1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách chống chuyển giá đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) ở Việt Nam

110 117 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp so sánh Phương pháp này được sử dụng để đối chiếu các quy định trong hệ thống pháp luật của Việt Nam với các quy định của OECD và một số quốc gia khác về chính sách thuế, p

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHÍNH SÁCH CHỐNG CHUYỂN GIÁ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC

NGOÀI (FDI) Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

NGUYỄN THỊ NGÂN

Hà Nội – 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHÍNH SÁCH CHỐNG CHUYỂN GIÁ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC

NGOÀI (FDI) Ở VIỆT NAM

Ngành: Tài chính – Ngân hàng – Bảo hiểm Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 8340201

Họ và tên: Nguyễn Thị Ngân Người hướng dẫn Khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Lan

Hà Nội – 2019

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Chính sách chống chuyển giá đối với các Doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của

riêng cá nhân tôi Các số liệu trích dẫn nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực Các kết quả nghiên cứu của luận văn chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nào

Hà Nội, ngày 30 tháng 03 năm 2019

Nguyễn Thị Ngân

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các Quý thầy cô Khoa Tài chính- Ngân hàng và Khoa Sau Đại Học - Trường Đại học Ngoại thương đã tận tâm giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường Đặc biệt,

tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Thị Lan đã tận tình chỉ bảo, hướng

dẫn cho tôi hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày 30 tháng 03 năm 2019

Nguyễn Thị Ngân

Trang 5

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂNError! Bookmark not defined PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CHỐNG CHUYỂN GIÁ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI (FDI) 7 1.1 Tổng quan về chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) 7

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp FDI 7

1.1.2 Chuyển giá trong doanh nghiệp FDI 9

1.2 Chính sách chống chuyển giá 18

1.2.1 Khái niệm 18

1.2.2 Các biện pháp chống chuyển giá của OECD – cơ sở để hoạch định chính sách chống chuyển giá (7 biện pháp) 19

1.2.3 Nội dung của chính sách chống chuyển giá 27

1.3 Nghiên cứu chính sách chống chuyển giá của một số nước và bài học cho Việt Nam 29

1.3.1 Chính sách chống chuyển giá của một số nước 29

1.3.2 Bài học cho Việt Nam 37

CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH CHỐNG CHUYỂN GIÁ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP FDI Ở VIỆT NAM 42

2.1 Thực trạng chuyển giá của các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam 42

2.1.1 Thực trạng chung về chuyển giá của các doanh nghiệp FDI 42

2.1.2 Nguyên nhân của tình trạng chuyển giá tràn lan của FDI 54

2.2 Thực trạng chính sách chống chuyển giá đối với các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam 58

2.2.1 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật 58

2.2.2 Thực thi pháp luật liên quan đến chuyển giá 65

Trang 6

iv

2.2.3 Đánh giá chính sách chống chuyển giá 70

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH CHỐNG CHUYỂN GIÁ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP FDI Ở VIỆT NAM 82

3.1 Dự báo xu hướng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam 82

3.2 Một số giái pháp hoàn thiện chính sách chống chuyển giá 85

3.2.1.Trong quá trình xây dựng và thực thi các chính sách chống chuyển giá, cần thống nhất quan điểm sau 85

3.2.2 Hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến vấn đề chuyển giá 86

3.2.3 Hoàn thiện chính sách thuế 87

3.2.4 Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra; tập trung vào các đối tượng có nguy cơ chuyển giá cao 89

3.2.5 Hoàn thiện cơ chế “Thoả thuận trước về xác định giá” (APA) để nâng cao khả năng áp dụng APA vào Việt Nam 89

3.2.6 Xây dựng cơ sở dữ liệu để phục vụ công tác kiểm soát định giá chuyển giao 92

3.2.7 Một số biện pháp khác mang tính hỗ trợ 94

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 7

v

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Thống kê một số trường hợp khai tăng giá trị tài sản góp vốn 43 Bảng 2.2 Thống kê chi phí bản quyền của Công ty Liên doanh Nhà máy Bia

Việt Nam 46

Bảng 2.3: So sánh mức thuế TNDN của Việt Nam với mức trung bình của khu vực và thế giới 54 Bảng 2.4.Thuế suất thuế TNDN của Việt Nam so với các nước 55 Bảng 2.5: Sự thay đổi của Nghị định 20/2017/NĐ – CP về phân tích so sánh và điều chỉnh giá giao dịch liên kết 64 Bảng 2.6: Kết quả thanh tra giá chuyển giao từ năm 2012 đến 2017 70 Bảng 2.7: Sự thay đổi các hướng dẫn định giá chuyển giao 71

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.1: Tỷ lệ % các doanh nghiệp FDI sử dụng đầu vào trong nước 56 Hình 3.1: FDI thực hiện trung bình giai đoạn trước và sau năm 2007 82 Hình 3.2: Số vốn FDI đăng ký cấp mới và số dự án cấp mới 83

Trang 8

vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 APA Advance Pricing Arragements - Thỏa thuận trước về xác

định giá

2 ALP Arm's Length Priciple – Nguyên tắc căn bản giá thị trường

Phương pháp so sánh giá thị trường tự do

5 FDI Foreign Direct Investment- Đầu tư trực tiếp nước ngoài

8 IRS Internal Revenue Service - Cơ quan thuế nội địa Hoa Kỳ

9 MNCs Multinational Corporation – Công ty đa quốc gia

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Trang 9

vii

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN

Luận văn tập trung làm rõ thực trạng chính sách chống chuyển giá đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) ở Việt Nam, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách chống chuyển giá này

Trong nội dung luận văn:

Chương 1 Tập trung làm rõ những cơ sở lý luận về chính sách chống chuyển giá Bước đầu tiếp cận những kiến thức tổng quan về các doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài (FDI) như khái niệm, đặc điểm, cũng như tìm hiểu cơ sở lý luận về chuyển giá (một số dấu hiệu, động cơ, phương thức, hậu quả của chuyển giá) Thông quá việc nghiên cứu chính sách chống chuyển giá của một số nước như Anh,

Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan mà rút ra được những bài học kinh nghiệm hữu ích giúp một nước đi sau như Việt Nam có thể tham khảo, học hỏi trong việc hoạch định chính sách chống chuyển giá phù hợp với các hướng dẫn của OECD cũng như thực tiễn Việt Nam

Chương 2 Luận văn làm rõ thực trạng chuyển giá của các doanh nghiệp FDI hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam thông qua việc phân tích một số trường hợp chuyển giá điển hình, các thủ thuật chuyển giá mà các doanh nghiệp FDI thường hay sử dụng, cũng như đi sâu vào tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng kinh tế này Luận văn cũng đi sâu tìm hiểu thực trạng chính sách chống chuyển giá ở Việt Nam Từ việc ban hành các quy định pháp luật để ứng phó với chuyển giá, đến việc thực thi pháp luật, thực thi chính sách Qua đó nhận thấy rõ những thành tựu, những mặt đạt được cũng như những hạn chế, bất cập của chính sách, hiểu rõ nguyên nhân của những bất cập ấy

Chương 3 Dự báo xu hướng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, đồng thời đưa

ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách chống chuyển giá Cụ thể như việc

sớm ban hành “Luật chống chuyển giá”; hoàn thiện cơ chế “Thoả thuận trước về

xác định giá” (APA); Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quá trình thanh tra kiểm soát hoạt động chuyển giá … cùng với một số giải pháp hỗ trợ khác

Trang 10

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Quá trình toàn cầu hoá đang thúc đẩy mạnh mẽ sự hội nhập của các nước vào nền kinh tế thế giới và khu vực Có thể nói, hiện nay hầu như không có quốc gia nào đứng ngoài quá trình hội nhập quốc tế, nếu không muốn tự cô lập mình và rơi vào nguy cơ tụt hậu Trong đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động chiếm vị trí ngày càng quan trọng đối với cả nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư Các doanh nghiệp có vốn FDI hoạt động ở Việt Nam có nguồn gốc xuất xứ và lĩnh vực kinh doanh khá đa dạng, trong đó có nhiều công ty đa quốc gia lớn trên thế giới FDI trở thành một trong những nguồn cung cấp vốn quan trọng cho nền kinh

tế, là động lực thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển, tạo nên tính năng động và cạnh tranh cho thị trường

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hoạt động của khu vực doanh nghiệp FDI cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập Điển hình là trong những năm gần đây, tình hình các doanh nghiệp FDI chuyển giá tràn lan với mục đích trốn thuế, tránh thuế đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến ngân sách nhà nước, tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh với các doanh nghiệp trong nước, tác động không tốt đến mục tiêu thu hút luồng vốn này của Chính phủ

Do là nước đi sau, vẫn còn đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam gặp nhiều khó khăn vàchưa có nhiều kinh nghiệm trong việc đối phó với hành vi chuyển giá của các doanh nghiệp FDI Các giải pháp chống chuyển giá gần đây mới được triển khai, song còn thiếu đồng bộ và hiệu lực thực thi thấp Tình trạng nhiều doanh nghiệp có vốn FDI khai lỗ liên tục nhưng vẫn mở rộng quy mô và doanh thu vẫn tăng đều là điều khó hiểu và đôi lúc cơ quan chức năng gần như bất lực trước tình trạng chuyển giá được cho là ngày càng phổ biến

Xuất phát từ tình hình nêu trên, việc sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát và ứng phó với hành vi chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI (gắn liền với hoạt động của các tập đoàn đa quốc gia) đã trở thành vấn đề cấp thiết, ưu tiên

Trang 11

2

hàng đầu Cũng chính vì vậy, em đã lựa chọn vấn đề “Chính sách chống chuyển

giá đối với các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) ở Việt Nam ” làm

đề tài nghiên cứu của mình

2 Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Những nghiên cứu ở nước ngoài

- Nghiên cứu của tác giả King, Elizabeth (1993) về “Transfer Pricing and Valuation in Corporate Taxation Federal Legislation vs Administrative Practice”, Nxb Kluwer Academic Publishers Nghiên cứu tập trung vào vấn đề luật pháp liên bang (cụ thể là nghiên cứu tại Hoa Kỳ) cũng như sự thực thi tại các bang của nước

Mỹ trong vấn đề chuyển giá và định giá trong thuế doanh nghiệp

- Nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD “Transfer Pricing Guidelines for Multinational Enterprises and Tax Administrations” (năm 2001) đã hướng dẫn chi tiết và đầy đủ các phương pháp về định giá chuyển giao, là

cơ sở để nhiều quốc gia thiết lập các công cụ kiểm soát hoạt động chuyển giá qua định giá chuyển giao

- Nghiên cứu của Bernard và các cộng sự trên NBER Working Paper (2006) với bài viết “Transfer pricing by US – based Multinational Firms” đã chỉ ra rằng, các công ty đa quốc gia có thể sử dụng đòn bẩy tài chính, đòn bẩy kinh doanh để thực hiện gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp bằng cách cho các công ty con tại các quốc gia khác nhau vay vốn (chuyển giá qua cho vay tài chính)

- Nghiên cứu của hai tác giả Feinschreiber, Robert và Kent, Margaret Pacific Transfer Pricing Handbook” (2012), đã làm rõ cách thức chuyển giá tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương Tác giả đánh giá chính sách kiểm soát, chống chuyển giá của một số quốc gia trong khu vực, trong đó nổi lên vấn đề thiếu các quy định rõ ràng và thiếu luật kiểm soát hay chống chuyển giá

“Asia Các tác giả Feinschreiber, Robert và Kent, Margaret với “Transfer Pricing Handbook: Guidance for the OECD Regulations” (2012), Nxb Wiley, đã diễn giải chi tiết, cụ thể hơn tài liệu hướng dẫn của OECD về việc định giá chuyển giao Ngoài ra, các tác giả còn chỉ ra mối liên hệ giữa chuyển giá và cách thức quản trị, quản lý của nhà nước

Trang 12

3

- Nghiên cứu của tác giả Kratzer, Carsten và Blesgen, Martin “Transfer Pricing in Germany: Translation of important law and regulations” (2012), Nxb Verlag Dr Otto Schmidt, đã đi sâu phân tích, tìm hiểu và đánh giá về vấn đề chuyển giá trong các công ty đa quốc gia, các chi nhánh công ty nước ngoài tại CHLB Đức

- E Baistrocchi và I.Roxan (2012) với nghiên cứu “Resolving Transfer Pricing Disputes: Global Analysis”, Nxb Cambridge University Press Tác giả đã đi sâu vào phân tích 180 trường hợp chuyển giá từ 20 khu vực pháp lý đại diện toàn cầu, nêu rõ cách thức giải quyết tranh chấp chuyển giá, giải thích pháp luật về chuyển giá như thế nào trong thực tế và xem xét tranh chấp giữa người nộp thuế và

cơ quan thuế

Những nghiên cứu ở trong nước

- Bộ Tài chính (2011) với ‘Tài liệu tham khảo kinh nghiệm quốc tế về quản

lý thuế” Tài liệu đề cập kinh nghiệm của các nước như Hàn Quốc, Anh, New Zealand, Canada, Australia về một số vấn đề liên quan đến chuyển giá và kiểm soát chuyển giá, về kinh nghiệm áp dụng phương pháp thỏa thuận trước về giá APA của các quốc gia và rút ra bài học cho Việt Nam

- NCS Dương Văn An (2016) với “Chuyển giá trong doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) – Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Kinh tế tại Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, đã góp phần bổ sung, hoàn thiện thêm một số lý thuyết về chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI; tổng hợp, cung cấp nguồn tư liệu có độ tin cậy về thực trạng chuyển giá ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam

- NCS Lê Thanh Hà (2017) với “ Kiểm soát hoạt động chuyển giá trong các chi nhánh công ty đa quốc gia tại việt nam”, Luận án tiến sĩ Kinh tế tại Học viện Tài chính Luận án đã có những phân tích cơ bản về công ty đa quốc gia; làm rõ thực trạng chuyển giá tại một số quốc gia trên thế giới cũng như tại Việt Nam; chỉ ra cách thức mà các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam đang áp dụng trong công tác kiểm soát chuyển giá đề xuất một số giải pháp kiểm soát chuyển giá tại Việt Nam

- Nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan với“ Nhận diện các thủ đoạn trốn thuế tránh thuế của các công ty đa quốc ga hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam“ (2016),

Trang 13

4

Nxb Bách Khoa Hà Nội Tác giả là làm rõ động cơ, những thủ đoạn trốn thuế, tránh thuế của các công ty đa quốc gia hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Nghiên cứu đề cập đến những kinh nghiệm quốc tế trong việc chống chuyển giá, đồng thời đưa ra quan điểm, giải pháp nhằm hạn chế thực trạng chuyển giá tràn lan hiện nay

- Nghiên cứu “Kinh nghiệm chống chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI của Cục Thuế Lâm Đồng” của tác giả Nguyễn Trọng Thoan trên tạp chí Tài chính

2011, số 5 Bài viết của tác giả đã đưa ra những kinh nghiệm quý báu của địa phương này trong việc phát hiện các dấu hiệu cũng như đấu tranh với các hành vi gian lận về giá

- Tác giả Nguyễn Văn Phụng với nghiên cứu “Cuộc chiến chống chuyển giá

và khả năng vào cuộc của cơ quan kiểm toán nhà nước” đăng trên Tạp chí Kiểm toán cuối tháng, số 3 năm 2013 Tác giả trình bày quan niệm về chuyển giá và gian lận giá; đưa ra một số nhận diện bước đầu về chuyển giá ở Việt Nam; tổng hợp các quy định pháp luật về kiểm soát chuyển giá; đề xuất kiểm toán nhà nước tham gia đấu tranh kiểm soát chuyển giá

- Nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhung với “Vấn đề chuyển giá của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Tài chính Tiền tệ

số 10 năm 2015 Bài báo đã đưa ra quan điểm của tác giả về bản chất và động cơ thúc đẩy các doanh nghiệp FDI thực hiện chuyển giá; cùng với đó đã có được những nét khái quát về thực trạng chuyển giá cũng như thực trạng kiểm soát chuyển giá tại Việt Nam

Tóm lại: Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đã có khá nhiều công trình

nghiên cứu liên quan đến vấn đề chuyển giá với nhiều cách tiếp cận, mục tiêu, phương pháp nghiên cứu khác nhau, bao gồm các vấn đề về lý luận và thực tiễn, nhằm làm rõ khái niệm, đặc điểm, phương thức chuyển giá; thực trạng hoạt động chuyển giá, kiểm soát chuyển giá; các giải pháp nhằm hạn chế thực trạng chuyển giá; nghiên cứu kinh nghiệm chuyển giá của một số nước Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào chỉ đi sâu vào phân tích, đánh giá chính sách kiểm soát và ứng phó

với hành vi chuyển giá ở Việt Nam Chính vì thế em đã chọn vấn đề “ Chính sách

chống chuyển giá đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) ở Việt Nam” làm đề tài luận văn của mình

Trang 14

5

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu thực trạng chính sách chống chuyển giá đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam Đánh giá những thành tựu, những mặt đạt được cũng như những mặt hạn chế của chính sách chống chuyển giá

mà Việt Nam đang áp dụng Qua đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách chống chuyển giá, nâng cao khả năng ứng phó với hành vi chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI ở Việt, hạn chế những tác động tiêu cực của hiện tượng này đối với Việt Nam

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Luận văn đề cập tới nhiều vấn đề từ lý luận tổng quan về công ty có vốn đầu

tư nước ngoài, về lý thuyết chuyển giá đến tìm hiểu thực trạng chuyển giá và chính sách chống chuyển giá ở Việt Nam Đối tượng nghiên cứu mà luận văn hướng đến

là chính sách chống chuyển giá của chính phủ nhằm hạn chế thực trạng chuyển giá tràn lan của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Luận văn đã nghiên cứu, phân tích về thực trạng chuyển giá trên phạm vi toàn quốc Tập trung tìm hiểu những thông tư, nghị định, những văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành của chính phủ nhằm hạn chế thực trạng chuyển giá

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu về việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và triển khai thực thi pháp luật nhằm kiểm soát hoạt động chuyển giá trong giai đoạn từ khi Việt Nam mở cửa đón nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài cho đến thời điểm hiện tại

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu Cụ thể:

Phương pháp thu thập và xử lý thông tin

Trang 15

6 Luận văn chủ yếu sử dụng nguồn tài liệu thứ cấp đã được công bố, có độ tin cậy cao như kết luận thanh tra một số doanh nghiệp FDI; các báo cáo, đề án của Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Tổng cục Thuế và cơ quan thuế của một số địa phương; Luận án Tiến sỹ, các bài báo khoa học có liên quan đến vấn đề chuyển giá

Phương pháp phân tích

Phương pháp này được sử dụng để phân tích các số liệu liên quan đến hoạt

động mua bán hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ… của các trường hợp doanh nghiệp FDI

có hành vi chuyển giá được nêu trong Luận văn, để làm rõ các thủ thuật chuyển giá của các doanh nghiệp này

Phương pháp so sánh

Phương pháp này được sử dụng để đối chiếu các quy định trong hệ thống pháp

luật của Việt Nam với các quy định của OECD và một số quốc gia khác về chính sách thuế, phương pháp định giá chuyển giao nội bộ cũng như các vấn đề khác có liên quan Cùng với đó, phương pháp so sánh cũng được sử dụng để đối chiếu, phân tích sự thay đổi của các quy định pháp luật về định giá chuyển giao tại Việt Nam qua các thời kỳ, phân tích nhằm chỉ rõ ưu nhược điểm của từng quy định

Trang 16

Theo khái niệm của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF(1997):

FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp

Theo Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó

Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là các doanh nghiệp

có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn của bên nước ngoài góp là bao nhiêu

Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài bao gồm:

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Là doanh nghiệp thuộc sở hữu hoàn toàn của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài) do nhà đầu

tư nước ngoài thành lập tại nước tiếp nhận đầu tư, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm

về kết quả sản xuất kinh doanh, chịu sự kiểm soát theo luật pháp của nước tiếp nhận

Trang 17

8 đầu tư Hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài thường được các chủ đầu tư lựa chọn

vì họ được toàn quyền quản lý và hưởng lợi nhuận do kết quả đầu tư tạo ra

- Doanh nghiệp liên doanh: Là hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế do hai chủ thể hoặc nhiều hơn các chủ thể nước ngoài cùng hợp tác với một nước chủ nhà trên cơ sở góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ

lệ góp vốn Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty TNHH,

có tư cách pháp nhân theo luật pháp của nước nhận đầu tư

1.1.1.2 Đặc điểm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

- Các doanh nghiệp FDI thường là thành viên của các công ty đa quốc gia (công ty mẹ đặt tại một quốc gia và các công ty con được thành lập ở nhiều nơi trên thế giới) Đặc điểm này khiến cho mối liên kết giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bộ phận khác của công ty đa quốc gia tương đối chặt chẽ và phức tạp Vì vậy, khiến cho các cơ quan chức năng của ta khó tập trung quản lý, việc can thiệp và kiểm soát các giao dịch tương đối khó khăn

- Quyền quản lý doanh nghiệp FDI phụ thuộc vào mức độ góp vốn Đối với doanh nghiệp liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh thì quyền quản lý doanh nghiệp và quản lý đối tượng hợp tác tuỳ thuộc vào mức góp vốn của các bên khi tham gia, còn đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì chủ đầu tư toàn quyền quản lý doanh nghiệp

- Các doanh nghiệp FDI trong quá trình đầu tư, tiến hành sản xuất kinh doanh vào nước khác thường sử dụng nguồn nguyên liệu, dây truyền công nghệ từ chính quốc nên rất phức tạp trong việc xác định được giá trị thị trường trong quá trình góp vốn liên doanh ảnh hưởng đến việc xác định chi phí

- Sản phẩm được sản xuất ra thường chịu sự chi phối, bao tiêu của công ty mẹ nên gây cản trở cho các cơ quan chức năng trong việc xác định doanh thu

Tóm lại: Chính từ thực tế đặc thù của doanh nghiệp FDI, để có thể chủ động

trong việc quản lý, kiểm soát một cách chặt chẽ và có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp thì các cơ quan chức năng cần có những biện pháp cụ thể, có sự tính toán chặt chẽ và lâu dài

Trang 18

9

1.1.2 Chuyển giá trong doanh nghiệp FDI

1.1.2.1 Khái niệm

Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch

vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia trên toàn cầu

Như vậy, chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết Hành

vi ấy có đối tượng tác động chính là giá cả Sở dĩ giá cả có thể xác định lại trong những giao dịch như thế xuất phát từ ba lý do sau:

Thứ nhất, xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể

hoàn toàn có quyền quyết định giá cả của một giao dịch Do đó họ hoàn toàn có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn

Thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết

nên sự khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục

Thứ ba, việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong

nhóm liên kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của họ Thông qua việc định giá chuyển giao, nghĩa vụ thuế được chuyển từ có thuế suất cao sang nước có thuế suất thấp hơn và ngược lại Tồn tại sự khác nhau về chính sách thuế của các quốc gia là điều không tránh khỏi do chính sách kinh tế - xã hội của họ không thể đồng nhất, cũng như sự hiện hữu của các quy định ưu đãi thuế là điều tất yếu Chênh lệch mức độ điều tiết thuế vì thế hoàn toàn

có thể xảy ra

Vì vậy, chuyển giá chỉ có ý nghĩa đối với các giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể có mối quan hệ liên kết Để làm điều này họ phải thiết lập một chính sách về giá mà ở đó giá chuyển giao có thể được định ở mức cao hay thấp tùy vào lợi ích đạt được từ những giao dịch liên kết Như thế, vô hình chung, chuyển giá đã

Trang 19

10 gây ra sự bất bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế do xác định không chính xác nghĩa vụ thuế, dẫn đến bất bình đẳng về lợi ích, tạo ra sự cách biệt trong ưu thế cạnh tranh

Hành vi này chỉ có thể được thực hiện thông qua giao dịch của các chủ thể có quan hệ liên kết Biểu hiện cụ thể của hành vi là định giá chuyển giao Nhưng việc định giá chuyển giao chưa đủ để kết luận rằng chủ thể đã thực hiện hành vi chuyển giá Bởi lẽ nếu giao kết đó chưa thực hiện trên thực tế hoặc chưa có sự chuyển dịch quyền đối với đối tượng giao dịch thì không có cơ sở để xác định sự chuyển dịch về mặt lợi ích Như vậy, ta có thể xem chuyển giá hoàn thành khi có sự chuyển giao đối tượng giao dịch cho dù đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán hay chưa

1.1.2.2 Một số dấu hiệu nhận biết chuyển giá

Khi thực hiện các phương pháp chống chuyển giá, điều mà cơ quan thuế quan tâm trước hết là làm sao nhận biết được tại một doanh nghiệp có quan hệ liên kết nào đó có tồn tại hiện tượng chuyển giá hay không? Đây là một vấn đề vô cùng khó khăn, phức tạp trong thực tế và thậm chí đôi khi nó chịu tác động chủ quan bởi cán

bộ quản lý thuế Do đó, đứng trên quan điểm khách quan, một số dấu hiệu cho thấy

có thể tồn tại hiện tượng chuyển giá trong một doanh nghiệp có quan hệ liên kết là:

- Các doanh nghiệp bị lỗ trong 2 năm liên tiếp trở lên, sau giai đoạn mới thành lập;

- Có các nghiệp vụ chuyển giao từ các doanh nghiệp liên kết ở những quốc gia

Trang 20

11

Ở đây cũng xin lưu ý những dấu hiệu nêu trên chỉ mang tính chất tham khảo chứ không phải là chắc chắn sẽ có chuyển giá trong những doanh nghiệp có những dấu hiệu đó Tuy nhiên, khi một trong những dấu hiệu trên xuất hiện tại một doanh nghiệp kèm theo những trường hợp như: thiết bị sản xuất của doanh nghiệp đó được mua từ công ty mẹ ở nước ngoài; nguyên liệu hoặc các bộ phận của sản phẩm được cung cấp bởi các công ty mẹ hoặc các công ty liên kết trong cùng một tập đoàn hay sản phẩm của doanh nghiệp được bán cho công ty mẹ hoặc những doanh nghiệp liên kết khác, thì khả năng xảy ra hiện tượng chuyển giá là rất cao

1.1.2.3 Những động cơ thúc đẩy doanh nghiệp FDI chuyển giá

a Động cơ bên ngoài:

Sự khác biệt về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp

Khi hai quốc gia có sự khác biệt lớn trong thuế suất thuế TNDN, để tối đa hóa lợi nhuận, các công ty có vốn nước ngoài sẽ tiến hành hành vi chuyển giá nhằm tối thiểu hóa khoản thuế mà các công ty này phải nộp Khi có chênh lệch về thuế suất thì phương thức chuyển giá mà các công ty này thường sử dụng đó là nâng giá mua đầu vào các nguyên liệu, vật liệu, hàng hóa Bằng cách thực hiện này thì các doanh nghiệp FDI đã chuyển một phần lợi nhuận từ quốc gia có thuế suất thuế TNDN cao sang quốc gia có thuế suất thuế TNDN thấp và như vậy mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận đã được thực hiện thành công

Mục đích bảo tồn vốn trước những rủi ro hối đoái

Nếu Các doanh nghiệp FDI dự đoán rằng trong tương lai đồng tiền của nước

sở tại sẽ mạnh lên nghĩa là số vốn đầu tư ban đầu của họ được bảo toàn và phát triển, ngược lại họ sẽ rút đầu tư nếu họ dự đoán rằng trong tương lai đồng tiền của nước sở tại bị yếu đi nghĩa là vốn đầu tư ban đầu của họ bị giảm đi Dựa trên các dự báo về tình hình tỷ giá mà các doanh nghiệp FDI có thể thực hiện các khoản thanh toán nội bộ sớm hơn hay muộn hơn nhằm giảm rủi ro về tỷ giá Các khoản công nợ

có thể được thanh toán sớm hơn nếu các dự báo cho rằng đồng tiền của nước sở tại

bị mất giá Và ngược lại các khoản thanh toán sẽ bị lùi lại nếu dự báo cho rằng đồng tiền của nước đó có xu hướng mạnh lên

Trang 21

12

Vì thế, khi mà tỷ lệ lạm phát của quốc gia nơi doanh nghiệp FDI đầu tư cao, đồng tiền ở nước này có xu hướng mất giá một cách tương đối so với nguyên tệ, nhà đầu tư nước ngoài thường có động cơ chuyển nhanh lợi nhuận về nước Khi này, chuyển giá có thể được lựa chọn như là một kênh để chuyển lợi nhuận và có thể thu được mối lợi “kép” khi vừa giảm được nghĩa vụ thuế, vừa hạn chế được khoản thiệt hại do rủi ro tỷ giá

Bảo tồn vốn trước những tác động bất lợi kinh tế, chính trị ở nước tiếp nhận đầu tư

Những biến động trong tình hình kinh tế, chính trị của quốc gia nơi doanh nghiệp FDI đầu tư cũng thúc đẩy doanh nghiệp FDI chuyển giá nhằm thu hồi vốn đầu tư nhanh hơn, tránh những rủi ro phát sinh sau này Những thay đổi về chính sách kinh tế hoặc biến động về chính trị sẽ có tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, quyền lợi của doanh nghiệp FDI Thực hiện chuyển giá sẽ giúp doanh nghiệp FDI giảm thiểu những tác động tiêu cực, bảo tồn vốn kinh doanh Ngoài ra hoạt động chuyển giá sẽ góp phần giảm áp lực đòi tăng lương của lực lượng lao động, cũng như giảm sự chú ý của các cơ quan thuế của nước sở tại do tình trạng kinh doanh thua lỗ

b Động cơ bên trong:

Tối đa lợi nhuận xét trên lợi ích toàn cầu

Tập đoàn đa quốc gia (MNCs) thực chất là một nhóm các doanh nghiệp liên kết thực hiện hoạt động kinh doanh ở hai hay nhiều nước Quan hệ liên kết được triển khai khi một công ty ban đầu (được xem là công ty mẹ) mở rộng địa bàn kinh doanh của mình bằng cách đầu tư ra bên ngoài để thành lập các công ty (kể cả dưới hình thức công ty liên doanh) hay chi nhánh ở các nước khác Với nước tiếp nhận đầu tư, đây chính là các doanh nghiệp FDI Như vậy, doanh nghiệp FDI, với tư cách

là một công ty thành viên của một tập đoàn đa quốc gia, có đủ điều kiện để thực hiện hành chuyển giá Khi hai quốc gia có sự khác biệt lớn trong thuế suất thuế TNDN để tối đa hóa lợi nhuận, các công ty đa quốc gia sẽ tiến hành hành vi chuyển giá nhằm tối thiểu hóa khoản thuế mà các công ty này phải nộp

Trang 22

13 Nhìn chung, đây là động cơ mạnh nhất dẫn dắt các hành vi chuyển giá Thông qua chuyển giá, doanh nghiệp FDI chuyển một phần lợi nhuận của mình sang bên liên kết hoạt động ở nơi có thuế suất thuế TNDN thấp hơn hay ở các “thiên đường thuế” Lúc này doanh nghiệp FDI ‘rơi” vào trạng thái “thua lỗ” hay “lãi thấp” Nhờ đó, nó giảm được số tiền thuế phải nộp cho nước chủ nhà và xét toàn cục, tập đoàn sẽ gia tăng được lợi nhuận của mình trên cơ sở làm giảm lợi ích của các chủ thể khác

Thâu tóm doanh nghiệp góp vốn liên doanh

Khi doanh nghiệp FDI tồn tại dưới hình thức liên doanh, trong đó một phần vốn sở hữu của doanh nghiệp thuộc về các cổ đông bên ngoài (của nước tiếp nhận đầu tư hay đối tác khác bên ngoài tập đoàn) thì việc chuyển giá thông qua hành vi nâng giá các tài sản (máy móc, thiết bị, bí quyết công nghệ, thương hiệu…) được dùng để góp vốn thành lập doanh nghiệp sẽ giúp cho chủ đầu tư nước ngoài gia tăng được tỷ trọng vốn góp của mình, qua đó tăng cường sức mạnh và tiếng nói của họ trong việc điều hành doanh nghiệp, cũng như gia tăng phần lợi nhuận được chia trong tương lai Mặt khác, với phương thức chuyển giá, chủ đầu tư có thể làm cho doanh nghiệp FDI bị thua lỗ (lỗ giả) Khi các khoản lỗ được tích lũy trong một thời gian dài, nó thậm chí có thể vượt quá giá trị vốn của doanh nghiệp Những điều này

sẽ khiến giá trị cổ phần mà các cổ đông khác sở hữu giảm hay “biến mất” Muốn tiếp tục duy trì hoạt động, doanh nghiệp buộc phải tăng vốn và khi các cổ đông nước sở tại không có khả năng về tài chính, chủ đầu tư nước ngoài sẽ thâu tóm toàn

bộ doanh nghiệp

1.1.2.4 Các hình thức chuyển giá của doanh nghiệp FDI

Chuyển giá thông qua hình thức nâng cao giá trị doanh nghiệp hay tài sản góp vốn khi thành lập mới doanh nghiệp

Hình thức này diễn ra khi nhà đầu tư nước ngoài thành lập công ty mới (như công ty 100% vốn FDI) hoặc đầu tư theo hình thức liên doanh với nước chủ nhà Để thực hiện chuyển giá, nhà đầu tư nước ngoài khai khống ở một mức cao hơn giá trị thực tài sản của doanh nghiệp mới được thành lập hoặc tài sản đưa ra góp vốn liên doanh (thường là thiết bị, máy móc hoặc các tài sản vô hình như sở hữu trí tuệ, bản quyền, thương hiệu)

Trang 23

14 Việc nâng cao giá trị tài sản góp vốn khi thành lập mới doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài sẽ giúp nhà đầu tư nước ngoài thu hồi vốn nhanh thông qua việc tăng mức khấu hao tài sản hàng năm, đồng thời giảm số thuế TNDN phải đóng cho nước tiếp nhận đầu tư, từ đó giảm được những rủi ro khi đầu tư ra nước ngoài Đối với hình thức liên doanh, việc nâng cao giá trị tài sản đem góp vốn tạo ra cho nhà đầu tư nước ngoài lợi thế về số vốn góp Mặc dù số vốn thực tế nhỏ nhưng do được khai khống nâng lên nhiều lần, giúp cho nhà đầu tư nước ngoài “bỏ ra ít, thu vào nhiều” Khi có số vốn góp chiếm ưu thế, nhà đầu tư nước ngoài gia tăng được quyền biểu quyết, gia tăng tỷ suất lợi nhuận được chia Ngược lại, vì góp vốn với giá trị thực nên bên liên doanh với nhà đầu tư nước ngoài bị thiệt hại do tỷ lệ vốn góp và những lợi ích khác tương ứng bị đánh giá thấp một cách tương đối

Chuyển giá thông qua nâng khống giá trị tài sản vô hình

Tài sản vô hình ở đây được hiểu là tài sản sở hữu trí tuệ, thương hiệu, bản quyền được sử dụng không chỉ như là một dạng tài sản vốn góp mà còn được chuyển nhượng và khai thác sau khi quá trình góp vốn kết thúc Hình thức này diễn

ra khi một bên liên kết (thường là công ty con) phải thanh toán cho các bên còn lại (thường là công ty mẹ) chi phí sử dụng sở hữu trí tuệ, thương hiệu, bản quyền với giá quá cao, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của mình, đến nổi không có lãi hoặc thậm chí lỗ Từ đó, chuyển lợi nhuận đến doanh nghiệp được quyền hưởng giá trị của tài sản vô hình

Việc định giá chính xác tài sản vô hình trong các giao dịch này hết sức khó khăn bởi bản chất của sở hữu tài sản vô hình là độc quyền nên giá chuyển nhượng tài sản vô hình là giá độc quyền, do đó khó tìm thấy một giao dịch tương đương trên thị trường để so sánh

Chuyển giá thông qua mua, bán nguyên vật liệu, bán thành phẩm

Nhiều doanh nghiệp FDI chủ yếu nhập khẩu các yếu tố đầu vào cho sản xuất của các công ty mẹ hoặc các công ty khác trong cùng hệ thống các công ty đa quốc gia Giá mua các hàng hóa, dịch vụ này thường cao hơn giá thực tế rất nhiều và bán

Trang 24

15 sản phẩm cho công ty mẹ với giá thấp dẫn đến tình trạng “ lỗ công ty con, lãi công

ty mẹ”

Việc nhập khẩu các nguyên vật liệu từ nước ngoài của các doanh nghiệp FDI cũng là một trong những nhân tố dẫn tới việc các quốc gia nhận đầu tư là có cán cân thanh toán nghiêng về nhập siêu

Chuyển giá thông qua các hình thức cung cấp dịch vụ

Do việc cung cấp dịch vụ giữa công ty mẹ với các công ty con và giữa các công ty trong tập đoàn rất khó xác định giá, một số tập đoàn đa quốc gia đầu tư vốn

và cung cấp dịch vụ quản lý và hỗ trợ quản lý cho cả tập đoàn như dịch vụ kế toán, tài chính, tư vấn, quản lý tài sản,…họ tính giá dịch vụ này rất cao để chuyển lợi nhuận từ công ty con sang công ty mẹ với mục đích tránh thuế

Chuyển giá thông qua tăng chi phí quảng cáo chiếm lĩnh thị trường:

Đây là một hình thức chuyển giá được nhiều MNCs và các doanh nghiệp FDI

sử dụng Phương thức này đặc biệt hay được sử dụng nếu doanh nghiệp FDI tồn tại dưới dạng liên doanh do phía đối tác nước ngoài nắm phần vốn chi phối

Để có thể thâm nhập thị trường và chiếm lĩnh thị phần, các doanh nghiệp FDI tăng cường các hoạt động quảng cáo, quảng bá sản phẩm Việc khai các chi phí quảng cáo với giá cao khiến các công ty này bị lỗ Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp liên doanh, các công ty đa quốc gia dựa vào tiềm lực tài chính để thực hiện hành vi chuyển giá bất hợp pháp gây ra thua lỗ kép kéo dài và chiếm lấy phần quản

lý và kiểm soát công ty Nhiều doanh nghiệp lợi dụng chính sách ưu đãi cho giảm trừ phần chi phí cho hoạt động quảng cáo, khuyến mãi nên đã tìm mọi cách kê khai

cả phần chi phí làm thương hiệu của công ty mẹ

Đây là một số hình thức chuyển giá cơ bản của các công ty đa quốc gia nhưng chắc chắn, các doanh nghiệp này còn có nhiều hình thức chuyển giá khác nữa khi

mà mô hình hoạt động của họ còn qua nhiều khâu trung gian và hoạt động chuyển giá ngày càng tinh vi

Trang 25

16

Chuyển giá thông qua cho vay trực tiếp

Chuyển giá thông qua hình thức tài trợ bằng nghiệp vụ cho vay giữa các thành viên liên kết nhằm đẩy chi phí hoạt động tài chính, như chi phí chênh lệch tỷ giá, chi phí lãi vay… của doanh nghiệp FDI lên cao, từ đó nhà đầu tư nước ngoài có thể chuyển một phần lợi nhuận về nước dưới dạng lãi vay, chi phí bảo lãnh vay vốn để tránh thuế, tránh lỗ

1.1.2.5 Hậu quả của chuyển giá

Đối với nước tiếp nhận đầu tư

- Chuyển giá theo hướng chuyển lợi nhuận đi sẽ làm cho nước sở tại mất một nguồn thu đáng kể từ nguồn thuế TNDN, vô hiệu hóa phần nào quyền đánh thuế hợp pháp của quốc gia này đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp FDI

- Chuyển giá với quy mô lớn sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kế hoạch phân bổ nguồn lực xã hội của nhà nước Điều này thể hiện ở chỗ, thuế không chỉ là nguồn thu ngân sách nhà nước mà còn là công cụ để nhà nước điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô, trong đó có kế hoạch phân bổ nguồn lực xã hội Nhà nước sử dụng công cụ thuế để khắc phục một phần các thất bại thị trường, bảo đảm cho việc phân

bổ nguồn lực đạt hiệu quả cao hơn Tuy nhiên, hành vi chuyển giá để giảm thiểu nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp FDI làm cho nhà nước gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện vai trò của mình thông qua công cụ thuế

- Trong trường hợp doanh nghiệp FDI chuyển giá thông qua việc mua nguyên liệu, thiết bị hoặc chi phí sử dụng tài sản vô hình với giá cao thì nước tiếp nhận đầu

tư sẽ mất thêm nguồn ngoại tệ và làm sai lệch cán cân thương mại Do doanh nghiệp FDI không sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước, phải nhập khẩu lượng lớn thiết bị, nguyên liệu từ nước ngoài làm nên mặc dù khu vực kinh tế FDI có xuất khẩu song nhập khẩu vẫn lớn, có thể dẫn đến nhập siêu, tác động xấu đến cán cân thương mại và cán cân vãng lai của nước chủ nhà

- Chuyển giá trong doanh nghiệp FDI sẽ dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh, thiếu bình đẳng giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước Chuyển

Trang 26

17 giá để giảm số thuế phải đóng cũng là một hình thức giảm chi phí Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp FDI bán sản phẩm của mình với giá rẻ hơn doanh nghiệp trong nước

có cùng ngành hàng hoặc thậm chí bán phá giá để cạnh tranh, lúc này cạnh tranh không bình đẳng xảy ra, doanh nghiệp trong nước bị mất thị phần, có thể bị thua lỗ, phá sản

Đối với quốc gia xuất khẩu đầu tư

- Chuyển giá làm thất thu thuế của quốc gia xuất khẩu đầu tư nếu thuế suất ở quốc gia này cao hơn thuế suất của quốc gia tiếp nhận đầu tư, làm mất cân đối trong

kế hoạch thuế của quốc gia này

- Hoạt động chuyển giá sẽ làm cho dòng vốn đầu tư dịch chuyển không theo ý muốn quản lý của Chính phủ của quốc gia xuất khẩu đầu tư, vì vậy mục tiêu quản lý kinh tế vĩ mô sẽ gặp nhiều khó khăn

- Trong dài hạn, sẽ phải đương đầu với các khó khăn tài chính do nguồn thu thuế dựa trên lợi nhuận có được từ chuyển giá không bền vững và nguồn thu này không phản ánh chính xác sức mạnh của nền kinh tế

Đối với doanh nghiệp FDI

- Doanh nghiệp FDI có khả năng bị cơ quan thuế nước sở tại xử phạt khi bị phát hiện có hành vi chuyển giá Tùy theo quy mô chuyển giá và các quy định pháp luật của từng quốc gia, sẽ có những hình thức phạt cao hoặc thấp khác nhau Ngoài

xử phạt bằng tiền, có nơi còn chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp trên địa bàn

- Với các doanh nghiệp FDI chuyển giá, kết quả hạch toán sẽ phản ánh không trung thực kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, đặt trong mối quan hệ với tập đoàn thì việc hoạch định chiến lược kinh doanh sẽ thiếu cơ sở thực tiễn tin cậy

- Thực hiện chuyển giá sẽ làm cho hoạt động tài chính của toàn tập đoàn phức tạp hơn vì chính sách thuế của mỗi quốc gia khác nhau và có sự thay đổi, dẫn đến chiến lược chuyển giá của công ty cũng phải thay đổi theo

Trang 27

18

- Hành vi chuyển giá có ảnh hưởng xấu đến uy tín của doanh nghiệp, từ đó tác động tiêu cực đến hình ảnh và kết quả tiếp cận thị trường của doanh nghiệp Trong thực tiễn, một số doanh nghiệp chuyển giá bị công chúng lên án và tẩy chay như hiện tượng của Starbucks (Anh)

1.2 Chính sách chống chuyển giá

1.2.1 Khái niệm

Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau:

“Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào

đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”

Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo

đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm” Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình

Chính sách chống chuyển giá: có thể hiểu là việc xây dựng và triển khai các

văn bản quy phạm pháp luật để kiểm soát và hạn chế hoạt động chuyển giá; Điều chỉnh giá giao dịch giữa các bên liên kết nhằm duy trì hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế, đảm bảo giao dịch giữa các bên có quan hệ liên kết phù hợp với giá thị trường

1.2.2 Các biện pháp chống chuyển giá của OECD – cơ sở để hoạch định chính sách chống chuyển giá (7 biện pháp)

Để ngăn chặn tình trạng lợi dụng định giá chuyển giao để trốn thuế của các doanh nghiệp FDI, các công ty đa quốc gia (MNCs), Tổ chức Hợp tác và Phát triển

Kinh tế (OECD) đã biên soạn và xuất bản cuốn cẩm nang “hướng dẫn quản lý giá

chuyển nhượng trong nội bộ của các MNCs” để các nước vận dụng thống nhất

Theo cuốn cẩm nang này thì việc xác định giá giao dịch giữa các công ty liên kết

Trang 28

19 trong cùng một Tập đoàn phải dựa trên nguyên tắc giá thị trường khách quan Theo nguyên tắc này thì giá giao dịch giữa những công ty thành viên trong MNCs phải được xem xét như giá giao dịch trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo hoặc như giá giao dịch với công ty không quen biết (công ty độc lập) Nếu giá giao dịch trong nội

bộ MNCs không tuân thủ nguyên tắc này thì cơ quan thuế có quyền điều chỉnh lại mức giá theo nguyên tắc thị trường khách quan và do đó thu nhập của công ty cũng

bị điều chỉnh theo

Như vậy, OECD không khuyến nghị các giải pháp cụ thể để “chống” lại hành

vi chuyển giá của doanh nghiệp có quan hệ liên kết, như việc thanh tra, kiểm tra, chế tài xử phạt… mà đặt ra nguyên tắc và phương pháp để tính giá đối với các giao dịch liên kết, đó là nguyên tắc căn bản giá thị trường ALP (arm’s length principle)

và các phương pháp xác định giá thị trường như sau

1.2.2.1 Phương pháp so sánh giá thị trường tự do (Comparable Uncontrolled Price - CUP)

Đây là phương pháp so sánh giữa giá giao dịch chịu sự kiểm soát (giao dịch giữa các bên liên kết) và giá của giao dịch độc lập trong hoàn cảnh và điều kiện tương tự nhau Sau khi đã loại trừ các tác nhân gây ảnh hưởng đến sự chênh lệch giá (giá giao dịch chịu sự kiểm soát với giá giao dịch độc lập), giá được lấy làm căn cứ

để xác đinh (doanh thu hay chi phí) là giá giao dịch độc lập

Phương pháp này được xem là gần gũi với nguyên tắc căn bản giá thị trường ALP vì đây là phương pháp giá tự do có thể so sánh được Phương pháp CUP so sánh giá cả của hàng hoá, dịch vụ, TSCĐ hữu hình và vô hình trong các giao dịch giữa các bên độc lập và liên kết

Nói chung đây là phương pháp xác định giá giao dịch lý tưởng nhất, song rất khó thực hiện, bởi lẽ trong thực tế khó tìm thấy một doanh nghiệp độc lập có đặc tính kinh doanh, quy mô và sản phẩm tương tự hoặc giống hệt doanh nghiệp chịu sự kiểm soát để so sánh Trong thực tế chỉ cần một điểm khác biệt nào đó cũng làm cho giá cả giao dịch bị thay đổi Thông thường phương pháp này được áp dụng khi công ty mẹ hay các công ty con cung cấp các sản phẩm cho nhau, đồng thời cung cấp cho công ty độc lập cùng một loại sản phẩm

Trang 29

20

1.2.2.2 Phương pháp dựa vào giá bán ra (Resale Price Method-RP)

Phương pháp giá bán lại này dựa vào giá bán lại (hay giá bán ra) của sản phẩm do cơ sở kinh doanh bán cho bên độc lập để xác định giá (chi phí) mua vào của sản phẩm đó từ bên liên kết Như vậy, phương pháp này bắt đầu bằng việc lấy giá bán lại (hay giá bán ra) trừ (-) lợi nhuận gộp trừ (-) các chi phí khác

Trong đó lợi nhuận gộp bao gồm các khoản chiết khấu mà công ty độc lập này được hưởng và tổng các khoản chiết khấu này phải đủ bù đắp cho các chi phí bán hàng, chi phí quản lý và điều hành doanh nghiệp cũng như một mức lợi nhuận hợp

lý Các khoản chi phí khác là các chi phí liên quan đến việc mua sản phẩm và vận chuyển sản phẩm như thuế nhập khẩu, chi phí hải quan, chí phí bảo hiểm, chi phí vận chuyển Như vậy sau khi loại trừ hai yếu tố lợi nhuận gộp và chi phí khác thì phần còn lại có thể được xem như là giá cả theo nguyên tắc thị trường ALP

Lợi nhuận gộp được tính theo tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra (doanh thu thuần) và giá bán ra (doanh thu thuần), phản ánh giá trị cơ sở kinh doanh thu được

để bù đắp chi phí kinh doanh và có mức lãi hợp lý

Công thức tính giá mua vào theo phương pháp dựa vào giá bán ra

Giá mua vào = [Dt - (Dt × td)] - Ck

Trong đó:

Dt: doanh thu thuần

Ck: chi phí khác liên quan đến việc mua sản phẩm (ví dụ chi phí vận chuyển, thuế, phí nhập khẩu …) phát sinh ngoài phạm vi giao dịch liên kết

td : tỷ suất lợi nhuận gộp trên doanh thu và được xác định theo công thức:

Trong đó, Gv: Giá hàng hóa, dịch vụ

Phương pháp này chỉ áp dụng trong điều kiện không có sự khác biệt về điều kiện giao dịch khi so sánh giao dịch độc lập với giao dịch liên kết gây ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra (doanh thu thuần) Vì vậy,

Trang 30

21 phương pháp này thường được áp dụng cho các trường hợp giao dịch đối với các sản phẩm thuộc khâu cung cấp dịch vụ đơn giản và các giao dịch thương mại có thời gian quay vòng từ khi mua vào đến khi bán ra ngắn, ít chịu sự biến động của thời vụ

1.2.2.3 Phương pháp cộng lãi vào giá vốn (Cost Plus Method-CPM)

Đây là phương pháp căn cứ vào giá vốn hoặc giá thành để xác định giá bán ra của sản phẩm đó trong giao dịch liên kết

Giá bán = Giá vốn (giá thành) + lãi gộp

Lãi gộp là giá trị chênh lệch giữa doanh thu thuần và giá vốn (giá thành) của sản phẩm được hạch toán theo quy định của chế độ kế toán

Cũng như hai phương pháp ban đầu, phương pháp cộng lãi vào giá vốn có ưu điểm rõ nhất là phù hợp với giá thị trường ALP, được nhiều nước áp ụng Tuy nhiên phương pháp này cũng có nhược điểm là: Việc áp dụng phương pháp phụ thuộc vào tính chính xác của tỷ suất lãi gộp trên giá vốn

Phương pháp này thích hợp cho trường hợp một công ty chuyển thành phẩm hay bán thành phẩm của mình sang khâu chế biến tiếp theo tại một công ty liên kết khác và cũng phù hợp với giao dịch về cung cấp dịch vụ

1.2.2.4 Phương pháp chiết tách lợi nhuận (Profit Split Method )

Đây là phương pháp được xây dựng trên cơ sở giả định loại trừ tất cả các yếu

tố đặc biệt làm ảnh hưởng đến giá cả giao dịch độc lập và coi các bên tham gia trong giao dịch đều tạo ra lợi nhuận và lợi nhuận thu được sẽ chia cho các bên tham gia dựa trên cơ sở vốn góp, rủi ro và chức năng của từng bên tham gia Đây là phương pháp không phụ thuộc vào các giao dịch độc lập mà chỉ lấy các tư liệu từ các giao dịch độc lập làm cơ sở tham khảo Phương pháp này có hai cách tính

Cách thứ nhất:

Trang 31

22

Phân bổ lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn

Trong đó: Phần góp vốn có thể bằng tiền, bằng dịch vụ và các tài sản khác được quy đổi ra giá trị bằng tiền

Tổng lợi nhuận: lãi (lỗ) trước thuế TNDN được tạo ra từ giao dịch liên kết Tổng vốn đầu tư : tổng số vốn góp của các bên tham gia trong giao dịch

Cách thứ hai:

Phân bổ lợi nhuận thành hai bước

Bước 1: phân chia lợi nhuận cơ bản Mỗi bên tham gia giao dịch liên kết được

nhận phần lợi nhuận cơ bản tương ứng với các chức năng hoạt động của mình Phần lợi nhuận cơ bản này phản ánh giá trị của lợi nhuận giao dịch liên kết tổng hợp mà công ty thu được do chức năng hoạt động của mình và chưa tính đến yếu tố đặc thù

và duy nhất (ví dụ như độc quyền sở hữu hoặc sử dụng tài sản vô hình hoặc quyền

Bước 2: phân chia lợi nhuận phụ trợ Mỗi bên tham gia nhận được phần lợi

nhuận phụ trợ tương ứng với tỷ lệ đóng góp liên quan đến tổng lợi nhuận phụ trợ

Tổng lợi nhuận phụ trợ = Tổng lợi nhuận thu được - tổng lợi nhuận cơ bản

Phần lợi nhuận phụ trội mỗi công ty liên kết tham gia được xác định như sau: Phần lợi nhuận phụ trội của mỗi bên bằng tổng lợi nhuận phụ trội nhân với tỷ

lệ đóng góp các chi phí hoặc tài sản dưới đây của mỗi bên:

- Chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm

Trang 32

sở hữu hoặc quyền sở hữu trí tuệ duy nhất

1.2.2.5 Phương pháp so sánh lợi nhuận (Transactional Net Margin Method – TNMM)

Đây là phương pháp dựa vào tỷ suất sinh lời của sản phẩm trong các giao dịch độc lập được chọn để so sánh, để xác định tỷ suất sinh lời của sản phẩm trong giao dịch liên kết khi các giao dịch này có điều kiện giao dịch tương đương với nhau Các tỷ suất sinh lời được tính bằng lợi nhuận thuần trước thuế (lợi nhuận trước thuế) trên doanh thu thuần, trên chi phí hoặc trên tài sản hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận trước thuế có thể cộng thêm (+) chi phí lãi tiền vay hoặc khấu hao TSCĐ để xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh trước khi chi trả các khoản chi phí này Các tỷ suất sinh lời thường được sử dụng bao gồm:

- Tỷ suất lợi nhuận thuần trước thuế trên doanh thu thuần từ hoạt động SXKD:

- Tỷ suất lợi nhuận thuần trước thuế trên tổng chi phí từ hoạt động SXKD:

- Tỷ suất lợi nhuận thuần trước thuế trên tài sản hoạt động SXKD:

Trang 33

24

Tỷ suất này được sử dụng trong trường hợp cơ sở kinh doanh có tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư

Các cơ sở kinh doanh có thể lựa chọn một trong các tỷ suất sinh lời để so sánh

tỷ suất sinh lời của giao dịch liên kết với giao dịch độc lập và có thể sử dụng một hay nhiều tỷ suất sinh lời khác được quy định theo chế độ báo cáo tài chính để bổ trợ kiểm tra tính chính xác của tỷ suất đã chọn.Việc lựa chọn tỷ suất sinh lời phụ thuộc vào bản chất kinh tế của giao dịch

Phương này được áp dụng thích hợp trong điều kiện không có sự khác biệt về điều kiện giao dịch khi so sánh giao dịch độc lập với giao dịch liên kết gây ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất sinh lời

1.2.2.6 Phương pháp phân bổ lợi nhuận toàn cầu

Mặc dù phương pháp này không dựa vào nguyên tắc giao dịch độc lập, nhưng được chấp nhận như là một “phương án 2” để xác định giá chuyển giao trong giao dịch liên kết Điểm cốt lõi của phương pháp này là lấy tổng lợi nhuận của cả tập đoàn gọi là lợi nhuận toàn cầu chia cho từng đơn vị chịu thuế Cách tiến hành như sau:

- Xác định số đơn vị chịu thuế (tức là bao nhiêu công ty con và chi nhánh tập đoàn sẽ được coi là một đơn vị chịu thuế)

- Xác định tổng lợi nhuận của tập đoàn (lợi nhuận toàn cầu)

- Xây dựng công thức để phân bổ lợi nhuận toàn cầu cho từng đơn vị chịu thuế Các yếu tố thường được sử dụng để làm căn cứ phân bổ lợi nhuận toàn cầu cho từng thành viên chịu thuế là: chi phí, tài sản, quỹ lương, doanh thu của mỗi thành viên

Yêu cầu đặt ra khi sử dụng phương pháp phân bổ lợi nhuận toàn cầu là không được mâu thuẫn với phương pháp lợi nhuận ròng của nghiệp vụ chuyển giao và phải dựa trên cơ sở từng nghiệp vụ chuyển giao và phải có sự so sánh với các giao dịch tương tự được thực hiện bởi các công ty độc lập, đồng thời công thức phân bổ lợi nhuận cũng không được tạo ra sự tranh cãi giữa cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế

Do vậy việc phân bổ lợi nhuận phải dựa trên sự phân tích rất thận trọng về những

dữ kiện thực tế

Trang 34

25

1.2.2.7 Phương pháp thỏa thuận trước về xác định giá (APA)

Theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), “APA là thoả thuận giữa người nộp thuế và cơ quan thuế về một hệ thống các tiêu chí như: phương pháp xác định giá thị trường, các công ty độc lập để so sánh, các điều chỉnh cần thiết và các giả định mang tính chất quan trọng liên quan đến điều kiện kinh doanh trong tương lai nhằm mục đích xác định trước giá chuyển giao cho các giao dịch nhất định trong một khoảng thời gian xác định Một APA thường được đề xuất bởi người nộp thuế, và được thỏa thuận giữa người nộp thuế với một hoặc các bên liên kết, một hoặc các cơ quan thuế Phương pháp này rất hữu ích khi các phương pháp truyền thống khó áp dụng và thực thi”

Như vậy có thể thấy: Phương pháp APA có thể là một giải pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu rủi ro về giá chuyển nhượng cho nhiều đối tượng nộp thuế bằng cách đảm bảo lợi nhuận tương lai được cơ quan thuế chấp nhận ở mức hợp lý APA Chỉ có ý nghĩa tính thuế, ràng buộc giữa người nộp thuế và cơ quan thuế, không có giá trị ràng buộc về giá giữa người mua và người bán

Phân loại APA

APA đơn phương: Là hình thức thỏa thuận giữa người nộp thuế/doanh nghiệp

và cơ quan thuế của một nước

APA song phương: Là thỏa thuận giữa doanh nghiệp, cơ quan thuế trong nước

và một cơ quan thuế nước ngoài

APA đa phương: Là thỏa thuận giữa doanh nghiệp, cơ quan thuế trong nước

và hai hoặc nhiều cơ quan thuế nước ngoài

Đặc điểm của APA

- APA là thỏa thuận tự nguyện giữa các bên, không phải là sự bắt buộc của cơ quan thuế với người nộp thuế, APA có hiệu lực với các bên tham gia Áp dụng APA cho những giao dịch xác định trong tương lai với một khoảng thời gian nhất định (thường không quá 5 năm)

Trang 35

26

- APA là một thoả thuận xác định trước một nhóm chỉ tiêu phù hợp để xác định giá chuyển nhượng cho các giao dịch nhất định trước khi thực hiện các giao dịch đó trong một thời kỳ nhất định

- Sự hợp tác của người nộp thuế là yếu tố quan trọng và cần thiết để tạo sự thành công trong đàm phán APA Khi APA được ký kết, không cần điều chỉnh giá chuyển nhượng nếu đối tượng nộp thuế tuân theo các điều khoản của thoả thuận

- Thông thường Hiệp định về thuế quan giữa các nước có tính pháp lý cao hơn các luật trong nước về thuế, do vậy trong trường hợp luật thuế của quốc gia không quy định về APA thì cho phép áp dụng APA trên cơ sở Quy trình thoả thuận song phương

- Cơ quan thuế cần đảm bảo rằng họ không yêu cầu đối tượng nộp thuế cung cấp thông tin nhiều hơn các nội dung bắt buộc của hồ sơ APA

- Nếu đối tượng nộp thuế rút đơn đề nghị APA hoặc nếu hồ sơ APA của đối tượng nộp thuế bị từ chối sau khi xem xét tất cả các yếu tố, những thông tin không đáng tin cậy do người nộp thuế cung cấp sẽ không được coi là hợp lý trong bất kỳ cuộc thanh tra nào

- Các thông tin mà người nộp thuế báo cáo cho cơ quan thuế phải được bảo mật Cơ quan thuế nên đảm bảo tính bảo mật của những thông tin và tài liệu nhạy cảm được nộp trong quá trình thực hiện APA

- APA nên được thực hiện trên cơ sở song phương, đa phương và không nên thoả thuận đơn phương, trừ trường hợp đã thực hiện tham chiếu đến một APA đơn phương cụ thể

Nhận xét: Tuy Cẩm nang của OECD không đưa thực tế áp dụng Cẩm nang

của các nước trong khối, song Cẩm nang đưa ra những định nghĩa và phương pháp định giá chuyển giao là cơ sở nền tảng quan trọng hướng dẫn cho các nước nghiên cứu, các tổ chức áp dụng Đối với Việt Nam vấn đề kiểm soát định giá chuyển giao trong giao dịch liên kết là một vấn đề mới, vì vậy nghiên cứu vận dụng những quy định trong cuốn Cẩm nang của OECD là một việc hết sức cần thiết, nhất là đối với

cơ quan quản lý thuế

Trang 36

27

1.2.3 Nội dung của chính sách chống chuyển giá

Từ những vấn đề lý luận đã trình bày, cũng như từ hướng dẫn của OECD và Liên hiệp quốc, có thể thấy, chính sách chống chuyển giá cần có các nội dung sau đây

1.2.3.1 Xây dựng khung pháp lý nhằm kiểm soát hoạt động chuyển giá

Việc xây dựng khung pháp lý này cần đạt được những nội dung cốt lõi sau đây:

Thứ nhất, xác định được quan hệ liên kết và các giao dịch giữa các bên có quan hệ liên kết

Thực tế các quan hệ liên kết có thể được chia thành làm 4 nhóm chính:

Quan hệ phụ thuộc pháp lý: là mối quan hệ giữa công ty mẹ - con, giữa công

ty tại chính quốc với các chi nhánh hay giữa các công ty thuộc cùng một tập đoàn Thực chất đây là mối quan hệ kiểm soát về vốn góp giữa các pháp nhân nên được gọi là quan hệ phụ thuộc pháp lý

Quan hệ phụ thuộc kinh tế: thông thường đây là các doanh nghiệp độc lập về mặt pháp lý/vốn nhưng lại phụ thuộc lẫn nhau trong quan hệ làm ăn kinh tế thông qua các hợp đồng hoặc cam kết Dạng phụ thuộc này trên thực tế thường tồn tại giữa hai doanh nghiệp là bạn hàng duy nhất của nhau

Quan hệ gia đình: đây cũng là loại quan hệ làm phát sinh các giao dịch liên kết có thể dàn xếp làm ảnh hưởng tới giá giao dịch, chẳng hạn như quan hệ giữa các công ty của các thành viên trong gia đình

Quan hệ phụ thuộc về quản lý: đây là loại quan hệ phụ thuộc do một bên kiểm soát bên kia do có quyền chỉ định được một số thành viên nhất định trong ban quản trị hay ban giám đốc của bên kia

Thứ hai, xác định, thẩm định được phương pháp định giá chuyển giao được

áp dụng

Có nhiều phương pháp định giá chuyển giao được áp dụng khi xem xét xác định giá thị trường trong giao dịch giữa các bên có quan hệ liên kết Cũng cần phải khẳng định rằng, hiện nay hầu hết các quốc gia đều cho phép các doanh nghiệp tự

Trang 37

28 xác định sẽ áp dụng phương pháp nào để xác định giá chuyển giao, với điều kiện phải có đầy đủ cơ sở chứng minh tại sao lựa chọn phương pháp đó mà không lựa

đe cao để làm giảm động lực thực hiện hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp

có vốn đầu tư FDI

1.2.3.2 Việc triển khai thực thi pháp luật chống chuyển giá

Trước hết, các cuộc thanh tra, kiểm tra thuế có thể được tiến hành theo định

kỳ, kế hoạch hoặc khi có các phát sinh về nghi vấn thuế Theo đó, căn cứ để tiến hành các hoạt động thanh tra, kiểm tra có thể dựa vào các dấu hiệu nhận biết chuyển giá và các quy định cụ thể của từng quốc gia Trên cơ sở đó, áp dụng các chế tài xử

lý vi phạm một cách thỏa đáng, minh bạch và đề cao tính nghiêm minh để răn đe việc chuyển giá của các doanh nghiệp FDI

Mục đích của chính sách chống chuyển giá là nhằm kiểm soát và hạn tình trạng chuyển giá tràn lan của các doanh nghiệp có vốn đầu tư FDI Đây là nhiệm vụ quan trọng của cơ quan quản lý các nước, bởi kiểm soát hoạt động chuyển giá có hiệu quả sẽ giúp làm minh bạch hóa thị trường, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh, hạn chế các tác động tiêu cực từ chuyển giá của các doanh nghiệp FDI đối với các nước tiếp nhận đầu tư

Muốn đạt được mục đích nêu trên, có những yêu cầu nhất định mà chính sách chống chuyển giá cần đạt tới, đó là:

Thứ nhất, hành lang pháp lý được thiết lập phải rõ ràng, minh bạch, hoàn thiện và

đầy đủ nhằm điều tiết các mối quan hệ phát sinh liên quan đến hoạt động chuyển giá

Trang 38

29

Thứ hai, bảo đảm nắm bắt đầy đủ, chính xác và kịp thời các giao dịch giữa các

bên có quan hệ liên kết

Thứ ba, chế tài thiết lập phải đủ mạnh, đủ sức răn đe các hoạt động gian lận

thuế qua chuyển giá để các doanh nghiệp FDI không dám thực hiện hoạt động chuyển giá khi cân nhắc giữa lợi ích thu được và chi phí tài chính khi bị phát hiện chuyển giá

1.3 Nghiên cứu chính sách chống chuyển giá của một số nước và bài học cho Việt Nam

1.3.1 Chính sách chống chuyển giá của một số nước

1.3.1.1 Chính sách của Mỹ

a Hoàn thiện hệ thống pháp lý phục vụ cho kiểm soát chuyển giá

Các quy định về giá chuyển giao đã trở thành một phần trong luật thuế của

Mỹ kể từ thời chiến tranh thế giới lần thứ nhất Khởi đầu là phần 482 của Luật Thu nội địa (IRC) ban hành năm 1968 Tháng 10/1988, Cơ quan Thuế nội địa Mỹ (IRS)

đề nghị hai phương pháp nhằm thiết lập tiêu chuẩn cân xứng với thu nhập Một là, dựa trên phân tích các giao dịch có thể so sánh Hai là, dựa trên việc tách lợi nhuận giữa các bên có liên kết

Tháng 1/1992, IRS ban hành quy định giới thiệu ba phương pháp định giá mới, tất cả dựa trên việc đối chiếu các tài liệu về kết quả giao dịch Tháng 1/1993, IRS ban hành quy định tạm thời Ngày 1/7/1994, quy định chính thức được ban hành, có hiệu lực từ ngày 8/7/1994 cho đến nay

Mỹ quan tâm đến khung pháp lý điều chỉnh định giá chuyển nhượng trong nội

bộ tập đoàn Điều đó thể hiện rõ nét trong Bộ luật thu nội địa của Mỹ và các văn bản hướng dẫn của Cục Thu nội địa, điển hình các văn bản đó có tên gọi là “Sách Trắng” “Sách Trắng” hướng dẫn các phương pháp định giá chuyển nhượng căn bản dựa trên phương pháp lợi nhuận Phương pháp này xem xét giới hạn lợi nhuận ròng trong mối quan hệ với các chỉ tiêu: giá, phí, doanh số bán hàng, lợi nhuận mà đối tượng nộp thuế thực hiện từ hoạt động chuyển giao kiểm soát được

Trang 39

30

b Hoàn thiện các phương pháp định giá chuyển giao

Sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp điều chỉnh giá chuyển nhượng Những phương pháp mà Mỹ thường sử dụng là: (i) Phương pháp so sánh giá thị trường tự do; (ii) Phương pháp dựa vào giá bán ra; (iii) Phương pháp cộng chi phí vào giá vốn; (iv) Phương pháp phân chia lợi nhuận; (v) Phương pháp so sánh lợi nhuận Luật kiểm soát chuyển giá ở Mỹ không ưu tiên phương pháp định giá chuyển giao nào, tự doanh nghiệp quyết định

Đối với phương pháp thỏa thuận trước về xác định giá (APA) không phải công ty nào cũng được khuyến khích sử dụng bởi khoản phí thực hiện APA khá cao (từ 25.000 - 50.000 USD), thời gian đàm phán lâu (thường từ 2 - 3 năm), song thời gian áp dụng lại ngắn thường là 5 năm Chính vì vậy, cơ quan thuế Mỹ chỉ khuyến khích thực hiện APA đối với các doanh nghiệp lớn, doanh thu cao

c Tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan thuế và hải quan trong kiểm soát giá chuyển giao

Vì hành vi chuyển giá ở Mỹ thường diễn ra ở các giao dịch qua biên giới nên

sự phối hợp giữa các cơ quan thuế và hải quan rất quan trọng nhằm xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu và liên thông dữ liệu, thông tin về hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp để có sự phối hợp đồng bộ, thông suốt trong kiểm soát chuyển giá Từ

sự phối hợp này, cơ quan thuế và hải quan Mỹ đã xây dựng được nguồn dữ liệu thông tin và công khai giá tính thuế của các doanh nghiệp hoặc giá thỏa thuận APA Trên cơ sở đó, đã tăng cường hơn khả năng kiểm soát chuyển giá của các tập đoàn xuyên quốc gia

d Biện pháp xử lý khi có bằng chứng vi phạm

Trong trường hợp cơ quan thuế Mỹ chứng minh được rằng, có một sự chuyển lợi nhuận thông qua giá chuyển giao giữa các doanh nghiệp liên kết mà đối tượng nộp thuế không đưa ra được những bằng chứng của một giao dịch bình thường theo nguyên tắc thị trường, thì cơ quan thuế có quyền điều chỉnh lại thu nhập của đối tượng nộp thuế và áp dụng mức phạt từ 20% đến 40% số thuế khai thiếu bị phát hiện do gian lận qua định giá chuyển giao Ngoài ra, Pháp luật Mỹ còn áp dụng phạt

Trang 40

31

bổ sung nếu phần thu nhập chịu thuế sau khi tính lại tăng vượt mức quy định Khoản phạt bổ sung 20% trên số thuế truy thu được áp dụng trong trường hợp phần thu nhập tăng thêm vượt quá mức thấp nhất trong hai mức sau: 5 triệu USD hoặc 10% trên tổng số thuế phải nộp Còn trong trường hợp phần thu nhập tăng thêm sau khi được tính lại vượt quá mức thấp nhất trong hai mức sau: 20 triệu USD hoặc 20% trên tổng số thuế phải nộp sẽ chịu mức phạt bổ sung 40% trên số thuế truy thu

Nhận xét chung

Qua kinh nghiệm của Mỹ về các biện pháp quản lý giá chuyển giao nhằm chống lại tình trạng chuyển giá của các MNCs có thể rút ra hai vấn đề cơ bản:

Một là, ở Mỹ rất chú trọng đến tính chất pháp lý cao của văn bản pháp luật

điều chỉnh hoạt động định giá chuyển giao của các MNCs Như phần trên đã chỉ rõ cho đến nay văn bản pháp lý cao nhất trong điều chỉnh hoạt động định giá chuyển giao của các MNCs ở Mỹ là đạo luật IRS Sec 482

Hai là, cơ bản Mỹ vẫn áp dụng phương pháp truyền thống của OECD về định

giá chuyển giao Những hướng dẫn của Mỹ về áp dụng các phương pháp truyền thống của OECD là khá cụ thể, chi tiết và thống nhất quan điểm của OECD với những nội dung chính như: khái niệm, phương pháp xác định giá, yêu cầu về thông tin, chứng từ, lưu giữ hồ sơ của đối tượng nộp thuế

Tuy nhiên ngoài những điểm thống nhất nói trên, giữa Mỹ và OECD có hai điểm khác biệt: (i) Cơ chế quản lý của Mỹ đặt vấn đề trách nhiệm chính cho cơ quan thuế trong việc xác định giá thị trường song văn bản ban hành cho việc thực hiện mang tính chất khuyến cáo để đối tượng nộp thuế thực hiện và có sự chuẩn bị trước; (ii) Mỹ có xu hướng “sáng tạo”ra các phương pháp xác định giá mới (xác định dựa trên lợi nhuận) và có hướng dẫn cụ thể riêng cho hàng hóa giao dịch hữu hình và hàng hóa giao dịch vô hình do đặc điểm Mỹ là “quốc gia của công nghệ nguồn phát triển” nên hoạt động chuyển giao các sản phẩm “trí tuệ”-tài sản vô hình giữa công ty mẹ ở Mỹ với các công ty con ở nước ngoài khá phát triển

Ba là, nhằm liên kết với các nước trong cuộc chiến chống lợi dụng định giá

chuyển giao để trốn thuế Mỹ đã tích cực cùng với các nước Canada Nhật, Úc thống

Ngày đăng: 24/02/2020, 21:37

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w