khi mức tiền tồn quỹ vượt khỏi giới hạn này, nhà quản lý chỉ cần
đưa ra quyết định mua hoặc bán chứng khoán Trên thực tế điều này không phải lúc
nào cũng đúng, ví dụ như nhà quản lý không nhất thiết phải bán chứng khoán khimức tiền tồn quỹ giảm xuống mức tín hiệu, khi biết rằng công ty sẽ sớm nhận đượcmột khoản tiền trong tài khoản vãng lai
Trang 29rằng, quản lý vốn hàng tồn kho là giám sát số dư hàng tồn kho nhằm đảm bảo cân bằng giữa các chi phí và lợi ích khi nắm giữ hàng tồn kho (Berk và cộng sự, 2012).
Một số mô hình hỗ trợ doanh nghiệp quản lý hàng tồn kho hiệu quả bằng việctrả lời hai vấn đề quan trọng: Nên đặt mua hàng với số lượng là bao nhiêu và khinào thì tiến hành đặt hàng
* Mô hình sản lượng đặt hàng hiệu quả (EOQ)
Mô hình EOQ (Economic Ordering Quantity) là một trong những kỹ thuật
kiểm soát tồn kho lâu đời nhất nhưng đến nay nó vẫn được hầu hết các doanh nghiệp
sử dụng Mô hình EOQ phải tuân theo các giả định quan trọng: Nhu cầu vật tưtrong một năm được biết trước và ổn định không đổi; thời gian chờ hàng kể từ khi
đặt hàng cho tới khi nhận hàng không thay đổi và phải được biết trước; sự thiếu hụt
dự trữ hoàn toàn không xảy ra nếu đơn hàng được thực hiện đúng; toàn bộ số lượng
đặt mua hàng được nhận cùng một lúc; và không có chiết khấu theo số lượng
Mô hình EOQ là một mô hình quản lý hàng tồn kho mang tính định lượngnhằm làm tối thiểu hóa hai chi phí phản ứng ngược chiều nhau: Tổng chi phí đặthàng và chi phí lưu kho Khi quy mô đơn hàng tăng lên, ít đơn hàng hơn được yêucầu làm cho chi phí đặt hàng giảm, trong khi mức dự trữ bình quân sẽ tăng lên, dẫn
đến tăng chi phí lưu kho Do đó mà trên thực tế số lượng đặt hàng tối ưu là kết quả
của một sự dung hòa giữa hai chi phí có liên hệ nghịch nhau này Với những giả thiếttrên, sơ đồ biểu diễn mô hình EOQ được thể hiện như hình 1.2
Công thức tổng chi phí như sau:
Tổng chi phí = Chi phí đặt hàng + Chi phí tồn kho
Tổng chi phí (T) =D
Q * S +Q
2 * H
Trang 30Hình 1.2: Mô hình chi phí theo EOQ
Nguồn: Trương Đoàn Thể, 2013 & AACA F9Trong đó: D: Tổng nhu cầu đặt hàng cần nhập trong kỳ; Q: Lượng đặt hàngmỗi lần; S: Chi phí cố định cho một đơn hàng; H: Chi phí tồn kho một đơn vị; D/Q:
Số lần đặt hàng (số đơn hàng); Q/2: Mức tồn kho bình quân
Qua hình vẽ trên, có thể thấy tổng chi phí đạt được giá trị nhỏ nhất khi lượng
đặt hàng tối ưu (Q*) Tổng chi phí nhỏ nhất tại điểm đường cong chi phí tồn trữ và
đặt hàng đến khi nhận được hàng, do đó phải tính toán được thời gian chờ hàng
chính xác để tiến hành đặt hàng Thời điểm đặt hàng được xác định tại thời điểm cómức tồn kho đủ cho nhu cầu sử dụng trong thời gian chờ hàng Mức tồn kho đógọi là điểm đặt hàng lại (ROP):
ROP = Nhu cầu hàng ngày (d) x Thời gian chờ hàng (L)
Trong đó:
d = D (nhu cầu hàng năm)
Số ngày làm việc trong năm
Trang 31Hình 1.3: Sơ đồ chu kỳ đặt hàng dự trữ theo mô hình EOQ
Nguồn: Trương Đoàn Thể, 2013 & AACA F9
* Mô hình Just - in - time (JIT)
Theo Dương Ngọc Dũng (2008), mô hình Just-in-time (JIT) được hiểu là
đúng sản phẩm với đúng số lượng tại đúng nơi vào đúng thời điểm JIT là mô hình
sản xuất trong đó các luồng nguyên vật liệu, hàng hoá và sản phẩm luân chuyểntrong quá trình sản xuất và phân phối được lập kế hoạch chi tiết từng bước sao choquy trình tiếp theo có thể thực hiện ngay khi quy trình hiện thời chấm dứt Từ đóJIT cũng được biết như một phương pháp sản xuất không tồn kho, bởi vì yếu tốquan trọng trong việc áp dụng thành công JIT là giảm tồn kho tới mức tối thiểu tạinhiều công đoạn khác nhau trong dây chuyền sản xuất Điều này cần có sự phốihợp chặt chẽ giữa những công đoạn sao cho mỗi công đoạn chỉ sản xuất chính xác
số lượng cần thiết cho công đoạn sau
Lợi ích của phương pháp JIT: Một trong những lợi ích nổi bật để nhận biết hệ
thống JIT là lượng tồn kho thấp Lợi ích rõ ràng nhất của lượng tồn kho thấp là tiếtkiệm được không gian, chi phí do không bị ứ đọng vốn trong các sản phẩm còn tồn
đọng trong kho Lợi ích thứ hai thì khó thấy hơn nhưng lại là một khía cạnh then chốt
của mô hình JIT, đó là tồn kho luôn là nguồn lực dự trữ để khắc phục những mất
cân đối trong quá trình sản xuất, có nhiều tồn kho sẽ làm cho những nhà quản lý ỷ
lại, không cố gắng khắc phục những sự cố trong sản xuất và dẫn đến chi phí tăng.Một mặt phương pháp JIT làm giảm dần dần lượng tồn kho, từ đó doanhnghiệp càng dễ tìm thấy và giải quyết những khó khăn phát sinh Mặt khác phương
Trang 32pháp JIT nhằm mục đích giảm đi chi phí không cần thiết giữa các công đoạn Qua
đó, không có hạng mục nào ở trong tình trạng để không, chờ xử lý; không có nhân
công hay thiết bị nào phải đợi để có đầu vào để vận hành Dư thừa tồn kho và lao
động được hạn chế tối đa, qua đó tăng năng suất và giảm chi phí
1.2.4 Ho ạt động quản lý vốn các khoản phải thu
Theo Nguyễn Thu Thủy (2011), quản lý vốn các khoản phải thu gắn liền với việc giảm thiểu chi phí và tối đa hóa lợi ích từ chính sách bán hàng tín dụng hay chính sách bán chịu Khi áp dụng chính sách này, hàng tồn kho sẽ giảm và doanh
nghiệp gia tăng doanh thu, tuy nhiên doanh nghiệp sẽ phải chịu rủi ro nếu đối táckhông thanh toán đúng thời hạn hoặc do giá trị thời gian của tiền tệ, tại thời điểmdoanh nghiệp nhận được tiền, giá trị khoản phải thu bị suy giảm Để nâng cao hiệuquả quản lý khoản phải thu, mỗi doanh nghiệp cần phải thiết lập cho mình một chínhsách bán chịu phù hợp, nhằm đảm bảo phần tăng chi phí không vượt quá lợi ích thu
được từ bán hàng tín dụng Một số vấn đề liên quan đến chính sách bán chịu của
doanh nghiệp cụ thể như sau:
Điều kiện bán chịu: Là những điều kiện tối thiểu về đạo đức, uy tín, khả năng
và trách nhiệm trả nợ của khách hàng để được chấp nhận bán chịu Khả năng trả nợthường được phân tích một cách chủ quan dựa trên dữ liệu tài chính công bố vànhận định về tương lai trong tình huống nền kinh tế phát triển bình thường và suythoái Công cụ đánh giá khả năng trả nợ khách quan và tốt nhất là các báo cáo ngânlưu trong quá khứ và báo cáo ngân lưu dự toán
Điều khoản bán chịu: Tỉ lệ chiết khấu do thanh toán sớm và thời gian khách
hàng được trả chậm được gọi là điều khoản bán chịu Trong đó, chiết khấu tiền mặt
là tỷ lệ phần trăm được khấu trừ trên giá trị hóa đơn nếu khách hàng trả tiền trongmột thời hạn nhất định Lợi ích của chiết khấu tiền mặt đối với doanh nghiệp làgiảm được mức vay ngắn hạn, gia tăng đầu tư ngắn hạn sinh lời nhờ thu được tiềnsớm hơn và tăng trưởng doanh thu bán hàng Thời hạn thanh toán phụ thuộc vào đặc
điểm của sản phẩm, cơ cấu và điều kiện thị trường
Hạn mức bán chịu: Tổng số tiền của tất cả các hợp đồng mua bán, các đơn đặt
hàng khách hàng được trả chậm cho công ty gọi là hạn mức bán chịu Có hai tiêu chí
Trang 33để quyết định hạn mức bán chịu là tình hình sản xuất hoặc đặc điểm sản phẩm của
doanh nghiệp và khả năng trả nợ của khách hàng Phần lớn các doanh nghiệp lớn ápdụng hai tiêu chí này kết hợp với kết quả đánh giá các chỉ tiêu tài chính và báo cáoxếp hạng của các công ty xếp hạng tín dụng chuyên nghiệp
Đối chiếu chứng từ thanh toán: Chính xác và nhanh chóng là hai điều quan
trọng khi ghi giảm nợ khách hàng Để đáp ứng tốt nhất hai điều trên thì doanhnghiệp phải tổ chức tự động hóa hệ thống ghi chép kế toán Hệ thống này có ưu
điểm trong việc đối chiếu chứng từ thanh toán với khả năng cập nhật tài khoản
khoản phải thu một cách nhanh chóng và chính xác Yêu cầu của hệ thống là đốichiếu các chứng từ thanh toán (séc, chuyển khoản, lệnh chuyển tiền, điện chuyểntiền, giấy báo có của ngân hàng,…) với hóa đơn bán hàng tương ứng
Quy trình thu hồi các khoản bán chịu: Bao gồm các báo cáo chi tiết liên quan
đến thời điểm và cách thức thu hồi các khoản nợ đã quá hạn Quy trình này quyđịnh thời hạn thu hồi, các biện pháp xử lý khi khoản nợ bị quá hạn và những trường
hợp phải yêu cầu sự tham gia của bên thứ ba
* Các phương pháp quản lý vốn các khoản phải thu
Khi doanh nghiệp thực hiện chính sách bán chịu sẽ làm phát sinh các khoảnphải thu, và bao giờ cũng làm tăng thêm một số chi phí do việc tăng thêm các khoản
nợ phải thu của khách hàng như chi phí quản lý nợ phải thu, chi phí thu hồi nợ, chiphí rủi ro, chi phí cơ hội đầu tư Đổi lại doanh nghiệp cũng có thể tăng thêm được lợinhuận tương lai nhờ mở rộng số lượng sản phẩm tiêu thụ Vì vậy hoạt động quản lýkhoản phải thu bao gồm việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, hướng dẫn, giám sát
và kiểm soát toàn diện các khoản bán chịu phải thu từ khách hàng đóng vai trò rấtquan trọng nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa lợi ích và chi phí bỏ ra khi doanhnghiệp thực hiện phương thức bán chịu
(i) Quyết định bán chịu bằng phân tích đánh giá khoản tín dụng được đề nghị
Hoạt động rất quan trọng trong việc quản lý chính sách bán chịu là doanhnghiệp phải tiến hành việc phân tích đánh giá khoản tín dụng thương mại haykhoản bán chịu được khách hàng đề nghị Việc đánh giá khoản tín dụng thương mại
được đề nghị quyết định xem có cấp hay không cấp khoản bán chịu cho khách hàng
Trang 34Phân tích, đánh giá này dựa vào việc tính NPV của dòng tiền, với mỗi lần bán chịugiả định chi phí quản lý bán chịu và chi phí thu hồi nợ phát sinh ở cuối thời hạn bánchịu, áp dụng mô hình định giá (chiết khấu dòng tiền) như sau:
NPV =S - e * S
1 + r* C - v x S
Trong đó: NPV: Giá trị hiện tại ròng của doanh thu bán chịu; v: Tỉ lệ chi phí
biến đổi so với doanh thu bán chịu; S: Doanh thu bán chịu; e: Tỉ lệ chi phí quản lýbán chịu và thu tiền so với doanh thu; r: Chi phí cơ hội sử dụng vốn/ ngày; C: Kỳthu tiền (thời gian thu các khoản phải thu)
Nguyên tắc ra quyết định (chấp nhận hay từ chối bán chịu):
- Nếu NPV < 0: Không chấp nhận
- Nếu NPV = 0: Có thể chấp nhận
- Nếu NPV > 0: Doanh nghiệp nên chấp nhận cấp khoản bán chịu hay khoản tíndụng được đề nghị cho khách hàng vì việc bán chịu mang lại hiệu quả cao hơn việcthanh toán ngay, có lợi cho doanh nghiệp
(ii) Theo dõi các khoản phải thu
Theo dõi các khoản phải thu là một nội dung quan trọng trong quản lý cáckhoản phải thu Thực hiện tốt công việc này sẽ giúp doanh nghiệp kịp thời thay đổichính sách tín dụng thương mại cho phù hợp với tình hình thực tế Thông thường,
để theo dõi các khoản phải thu, doanh nghiệp có thể áp dụng các chỉ tiêu và phương
pháp sau:
Sắp xếp tuổi của các khoản phải thu: Thông qua phương pháp sắp xếp tuổi của
các khoản phải thu theo độ dài thời gian, các nhà quản lý có thể dễ dàng theo dõi và
có biện pháp thu hồi nợ khi đến hạn
Xác định số dư khoản phải thu: Sử dụng phương pháp này, doanh nghiệp
hoàn toàn có thể thấy được nợ tồn đọng của khách hàng Cùng với các biện pháptheo dõi và quản lý khác, doanh nghiệp có thể thấy được ảnh hưởng của chính sáchtín dụng thương mại và có những điều chỉnh kịp thời, phù hợp với từng đối tượngkhách hàng, từng khoản tín dụng cụ thể Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần phải cócác biện pháp phòng ngừa rủi ro không được thanh toán như giới hạn giá trị tíndụng, yêu cầu đặt cọc, tạm ứng trước một phần giá trị đơn hàng, bán nợ,…
Trang 35(iii) Nhờ bên thứ ba thu hộ tiền
Đây là phương pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các khoản thu
quốc tế Các doanh nghiệp có thể nhờ bên thứ ba, thường là các ngân hàng lớn và cómối quan hệ đối tác với các ngân hàng phía bên khách hàng, đứng ra thu hồi cáckhoản nợ Tuy nhiên, với phương pháp này, các doanh nghiệp sẽ phải chịu thêmmột khoản phí để thu hồi hoặc phải chiết khấu các chứng từ có giá của mình cho bênthu hộ
1.2.5 Ho ạt động quản lý vốn các khoản phải trả
Các khoản phải trả được định nghĩa là các khoản vốn mà doanh nghiệp phảithanh toán cho khách hàng theo các hợp đồng cung cấp, các khoản phải trả cho ngườibán, các khoản thuế phải nộp cho Ngân sách Nhà nước hoặc thanh toán tiền côngcho người lao động (Võ Văn Nhị, 2005)
Thông thường để kích thích tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ, các nhà cung cấpthường cấp tín dụng cho doanh nghiệp và doanh nghiệp sẽ ghi nợ vào các khoản
phải trả Các khoản tín dụng này được gọi chung là Tín dụng thương mại Nội dung
của các chính sách tín dụng thương mại sẽ bao gồm chiết khấu thanh toán, thời hạn
thanh toán hưởng chiết khấu và thời hạn tối đa của tín dụng Như vậy, việc quản lý vốn các khoản phải trả sẽ bao gồm việc doanh nghiệp phải thường xuyên duy trì một
lượng vốn tiền mặt để đáp ứng yêu cầu thanh toán trong ngắn hạn và cần cân nhắc
xem có nên sử dụng tín dụng thương mại của đối tác hay không.
Việc quản lý vốn các khoản phải trả không chỉ đòi hỏi doanh nghiệp phải thườngxuyên duy trì một lượng vốn tiền mặt để để đáp ứng yêu cầu thanh toán mà còn
đòi hỏi việc thanh toán các khoản phải trả phải chính xác, an toàn và nâng cao uy
tín của doanh nghiệp đối với khách hàng Khi ra quyết định thanh toán các khoảnphải trả cho người bán, doanh nghiệp có thể trả tiền ngay vào ngày mua hàng, trảtiền trong thời hạn được chiết khấu, trả tiền sau thời hạn được chiết khấu nhưng trướcthời hạn trả chậm cho phép hoặc trả tiền sau thời hạn thanh toán cho phép nghĩa làtrễ hạn Để ra quyết định này, doanh nghiệp thường tuân thủ theo các nguyên tắc cơbản sau:
Trang 36- Không trả tiền khi chưa đến cuối kỳ hạn thanh toán và chỉ chấp nhận thanhtoán sớm để chiết khấu khi lợi suất của khoản chiết khấu và điều khoản trả chậm cao
hơn chi phí cơ hội sử dụng vốn ngắn hạn
- Không trì hoãn thanh toán khi quá thời hạn thanh toán cho phép làm ảnhhưởng uy tín doanh nghiệp Trong trường thanh toán sau thời hạn trả chậm chophép, cho dù việc thanh toán trễ sau thời hạn chậm trả cho phép là không nên,nhưng vẫn áp dụng trong trường hợp khó khăn tài chính tạm thời buộc các doanhnghiệp phải làm thanh toán chậm Khi đó, doanh nghiệp phải dự tính được chi phíchậm trễ thanh toán để đánh giá ra quyết định
Để quản lý tốt các khoản phải trả người bán hay các khoản nợ vay trong ngắn
hạn, doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra, đối chiếu các khoản phải thanh toánvới khả năng thanh toán của doanh nghiệp để chủ động đáp ứng các yêu cầu thanhtoán khi đến hạn Ngoài ra doanh nghiệp cần áp dụng các phương pháp quản lýkhoản phải trả như sau:
- Phương pháp vòng quay khoản phải trả: Chỉ tiêu vòng quay khoản phải trả
được tính bằng doanh số mua vào hoặc giá vốn hàng bán chia cho số dư khoản phải
trả cuối kỳ, trong cùng khoảng thời gian, có thể là một năm Công thức cụ thể được
đưa ra ở phần một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý vốn lưu động
- Số ngày trả tiền: Là một cách khác để giám sát khoản phải trả, được tính
bằng số ngày trong kỳ kinh doanh chia cho số vòng quay khoản phải trả
- Phương pháp tỷ lệ số dư khoản phải trả: Phương pháp này dựa vào bảng số
liệu doanh số mua vào hàng tháng và các khoản phải trả vào tháng sau của doanhnghiêp, từ đó tính được số dư khoản phải trả hàng tháng, sau đó khoản này đượctính theo tỷ lệ phần trăm so với doanh số mua vào Nếu tỷ lệ phần trăm ổn định thì
có thể kết luận việc trả nợ được tiến hành đều đặn và đúng hạn, việc thanh toán cáckhoản phải trả của doanh nghiệp là ổn định và nghiêm ngặt Ngược lại, nếu tỷ lệphần trăm thay đổi khác nhau qua các tháng và có khác biệt lớn thì hoạt động quản
lý khoản phải trả của doanh nghiệp chưa hợp lý và dễ dẫn đến tình trạng nợ nần
Trang 371.3 Hiệu quả quản lý vốn lưu động tại doanh nghiệp
1.3.1 Phương pháp phân tích hiệu quả quản lý vốn lưu động
- So sánh các chỉ tiêu tài chính giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ
trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp, nhất là về những chỉtiêu liên quan đến vốn lưu động như tiền, hàng tồn kho, các khoản phải thu, phải
trả,… Đánh giá sự tăng trưởng hay sụt giảm trong hoạt động kinh doanh để có biệnpháp khắc phục trong thời gian tới
- So sánh các chỉ tiêu tài chính giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trungbình của ngành, của các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính củadoanh nghiệp mình tốt hay xấu, được hay chưa được
- So sánh các chỉ tiêu tài chính theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉtiêu so với tổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi
cả về số tương đối và số tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toánliên tiếp
- So sánh các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp trong năm kế hoạch và nămbáo cáo, nhận xét sự thay đổi, đánh giá để đưa ra các biện pháp phù hợp
* Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp tỷ lệ giúp cho việc khai thác, sử dụng các số liệu được hiệu quảhơn thông qua việc phân tích một cách có hệ thống các tỷ lệ theo chuỗi thời gian
liên tục hoặc gián đoạn Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của
đại lượng tài chính trong quan hệ tài chính Về nguyên tắc, phương pháp này đòi
hỏi phải xác định các ngưỡng, các định mức để từ đó nhận xét và đánh giá tình hìnhhiệu quả quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp trên cơ sở so sánh các chỉ tiêu và
tỷ lệ tài chính doanh nghiệp với các tỷ lệ tham chiếu
Trang 38Trong phân tích hiệu quả quản lý vốn lưu động, các tỷ lệ tài chính được phânthành các nhóm chỉ tiêu đặc trưng, phản ánh nội dung cơ bản theo mục tiêu phântích hiệu quả quản lý VLĐ Bao gồm các nhóm chỉ tiêu sau:
+ Chỉ tiêu đánh giá nhu cầu vốn lưu động ròng;
+ Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán;
+ Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp;+ Chỉ tiêu chu kỳ chuyển hóa tiền mặt (CCC)
1.3.2 Các ch ỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý VLĐ tại doanh nghiệp bán lẻ
Bảng 1.1 sau đây tóm tắt nội dung, phương pháp tính cũng như ý nghĩa củatừng tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp Các nộidung chi tiết xem tại Phụ lục số 1
Bảng 1.1: Tổng hợp các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý vốn lưu động
2 Ch ỉ tiêu đánh giá khả năng
2.2 Hệ số thanh toán nhanh (quick
ratio)
Mục 2, Phụlục 1
Thước đo về khả năng trả nợ ngay,không dựa vào việc phải bán cácloại vật tư hàng hóa tồn kho
2.3 Hệ số thanh toán tức thời (Cash
Ratio)
Mục 2, Phụlục 1
Thể hiện mối quan hệ giữa tài sản cókhả năng thanh toán ngay lập tức vàthanh toán trực tiếp (như tiền mặt,chứng khoán bán được ngay) với cáckhoản nợ hiện hành
2.4 Hệ số khả năng thanh toán lãi
vay
Mục 2, Phụlục 1
Đo lường khả năng sử dụng lợinhuận thu được từ quá trình kinhdoanh để trả lãi các khoản mà doanhnghiệp đã vay
3 Ch ỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử
d ụng vốn lưu động trong doanh
nghi ệp
3.1 Số vòng quay vốn lưu động ròng Mục 3, Phụ
lục 1
Phản ánh vốn lưu động ròng trong
kỳ quay được bao nhiêu lần (vòng)
để tạo ra doanh thu
Trang 393.2 Thời gian luân chuyển vốn lưu
động
Mục 3, Phụlục 1
Số ngày cần thiết của một vòngquay vốn lưu động
3.3 Số vòng quay hàng tồn kho Mục 4, Phụ
lục 1
Số lần mà hàng hóa tồn kho bìnhquân luân chuyển trong kỳ
3.4 Số ngày một vòng quay HTK Mục 4, Phụ
lục 1
Bao nhiêu ngày một vòng quay HTK
3.5 Số vòng quay khoản phải thu Mục 4, Phụ
lục 1
Phản ánh tốc độ chuyển đổi cáckhoản phải thu thành tiền mặt
3.6 Số ngày một vòng quay khoản
phải Thu
Mục 4, Phụlục 1
Số ngày cần thiết để thu hồi đượckhoản phải thu
3.7 Số vòng quay khoản phải trả Mục 4, Phụ
lục 1
Phản ánh tốc độ thanh toán cáckhoản phải trả
3.8 Số ngày một vòng quay khoản
phải trả
Mục 4, Phụlục 1
Số ngày cần thiết để thu hồi đượckhoản phải trả
4 Chu k ỳ chuyển hóa tiền mặt
(Cash conversion cycle)
Mục 5, Phụlục 1
Thời gian để doanh nghiệp chuyểnhóa nguyên vật liệu, khoản phải thu
và khoản phải trả thành tiền mặt
Nguồn: Nguyễn Thu Thủy, 2011
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý vốn lưu động tại doanh nghiệp bán lẻ
1.4.1 Các y ếu tố khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý vốn lưu động
Các yếu tố khách quan chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý vốn lưu độngbao gồm yếu tố kinh tế vĩ mô và các rủi ro: rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động và cácrủi ro, bất khả kháng khác
- Thứ nhất, yếu tố về cơ chế quản lý và các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô
của Nhà nước: Khi Nhà nước có sự thay đổi chính sách, hệ thống pháp luật về điềukiện kinh doanh, thuế,… sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình hoạt động củadoanh nghiệp và tất yếu vốn của doanh nghiệp cũng sẽ bị ảnh hưởng Nếu các chínhsách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ban hành tạo được cho doanh nghiệp một môi
trường đầu tư thuận lợi và ổn định thì sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển
và đạt hiệu quả kinh doanh cao Ngược lại, môi trường kinh doanh không thuận lợi
sẽ làm cho doanh nghiệp khó khăn trong kinh doanh Bất kỳ sự thay đổi nào trong
cơ chế quản lý và chính sách kinh tế của Nhà nước cũng có thể gây ra những ảnhhưởng nhất định tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Thứ hai, yếu tố về lạm phát: Do ảnh hưởng của nền kinh tế có lạm phát, sức
mua của đồng tiền bị giảm sút, làm cho vốn lưu động trong doanh nghiệp bị giảmdần theo tốc độ trượt giá của đồng tiền nội tệ
Trang 40- Thứ ba, yếu tố về rủi ro: Khi tham gia kinh doanh trong nền kinh tế thị
trường, doanh nghiệp luôn có nguy cơ gặp rủi ro thị trường khi thị trường có nhiều
thành phần kinh tế tham gia, thị trường không ổn định về lãi suất, tỷ giá, giá chứngkhoán và giá hàng hóa trên thị trường; rủi ro hoạt động do quy trình nội bộ không
đầy đủ, hoặc sai sót, sự cố hệ thống hoặc các yếu tố bên ngoài,…Ngoài ra, doanh
nghiệp còn gặp phải những rủi ro, bất khả kháng do thiên tai, hoả hoạn, bão lũ, cũng có thể gây ra tình trạng mất vốn kinh doanh nói chung và VLĐ nói riêng
- Cuối cùng, các yếu tố vĩ mô khác: tính ổn định chính trị, đặc điểm dân số,
khí hậu, mùa vụ… tất cả đều có tác động trực tiếp tới hoạt động quản lý vốn lưu
động và các chính sách khác của doanh nghiệp Và tùy vào từng ngành nghề, mức
độ tác động sẽ khác nhau Chẳng hạn, quý IV hàng năm nhu cầu tiêu thụ xe ô tô củangười dân tăng cao để phục vụ đi lại dịp tết cổ truyền sẽ khiến cho các doanh
nghiệp bán lẻ ô tô có xu hướng tăng cường hàng tồn kho
1.4.2 Các y ếu tố chủ quan ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý vốn lưu động
Đây là những yếu tố có tính chất quyết định đến hiệu quả quản lý vốn nói
chung và vốn lưu động nói riêng trong doanh nghiệp
- Quy mô, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp: Doanh nghiệp có quy mô cànglớn thì việc quản lý hoạt động của doanh nghiệp càng phức tạp Do lượng vốn sửdụng nhiều nên cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp càng chặt chẽ thì sản xuất cànghiệu quả Khi quản lý sản xuất được quản lý quy củ thì sẽ tiết kiệm được chi phí vàthu lợi nhuận cao Công cụ chủ yếu để theo dõi quản lý hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp là hệ thống kế toán tài chính Công tác kế toán thực hiện tốt sẽ đưa racác số liệu chính xác giúp cho lãnh đạo nắm được tình hình tài chính của doanhnghiệp, từ đó đưa ra được các quyết định đúng đắn, kịp thời
- Trình độ tổ chức quản lý của lãnh đạo: Vai trò của người lãnh đạo trong tổchức sản xuất kinh doanh là rất quan trọng Sự điều hành quản lý phải kết hợp đượctối ưu các yếu tố sản xuất, giảm chi phí không cần thiết, đồng thời nắm bắt được cơhội kinh doanh, đem lại sự phát triển cho doanh nghiệp
- Sự chính xác trong việc xác định nhu cầu VLĐ trong doanh nghiệp rất quantrọng Nếu công việc này thiếu tính chính xác sẽ dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu