LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp ngành chiếu sáng của Việt Nam” là đề tài nghiên cứu độc lập của riêng tôi,
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH CHIẾU SÁNG
CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh
LƯU THỊ VIỆT PHƯƠNG
Hà Nội, năm - 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Mã số: 83.40.101
Họ và tên học viên: Lưu Thị Việt Phương Người hướng dẫn: TS Phùng Mạnh Hùng
Hà Nội, năm - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh cho các doanh nghiệp ngành chiếu sáng của Việt Nam” là đề tài nghiên cứu
độc lập của riêng tôi, được đưa ra dựa trên cơ sở tìm hiểu, phân tích các tài liệu liên quan tới thương hiệu và các chiến lược phát triển của công ty trong ngành Các thông tin này là trung thực, minh bạch và được các công ty cho phép đồng ý sử dụng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn thạc sĩ này
Tác giả
Lưu Thị Việt Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh với đề tài: "Nâng cao năng lực cạnh
tranh cho các doanh nghiệp ngành chiếu sáng của Việt Nam" là sự tìm hiểu,
thực hiện, nghiên cứu và áp dụng những kiến thức đã được tiếp thu của tác giá trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Ngoại Thương, dưới sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô trong trường và đặc biệt là các thầy cô của Khoa Sau Đại Học
Trước tiên, tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến giáo viên hướng
Cuối cùng, Tác giả xin gửi lời cảm ơn đặc biết tới các doanh nghiệp trong nghành chiếu sáng của Việt Nam đã nhiệt tình hỗ trợ, tạo mọi điều kiện và cung cấp các thông tin doanh nghiệp giúp tác giả hoàn thành luận văn
Hà Nôi, Ngày 31 tháng 05 năm 2019
Tác giả
Lưu Thị Việt Phương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN I MỤC LỤC III DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ V DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VI TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN VII
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 6
1.1.Khái niệm năng lực cạnh tranh và cơ sở lý thuyết về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 6
1.1.1 Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 6
1.1.2 Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 11
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 12
1.1.4 Các tiêu chí đánh giá NLCT của các doanh nghiệp 16
1.1.5 Môi trường cạnh tranh của doanh nghiệp 18
1.2.Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành thiết bị chiếu sáng của Thái Lan và bài học cho Việt Nam 21
1.2.1 Phân tích các yếu tố lợi thế cạnh tranh quốc gia ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành thiết bị chiếu sáng của Thái Lan 22
1.2.2 Kinh nghiệm bài học rút ra áp dụng cho thị trường Việt Nam 24
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH CHIẾU SÁNG CỦA VIỆT NAM 28
2.1.Tổng quan về ngành chiếu sáng của Việt Nam 28
2.1.1 Quá trình phát triển của ngành chiếu sáng của Việt Nam 28
2.1.2 Vai trò ngành thiết bị chiếu sáng đối với sự phát triển kinh tế 31
2.2.THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÀNH CHIẾU SÁNG VIỆT NAM 33
Trang 62.2.1 Tình hình kinh doanh các doanh nghiệp của ngành chiếu sáng Việt
Nam 33
2.2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành chiếu sáng trong nước 40
2.3.Nhận xét chung về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành chiếu sáng Việt Nam 50
TỔNG KẾT CHƯƠNG II 52
CHƯƠNG III GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH CHIẾU VIỆT NAM 53
3.1Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển ngành chiếu sáng Việt Nam 53
3.1.1 Quan điểm phát triển ngành chiếu sáng Việt Nam 53
3.1.2 Định hướng của ngành dến năm 2025 55
3.1.3 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp ngành chiếu sáng Việt Nam 57
3.2.Các biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành chiếu sáng Việt Nam dựa vào mô hình SWOT 59
3.2.1 Tận dụng điểm mạnh của ngành để khai thác cơ hội đang có (S-O) 59
3.2.2 Tận dụng điểm mạnh của ngành để hạn chế những nguy cơ phát sinh (S-T) 62
3.2.3 Tối thiểu hóa điểm yếu của ngành để giảm thiểu tối đa nguy cơ bên ngoài tác động (W-T) 67
TỔNG KẾT CHƯƠNG III 72
KÊT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
HÌNH 1.1: MÔ HÌNH KIM CƯƠNG 19 HÌNH 2.1: CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG CHIẾU SÁNG THẾ GIỚI 2010-2020 (NGUỒN: BCG 33 HÌNH 2.2: PHẠM VỊ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CHIẾU SÁNG CHÍNH TẠI 34 HÌNH 2.3: BIỂU ĐỒ TĂNG TRƯỞNG DOANH SỐ ĐÈN LED CỦA CÁC NHÓM NHÀ SẢN XUẤT CÁC NĂM 2015 – 2016 – 2017 ƯỚC TÍNH TỚI
2020 38 HÌNH 2.4: THỐNG KÊ LƯỢNG TÌM KIẾM ĐÈN ĐƯỜNG LED CAO ÁP THEO THÁNG TRÊN GOOGLE 47 HÌNH 3.1: GDP VIỆT NAM TỪ NĂM 2008 ĐẾN 2018 53
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Tại chương 1, luận văn trình bày và phân tích cho người đọc hiểu được khái niệm, cấp độ cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh Từ đó tập trung vào việc xác định rõ ràng nhận thức về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành chiếu sáng Bên cạnh đó người viết cũng đưa ra một số mô hình phân tích năng lực cạnh tranh của ngành đối với các yếu tố khác nhau
Chương 2 là nội dung chính của đề tài, đi sâu và phân tích thực trạng tình hình hoạt động của các doanh nghiệp ngành chiếu sáng tại Việt Nam Từ việc phân tích mục tiêu, định hướng cho tới thực trạng về thị phần, về năng lực của các doanh nghiệp trong ngành thông qua mô hình SWOT, từ đó bài viết đánh giá được các thành tựu, cơ hội mở ra cho các doanh nghiệp cũng như cho ngành chiếu sáng tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra được một số hạn chế và thách thức mà các doanh nghiệp của ngành đang phải đối mặt trong thời đại toàn cầu hóa, giao lưu quốc tế mạnh mẽ hiện nay
Từ những cơ hội, thách thức, điểm mạnh và yếu đó, chương 3 của luận văn
đã kiến nghị những giải pháp khả thi, mang tính thực tiễn, phù hợp với các doanh nghiệp thuộc ngành chiếu sáng Việt Nam để định hướng và tạo điều kiện về cơ chế, chính sách, ứng dụng công nghệ vào sự phát triển hơn nữa của các doanh nghiệp trong ngành ở tương lai
Trang 10LỜI NÓI ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay trên thế giới đang diễn ra sự chuyển dịch cơ cấu trong ngành chiếu sáng, đóng vai trò dẫn dắt sự tăng trưởng cả ngành Theo cáo cáo của Boston Consultant Group (BCG) – một trong những công ty tư vấn chiến lược hàng đầu thế giới, ngành chiếu sáng thế giới sẽ tăng trưởng kép 3% từ 2014 – 2020, dự báo quy
mô ngành sẽ đạt 133 tỷ USD năm 2020 Theo báo cáo nghiên cứu mới nhất của LEDinside về triển vọng thị trường toàn cầu LED, thị trường cho thuê và xu hướng giá thì nhu cầu về thiết bị chiếu sáng tại các thị trường vào năm 2022 dự kiến sẽ ở mức 9.349 tỷ USD với tăng trưởng là 12% trong giai đoạn 2018 đến 2022
Theo thống kê, tổng thị trường chiếu sáng ở Đông Nam Á sẽ đạt gần 6,8 tỷ USD trong năm 2019, trong đó bao gồm 2,5 tỷ USD đèn LED, dựa trên tính toán của sáu quốc gia lớn ở khu vực Đông Nam Á (Thái Lan, Singapore, Malaysia, Việt Nam, Indonesia, Philippines) Thị trường chiếu sáng LED ở Đông Nam Á tăng trưởng nhanh nhất trong năm 2013 với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 63%, chậm lại một chút vào năm 2014 – 2015 nhưng vẫn tăng hơn 30% và đặc biệt trở lại mạnh
mẽ hơn 50% từ năm 2016 Sự thâm nhập của ánh sáng LED tại thị trường Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam dự kiến tăng từ 12% lên đến 32% trong giai đoạn
2017 – 2020
Thị trường Việt Nam nằm trong xu hướng chuyển dịch cơ cấu sản phẩm của thị trường thế giới và thiết bị chiếu sáng sẽ đóng vai trò dẫn dắt thị trường trong những năm tới Theo báo cáo LEDinside, trong giai đoạn 2016 – 2020 quy mô thị trường LED Việt Nam sẽ có tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) 15,6% từ
348 triệu USD năm 2016 đến hơn 830 triệu USD năm 2020, năm 2017 vừa qua quy
mô thị trường ước tính 420 triệu USD Hiện nay nhu cầu chiếu sáng ở Việt Nam chủ yếu là các sản phẩm bóng đèn, chiếm 78% thị phần
Việt Nam hiện nay có hơn 200 doanh nghiệp sản xuất LED trên thị trường Các doanh nghiệp FDI như Philips, Osram, Seoul Semiconductor,… chiếm 15 – 20% còn lại là các doanh nghiệp trong nước Nổi bật nhất trong số các doanh
Trang 11nghiệp Việt là các nhà sản xuất nội địa như Công ty Cổ phần Bóng đèn Điện Quang (DQC), hay Công ty Cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông (RAL)
Đồng thời các cơ quan chức năng cũng đang rất quan tâm đến sự phát triển của công nghệ đèn LED tại Việt Nam Cụ thể, theo dự thảo đề án “Đề xuất về lộ trình phát triển ngành công nghiệp chiếu sáng LED tới năm 2025” của Trung tâm phát triển công nghệ cao thuộc Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, nhu cầu tiêu thụ điện năng cho chiếu sáng ước tính đạt 83.5 tỷ KWh vào năm 2020 và gia tăng gấp 2 lần trong vòng 10 năm tiếp theo Cùng với đó, dự thảo còn đưa ra những hướng giải quyết đối với tình trạng cạnh tranh từ sản phẩm nước ngoài Theo đó, các bộ chỉ số quy định về chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế sẽ được xây dựng nhằm giúp giảm bớt sự thâm nhập của các sản phẩm kém chất lượng giá rẻ.Đây chính là lợi thế lớn mà các doanh nghiệp trong nước được hưởng khi đáp ứng được yêu cầu
Chọn LED là một trong các dòng sản phẩm chiến lược, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang từng bước chiếm lĩnh thị trường, chinh phục khách hàng bằng chất lượng và cạnh tranh bằng giá cả
Với cương vị là một nhân viên đã từng làm việc tại một trong những công ty kinh doanh ngành chiếu sáng đồng thời có mặt tham gia vào quá trình xây dựng chiến lược phát triển nhằm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tôi thật sự hiểu điểm mạnh yếu của ngành cũng như nắm bắt được tâm lý khách hàng Do đó
tôi đã chọn triển khai nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng
lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp ngành chiếu sáng của Việt Nam.” với mục
tiêu nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành thiết bị chiếu sáng và đề mong muốn đưa ra một số giải pháp nhằm mục đích nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp này trong bối cảnh cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài đi đầu về chất lượng, cạnh tranh lớn bằng giá cả
Tình hình nghiên cứu
Trong suốt những năm gần đây, ngành chiếu sáng đang mang lại lợi nhuận lớn và cũng đang bắt đầu trở thành một trong những mũi nhọn của nền kinh tế trong nước Đã có rất nhiều báo cáo tài chính cũng như tài liệu nghiên cứu liên quan đến
Trang 12định hướng phát triển và tình hình thực trạng của ngành hàng này tại thị trường Việt Nam, tiêu biển phải kể đến:
- Cuốn CIEM – Dự án VIE 01/025 của UNDP, (2005) "Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia".NXB Giao thông vận tải Là dự án Dự án Hỗ trợ tái cơ cấu kinh tế nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (Dự án RCV) nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước, xác định được các yếu tố nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia của các doanh nghiệp này Cuốn sách này giúp tác giả nắm rõ tổng quan hệ thống lý luận về năng lực cạnh tranh
- Luận án tiến sỹ Hoàng Thị Hoan (2004); “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” Với nghiên cứu của luận án này, tổng quan chung về năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp điện tử trong đó có sản xuất thiết bị LED được đề cập và nhắc tới trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
- Luận văn của Th.S Nguyễn Duy Tân – ĐH Thương mại “Phát triển kênh
phân phối sản phẩm thiết bị chiếu sáng của Công ty cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông trên thị trường Hà Nội” đã có sự nghiên cứu kĩ lưỡng về hệ thống phân phối sản phẩm thiết bị chiếu sáng trên thị trường Hà Nội của riêng công ty Rạng Đông Đồng thời luận văn cũng đã đề cập tới thị phần các công ty thiết bị chiếu sáng của Việt Nam, của ngành chiếu sáng tại thị trường trong nước
- Luận văn “Phân tích tình hình sử dụng vốn và những biện pháp nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Chiếu sáng và thiết bị đô thị Hà Nội” đã phân tích rõ ràng hơn về những điểm mạnh yếu nội tại của một trong những công ty trong ngành chiếu sáng cũng như đưa ra những điểm mạnh, điểm yếu của ngành nói chung
- Báo cáo: “Kỷ nguyên chiếu sáng mới – Chu kỳ tăng trưởng mới cho
Điện Quang” được viết và phát hành bởi Công ty Cổ phần Chứng khoán Bản Việt Với báo cáo này, áp lực của ngành sản xuất và phân phối thiết bị LED tại Việt Nam được đề cập giúp người viết có nhận thức đầy đủ về môi trường ngành tại Việt Nam
Trang 13- Báo cáo nghiên cứu của Vinaresearch của công ty W&S Online Market
Research về “Nhận thức của người tiêu dùng về sản phẩm hàng điện tử gia dụng” với phạm vi nghiên cứu toàn quốc cũng đã chỉ ra những điểm mạnh yếu, thách thức
từ phía người tiêu dùng đối với ngành hàng điện tử gia dụng nói chung và ngành chiếu sáng nói riêng Từ việc phân tích những khía cạnh này, người viết nắm bắt được tình hình của ngành đang đối mặt với những vấn đề gì
- Tạp chí Điện lực của Tập đoàn Điện lực Việt Nam với chuyên đề Thế giới
Điện cũng liên tục cập nhật tình hình của thị trường điện lực thế giới cũng như Việt Nam Đặc biệt phân tích sâu hơn về ngành thiết bị chiếu sáng ở thị trường trong nước với bài báo “Thị trường sản phẩm Tiết kiệm năng lượng nội địa: Còn nhiều khoảng trống”
Những tài liệu báo cáo nghiên cứu trên đã đề cập đến ngành chiếu sáng với cái nhìn tổng quan nhất trong môi trường nội địa với những thách thức, yếu điểm xuất phát từ doanh nghiệp, từ ngành, từ thị trường người tiêu dùng trong nước Trong khuôn khổ bài luận văn này, tác giả xin được phép tập trung vào việc đưa ra một số giải pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp ngành chiếu sáng của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
- Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành chiếu sáng của Việt Nam Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Nghiên cứu và phân tích năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành chiếu sáng Việt Nam
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh, trên cơ
sở phân tích thực tiễn và xu hướng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành chiếu sáng của Việt nam, đề tài chỉ tập chung nghiên cứu, phân tích năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành chiếu sáng Việt Nam trong điều kiện hội
Trang 14nhập kinh tế quốc tế, từ đó đưa ra những giải pháp, đề xuất để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nhiệm vụ nghiên cứu trong đề tài này, tác giả sẽ nghiên cứu một số nội dung sau:
- Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong
ngành
- Vai trò của năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
- Các tiêu chí cơ bản thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành chiếu sáng
Việt Nam
- Đánh giá kết quả, định hướng và đưa ra giải pháp nâng cao năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp trong ngành chiếu sáng trong nước
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn với các công cụ thống kê, phân tích, tổng hợp, dự đoán xu hướng
- Nghiên cứu tại bàn: thu thập nguồn thông tin, số liệu thứ cấp được thu
thập từ các báo cáo, kết quả điều tra, thống kê về thực trạng các doanh nghiệp ngành chiếu sáng trong nước cũng như báo cáo thống kê, điều tra về khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp này dựa trên các báo cáo kinh tế được công bố chính thức
Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, danh mục
từ viết tắt và mục lực bảng biểu kết cấu luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành chiếu sáng của Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp ngành chiếu sáng của Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG I
LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh và cơ sở lý thuyết về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.1 Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm và vai trò của cạnh tranh
* Khái niệm cạnh tranh
Khái niệm cạnh tranh ra đời khi nền kinh tế thị trường xuất hiện Trong lịch
sử phát triển của nền kinh tế thế giới đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh:
Cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các cá thể có
chung một môi trường sống đối với điều kiện nào đó mà các cá thể cùng quan tâm Trong hoạt động kinh tế, đó là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, người tiêu dùng) nhằm giành lấy những vị thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dung hàng hóa để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy
ra giữa những nhà sản xuất với nhau hoặc có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp Có rất nhiều quan niệm về thuật ngữ này, có thể trích dẫn như sau:
Các nhà kinh tế học thuộc trường phái cổ điển cho rằng cạnh tranh là quá trình bao gồm các hành vi phản ứng Quá trình này tạo ra trong mỗi thành viên trong thị trường một dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phần xứng đáng so với khả năng của mình
Cạnh tranh theo hàm nghĩa kinh tế học là chỉ quá trình tranh đấu tiến hành không ngừng giữa các chủ thể kinh tế trong thị trường nhằm thực hiện lợi ích kinh
tế và mục tiêu đã định của bản thân Động lực nội tại của cạnh tranh là lợi ích kinh
tế của tự thân chủ kinh tế, biểu hiện cụ thể trong quá trình cạnh tranh là giữ hoặc
mở rộng mức chiếm hữu thị trường, gia tăng mức tiêu thụ, nâng cao lợi nhuận Áp
Trang 16lực bên ngoài của cạnh tranh là đọ sức kịch liệt giữa các đối thủ cạnh tranh, kẻ bại tất sẽ bị đào thải
Cạnh tranh là quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường, nó sẽ thúc đẩy nhanh quá trình phát triển của các hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa, dịch
vụ Cạnh tranh không chỉ có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa mà còn trong lĩnh vực kinh tế khi đây được coi là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế
Cạnh tranh trong kinh tế luôn liên quan đến quyền sở hữu Nói cách khác, sở hữu là điều kiện để cạnh tranh kinh tế diễn ra Có người đã đưa ra khẳng định: “ Cùng ngành nghề chứ không cùng lợi nhuận”, như vậy cạnh trạnh là quy luật tất yếu trên thương trường, là sự so sánh, đối chiếu sức mạnh cơ bản giữa các đối thủ cạnh tranh trong ngành, vànhững mối đe doạ, những thách thức hay cơ hội chủ yếu
có được từ quá trình so sánh sức mạnh này Muốn đạt được vị thế cạnh tranh cao hay thấp đều tuỳ thuộc vào năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp
Từ điển kinh doanh của Anh (xuất bản năm 1992): Cạnh tranh được xem là
sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung - cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất
Cạnh tranh buộc những người sản xuất và buôn bán phải cải tiến kĩ thuật, tổ chức quản lí để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng hàng hoá, thay đổi mẫu mã, bao bì phù hợp với thị hiếu của khách hàng; giữ tín nhiệm; cải tiến nghiệp
vụ thương mại và dịch vụ, giảm giá thành, giữ ổn định hay giảm giá bán và tăng doanh lợi
Theo Karl Marx, khi nghiên cứu sự hình thành lợi nhuận bình quân
và sự chuyển hoá giá trị hàng hoá thành giá trị thị trường và giá cả sản xuất Ông cũng đã đề cập cạnh tranh gắn với quan hệ cung cầu của hàng hoá Karl Marx đã chia cạnh tranh thành cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành
Trang 17với nhau; cạnh tranh giữa các người bán với nhau khi mà cung lớn hơn cầu và cạnh tranh giữa những người mua với nhau khi mà cầu lớn hơn cung
Như vậy qua các khái niệm đã nêu ở trên ta có thể hiểu một cách đầy đủ: Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành
về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể khi tham gia thị trường
* Vai trò của cạnh tranh
Như chúng ta đã biết, cạnh tranh là một biểu hiện đặc trưng của nền kinh tế hàng hoá, đảm bảo tự do trong sản xuất kinh doanh và đa dạng hoá hình thức sở hữu, trong cạnh tranh nói chung và cạnh tranh trên thị trường quốc tế nói riêng, các doanh nghiệp luôn đưa ra các biện pháp tích cực và sáng tạo nhằm đứng vững trên thị trường và sau đó tăng khả năng cạnh tranh của mình Để đạt được mục tiêu đó, các doanh nghiệp phải cố gắng tạo ra nhiều ưu thế cho sản phẩm của mình
và từ đó có thể đạt được mục đích cuối cùng là lợi nhuận
Khi sản xuất kinh doanh một hàng hoá nào đó, lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được, được xác định như sau:
Pr = P.Q -C.Q
Trong đó:
+ Pr: Lợi nhuận của doanh nghiệp
+ P: Giá bán hàng hoá
+ Q: Lượng hàng hoá bán được
+ C: Chi phí một đơn vị hàng hoá
Như vậy để đạt được lợi nhuận tối đa doanh nghiệp có các cách như: tăng giá bán P, tăng lượng bán Q, giảm chi phí C và để làm được những việc này doanh nghiệp phải làm tăng vị thế của sản phẩm trên thị trường bằng cách áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ, các phương thức sản xuất tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp và tốn ít chi phí nhất Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phải có những chiến lược Marketing thích hợp nhằm quảng bá sản phẩm, hàng hoá của mình tới khách hàng giúp họ có thể nắm bắt được sự có
Trang 18mặt của những hàng hoá đó và những đặc tính, tính chất, giá trị và những dịch vụ kèm theo của chúng
Chỉ khi nền kinh tế có sự cạnh tranh thực sự thì các doanh nghiệp mới có sự đầu tư nhằm nâng cao sự cạnh tranh và nhờ đó sản phẩm hàng hoá ngày càng được
đa dạng, phong phú và chất lượng được tốt hơn Đó chính là tầm quan trọng của cạnh tranh đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
Có cạnh tranh, hàng hoá sẽ có chất lượng ngày càng tốt hơn, mẫu mã ngày càng đẹp hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn và đáp ứng tốt hơn những yêu cầu của người tiêu dùng trong xã hội Người tiêu dùng có thể thoải mái, dễ dàng trong việc lựa chọn các sản phẩm phù hợp với túi tiền và sở thích của mình Những lợi ích mà
họ thu được từ hàng hoá ngày càng được nâng cao, thoả mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của họ nhờ có các dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng, được quan tâm nhiều hơn Đây là những lợi ích làm người tiêu dùng có được từ cạnh tranh
Bên cạnh đó, cạnh tranh còn đem lại những lợi ích không nhỏ cho nền kinh
tế đất nước Để tồn tại và phát triển trong cạnh tranh các doanh nghiệp đã không ngừng nghiên cứu, tìm hiểu và áp dụng những thành tựu khoa học vào sản xuất kinh doanh nhờ đó mà tình hình sản xuất của đất nước được phát triển, năng suất lao động được nâng cao Đứng ở góc độ lợi ích xã hội, cạnh tranh là một hình thức mà Nhà nước sử dụng để chống độc quyền, tạo cơ hội để người tiêu dùng có thể lựa chọn được những sản phẩm có chất lượng tốt, giá rẻ
Cạnh tranh bao giờ cũng mang tính sống còn, gay gắt và nó còn gay gắt hơn khi cạnh tranh trên thị trường quốc tế Hiện nay thị trường quốc tế có nhiều doanh nghiệp của nhiều quốc gia khác nhau với những đặc điểm và lợi thế riêng đã tạo ra một sức ép cạnh tranh mạnh mẽ, không cho phép các doanh nghiệp hành động theo
ý muốn của mình mà buộc doanh nghiệp phải quan tâm đến việc thúc đẩy khả năng cạnh tranh của mình theo hai xu hướng: Tăng chất lượng của sản phẩm và hạ chi phí sản xuất Để đạt được điều này các doanh nghiệp phải biết khai thác triệt để lợi thế so sánh của đất nước mình để tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải chú trọng đầu tư các trang thiết bị hiện đại, không ngừng đưa các tiến bộ khoa học công nghệ kỹ thuật vào sản xuất nhằm tăng năng suất lao động,
Trang 19nâng cao chất lượng sản phẩm Những điều này sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cho quốc gia, các nguồn lực sẽ được tận dụng triệt để cho sản xuất, trình độ khoa học kỹ thuật của đất nước sẽ không ngừng được cải thiện
Như vậy, có thể nói cạnh tranh là động lực phát triển cơ bản nhằm kết hợp một cách hợp lý giữa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích xã hội Cạnh tranh tạo ra môi trường tốt cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả Tuy nhiên, trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này không phải bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có lợi, có doanh nghiệp bị huỷ diệt do không có khả năng cạnh tranh, có doanh nghiệp sẽ thực sự phát triển nếu họ biết phát huy tốt những tiềm lực của mình Nhưng cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay thế, thay thế các doanh nghiệp làm ăn thua
lỗ, sử dụng lãng phí nguồn lực xã hội bằng doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển
Tóm lại: Cạnh tranh chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc
gia cũng như của từng doanh nghiệp
1.1.1.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Trong giai đoạn nền kinh tế thế giới hội nhập, năng lực cạnh tranh được coi
là một nền tảng quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế quốc gia cũng như các doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là tập hợp các thể chế, chính sách và các yếu tố tác động đến năng suất lao động của quốc gia đó, nhân tố đảm bảo thu nhập, sự phát triển bền vững của quốc gia và là nhân tố cơ bản xác định tăng trưởng ổn định và lâu dài của nền kinh tế
Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế( OECD) thì năng lực cạnh tranh
là khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm
và thu nhập cao hơn trong điều kiện kinh tế quốc tế
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Năng lực cạnh tranh là khả năng
của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ
Có thể rút ra kết luận về năng lực cạnh tranh chính là khả năng tạo ra các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với yêu cầu của thị trường và tạo ra cơ hội thu nhập cap hơn
và bền vững lâu dài cho chủ thể cạnh tranh
Trang 201.1.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
*Khái niệm năng lực cạnh tranh (NLCT) của Doanh nghiệp
Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì năng lực cạnh tranh
là khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm
và thu nhập cao hơn trong điều kiện kinh tế quốc tế
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể
cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ
Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp đó
có thể đứng vững trên thị trường và ngày càng phát triển Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thực lực và lợi thế mà doanh nghiệp có thể huy động để duy trì và cải thiện vị trí của nó đối với các doanh nghiệp khác trên thị trường một cách lâu dài và có ý chí nhằm thu được lợi ích ngày càng cao
Theo nhà quản trị chiến lược Micheal Poter: Năng lực cạnh tranh của công ty
có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó
Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ cao thì doanh nghiệp đó
có năng lực cạnh tranh cao Micheal Porter không bó hẹp ở các đối thủ cạnh tranh trực tiếp mà ông mở rộng ra cả các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và các sản phẩm thay thế Theo Humbert Lesca Năng lực cạnh tranh (NLCT) của doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì lâu dài một cách có ý chí trên thị trường cạnh tranh và tiến triển bằng cách thực hiện một mức lợi nhuận ít nhất cũng
đủ để trang trải cho việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp
Hoặc NLCT của doanh nghiệp còn được định nghĩa là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng và chống lại các đối thủ cạnh tranh trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ một cách lâu dài nhất
Những định nghĩa trên cho thấy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ khả năng, thực lực của doanh nghiệp Một doanh nghiệp
Trang 21được coi là có NLCT khi doanh nghiệp đó dám chấp nhận việc giành những điều kiện thuận tiện có lợi cho chính doanh nghiệp
Doanh nghiệp cần phải có tiềm lực đủ mạnh để đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên nhiều yếu tố như: giá trị
sử dụng và chất lượng sản phẩm cao, điều kiện sản xuất ổn định do sản xuất dựa chủ yếu trên cơ sở kĩ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến, quy mô sản xuất lớn và nhờ đó giá thành và giá cả sản phẩm hạ
Các yếu tố xã hội như giữ được tín nhiệm (chữ tín) trên thị trường, việc tuyên truyền, hướng dẫn tiêu dùng, quảng cáo cũng có ảnh hưởng quan trọng Hiện nay các nhà sản xuất còn sử dụng một số hình thức như bán hàng trả tiền dần (trả góp) để kích thích tiêu dùng, trên cơ sở đó tăng năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì không chỉ đơn thuần đánh giá các yếu tố thuộc bản thân doanh nghiệp mà điều quan trọng là phải đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối thủ cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường kinh doanh và sự biến động khôn lường của nó, cùng một sự thay đổi của môi trường kinh doanh có thể là cơ hội phát triển cho doanh nghiệp này cũng có thể
là nguy cơ phá sản các doanh nghiệp khác
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực,
Trang 22cùng một thị trường Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh tranh Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh
Để đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ta phải đánh giá tổng thể tất cả các mặt sau:
1.1.3.1 Nguồn lực tài chính
Vốn là nguồn lực mà doanh nghiệp cần có trước tiên vì không có vốn không thể thành lập được doanh nghiệp và không thể tiến hành hoạt động được Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh là doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào luôn đảm bảo huy động được vốn trong những trường hợp cần thiết, doanh nghiệp đó phải sử dụng đồng vốn có hiệu quả và hạch toán chi phí một cách rõ ràng Như vậy doanh nghiệp cần đa dạng nguồn cung vốn bởi nếu thiếu vốn thì hạn chế rất lớn đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp như đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại, hạn chế đào tạo nâng cao trình độ cán bộ, công nhân, nghiên cứu thị trường
Năng lực tài chính là yếu tố rất quan trọng để xem xét tiềm lực của doanh nghiệp mạnh, yếu như thế nào Trong tiêu chí này có các nhóm chỉ tiêu chủ yếu:
1 Chỉ tiêu đánh giá cơ cấu nguồn vốn
Tỷ lệ nợ = Tổng nợ phải trả/ Tổng vốn(%)
- Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp càng ít phụ thuộc vào nguồn vay từ bên ngoài Tỷ lệ này cần duy trì ở mức trung bình của ngành là hợp lý
2 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán
- Khả năng thanh toán nhanh = (Tiền mặt / Tổng nợ ngắn hạn)
- Hệ số này cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu tiền hiện có Hệ số này càng cao càng tốt, tuy nhiên còn phải xem xét kỹ các khoản phải thu ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của doanh nghiệp Doanh nghiệp hoạt động bình thường thì hệ số này thường bằng 1
- Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn = Tổng tài sản lưu động/ Tổng nợ ngắn hạn
Trang 23Hệ số này cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu tài sản lưu động Nếu hệ số này quá nhỏ doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Hệ số này quá cao tức doanh nghiệp đã đầu tư vào tài sản lưu động quá nhiều không mang lại hiệu quả lâu dài Mức hợp lý là bằng 2
3 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
- Tỷ suất lợi nhuận/ doanh thu = Lợi nhuận/ Doanh thu(%)
Chỉ số này cho biết trong một đồng hay 100 đồng doanh thu thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận thu được Chỉ số này càng cao càng tốt
- Tỷ suất lợi nhuận /vốn tự có = Lợi nhuận ròng/ Tổng vốn chủ sở hữu(%) Các tiêu chí trên tốt sẽ giúp doanh nghiệp có được năng lực cạnh tranh so với các đối thủ của mình
1.1.3.2 Nguồn lực con người
Trong kinh doanh, con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để bảo đảm thành công Kenichi Ohmae đã đặt con người lên vị trí số một trên cả vốn và tài sản khi đánh giá sức mạnh của một doanh nghiệp Nguồn lực con người là yếu tố quyết định ưu thế cạnh tranh đặc biệt là đối với các doanh nghiệp thương mại để cung ứng các dịch vụ cho khách hàng hiệu quả nhất
Nguồn lực về con người được thể hiện qua số lượng và chất lượng lao động của doanh nghiệp như trình độ học vấn, trình độ tay nghề, sức khỏe, văn hóa lao động Doanh nghiệp có được tiềm lực về con người như có được đội ngũ lao động trung thành, trình độ chuyên môn cao từ đó năng suất lao động cao, cắt giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường
1.1.3.3 Thương hiệu, nhãn hiệu
Thương hiệu, nhãn hiệu được coi là sức mạnh vô hình của doanh nghiệp Nhãn hiệu có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Nhãn hiệu của doanh nghiệp có thể trải qua các thứ bậc đó là: nhãn hiệu bị loại bỏ, nhãn hiệu không được chấp nhận, chấp nhận nhãn hiệu, nhãn hiệu
ưa thích và nhãn hiệu nổi tiếng Nhãn hiệu ở thứ bậc càng cao thì khả năng tiêu thụ sản phẩm càng cao, doanh nghiệp càng có lợi thế cạnh tranh cao hơn đối thủ
Trang 24Một doanh nghiệp khi bắt đầu kinh doanh đã có nhãn hiệu sản phẩm của mình nhưng để có được thương hiệu sản phẩm, thương hiệu doanh nghiệp là việc làm lâu dài và liên tục không thể một sớm một chiều Một thương hiệu được người tiêu dùng chấp nhận và yêu mến là cả một thành công rực rỡ của doanh nghiệp Đây
là một lợi thế cạnh tranh lớn mà các đối thủ khác khó lòng có được Một khách hàng đã quen dùng một loại thương hiệu nào đó thì rất khó làm cho họ rời bỏ nó
Thương hiệu của doanh nghiệp mạnh mẽ đồng nghĩa năng lực marketing của doanh nghiệp thể hiện tốt ở khả năng nắm bắt nhu cầu thị trường, khả năng thực hiện năng lực 4P (Product, Place, Prize, Promotion) trong hoạt động marketing, năng lực của nguồn nhân lực marketing Nó giúp khách hàng tiếp cận sản phẩm của doanh nghiệp, tác động tới khả năng tiêu thụ sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng, từ đó góp phần làm tăng doanh thu, tăng thị phần của doanh nghiệp và tăng vị thế của doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế
1.1.3.4 Tổ chức quản lý điều hành sản xuất của doanh nghiệp
Trình độ và năng lực tổ chức quản lý của doanh nghiệp thể hiện ở:
(1) áp dụng phù hợp phương pháp quản lý hiện đại;
(2) trình độ chuyên môn cũng như những kiến thức của đội ngũ cán bộ quản
lý của doanh nghiệp;
(3) trình độ tổ chức quản lý doanh nghiệp, thể hiện ở việc phân công nhiệm
vụ, sắp xếp bố trí nhân sự cho phù hợp với công việc
1.1.3.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ
Nếu doanh nghiệp ứng dụng thiết bị, công nghệ phù hợp sẽ cho phép rút ngắn thời gian sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành nhưng vẫn nâng cao chất lượng sản phẩm Ngoài ra, công nghệ mới và phù hợp còn giúp doanh nghiệp nâng cao trình độ cơ khí hóa, tự động hóa của doanh nghiệp
Trình độ nghiên cứu phát triển công nghệ của doanh nghiệp là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc cải tiến kỹ thuật, cải tiến mẫu mã và chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất và hợp lý hóa sản xuất Trong điều kiện hiện nay, khi mà khoa học công nghệ phát triển nhanh như vũ bão thì yếu tố này lại càng tác động mạnh mẽ đến NLCT của doanh nghiệp, bởi vì nếu không chịu đổi mới thì sản phẩm
Trang 25của doanh nghiệp chắc chắn sẽ trở nên lỗi thời, không thể cạnh tranh cùng các sản phẩm cùng loại trên thị trường
1.1.4 Các tiêu chí đánh giá NLCT của các doanh nghiệp
1 Khả năng duy trì và mở rộng thị phần của doanh nghiệp:
Tiêu chí này gồm 2 thành phần là
(1) thị phần: doanh nghiệp nào có thị phần lớn hơn thì NLCT của doanh nghiệp đó cũng lớn hơn Tiêu chí này thường được đo bằng tỷ lệ doanh thu hay số lượng sản phẩm tiêu thụ trên thị trường
(2) tốc độ tăng thị phần của doanh nghiệp: Chỉ tiêu này phản ánh sự thay đổi đầu ra của doanh nghiệp theo thời gian
(2) giá cả hợp lý: Chỉ tiêu này thường được xác định trên cơ sở so sánh giá của các hàng hóa cùng loại hoặc tương đương Nếu có sự khác biệt về chất lượng thì giá cả được đặt trong sự so sánh với lợi ích do hàng hóa mang lại, độ bền, thẫm mỹ…,
(3) mẫu mã hợp thời trang, xu hiếu thị trường
(4) đáp ứng nhu cầu khách hàng: chỉ tiêu thể hiện việc cung cấp cho khách hàng đúng hàng hóa, đúng thời điểm với mức giá hợp lý Nó là một chỉ tiêu định tính phản ánh khả năng kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp;
(5) Dịch vụ đi kèm: bao gồm việc hướng dẫn sử dụng, các dịch vụ hậu mãi (bảo trì, bảo hành…)
3 Năng lực duy trì và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Tiêu chí này thể hiện qua một số chỉ tiêu như:
Trang 26(1) tỷ suất lợi nhuận: là một chỉ tiêu tổng hợp, được tính bằng trị số tuyệt đối (ví dụ, bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đơn vị đầu vào) hoặc số tương đối (tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp so với tỷ suất lợi nhuận bình quân ngành);
(2) chi phí trên một đơn vị sản phẩm…
4 Năng suất các yếu tố sản xuất:
Các chỉ tiêu liên quan đến năng suất gồm có: năng suất lao động, hiệu suất sử dụng vốn, năng suất yếu tố tổng hợp… Năng suất phản ánh lượng sản phẩm đầu ra
so với đơn vị yếu tố đầu vào, là chỉ tiêu phản ánh năng lực khai thác, sử dụng các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp Đồng thời, chỉ tiêu này còn phản ánh năng lực đáp ứng yêu cầu của khách hàng, chi phí trên đơn vị sản phẩm và đơn vị thời gian
5 Khả năng thích ứng và đổi mới của doanh nghiệp
Đây là chỉ tiêu đánh giá NLCT “động” của doanh nghiệp Doanh nghiệp phải thích ứng với sự thay đổi của thị trường trong nước và quốc tế (sở thích, nhu cầu, chất lượng, mẫu mã…) và môi trường kinh doanh như chính sách của Nhà nước, sự thay đổi của đối tác kinh doanh, đối thủ cạnh tranh Chỉ tiêu này được xác định bởi một số chỉ tiêu thành phần như: số lượng cải tiến, sáng tạo sản phẩm, cải tiến quy trình sản xuất, cải tiến kỹ thuật…
6 Khả năng thu hút nguồn lực
Khả năng thu hút nguồn lực không chỉ nhằm đảm bảo cho điều kiện để hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường mà còn thể hiện NLCT thu hút đầu vào của doanh nghiệp Đây là điều kiện để đảm bảo NLCT trong dài hạn
7 Khả năng liên kết và hợp tác của doanh nghiệp
Cạnh tranh trong điều kiện hiện nay không phải là tiêu diệt lẫn nhau mà phải là hợp tác lẫn nhau để cạnh tranh tốt hơn Do vậy, khả năng liên kết hợp tác
là tiền đề cho hoạt động kinh doanh hiệu quả, đồng thời đây cũng là một tiêu chí định tính của NLCT của doanh nghiệp Tiêu chí này thể hiện qua chất lượng và số lượng các mối quan hệ với đối tác, các liên doanh, hệ thống mạng lưới kinh doanh theo lãnh thổ
Trang 271.1.5 Môi trường cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.5.1 Môi trường vĩ mô
- Môi trường kinh doanh toàn cầu: Tập hợp tất cả các nhân tố bên ngoài phạm vi lãnh thổ bao gồm các thị trường toàn cầu, các vấn đề chính trị quốc tế nổi bật, thể chế và văn hóa toàn cầu,…
- Yếu tố về kinh tế: Bao gồm các chỉ sổ: GDP, thu nhập, tỉ giá, lãi suất, sản lượng đầu vào, sản lượng đầu ra, … ảnh hưởng đến hầu hết mọi doanh nghiệp, không chỉ
ở hiện tại mà còn tương lai
- Thể chế chính trị và pháp luật: Vì mỗi đất nước sẽ có những thể chế chính trị riêng, hệ thống luật pháp và quy định riêng, và nếu không ổn định về chính trị và pháp luật sẽ kéo theo sự bất ổn về kinh tế
- Văn hóa và xã hội: Là nhân tố mạnh nhất quyết định đến các đặc tính thị trường của doanh nghiệp Nhân tố này thường biến đổi dần theo thời gian và đôi khi rất khó nhận biết
- Các điều kiện tự nhiên: Nguồn nước, không khí, khoáng sản, rừng cây… đem lại những khía cạnh vừa tốt vừa khó khăn khi đòi hỏi cạnh tranh về mặt địa lý, hoặc khi cần lên kế hoạch xây dựng
- Khoa học kỹ thuật: Nhân tố này quyết định đến khả năng cạnh tranh về giá và chất lượng của sản phẩm tung ra ngoài thị trường Hình thành nên chiến lược khác biệt hóa, tập trung hay chiến lược chi phí thấp
Nói tóm lại, các nhân tố trên không chỉ ảnh hưởng đến một công ty, một doanh nghiệp, một tập đoàn mà ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế - xã hội
1.1.5.2 Môi trường ngành
Môi trường ngành là môi trường tập hợp nhiều doanh nghiệp cùng kinh doanh và cùng chịu sự tác động của môi trường ngành, nên nó được gọi là môi trường cạnh tranh Theo Porter, bản chất của cạnh tranh trong một ngành công nghiệp nhất định có thể được xem như một hỗn hợp gồm 5 áp lực như sau:
Trang 28Hình 1.1: Mô hình Kim Cương
Phân tích các yếu tố lợi thế cạnh tranh quốc gia ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh ngành
Tính sẵn có của các yếu tố sản xuất
Tính sẵn có của các yếu tố sản xuất chính là trọng tâm của học thuyết
Heckscher – Ohlin Ông đã phân tích kỹ lưỡng đặc tính của các yếu tố sản xuất
Ông thừa nhận sự phân cấp của các yếu tố sản xuất, phân biệt giữa các yếu tố cơ
bản (nguồn tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, nhân khẩu học) và các yếu tố cao
cấp (hạ tầng truyền thông, lao động lành nghề và trình độ cao, các cơ sở nghiên cứu
và bí quyết công nghệ) Các yếu tố cao cấp đóng vai trò hết sức quan trọng trong lợi
thế cạnh tranh
Trang 29Không giống như các yếu tố sẵn có tự nhiên, các yếu tố cao cấp lại là sản phẩm đầu tư của cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ Do vậy, các khoản đầu tư của chính phủ vào đào tạo cơ bản và nâng cao để cải thiện trình độ kiến thức và kỹ năng chung của dân chúng cũng như kích thích nghiên cứu chuyên sâu tại các cơ sở giáo dục cấp cao hơn có thể giúp nâng cấp các yếu tố cao cấp của một quốc gia
Mối quan hệ giữa yếu tố cao cấp và cơ bản rất phức tạp Các yếu tố cơ bản
có thể cung cấp lợi thế ban đầu và sau đó được củng cố mở rộng thông qua đầu tư các yếu tố cao cấp Ngược lại, các bất lợi của các yếu tố cơ bản có thế tạo ra những
áp lực buộc phải đầu tư vào các yếu tố nâng cao
Các điều kiện về nhu cầu
Ông nhấn mạnh vai trò nhu cầu của nội địa trong việc giúp nâng cao lợi thế cạnh tranh của một quốc gia Do doanh nghiệp nhạy cảm với những khách hàng ở gần họ nhất nên những đặc điểm của nhu cầu thị trường nội địa có quyết định quan trọng trong việc định hình các thuộc tính của sản phẩm chế tạo trong nước và tạo động lực cho việc sáng tạo, đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm
Doanh nghiệp giành được lợi thế cạnh tranh khi người tiêu dùng trong nước sành điệu và đòi hỏi cao Như vậy sẽ tạo áp lực cho các doanh nghiệp để nỗ lực đáp ứng nhu cầu cuả khách hàng về chất lượng và mẫu mã sản phẩm
Các ngành công nghiệp liên kết và phụ trợ
Lợi ích có được do các ngành liên kết phụ trợ đầu tư vào các yếu tố sản xuất cao cấp có thể sẽ lan tỏa sang một ngành khác Từ đó giúp ngành này đạt được một
vị trí cạnh tranh vững mạnh trên thế giới
Các ngành thành công trong phạm vi một quốc gia có xu hướng tập hợp với nhau thành các cụm gồm các ngành có liên quan
Kiến thức giá trị có thể luân chuyển giữa các doanh nghiệp trong cùng một cụm Từ đó mang lại lợi ích cho tất cả các doanh nghiệp khác cùng nằm trong cụm
đó Các luồng kiến thức sẽ luân chuyển khi nhân viên di chuyển giữa các doanh nghiệp trong nội bộ cụm công nghiệp và khi các nghiệp đoàn quốc gia tập hợp công nhân từ các doanh nghiệp khác nhau tại các cuộc hội nghị hoặc hội thảo định kỳ
Chiến lược, cấu trúc doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trang 30Sự khác biệt về đặc điểm, hệ tư tưởng có thể giúp hoặc không giúp doanh nghiệp trong việc tạo dựng lợi thế quốc gia
Có sự liên hệ chặt chẽ giữa mức độ cạnh tranh trong một quốc gia, sự sáng tạo, sự duy trì lâu dài của lợi thế cạnh tranh trong một ngành Mức độ cạnh tranh mạnh mẽ trong nước tạo áp lực cho doanh nghiệp phải nỗ lực đáp ứng, tìm cách nâng cao hiệu quả từ đó tạo áp lực cạnh tranh mạnh mẽ hơn trên thị trường thế giới
Ngoài ra, hai yếu tố khác đó là cơ hội và chính phủ cũng ảnh hưởng đến mô hình kim cương quốc gia
Vai trò chính phủ
Ngoài những thuộc tính cơ bản của mô hình Kim cương, đối với nhiều quốc gia thì vai trò của chính phủ trong việc tạo điều kiện phát huy các thuộc tính cạnh tranh cũng được coi trọng, việc này giúp mô hình Kim cương thêm vững vàng hơn
Các chính sách của chính phủ đưa ra có thể tạo ra một môi trường cho phép các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh, đặc biệt là cho thị trường trong nước của các doanh nghiệp trong nước
1.2 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành thiết bị chiếu sáng của Thái Lan và bài học cho Việt Nam
Phó Tổng Giám đốc Công ty Điện Quang Nguyễn Thái Nga nhận định, thị trường Thái Lan có nguồn điện, thiết bị, thói quen sử dụng điện cũng giống Việt Nam Vì vậy với ngành thiết bị chiếu sáng, tận dụng nguồn khoáng sản tự nhiên cùng nhân công giá rẻ, có tay nghề, Thái Lan chủ yếu phát triển ngành hàng này theo hướng xuất khẩu, đặc biệt các thị trường Đông Nam Á như Việt Nam – có thói quen sử dụng tương đồng
Theo báo cáo của Bộ Công Thương, trong 8 tháng đầu của năm 2017, kim ngạch Thái Lan đạt 6,57 tỷ USD, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm ngoái Trong đó hàng điện gia dụng và linh kiện chiếm 646 triệu USD, đã giúp Thái Lan soán ngôi Trung Quốc trở thành thị trường xuất khẩu chính ngành hàng thiết bị điện nói chung
và chiếu sáng nói riêng vào Việt Nam
Trang 311.2.1 Phân tích các yếu tố lợi thế cạnh tranh quốc gia ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành chiếu sáng của Thái Lan
Áp dụng mô hình Kim Cương của M.Porter:
Tính sẵn có của các yếu tố sản xuất
Yếu tố sẵn có của Thái Lan mạnh mẽ nhất chính là nguồn nhân công giá rẻ tại đất nước này Ngoài ra có các yếu tố về nguồn tài nguyên thiên nhiên: Thiếc, cao
su, khí tự nhiên, tungsten (một kim loại cứng màu xám dùng để chế tạo thép hợp kim và sợi đốt trong bóng đèn điện), tantali, gỗ, chì, cá, thạch cao, than non, fluorit, đất trồng
Với lợi thế về chi phí nhân công rẻ nhưng có tay nghề cao, Thái Lan đã thu hút các công ty điện tử lớn hàng đầu thế giới như Sony, Samsung, Panasonics, Seagate, Philips Electronics, Honeywell, Electrolux, LG… để xây dựng nhà máy sản xuất và lắp ráp thiết bị điện tử, ô tô cung ứng cho thị trường toàn cầu Chính vì
có yếu tố sẵn có về nguồn nhân công, các tập đoàn lớn sử dụng và đào tạo đã nhanh chóng biến nguồn nhân công này thành lao động lành nghề, có trình độ cao, các cơ
sở nghiên cứu cũng được đầu tư và phát triển
Đồng thời Thái Lan cũng là nước đứng thứ hai trên thế giới về sản xuất tungsten (một kim loại cứng màu xám dùng để chế tạo thép hợp kim và các sợi trong bóng đèn điện và là nước đứng thứ ba trên thế giới trong lĩnh vực sản xuất thiếc
Các điều kiện về nhu cầu
Kết quả khảo sát của tổ chức Hàng Việt Nam chất lượng cao trong năm 2017 cho thấy người tiêu dùng Việt có tâm lý hạn chế sử dụng các mặt hàng điện gia dụng đến từ Trung Quốc Thay vào đó, hàng Thái lại được yêu thích vì giá cả cạnh tranh nhưng mẫu mã đẹp và chất lượng tốt hơn hẳn
Theo nghiên cứu đăng trên tạp chí Nikkei Asian Review, nhờ thu nhập tăng lên đáng kể trong những năm gần đây, tầng lớp trung lưu Việt Nam sẵn sàng chi thêm tiền cho những sản phẩm có mẫu mã đẹp và chất lượng tốt hơn
Thông thường, các mặt hàng điện gia dụng Thái Lan sẽ bằng hoặc cao hơn sản phẩm từ Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia từ 10-20% và thấp hơn hàng đến từ
Trang 32Hàn Quốc, Nhật Bản khoảng 20% Chính vì lợi thế về mẫu mã đáp ứng được nhu cầu “làm đẹp”, “ưa thích cái đẹp” của một tầng lớp khách hàng không nhỏ tại Việt Nam khiến những doanh nghiệp thiết bị chiếu sáng của Thái Lan càng ngày càng có
vị thế không nhỏ tại nước ta Các doanh nghiệp nước bạn ngày càng mạnh mẽ chiếm thị phần, nâng cao năng lực cạnh tranh ngành này theo từng năm
Các ngành công nghiệp liên kết và phụ trợ
Sau nhiều năm đầu tư vốn và kỹ thuật cao một cách bền vững, Thái Lan đã trở thành trung tâm sản xuất và xuất khẩu chủ chốt của thế giới Nhờ đó, không chỉ ngành công nghiệp phụ trợ mà ngành hàng điện của Thái Lan cũng phát triển vượt bậc, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu với các thị trường khó tính nhất như Nhật Bản, Châu
Âu, Mỹ…
Đặc biệt ngành thiết bị chiếu sáng với những sản phẩm “Made in Thailand” đạt chất lượng cao hơn hẳn Thay vì chọn các sản phẩm nhập nguyên chiếc từ Đức, Tây Ban Nha với giá rất cao, người tiêu dùng thích lựa chọn những sản phẩm “linh kiện Đức, Tây Ban Nha” nhưng “lắp ráp tại Thái Lan” vì chất lượng tương đương nhưng giá thành hợp túi tiền hơn
Lợi ích có được do các ngành liên kết phụ trợ đầu tư vào các yếu tố sản xuất cao cấp có thể sẽ lan tỏa sang một ngành khác Yếu tố này đã được áp dụng hỗ trợ đẩy mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành thiết bị chiếu sáng của Thái Lan tại thị trường trong nước nói chung và Việt Nam nói riêng
Vai trò chính phủ
Trong giai đoạn toàn cầu hóa, Thái Lan tiếp tục chính sách ngoại giao phục
vụ kinh tế, đẩy mạnh thu hút đầu tư, đẩy mạnh tìm kiếm các đối tác thương mại nhằm mở rộng thị trường, tăng giá trị hàng hóa của Thái Lan, tạo cơ hội về thương mại cho khu vực tư nhân Thái Lan Ngành công nghiệp điện và điện tử của Thái Lan đã phát triển và mở rộng liên tục trong gần ba thập kỷ
Trong suốt những năm qua, ngành điện chiếu sáng này không chỉ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế của quốc gia ở góc độ xuất khẩu mà còn đưa Thái Lan lên vị trí dẫn đầu chuỗi cung ứng ở Đông Nam Á
Trang 33Nhận thấy sự phát triển bền vững của ngành, Chính phủ Thái Lan đã đưa ra các chính sách và biện pháp đầu tư chủ động, thu hút đầu tư từ nhiều công ty đa quốc gia và liên tục đổi mới sáng tạo, phát triển thị trường, mở rộng quy mô, chiếm lĩnh thị phần và đầu tư sang các nước trong khu vực Nhờ đó, đến nay Thái Lan là một trong những trung tâm sản xuất lớn nhất của ASEAN trong lĩnh vực thiết bị điện và điện tử Các sản phẩm của Thái Lan được tiêu dùng phổ biến tại nhiều thị trường trên thế giới, nhờ mức giá hợp lý trong khi chất lượng và độ bền đã được cải thiện đáng kể trong một thập kỷ trở lại đây
Đặc biệt có triển lãm quốc tế chuyên ngành Điện và Năng lượng (IEEE PES GTD ASIA 2019) diễn ra từ ngày 19 -23/3/2019 tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm quốc tế Bangkok, Thái Lan IEEE PES GTD ASIA 2019 là hoạt động thường niên trong chuỗi Triển lãm & Hội nghị quốc tế chuyên ngành Điện và Năng lượng, có lịch sử phát triển hơn 40 năm qua tại Bắc Mỹ
Với chủ đề “Chuyển biến lớn trong ngành Điện và Năng lượng”, IEEE PES GTD ASIA 2019 sẽ giới thiệu đến khách tham quan nhiều công nghệ và sản phẩm mới của các quốc gia trên thế giới về lĩnh vực điện và năng lượng Đồng thời khách đến tham quan sẽ được tiếp cận những lợi thế, những ưu điểm vượt trội của ngành chiếu sáng của Thái Lan nhiều hơn
Chính vì có sự hậu thuẫn lớn từ phía chính phủ, từ các nghị định cũng như hoạt động tại các thị trường quốc tế mà ngành chiếu sáng của nước này đang có một
vị thế không nhỏ tại các thị trường Đông Nam Á như Việt Nam
1.2.2 Kinh nghiệm bài học rút ra áp dụng cho thị trường Việt Nam
Thái Lan và Việt Nam có cơ cấu mặt hàng xuất khẩu tương đối giống nhau, thị trường về mặt khách hàng tiêu dùng cũng như về cơ cấu thị trường các doanh nghiệp cũng có nét tương đồng Vì vậy với những kinh nghiệm bài học rút ra cho thị trường Thái Lan được cân nhắc và áp dụng cho thị trường Việt Nam với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Việt Nam phát triển ngành điện đặc biệt là các thiết bị chiếu sáng từ những năm 60 của thế kỷ trước với lợi thế tài nguyên có sẵn, khởi đầu bằng việc lắp ráp các sản phẩm từ các bộ linh kiện nhập khẩu theo chính sách thay thế hàng nhập
Trang 34khẩu Ở những năm này, nổi bật nhất chính là Công ty Cổ phần Bóng đèn phích nước Rạng Đông, tiền thân là Nhà máy Bóng đèn phích nước Rạng Đông Đây là một trong 13 nhà máy đầu tiên được thành lập theo quyết định của Chính phủ
Thị trường Việt Nam hiện còn phân tán và tập trung vào trung/hạ nguồn…Thị trường chiếu sáng LED tại Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn sơ khai, không hề có phân khúc thượng nguồn Tại phân khúc trung/hạ nguồn, tương tự xu hướng thế giới, phần lớn doanh nghiệp đều mới tham gia với quy mô nhỏ lẻ, thiếu kiến thức chuyên môn và do đó chỉ lắp ráp được các sản phẩm chất lượng không đáng tin cậy Tuy nhiên, các công ty này vẫn tồn tại được vì đối với người tiêu dùng Việt Nam, giá cả vẫn đóng vai trò quan trọng hơn so với chất lượng sản phẩm
1.3.2.1 Điều chỉnh khung chính sách và thể chế pháp lý
Trước đây, khung chính sách luật của Thái Lan đã gây ra nhiều phiền toái nghiêm trọng trong hoạt động kinh doanh của nhiều công ty Nhật Bản Ví dụ như các công ty nước ngoài được Ủy Ban Đầu tư thừa nhận thì trên lý thuyết được phép nhập khẩu vật liệu mà không phải nộp thuế Tuy nhiên trên thực tế chính sách này chỉ hoàn lại thuế nhập khẩu cho doanh nghiệp tại thời điểm các doanh nghiệp đưa ra chứng cứ có hàng xuất khẩu Thủ tục này gây phiền hà cho các doanh nghiệp và nhiều công ty đã chỉ ra rằng việc hoàn lại thuế nhập như vậy đôi khi bị trì hoãn một cách tùy tiện
Với sự không rõ ràng cũng như những khung chính sách phiền hà của Thái,
đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của ngành Vì vậy, với thị trường ngành tại Việt Nam, chính phủ Việt Nam cần có khung chính sách và những thế chế cần thiết cho các doanh nghiệp trong nước có cơ hội được phát triển, có cơ hội cạnh tranh trực tiếp với những doanh nghiệp lớn trên thị trường quốc tế đồng thời không thể quá chèn ép các doanh nghiệp nước ngoài nhất là trong thời điểm hội nhập như bây giờ
1.3.2.2 Sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ
Ở Việt Nam từ lâu cũng đã khuyến khích phát triển ngành công nghiệp điện đặc biệt ngành chiếu sáng sau khi nhận ra tầm quan trọng cũng như khả năng về nguồn thu của ngành này
Trang 35Thái Lan cũng nhận thức được những điều đó Tuy nhiên nhu cầu cấp bách này đang trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết khi đất nước này theo đuổi chiến lược định hướng xuất khẩu Một số việc chuyển giao công nghệ và đào tạo tay nghề đã được thực hiện trong các lĩnh vực nhựa và thiết bị kim loại, nhưng trình độ về sản xuất linh kiện và nguyên vật liệu, công nghệ xử lý bề mặt như phun sơn và mạ cho các linh kiện chuyên dùng trong các sản phẩm điện xuất khẩu vẫn còn rất thấp và chậm được chuyển giao công nghệ
Lĩnh vực này cần được hỗ trợ nhiều hơn nữa thông qua việc chuyển giao công nghệ, kỹ thuật từ các chuyên gia Nhật Bản và các biện pháp khác Trong những năm gần đây khi các công ty ô tô phương Tây và Nhật Bản bắt đầu xem Thái Lan như một trung tâm sản xuất ở khu vực ASEAN thì sự tập trung và phát triển của các nhà sản xuất linh kiện cũng đang diễn ra mạnh mẽ Điều này cũng dẫn tới việc cần thiết phải nâng cấp ngành công nghiệp sản xuất thiết bị chiếu sáng mạnh
mẽ hơn nữa Nếu như đạt được mục tiêu này, Thái Lan bắt đầu có khả năng phát triển các công nghệ phức tạp trong các ngành sản xuất công nghiệp
Học tập những điều đó, từ năm 2000, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện khá đồng bộ các chính sách và giải pháp nhằm phát triển năng lực các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện trong nước, tăng cường mối liên kết thượng nguồn- hạ nguồn giữa các công ty trong và ngoài nước nhằm phát triển sản xuất linh kiện, phụ kiện và chuyển giao công nghệ để phát triển ngành Các sản phẩm và công đoạn mục tiêu của ngành bao gồm: tạo khuôn, gá, cán, đúc công cụ công nghiệp, cắt, mài, đúc nguội, gia công nhiệt, gia công bề mặt, gia công trung tâm, giắc cắm điện, pin xạc Ni-Cd, và nhựa cơ khí
Hiện nay Việt Nam có khoảng 1.200 doanh nghiệp sản xuất hàng điện tử, trong đó chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Khoảng 250 là doanh nghiệp số đó là sản xuất và lắp ráp thiết bị chiếu sáng LED Ngành công nghiệp sản xuất thiết bị điện tại Việt Nam sử dụng trên 300 ngàn lao động, trong số
đó có nhiều kỹ sư giỏi và công nhân lành nghề
Trang 36Tổng kết chương I
Năng lực cạnh tranh ngành là một khái niệm mang tính tổng thể, nó không chỉ là tổng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, mà là khả năng cạnh tranh tổng thể của các doanh nghiệp trong một ngành nhất định
Năng lực cạnh tranh của ngành được xem xét trên quan hệ so sánh với cùng ngành đó của các quốc gia khác, và được đánh giá thông qua nhiều chỉ tiêu, trong
đó bao gồm đóng góp của TFP, năng suất lao ñộng của ngành, thị phần xuất khẩu, các chỉ số ñầu tư trực tiếp nước ngoài, vv
Trong cạnh tranh quốc tế, năng lực cạnh tranh của một ngành phụ thuộc vào các yếu tố lợi thế quốc gia, trong đó bao gồm các điều kiện yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu của ngành, chiến lược doanh nghiệp, cấu trúc và tình trạng cạnh tranh trong nước, các ngành hỗ trợ và liên quan, vv Những yếu tố này tạo thành một
“tinh thể kim cương” quyết định năng lực cạnh tranh của một ngành, được kết dính
và củng cố nhờ vai trò của Chính phủ
Ngành chiếu sáng là một ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta Trong thời gian vừa qua, ngành đã đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ trong phát triển và sặc biệt là đi tiên phong trong việc chinh phục và tạo dựng vị trí cạnh tranh ở nhiều thị trường nước ngoài Tuy nhiên, trước những cơ hội và thách thức mới đến
từ môi trường cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt, ngành này cần phải có những định hướng và giải pháp tổng thể để nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của toàn ngành, nhằm củng cố và cải thiện thị thế cạnh tranh, phát triển ngành một cách bền vững
Trang 37CHƯƠNG II THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
TRONG NGÀNH CHIẾU SÁNG CỦA VIỆT NAM 2.1 Tổng quan về ngành chiếu sáng của Việt Nam
2.1.1 Quá trình phát triển của ngành chiếu sáng của Việt Nam
Năm 1954, ngay sau khi tiếp quản Thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập “Nhà đèn” với nhiệm vụ: Phát điện chiếu sáng dân dụng và phát điện chiếu sáng đường phố công cộng, phục vụ đời sống, sinh hoạt cho nhân dân Thủ đô Tiếp theo đó là một số công ty như Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông và Công ty Cổ phần Bóng đèn Điện Quang có lịch sử hình thành và phát triển gắn bó với ngành chiếu sáng nước nhà và là đại diện cho quá trính phát triển của các doanh nghiệp ngành chiếu sáng của Việt Nam
Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông
Trong thời kỳ khôi phục kinh tế Miền Bắc mới được giải phóng, Đảng, Chính phủ và Bác Hồ đã đích thân lựa chọn xây dựng 13 nhà máy đầu tiên, đặt nền móng cho nền công nghiệp nhẹ Việt Nam thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa Trong dịp này, nhà máy bóng đèn phích nước Rạng Đông đã được quyết định xây dựng và trở thành nhà máy đầu tiên ở Việt Nam, ở Đông Dương sản xuất bóng đèn và phích nước Năm 1958 nhà máy bóng đèn phích nước Rạng Đông chính thức được khởi công xây dựng tại Hạ Đình, Thanh Xuân, Hà Nội
Năm 1959, đoàn cán bộ, học sinh đầu tiên của Việt Nam đi học nghề sản xuất bóng đèn, phích nước tại Thưởng Hải, cái nghề từ thuở vua Hùng đến lúc đó Việt Nam chưa từng có Rạng Đông là nhà máy đầu tiên ở Việt Nam, ở Đông Dương sản xuất bóng đèn phích nước Ngày 24/2/1961 nhà máy bóng đèn phích nước Rạng Đông chính thức được thành lập theo quyết định 003/BCNN/TC Nhà máy đi vào hoạt động sản xuất Sản phẩm đầu tiên ra đời là bóng đèn tròn
Năm 1962 xưởng Huỳnh quang với các sản phẩm đèn ống, chấn lưu, starter bắt đầu được sản xuất Đầu năm 1963 có quyết định thành lập bộ máy quản lý sản xuất và chính thức diễn ra lễ cắt băng khánh thành nhà máy Cuối những năm 80, Công ty bóng đèn phích nước Rạng Đông không cạnh tranh được với làn sóng
Trang 38hàng ngoại, trên 1600 công nhân có năm phải nghỉ việc liền 6 tháng, công ty làm
ăn thua lỗ
Giai đoạn 1990-1993: Công ty tổ chức lại sản xuất, sắp xếp lại lao động, đổi mới cơ chế điều hành, phát huy quyền chủ động của đơn vị cơ sở và thực hiện hạch toán kinh tế nội bộ, phát huy được nhân tố con người, đáp ứng cơ chế thị trường Từ năm 1991 công ty bắt đầu có lãi
Giai đoạn 1994- 1997: Công ty đầu tư phát triển chiều sâu, tiếp tục đưa công
ty phát triển Toàn bộ nguồn vốn đầu tư chiều sâu giai đoạn này là 8,4 tỷ là tiền thưởng của CBCNV cho Công ty vay để đầu tư máy thổi vỏ bóng tự động – khâu căng nhất hạn chế sản lượng bóng đèn
Giai đoạn 1998-2004, Các dây chuyền cũ, thủ công của Công ty được thay thế bằng các dây chuyền hiện đại, tính tự động hóa cao, giúp nâng cao năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm
Ngày 23/5/1998: dây chuyền huỳnh quang hiện đại hóa số 1 mới về đến công
ty Ngày 25/6/1998 đã ra đời chiếc đèn đầu tiên
Tháng 8/1998 phục hồi xong dây chuyền 2600 cái/giờ số 1
Tháng 11/1998, không có thiết kế, không có chuyên gia, công ty đã thực hiện thành công việc đưa lò thủy tinh Hungary 12m2 và máy thổi vỏ bóng P25 vào hoạt động
Tháng 1/1999 đưa dây chuyền kéo ống thủy tinh huỳnh quang vào khai thác công suất lò thủy tinh Hungary, Rạng Đông không còn phải nhập khẩu ống từ Thái Lan nữa
Tháng 9/1999 đưa vào sản xuất dây chuyền 2600 cái/giờ số 2
Ngày 01/4/2000: đưa các máy hàn dây dẫn Hàn Quốc vào sản xuất, không phải nhập khẩu dây dẫn
Ngày 15/6/2000: Dây chuyền sản xuất đèn trang trí Hàn Quốc đi vào hoạt động phục vụ đơn hàng xuất khẩu
Ngày 01/7/2000: Toàn bộ dây chuyền sản xuất, tự sản xuất đầu đèn thường
đi vào hoạt động
Trang 39Ngày 01/8/2000: lò thủy tinh và hai máy thổi phích tự do động đi vào hoạt động
Ngày 15/8/2000: dây chuyền sản xuất đầu đèn huỳnh quang Hàn Quốc đi vào hoạt động, không còn phải nhập khẩu lượng đầu đèn ngày một lớn
Ngày 25/8/2000: dây chuyền ruột phích mới liên hoàn đi vào hoạt động Ngày 03/9/2000: dây chuyền đèn thường số 3 của Tungsram Hungary, dây chuyền cuối cùng của công trình Hung được khôi phục đi vào hoạt động hoàn toàn bằng tài năng, trí tuệ Việt Nam
Ngày 20/9/2000: dây chuyền sản xuất máng đèn hoạt động
Ngày 25/10/2000: dây chuyền lắp ghép đèn huỳnh quang số 2 dây chuyền hiện đại nhất Việt Nam đi vào hoạt động
Ngày 25/10/2000: dây chuyền lắp ghép đèn Huỳnh quang Compact đi vào hoạt động, ở Việt Nam đây là cơ sở đầu tiên sản xuất một “Loại nguồn sáng thế kỷ 21”
Ngày 15/7/2004 Công ty đổi tên thành Công ty cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông, hoạt động theo Điều lệ Công ty cổ phần mới, với vốn điều lệ ban đầu là 79,15 tỷ VNĐ Nhà nước nắm giữ 51% tỷ lệ cổ phần, chiếm tỷ lệ cổ phần chi phối CBCNV Công ty nắm giữ 40,2% cổ phần, cổ đông bên ngoài là các công ty khách hàng tiêu thụ sản phẩm của công ty nắm giữ 8,8% cổ phần Số cổ đông ban đầu
1572 cổ đông
Năm 2006 Cổ phần nhà nước nắm giữ ( thông qua SCIC) 21%
Năm 2007 Công ty trở thành công ty đại chúng, niêm yết trên thị trường chứng khoán TP Hồ Chí Minh nay là sở giao dịch chứng khoán HOSE
Năm 2011: Thành lập Trung tâm nghiên cứu & Phát triển Chiếu sáng Rạng Đông
Năm 2014: Thành lập xưởng Điện tử, LED & Thiết bị chiếu sáng
Tháng 9/2015: Rạng Đông chính thức trở thành công ty cổ phần với 100% vốn tư nhân sở hữu
Một công ty khác là Công ty Cổ phần Bóng đèn Điện Quang
Nhà máy Bóng đèn Điện Quang được thành lập năm 1973
Trang 40Tháng 12/1989, Nhà máy Bóng đèn Điện Quang đổi thành Xí nghiệp Liên hiệp Bóng đèn Điện Quang, hoạt động sản xuất kinh doanh độc lập
Ngày 04/10/1991, Bộ Công Nghiệp đổi tên Xí nghiệp Liên hiệp bóng đèn Điện Quang thành Công ty Bóng đèn Điện Quang, hoạt động dưới mô hình Doanh nghiệp Nhà nước
Ngày 03/02/2005, Điện Quang đã chính thức chuyển sang hoạt động theo hình thức Công ty cổ phần theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty cổ phần số 4103003095 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP.HCM cấp
Công ty chính thức niêm yết trên HoSE với mã chứng khoán DQC vào ngày 21/02/2008 Giá phiên giao dịch lần đầu là 290.000/cổ phiếu Tổ chức tư vấn niêm yết: CTCP Chứng khoán Bảo Việt Tổ chức kiểm toán: CT dịch vụ tư vấn tài chính
kế toán và kiểm toán AASC
Năm 2012: Khu liên hợp sản xuất bóng đèn tiết kiệm điện Vietven tại Venezuela chính thức đi vào hoạt động
Năm 2013: Công ty Cổ phần Bóng đèn Điện Quang kỷ niệm 40 năm hình thành và phát triển Đón nhận huân chương Độc Lập Hạng Nhì
Năm 2015, Điện quang ra mắt phần mềm tư vấn thiết kế chiếu sáng và tiếp tục đầu tư dây chuyền dán chíp LED tiến tiến theo công nghệ Nhật Bản
2.1.2 Vai trò ngành thiết bị chiếu sáng đối với sự phát triển kinh tế
Theo các số liệu của các cơ quan thống kê có uy tín, điện năng tiêu thụ cho chiếu sáng và các nhu cầu sinh hoạt chiếm 20% toàn bộ điện năng sản xuất ra ở các nước phát triển trên thế giới Điều đó buộc các quốc gia phải tìm các biện pháp giảm tiêu thụ điện năng của những thiết bị chiếu sáng một cách hiệu quả nhất Hiện nay, điện năng trong chiếu sáng công cộng chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu tiêu thụ điện và được nhà nước bao cấp, nên tiết kiệm điện năng trong chiếu sáng công cộng chính là tiết kiệm ngân sách
Trong những năm vừa qua, tại Hà nội cũng như ở các thành phố khác trên cả nước đều đã áp dụng những biện pháp tiết kiệm điện trong chiếu sáng công cộng như cắt bớt chế độ ban đêm, giảm ½ lượng đèn chiếu sáng, dùng bộ điện tiết giảm công suất (dimming),… Tuy nhiên những phương pháp này chưa phải là tối ưu vì